Một buổi chiều tháng Tám nọ, tiếng xô thiếc va vào nhau kêu lanh keng vang dội, lũ trẻ chạy ngược chạy xuôi nhốn nháo và liên tục đòi cái gì đó để ăn, bởi chúng sắp đi hái việt quất và tỏ ra náo động hệt như đang chuẩn bị lên đường tìm kiếm Lực lượng Hàng hải Tây Bắc.
“Nào các con trai, hãy lẻn đi cho thật khẽ, vì Rob đang bận chơi chỗ khác và sẽ không thấy các con đâu,” bà Bhaer vừa dặn vừa thắt chiếc mũ rộng vành cho Daisy và chỉnh lại chiếc tạp dề xanh lớn mà bà đã mặc trùm lên người Nan.
Nhưng kế hoạch ấy đã không thành, bởi Rob đã nghe thấy tiếng động ồn ào, quyết định đi theo và tự chuẩn bị sẵn sàng mà không mảy may nghĩ rằng mình có thể bị gạt ra. Đám trẻ vừa chuẩn bị cất bước thì cậu bé xuất hiện, hiên ngang bước xuống cầu thang với chiếc mũ đẹp nhất trên đầu, tay cầm một chiếc xô thiếc sáng loáng và gương mặt rạng rỡ vẻ thỏa mãn.
“Ôi trời! Thế nào chúng ta cũng có chuyện lớn cho xem,” bà Bhaer thở dài, cảm thấy cậu con trai cả của mình đôi khi thật khó bề quản lý.
“Con chuẩn bị xong xuôi cả rồi,” Rob nói, rồi nhập hàng vào đội ngũ với vẻ ngây thơ đến mức hoàn toàn không hay biết gì về sự nhầm lẫn của mình, khiến việc làm cho cậu bé vỡ lẽ quả thực rất khó khăn.
“Chặng đường ấy quá xa đối với con, cục cưng ạ; ở lại đây trông nom mẹ đi, vì mẹ sẽ chỉ có một mình thôi,” người mẹ bắt đầu khuyên nhủ.
“Mẹ đã có Teddy mà. Con là một cậu bé lớn rồi, nên con được đi chứ bộ; mẹ từng bảo khi nào lớn hơn con sẽ được đi, và giờ thì con đã lớn rồi đây,” Rob nài nỉ, trong khi một áng mây bắt đầu làm vẩn đục nét tươi vui trên gương mặt hạnh phúc của cậu bé.
“Bọn mình sắp lên cánh đồng cỏ lớn, đường xa lắm đấy; bọn tao không muốn mày lúp xúp bám theo sau đâu,” Jack la lên, vốn chẳng mấy ưa gì mấy cậu bé nhỏ tuổi.
“Tớ sẽ không bám đuôi đâu, tớ sẽ chạy thật nhanh để theo kịp. Ôi Mẹ ơi! Cho con đi đi! Con muốn đổ đầy chiếc xô mới tinh này, rồi con sẽ mang tất cả chỗ quả ấy về cho mẹ. Làm ơn đi mà, con sẽ ngoan lắm!” Robby cầu xin, ngước nhìn mẹ với vẻ đau khổ và thất vọng đến mức trái tim bà bắt đầu mềm nhũn.
“Nhưng con yêu ạ, con sẽ vừa mệt vừa nóng và chẳng thể vui chơi được đâu. Hãy đợi lúc nào mẹ đi cùng, rồi chúng ta sẽ ở lại cả ngày và hái bao nhiêu quả tùy thích.”
“Mẹ có bao giờ đi đâu, mẹ bận rộn suốt ngày, và con thì chán ngấy cảnh phải chờ đợi rồi. Con thà tự mình đi hái chỗ quả ấy về cho tất cả mọi người còn hơn. Con thích hái lắm, và con cực kỳ muốn làm đầy chiếc xô mới của mình,” Rob nức nở.
Cảnh tượng đáng thương khi những giọt nước mắt lớn rơi tí tách xuống chiếc xô mới tinh, có nguy cơ làm đầy nó bằng nước muối thay vì những quả việt quất, đã làm động lòng tất cả các vị phụ nữ có mặt ở đó. Người mẹ vỗ về tấm lưng của đứa trẻ đang khóc; Daisy ngỏ ý ở nhà với cậu; và Nan tuyên bố theo cái giọng quả quyết quen thuộc của mình:
“Cứ để nó đi cùng; tôi sẽ chăm sóc nó cho.”
“Nếu Franz đi cùng thì tôi đã không bận tâm, vì nó rất cẩn thận; đằng này nó đang bận phơi cỏ khô với cha, và tôi không chắc về mấy đứa còn lại các cậu lắm,” bà Bhaer bắt đầu lưỡng lự.
“Đường xa lắm mà,” Jack chen vào.
“Tôi sẽ cõng nó nếu tôi được đi ước gì tôi được đi,” Dan vừa nói vừa thở dài.
“Cảm ơn con, nhưng con phải giữ gìn cái chân của mình đã. Ước gì mẹ có thể đi. Khoan đã, mẹ nghĩ cuối cùng mình cũng xoay sở được đấy chứ,” và bà Bhaer chạy ra bậc thềm, vẫy vẫy chiếc tạp dề một cách điên cuồng.
Silas lúc ấy đang đánh xe chở cỏ khô rời đi, nhưng liền quay lại và đồng ý ngay khi bà Jo đề nghị anh chở toàn bộ nhóm trẻ ra cánh đồng cỏ và đón chúng về lúc năm giờ.
“Việc này sẽ làm chậm công việc của anh một chút, nhưng không sao đâu; chúng tôi sẽ trả công bằng những chiếc bánh nướng nhân việt quất nhé,” bà Jo nói, nắm rõ điểm yếu của Silas.
Gương mặt sạm nắng và thô ráp của anh bừng sáng, và anh cất tiếng cười sảng khoái “Ha! ha!” rồi bảo: “Thôi được rồi, thưa bà Bhaer, nếu bà đã dùng đến đòn hối lộ thì tôi xin đầu hàng ngay lập tức vậy.”
“Nào các con, mẹ đã sắp xếp xong để tất cả các con đều được đi rồi đây,” bà Bhaer quay trở lại, vẻ mặt nhẹ nhõm hẳn đi, bởi bà rất thích làm cho lũ trẻ hạnh phúc và luôn cảm thấy dằn vặt mỗi khi làm xáo trộn sự bình yên của mấy cậu con trai nhỏ; vì bà tin rằng những hy vọng, dự định và niềm vui nhỏ bé của trẻ thơ cần phải được người lớn trân trọng nâng niu, chứ không bao giờ nên bị dập tắt một cách thô bạo hay đem ra chế giễu.
“Con được đi chứ ạ?” Dan vui mừng hỏi.
“Mẹ nghĩ đặc biệt đến con đấy. Hãy cẩn thận nhé, đừng quá bận tâm đến chuyện hái quả, mà hãy ngồi ngắm nghía và tận hưởng những điều tuyệt vời quanh mình mà con vốn biết cách tìm thấy,” bà Bhaer đáp, nhớ lại lời đề nghị tốt bụng của cậu bé dành cho con trai mình.
“Con nữa! Con nữa!” Rob hát vang, nhảy múa cẫng lên vì vui sướng và khua chiếc xô quý giá cùng chiếc nắp kêu lách cách như tiếng đàn castanet.
“Được chứ, và Daisy với Nan phải chăm sóc em thật cẩn thận đấy. Hãy có mặt ở các thanh chắn cửa chuồng lúc năm giờ, Silas sẽ đến đón tất cả các con.”
Robby nhào vào lòng mẹ trong một cơn bão lòng biết ơn, hứa sẽ mang về cho mẹ từng quả mọng mà cậu hái được và sẽ không ăn một quả nào cả. Thế rồi tất cả được nhồi nhét lên chiếc xe chở cỏ và lộc cộc lăn bánh rời đi, gương mặt rạng rỡ nhất trong đám trẻ ấy chính là Rob, khi cậu ngồi giữa hai người mẹ nhỏ bất đắc dĩ của mình, mỉm cười tỏa nắng với cả thế giới và vẫy vẫy chiếc mũ đẹp nhất; bởi người mẹ nuông chiều đã không nỡ tước đi niềm vui ấy của thằng bé, khi mà đây là một ngày hội lớn đối với nó.
Thật là một buổi chiều hạnh phúc biết bao, bất chấp những rủi ro vẫn thường xảy ra trong những chuyến đi như thế! Dĩ nhiên là Tommy lại gặp vận hạn, ngã nhào vào một tổ ong vò vẽ và bị đốt sưng vù; nhưng vì đã quen với bất hạnh, cậu chịu đựng nỗi đau đớn một cách đầy nam tính, cho đến khi Dan gợi ý đắp một ít đất ẩm lên vết thương, nhờ đó cơn đau dịu đi trông thấy. Daisy nhìn thấy một con rắn, và vì hoảng sợ bỏ chạy nên đã đánh rơi mất một nửa số quả hái được; nhưng Demi đã giúp con bé hái bù lại, đồng thời say sưa giảng giải về loài bò sát một cách cực kỳ uyên bác trong suốt thời gian đó. Ned ngã từ trên cây xuống và bị rách toạc chiếc áo khoác ở sau lưng, nhưng may là không bị gãy xương cốt gì khác. Emil và Jack tranh giành quyền khai thác một bụi cây rậm rạp nào đó, và trong lúc chúng đang cãi nhau inh ỏi thì Stuffy đã nhanh chóng, lặng lẽ hốt sạch số quả trên bụi cây rồi chuồn thẳng đến chỗ Dan đang nằm tận hưởng không gian vô cùng thoải mái. Chiếc nạng giờ đây không còn cần thiết nữa, và cậu rất đỗi vui mừng khi cảm nhận được đôi chân mình đã khỏe khoắn thế nào khi lang thang khắp cánh đồng cỏ rộng lớn đầy những hòn đá và gốc cây thú vị, ngắm nhìn những sinh vật nhỏ quen thuộc trong thảm cỏ và những loài côn trùng quen mặt đang dập dờn trong không trung.
Nhưng trong tất cả những cuộc phiêu lưu diễn ra vào buổi chiều hôm đó, sự việc xảy ra với Nan và Rob là ly kỳ nhất, và nó đã trở thành một trong những câu chuyện được gia đình yêu thích suốt một thời gian dài. Sau khi khám phá tương đối kỹ lưỡng vùng đất xung quanh, rách ba đường trên váy và bị bụi gai cào xước cả mặt, Nan bắt đầu hái những quả mọng lấp lánh như những hạt cườm đen lớn trên các bụi cây thấp và xanh mát. Những ngón tay linh hoạt của con bé bay lượn thoăn thoắt, nhưng chiếc giỏ vẫn không đầy nhanh như ý muốn, thế là nó cứ lang thang hết chỗ này đến chỗ khác để tìm những chốn hái tốt hơn, thay vì chăm chú và kiên nhẫn hái như Daisy. Rob lẽo đẽo đi theo Nan, bởi sự năng nổ của con bé hợp với cậu hơn là sự kiên nhẫn của người họ hàng, và cậu cũng nôn nóng muốn có được những quả mọng to nhất và ngon nhất dâng lên Mamar.
“Tớ cứ thả quả vào mãi, mà sao nó chẳng đầy lên chút nào, và tớ mệt quá rồi,” Rob vừa nói vừa dừng lại một lát để cho đôi chân ngắn ngủi được nghỉ ngơi, bắt đầu nghĩ rằng việc hái việt quất hóa ra không tuyệt đẹp như trong tưởng tượng của mình; vì mặt trời thì chói chang, Nan cứ nhảyót lung tung như cào cào, và những quả mọng trong xô cứ rơi ra ngoài gần như ngay khi cậu bỏ vào, bởi trong lúc vật lộn với các bụi cây, chiếc xô thường xuyên bị lộn ngược.
“Lần trước chúng ta đến, quả mọc dày đặc hơn nhiều ở phía bên kia bức tường kia những quả to tướng; và ở đó có một hang đá nơi lũ trẻ từng nhóm lửa. Hãy đến đó hái cho đầy đồ đựng nhanh lên, rồi trốn vào hang để lũ kia phải đi tìm chúng mình,” Nan đề xuất, trong lòng sục sôi khao khát phiêu lưu.
Rob đồng ý, và thế là chúng chạy đi, trèo qua bức tường đá rồi cắm cổ chạy xuống sườn đồi thoai thoải ở phía bên kia, cho đến khi khuất hẳn giữa những hòn đá và bụi rậm. Quả mọc rất dày, và cuối cùng thì những chiếc xô cũng thực sự đầy ắp. Dưới đó bóng râm mát mẻ, và một con suối nhỏ đã mang lại cho hai đứa trẻ đang khát ngụm nước sảng khoái từ chiếc cốc phủ đầy rêu phong.
“Bây giờ chúng ta sẽ vào hang nghỉ ngơi và ăn quà chiều nhé,” Nan nói, tỏ ra vô cùng mãn nguyện với thành công cho đến thời điểm đó.
“Cậu có biết đường không đấy?” Rob hỏi.
“Tớ đương nhiên là biết chứ; tớ đã đến đây một lần rồi, và tớ thì lúc nào cũng nhớ rõ. Chẳng phải tớ đã đi lấy cái hộp của mình một cách ngon lành đấy thôi?”
Câu trả lời đó đã thuyết phục được Rob, và cậu cứ thế mù quáng bước theo sự dẫn dắt của Nan, vượt qua bao gò đống lẫn đá sỏi, để rồi sau bao hồi vòng vèo, con bé đã đưa cậu đến một hốc đá nhỏ, nơi những hòn đá bị ám khói cho thấy từng có người nhóm lửa ở đây.
“Nào, chỗ này thích chưa?” Nan hỏi khi lôi ra một mẩu bánh mì phết bơ, trông khá thảm hại vì đã bị trộn lẫn với đinh, lưỡi câu, sỏi đá và đủ thứ tạp chất khác trong túi của cô nàng.
“Rồi; cậu có nghĩ họ sẽ tìm thấy chúng ta sớm không?” Rob hỏi, cảm thấy thung lũng u tịch này có phần tẻ nhạt và bắt đầu khao khát sự có mặt của đông người hơn.
“Không, tớ không nghĩ thế; bởi vì nếu tớ nghe thấy tiếng họ, tớ sẽ trốn đi, và chơi trò tìm kiếm cho vui.”
“Lỡ họ không đến thì sao.”
“Tớ mặc kệ chứ; tớ tự tìm đường về nhà được mà.”
“Có xa lắm không?” Rob cúi nhìn đôi giày thấp tè, trầy xước và ướt sũng sau một hồi lang thang dài của mình mà hỏi.
“Chắc là sáu dặm đấy.” Khái niệm về khoảng cách của Nan rất mơ hồ, còn lòng tin vào năng lực bản thân của con bé thì vô cùng lớn.
“Tớ nghĩ chúng ta nên đi về thì hơn,” Rob ngập ngừng đề nghị.
“Tớ sẽ không đi cho đến khi chọn lọc lại xong số quả mọng của mình đã;” và Nan bắt đầu công việc mà Rob thấy dài dã man vô tận.
“Ôi trời! Cậu bảo sẽ chăm sóc tớ cơ mà,” cậu thở dài khi mặt trời bỗng nhiên sụp xuống sau ngọn đồi tự lúc nào.
“Thì tớ vẫn đang chăm sóc cậu hết sức có thể đây thôi. Đừng có cáu kỉnh thế chứ, đồ ngốc; tớ sẽ đi ngay đây,” Nan nói, vốn coi Robby mới năm tuổi chẳng qua chỉ là một đứa bé sữa so với chính mình.
Thế là cậu bé Rob ngồi đó, lo lắng đảo mắt nhìn xung quanh và kiên nhẫn chờ đợi, bởi dẫu có chút hoài nghi, cậu vẫn dành trọn niềm tin lớn lao nơi Nan.
“Tớ đoán trời sắp tối đến nơi rồi đấy,” cậu lầm bầm tự nhủ khi bị một con muỗi đốt, và bầy ếch ở đầm lầy bên cạnh bắt đầu cất tiếng vang lên bản hòa ca buổi tối.
“Chúa tôi! Ôi đúng thế thật rồi. Nhanh chân cắp đít đi ngay lập tức đi, kẻo họ đi mất đấy,” Nan la lên, ngẩng đầu lên khỏi công việc và sực nhận ra mặt trời đã lặn hẳn.
“Tớ nghe thấy tiếng tù và thổi cách đây khoảng một tiếng rồi; biết đâu họ thổi để gọi chúng ta thì sao,” Rob vừa nói vừa lầm lũi bám theo người dẫn đường khi con bé đang trèo lên sườn đồi dốc.
“Ở hướng nào cơ?” Nan khựng lại hỏi.
“Ở phía hướng kia kìa;” cậu chỉ cái ngón tay nhỏ xíu dính đầy bùn đất về một hướng hoàn toàn sai bét.
“Chúng ta đi theo hướng đó để gặp họ xem sao;” và Nan quay ngoắt lại, bắt đầu chạy lúp xúp qua các bụi cây, trong lòng bỗng dấy lên một nỗi lo lắng mơ hồ vì xung quanh có quá nhiều lối mòn bò đi khiến con bé không tài nào nhớ nổi lúc nãy chúng đã đi theo đường nào.
Chúng lại tiếp tục vượt qua gò đống lẫn đá sỏi, thỉnh thoảng dừng lại lắng tai nghe tiếng tù và, nhưng chẳng còn tiếng tù và nào vang lên nữa, vì đó thực ra chỉ là tiếng kêu của một con bò đang trên đường về chuồng.
“Tớ không nhớ là mình đã thấy đống đá kia đâu đấy cậu có nhớ không?” Nan hỏi khi ngồi lên một bức tường đá để nghỉ chân một lát và quan sát tình hình.
“Tớ chẳng nhớ cái gì sất, tớ chỉ muốn về nhà thôi,” giọng Rob run lên bần bật khiến Nan phải vòng tay ôm lấy cậu, nhẹ nhàng nhấc bổng cậu xuống và cất giọng bằng vẻ tháo vát nhất của mình:
“Tớ đang đi nhanh hết sức có thể rồi đây, ngốc ạ. Đừng khóc nữa, lát nữa ra đến đường cái tớ sẽ cõng cậu.”
“Đường cái ở đâu hả cậu?” Robby vừa dụi mắt vừa hỏi để tìm kiếm.
“Ở chỗ cái cây to kia kìa. Cậu không nhớ đó là cái cây mà Ned từng ngã xuống à?”
“À đúng rồi. Biết đâu họ vẫn đang đợi chúng ta nhỉ; tớ rất thích được ngồi xe về nhà cậu có muốn thế không?” và Robby phấn khởi hẳn lên khi lê bước về phía cuối cánh đồng cỏ lớn.
“Không, tớ thích đi bộ hơn,” Nan đáp, thầm chắc mẩm rằng thế nào mình cũng sẽ phải đi bộ suốt quãng đường về và đang tự chuẩn bị tinh thần cho việc đó.
Lại thêm một chặng hành trình dài lê thê xuyên qua màn chạng vạng đang buông xuống nhanh chóng và thêm một nỗi thất vọng nữa, bởi khi đến được gốc cây, chúng tá hỏa nhận ra đó không phải là cái cây mà Ned từng trèo, và xung quanh chẳng có bóng dáng con đường nào xuất hiện cả.
“Chúng ta bị lạc rồi à?” Rob run rẩy cất tiếng hỏi, tay ôm chặt lấy chiếc xô trong tuyệt vọng.
“Không hẳn đâu. Tớ chưa rõ phải đi hướng nào cho đúng, hay là chúng ta cứ thử gọi lớn xem sao.”
Thế là cả hai gào lên cho đến khi khản cả cổ, nhưng chẳng có âm thanh nào đáp lại ngoài tiếng bầy ếch đang hòa vang một khúc ca.
“Kia kìa, đằng kia có một cái cây cao khác, biết đâu đấy lại là cây hồi nãy,” Nan nói, trái tim chìm xuống tận đáy lòng dù miệng vẫn cố tỏ ra can đảm.
“Tớ không đi nổi nữa đâu; giày của tớ nặng quá, tớ nhấc chân lên không được,” và Robby sụp xuống ngồi uể oải trên một hòn đá vì đã hoàn toàn kiệt sức.
“Thế thì chúng ta phải ở lại đây suốt đêm nay thôi. Tớ chẳng sợ lắm đâu, miễn là không có rắn bò ra.”
“Tớ sợ rắn lắm. Tớ không thể ở lại đây suốt đêm được đâu. Ôi trời ơi! Tớ không thích bị lạc đường tí nào,” và Rob nhăn nhó mặt mày chuẩn bị khóc thét lên, thì đột nhiên một ý nghĩ xẹt qua đầu, cậu cất giọng với vẻ tin tưởng tuyệt đối:
“Marmar sẽ đến tìm tớ thôi lần nào mẹ cũng tìm thấy tớ mà; bây giờ tớ chẳng sợ gì nữa đâu.”
“Mẹ cậu có biết chúng ta đang ở đâu đâu.”
“Hồi trước mẹ có biết tớ bị nhốt trong nhà lạnh đâu, thế mà mẹ vẫn tìm ra tớ đấy thôi. Tớ biết thế nào mẹ cũng đến mà,” Robby đáp lại đầy quả quyết, đến nỗi Nan cũng thấy nhẹ nhõm hẳn đi, bèn ngồi xuống bên cạnh cậu và thốt lên với một tiếng thở dài đầy hối hận:
“Ước gì lúc nãy chúng ta đừng trốn đi.”
“Cậu rủ tớ mà; nhưng tớ không bận tâm lắm đâu Marmar vẫn sẽ yêu thương tớ y như cũ thôi,” Rob đáp, bám chặt lấy chiếc phao cứu sinh duy nhất của mình khi mọi hy vọng khác đã tan biến.
“Tớ đói quá. Hay chúng ta ăn số quả mọng của mình đi,” Nan đề nghị sau một khoảng lặng, trong khi Rob bắt đầu gật gà gật gù vì buồn ngủ.
“Tớ cũng đói, nhưng tớ không ăn được đâu, vì tớ đã hứa với Marmar là sẽ giữ lại tất cả để dành cho mẹ cơ mà.”
“Cậu sẽ buộc phải ăn chúng thôi nếu không có ai đến đón chúng ta đâu,” Nan nói, lúc này đang có tâm trạng muốn chọi lại tất cả mọi thứ. “Nếu chúng ta ở đây suốt bao nhiêu ngày trời, chúng ta sẽ ăn sạch tất cả quả mọng trong cánh đồng này, rồi chúng ta sẽ chết đói cho mà xem,” con bé bổ sung thêm một câu nghe thật ảm đạm.
“Tớ sẽ ăn rễ cây xì-sa (sassafras). Tớ biết có một cái cây xì-sa to lắm, và Dan từng kể cho tớ nghe cách bọn sóc đào rễ của nó lên để ăn, mà tớ thì thích nhất là công việc đào bới,” Rob đáp, không hề nao núng trước viễn cảnh chết đói.
“Đúng thế; và chúng ta có thể bắt ếch rồi nướng lên ăn. Bố tớ từng ăn một lần rồi, và ông bảo chúng ngon tuyệt,” Nan chen vào, bắt đầu tìm thấy một chút thi vị ngay cả trong việc bị lạc ở một cánh đồng hái quả việt quất.
“Làm sao mà nướng ếch được chứ? Chúng ta có cái bật lửa nào đâu.”
“Tớ chịu; thôi để lần tới tớ sẽ giắt diêm trong túi,” Nan nói, có phần chán nản trước chướng ngại vật này trong thí nghiệm nấu ăn bằng thịt ếch của mình.
“Chẳng lẽ chúng ta không thể nhóm lửa bằng một con đom đóm hay sao?” Rob đầy hy vọng hỏi khi nhìn thấy chúng đang bay lượn dập dờn hệt như những đóm lửa có cánh.
“Thử xem nào;” và thế là vài phút tiếp theo trôi qua thật thú vị với việc bắt đom đóm và tìm cách khiến chúng làm bén lửa vào một vài nhành cây xanh. “Thật là láo toét khi gọi chúng là đom đóm trong khi chẳng có chút lửa nào bên trong cơ chứ,” Nan vừa nói vừa hất văng một con côn trùng bất hạnh với vẻ khinh bỉ, mặc dù nó đã tỏa sáng hết mức có thể và rất ngoan ngoãn bò ngược bò xuôi trên các cành cây để làm vừa lòng hai nhà khoa học nhí ngây thơ.
“Marmar mãi vẫn chưa đến nhỉ,” Rob cất tiếng sau một khoảng im lặng nữa, trong khi cả hai cùng ngắm nhìn những vì sao lấp lánh trên đầu, hít hà mùi thơm dịu của đám dương xỉ bị giẫm nát dưới chân và lắng nghe bản hòa tấu serenat của loài dế.
“Tớ chẳng hiểu sao Chúa lại tạo ra ban đêm làm gì nhỉ; ban ngày dễ chịu hơn biết bao nhiêu,” Nan trầm ngâm lên tiếng.
“Để ngủ chứ bộ,” Rob ngáp ngắn ngáp dài đáp.
“Thế thì ngủ đi mau lên,” Nan hờn dỗi giục.
“Tớ muốn cái giường của tớ cơ. Ôi, ước gì tớ được nhìn thấy Teddy!” Rob khóc thét lên, bỗng cảm thấy chạnh lòng nhớ nhà làm sao khi nghe tiếng chim hót ríu rít dịu dàng trong những chiếc tổ ấm áp an toàn của chúng.
“Tớ không tin là mẹ cậu sẽ tìm thấy chúng ta đâu,” Nan nói, lúc này đang trở nên tuyệt vọng vì con bé cực kỳ ghét kiểu phải kiên nhẫn chờ đợi dưới bất kỳ hình thức nào. “Trời tối thế này thể nào mẹ cậu cũng chẳng nhìn thấy chúng ta cho mà xem.”
“Trong nhà lạnh tối đen như mực ấy chứ, và tớ sợ đến mức chẳng dám gọi mẹ, thế mà mẹ vẫn tìm thấy tớ; và bây giờ mẹ cũng sẽ thấy tớ thôi, cho dù trời có tối đến thế nào đi nữa,” Rob đầy tin tưởng đáp lại, đứng hẳn dậy để phóng tầm mắt vào bóng tối kiếm tìm sự cứu trợ chưa bao giờ phản bội cậu.
“Tớ thấy mẹ rồi! Tớ thấy mẹ rồi!” cậu hét lên, và cắm cổ chạy hết sức bình sinh về phía một bóng đen đang lững thững tiến lại gần. Bỗng nhiên cậu khựng lại, rồi quay ngoắt người, lấm lét chạy thục mạng trở lại, hoảng sợ hét toán lên:
“Không phải, gấu đấy, một con gấu đen to tướng cơ!” rồi giúp mặt vào vạt áo của Nan.
Khoảnh khắc ấy Nan cũng suýt ngất xỉu; ngay cả lòng dũng cảm của con bé cũng tan thành mây khói khi nghĩ đến một con gấu bằng xương bằng thịt, và nó đang định quay đầu tháo chạy thật hỗn loạn, thì một tiếng “Moo!” dịu dàng đã biến nỗi sợ hãi thành tràng cười sảng khoái khi con bé lên tiếng:
“Bò đấy Robby ơi! Con bò đen hiền lành mà chúng ta gặp hồi chiều ấy mà.”
Con bò có vẻ như cũng cảm thấy việc chạm trán hai đứa trẻ con ở cánh đồng cỏ nhà mình sau khi trời tối là điều không bình thường cho lắm, thế nên con vật thân thiện liền dừng lại để tìm hiểu sự tình. Nó để mặc cho chúng vuốt ve, và đứng nhìn chúng bằng đôi mắt hiền từ đến mức Nan, người vốn chẳng sợ loài động vật nào ngoại trừ gấu, bỗng nổi hứng muốn vắt sữa nó.
“Silas đã dạy tớ cách làm rồi; mà quả mọng ăn với sữa thì ngon tuyệt cú mèo cho mà xem,” con bé vừa nói vừa trút sạch chỗ trong xô vào chiếc mũ của mình, rồi táo bạo bắt đầu công việc mới mẻ, trong khi Rob đứng bên cạnh và đọc đi đọc lại theo mệnh lệnh của cô bé bài thơ trong truyện Mother Goose:
“Bò xinh ơi, hãy cho dòng sữa ngọt,
Hãy cho dòng sữa ngọt đến bên tôi,
Rồi tôi sẽ biếu một xiêm y lụa tốt,
Một xiêm y lụa cùng dải lụa bạc ngời.”
Nhưng vần điệu bất hủ ấy chẳng mang lại mấy tác dụng, bởi con bò nhân từ vốn đã được vắt sữa từ trước rồi, và chỉ còn vỏn vẹn nửa gill sữa dành cho hai đứa trẻ đang khát khô cổ họng.
“Suỵt! Tránh ra mau! Cậu đúng là một con mụ già cáu kỉnh khó tính,” Nan vô ơn la lên khi từ bỏ ý định trong tuyệt vọng; và tội nghiệp con bò Molly lững thững bước đi với một tiếng kêu nấc nhẹ đầy ngạc nhiên và trách móc.
“Mỗi đứa được một ngụm, rồi chúng ta phải đi bộ tiếp thôi. Ngủ quên mất là chết đấy nếu không đi là chúng ta sẽ ngủ gật mất, mà người đi lạc thì không được phép ngủ. Cậu không nhớ câu chuyện về Hannah Lee trong cuốn sách hay tuyệt kia đã ngủ dưới lớp tuyết rồi chết cóng à?”
“Nhưng bây giờ có tuyết nào đâu, với lại trời đang ấm áp dễ chịu mà,” Rob phản đối, vốn không được trời phú cho một trí tưởng tượng phong phú như Nan.
“Kệ chứ, chúng ta sẽ lăng xăng đi loanh quanh một lát rồi gọi thêm vài tiếng nữa; và nếu vẫn chẳng có ai đến, chúng ta sẽ trốn vào các lùm cây hệt như chú bé Tí Hon Hop-o'-my-thumb và mấy người anh em của nó vậy.”
Tuy nhiên, đó lại là một cuộc đi dạo cực kỳ ngắn ngủi, bởi Rob buồn ngủ rũ rượi không sao lê bước nổi và ngã nhào liên tục khiến Nan hoàn toàn mất kiên nhẫn, nửa phần vì phát điên lên trước trách nhiệm mà mình vừa gánh vác.
“Nếu cậu còn ngã nhuyễn nhừ ra đấy nữa là tớ tẩn cho một trận đấy nhé,” con bé vừa đe dọa vừa ân cần nâng cậu bé tội nghiệp đứng dậy, bởi cái sự “sủa” của Nan vốn đáng sợ hơn cái “cắn” của nó nhiều.
“Xin cậu đừng đánh. Tại đôi giày cứ trượt đi đâu ấy chứ;” và Rob nam tính kìm nén tiếng nấc chực trào ra ở cổ họng, nói thêm bằng một giọng kiên nhẫn đến nao lòng khiến trái tim Nan thổn thức: “Ước gì lũ muỗi không đốt tớ đau thế này, tớ có thể lăn ra ngủ thiếp đi cho đến khi Marmar đến rước.”
“Cứ gối đầu lên đùi tớ này, tớ sẽ lấy tạp dề đắp cho cậu; tớ chẳng sợ bóng đêm chút nào đâu,” Nan ngồi xuống nói, cố gắng tự trấn an bản thân rằng mình chẳng hề bận tâm đến bóng tối hay những tiếng xào xạc kỳ bí xung quanh.
“Lúc nào mẹ tới thì đánh thức tớ dậy nhé,” Rob nói, và chìm vào giấc ngủ sâu chỉ trong vòng năm phút với cái đầu gối lên đùi Nan dưới chiếc tạp dề.
Cô bé ngồi trân trân chừng mười lăm phút, đảo đôi mắt lo lắng nhìn tứ phía và có cảm giác mỗi giây trôi qua dài đằng đẵng như cả tiếng đồng hồ. Thế rồi một luồng ánh sáng nhợt nhạt bắt đầu lấp ló trên đỉnh đồi và con bé tự nhủ:
“Tớ đoán là ban đêm đã qua và buổi sáng sắp đến rồi đấy. Tớ rất muốn ngắm mặt trời mọc, thế nên tớ sẽ thức canh, để khi nó ló dạng là chúng ta có thể tìm đúng đường về nhà ngay.”
Nhưng trước khi khuôn mặt tròn vo của vầng trăng nhô lên khỏi ngọn đồi để phá tan hy vọng ấy của cô bé, Nan đã lăn ra ngủ mất tiêu, tựa lưng vào một hùm dương xỉ cao ngút ngàn, chìm sâu vào giấc mộng đêm hè giữa bầy đom đóm và những chiếc tạp dề xanh, những ngọn núi việt quất và hình ảnh Robby đang lau những giọt nước mắt cho một con bò đen đang nức nở: “Tớ muốn về nhà! Tớ muốn về nhà!”
Trong lúc lũ trẻ đang say giấc nồng, được ru ngủ một cách bình yên bởi tiếng vo ve buồn ngủ của bầy muỗi hàng xóm, thì gia đình ở nhà lại đang trải qua một phen nháo nhác vô cùng căng thẳng. Xe chở cỏ về đến nơi lúc năm giờ, và ngoại trừ Jack, Emil, Nan và Rob, tất cả những đứa khác đều đã có mặt ở các thanh chắn cửa chuồng từ lâu. Franz là người đánh xe thay cho Silas, và khi lũ trẻ kể cho anh nghe rằng nhóm kia đang đi về nhà qua lối đường rừng, anh liền chau mày tỏ vẻ khó chịu: “Lẽ ra chúng phải để Rob đi xe chứ, nó sẽ kiệt sức vì đi bộ một quãng đường dài mất thôi.”
“Đi đường đó gần hơn, với lại họ sẽ cõng nó mà,” Stuffy nói, đang sốt ruột vì đói bụng và chỉ mong được ăn tối.
“Các cậu chắc chắn là Nan và Rob đã đi cùng họ chứ?”
“Đương nhiên là có rồi chứ; tớ tận mắt thấy chúng trèo qua tường, rồi tớ còn hét lên là đã gần năm giờ rồi, và Jack gọi với lại là chúng đi lối khác cơ mà,” Tommy giải thích.
“Được rồi, thế thì mau trèo hết lên xe đi nào,” và thế là chiếc xe chở cỏ lại lộc cộc lăn bánh chở theo những đứa trẻ mệt mỏi cùng những chiếc xô đầy ắp quả.
Bà Jo trông có vẻ trầm ngâm lo lắng khi nghe tin nhóm trẻ bị tách ra, và bèn cử Franz quay trở lại cùng con chó Toby để tìm và đưa mấy đứa nhỏ về nhà. Bữa tối đã qua và cả nhà đang quây quần ngồi trò chuyện ngoài sảnh mát mẻ như thường lệ, thì Franz phi ngựa trở về trong cảnh mồ hôi nhễ nhại, bụi bặm và đầy vẻ lo âu.
“Chúng về chưa ạ?” cậu ta lớn tiếng gọi khi còn cách một nửa quãng đường lên đại lộ.
“Chưa!” và bà Jo bật tung khỏi chiếc ghế ngồi với gương mặt hoảng hốt đến mức ai nấy đều giật mình đứng phắt dậy xúm lại quanh Franz.
“Con tìm khắp nơi mà chẳng thấy chúng đâu cả,” cậu bắt đầu bẩm báo; nhưng lời nói vừa dứt thì một tiếng thét lớn “Hô lô!” bỗng vang lên khiến tất cả giật thót mình, và ngay phút tiếp theo Jack cùng Emil vòng qua góc nhà bước tới.
“Nan và Rob đâu?” bà Jo thét lên, tóm lấy Emil theo cái cách khiến cậu tưởng rằng người dì của mình bỗng chốc đã mất trí.
“Con không biết. Chẳng phải chúng về cùng với nhóm kia rồi sao?” cậu ngập ngừng đáp lại.
“Không; George và Tommy bảo chúng đi cùng với các em cơ mà.”
“Vâng, nhưng chúng có đi cùng đâu. Tụi con có thấy chúng đâu chứ. Tụi con ra ao tắm rồi đi đường rừng về mà,” Jack nói, gương mặt bắt đầu lộ rõ vẻ hoảng sợ thực sự.
“Đi gọi ông Bhaer ngay, lấy đèn lồng, và bảo Silas ra đây cho tôi.”
Đó là tất cả những gì bà Jo nói, nhưng ai nấy đều hiểu ý và cắm cổ chạy đi làm theo mệnh lệnh. Chỉ trong vòng mười phút, ông Bhaer và Silas đã lên đường vào rừng, còn Franz thì phóng như bay dọc con đường cái trên lưng con ngựa già Andy để lùng sục khắp cánh đồng cỏ lớn. Bà Jo với vội ít thức ăn trên bàn, một lọ brandy nhỏ từ tủ thuốc, cầm lấy một chiếc đèn lồng, rồi giục Jack và Emil đi theo mình còn những người khác ở lại không được nhúc nhích, đoạn bà leo lên lưng Toby phóng đi mất hút mà chẳng thèm mội chiếc mũ hay khăn choàng nào. Bà nghe thấy tiếng ai đó đang chạy theo sau mình, nhưng chẳng thốt một lời cho đến khi dừng lại để gọi và lắng nghe, lúc bấy giờ ánh đèn lồng mới chiếu rọi lên gương mặt của Dan.
“Sao em lại ở đây! Ta bảo Jack đi cơ mà,” bà nói, có chút ngập ngừng muốn đuổi cậu quay về, dù bà đang rất cần sự giúp đỡ.
“Con không đời nào để cậu ấy đi; cậu ấy với Emil còn chưa ăn tối, và con thì muốn đi hơn tụi nó,” cậu nói, đón lấy chiếc đèn lồng từ tay bà và ngước lên nhìn thẳng vào mắt bà với ánh nhìn kiên định quen thuộc, khiến dù chỉ là một đứa trẻ, bà vẫn cảm thấy mình có chỗ để nương tựa.
Bà nhảy phắt xuống đất và ra lệnh cho cậu trèo lên lưng Toby, mặc cho cậu nài nỉ xin được đi bộ; rồi họ lại tiếp tục tiến bước dọc theo con đường bụi bặm, vắng lặng, thỉnh thoảng lại dừng chân để cất tiếng gọi và hồi hộp lắng nghe những tiếng trẻ con đáp lại trong hơi thở gấp gáp.
Khi họ đến cánh đồng cỏ lớn, những ngọn đèn khác đã lấp ló chớp tắt hệt như những ngọn lửa trơi bươm bướm, và giọng ông Bhaer văng vẳng vang lên gọi lớn: “Nan! Rob! Rob! Nan!” ở mọi ngóc ngách của cánh đồng. Silas huýt sáo rồi gầm lên, Dan phi nước đại khắp nơi trên lưng con Toby, dường như con vật cũng hiểu rõ tình hình nên đã vượt qua những đoạn gồ ghề nhất với sự ngoan ngoãn lạ thường. Thỉnh thoảng bà Jo lại ra hiệu bắt tất cả im lặng, nghẹn ngào cất tiếng: “Tiếng ồn có thể làm chúng sợ hãi đấy, để tôi gọi; Robby sẽ nhận ra giọng tôi mà;” và thế là bà lại cất tiếng gọi cái tên thân thương ấy bằng mọi sắc thái dịu dàng nhất, để cho đến cả tiếng vang cũng thì thầm dịu ngọt và những cơn gió như thể cũng mang theo nó một cách đầy thiện chí; nhưng vẫn chẳng có hồi âm nào đáp lại.
Bầu trời lúc này đã xám xịt phủ đầy mây, và người ta chỉ thỉnh thoảng mới bắt gặp những tia sáng mờ nhạt của vầng trăng, những tia chớp nhiệt đới lóe lên từ các đám mây đen và tiếng gầm ì ì từ xa vọng lại hệt như tiếng sấm báo hiệu một trận giông bão mùa hè sắp sửa kéo tới.
“Ôi Robby của mẹ! Robby ơi!” tội nghiệp bà Jo than khóc, lang thang ngược xuôi như một hồn ma nhợt nhạt, trong khi Dan cứ kiên trì bám sát bên cạnh như một chú đom đóm trung thành. “Tôi phải ăn nói thế nào với bố của Nan nếu con bé gặp chuyện bất trắc đây? Sao tôi lại có thể dại dột tin tưởng để đứa con cưng của mình đi xa đến thế chứ? Fritz, anh có nghe thấy gì không?” và khi một tiếng “Không” đầy tang tóc vọng lại, bà vò đầu bứt tai đến tuyệt vọng khiến Dan phải nhảy phắt xuống lưng Toby, buộc dây cương vào hàng rào và dứt khoát lên tiếng:
“Biết đâu chúng đã đi về hướng con suối thì sao để con đi kiểm tra xem.”
Cậu trèo qua tường và biến mất nhanh đến mức bà suýt không theo kịp; nhưng khi bà đến nơi, cậu hạ thấp chiếc đèn lồng xuống và vui mừng chỉ cho bà thấy những dấu chân nhỏ xíu hằn trên lớp đất mềm quanh khu vực con suối. Bà quỵ xuống gối để kiểm tra các dấu vết, rồi vùng đứng dậy hào hứng thốt lên:
“Đúng rồi! Kia là dấu giày của Robby nhà tôi! Đi lối này, chắc chắn chúng đã đi tiếp về đây.”
Quả là một cuộc tìm kiếm nhọc nhằn! Nhưng lúc này một bản năng khó lý giải dường như đang dẫn dắt người mẹ lo lắng, bởi ngay sau đó Dan thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc và chộp lấy một vật nhỏ lấp lánh đang nằm trên lối đi. Đó chính là chiếc nắp của chiếc xô thiếc mới, đã bị đánh rơi trong cơn hoảng loạn đầu tiên khi nhận ra mình bị lạc. Bà Jo ôm chầm lấy nó và hôn hít như thể đó là một sinh sống thực sự; và khi Dan định cất tiếng hô vang mừng rỡ để gọi những người khác đến, bà đã ngăn lại, vừa hối hả rảo bước vừa nói: “Không, để tôi tự tìm chúng; tôi đã để Rob đi, và tôi muốn chính tay mình trao trả thằng bé lại cho bố nó.”
Đi thêm một đoạn nữa thì chiếc mũ của Nan hiện ra, và sau khi qua lại chỗ đó hơn một lần, cuối cùng họ cũng bắt gặp hai đứa trẻ trong rừng, cả hai đều đang ngủ say sưa. Dan không bao giờ quên được khung cảnh nhỏ bé mà ánh đèn lồng của cậu chiếu rọi vào đêm hôm đó. Cậu tưởng bà Jo sẽ thốt lên tiếng khóc, nhưng bà chỉ thì thầm “Suỵt!” khi nhẹ nhàng nhấc chiếc tạp dề ra và nhìn thấy khuôn mặt hồng hào của đứa trẻ bên dưới. Đôi môi dính đầy quả mọng hé mở theo nhịp thở ra vào, mái tóc vàng ẩm ướt rủ xuống vầng trán nóng hổi, và cả hai bàn tay mũm mĩm vẫn ôm chặt lấy chiếc xô nhỏ đầy ắp.
Cảnh tượng thu hoạch ngây thơ ấy, được gìn giữ qua bao giông bão của đêm hôm đó để dành cho bà, dường như đã chạm đến tận đáy lòng bà Jo, khiến bà bất ngờ ôm chầm lấy cậu con trai và bắt đầu nức nở khóc trên người thằng bé, vừa dịu dàng vừa tha thiết đến nỗi cậu tỉnh giấc, ban đầu có vẻ ngơ ngác không hiểu chuyện gì. Thế rồi cậu chợt nhớ ra, ôm chặt lấy cổ mẹ và bật cười đắc thắng:
“Con biết thế nào mẹ cũng đến mà! Ôi Marmar! Con nhớ mẹ lắm!” Khoảnh khắc ấy họ ôm ghì lấy nhau và hôn nhau thắm thiết, hoàn toàn quên bẵng đi cả thế giới ngoài kia; bởi vì cho dù những đứa con trai lang thang có bị lạc lối, vấy bẩn hay tơi tả đến đâu chăng nữa, những người mẹ vẫn luôn có thể tha thứ và quên đi tất cả khi họ ôm trọn chúng vào vòng tay ấp ủ yêu thương của mình. Thật hạnh phúc thay cho đứa con trai nào vẫn giữ nguyên vẹn niềm tin nơi người mẹ, và qua mọi chặng đường lầm lạc, vẫn giữ lại được một tín vật hiếu thảo để đền đáp tình yêu thương dũng cảm và dịu dàng của mẹ.
Trong khi đó Dan nhấc bổng Nan ra khỏi bụi cây, và với một sự dịu dàng mà chưa từng có ai ngoài Teddy từng nhìn thấy ở cậu trước đây, cậu xoa dịu cơn hoảng hốt ban đầu của con bé khi tỉnh giấc bất chợt và lau đi những giọt nước mắt; bởi vì Nan cũng bắt đầu khóc nức nở vì vui sướng, cảm giác thật tuyệt vời khi được nhìn thấy một gương mặt thân thiện và cảm nhận vòng tay vững chãi ôm lấy mình sau quãng thời gian dài đằng đẵng cô độc và sợ hãi mà con bé vừa trải qua.
“Cô bé tội nghiệp của ta, đừng khóc nữa nhé! Mẹ con an toàn rồi, và sẽ không ai thốt ra một lời quở trách nào vào đêm nay đâu,” bà Jo nói, ôm trọn Nan vào vòng tay rộng lớn của mình và ấp ủ cả hai đứa trẻ hệt như một con gà mái đang túm tụm thu gom những chú gà con đi lạc dưới đôi cánh mẹ.
“Đó là lỗi của cháu; nhưng cháu rất hối hận. Cháu đã cố gắng chăm sóc em, trùm chăn cho em ngủ và không hề đụng đến một quả mọng nào của em cả, mặc dù cháu đói lắm; và cháu thề sẽ không bao giờ tái phạm nữa đâu, thề có Chúa, không bao giờ nữa,” Nan nức nở, hoàn toàn chìm đắm trong biển trời hối hận và biết ơn.
“Hãy gọi họ đi, rồi chúng ta về nhà thôi,” bà Jo nói, và Dan trèo lên bức tường đá, cất tiếng vang lừng hô vang một từ “Tìm thấy rồi!” rền vang khắp cánh đồng.
Những ngọn đèn lạc lối từ mọi hướng bắt đầu nhảy múa tụ tập lại quanh nhóm nhỏ giữa đám dương xỉ ngọt ngào! Cảnh ôm ấp, hôn hít, nói cười và khóc lóc diễn ra tưng bừng chắc hẳn đã làm bầy đom đóm phải kinh ngạc, và hiển nhiên là đã làm bầy muỗi vô cùng thích thú khi chúng kêu vo ve điên cuồng, trong khi những chú bướm đêm nhỏ bay thành từng đàn đến tham gia bữa tiệc và bầy ếch kêu ộp oạp hệt như không thể nào diễn tả hết sự thỏa mãn của mình.
Thế rồi họ lên đường trở về nhà, một nhóm người thật kỳ lạ, bởi Franz phóng ngựa phi nước đại đi trước để báo tin vui; Dan và Toby đi đầu tiên; tiếp theo là Nan được cõng trong đôi tay lực lưỡng của Silas, người coi con bé là “đứa ranh con lanh lợi nhất mà ông từng thấy” và cứ trêu chọc nó suốt dọc đường về nhà vì những trò tinh quái của nó. Ông Bhaer kiên quyết không cho ai cõng Rob ngoài chính mình, và cậu bé, sau khi đã được ngủ nghếch ngào nạp lại năng lượng, ngồi thẳng người và chát chúa huyên thuyên rôm rả, cảm thấy mình hệt như một người hùng, trong khi người mẹ đi bên cạnh cứ bám chặt vào bất kỳ phần nào trên cơ thể quý giá của con mà với tới được, không bao giờ chán nghe câu nói “Con biết thế nào Marmar cũng đến mà,” hay nhìn cậu cúi xuống hôn mẹ và nhét một quả mọng tròn trĩnh vào miệng mẹ, “Bởi vì con hái tất cả chỗ ấy để dành cho mẹ cơ mà.”
Vầng trăng vừa ló dạng đúng lúc họ tiến vào đại lộ, và tất cả lũ trẻ đều ùa ra đón chào hò reo inh ỏi, thế là những chú cừu non đi lạc được đưa về trong sự khải hoàn và an toàn, đặt chân ngay vào phòng ăn, nơi những sinh vật nhỏ bé thực tế này đòi ăn tối thay vì những nụ hôn và sự vuốt ve. Chúng được ngồi xuống ăn bánh mì phết sữa trong khi toàn thể gia đình đứng quây quần xung quanh để chiêm ngưỡng. Nan nhanh chóng hồi phục tinh thần và hào hứng kể lại những hiểm nguy mình vừa trải qua với một sự khoái chí khi mọi chuyện đã qua đi. Rob có vẻ chìm đắm vào đĩa thức ăn của mình, nhưng bỗng nhiên đặt phắt chiếc thìa xuống và bật khóc ré lên đầy thảm thiết.
“Cục cưng của mẹ, sao con lại khóc thế?” người mẹ lo lắng hỏi, vẫn đang quẩn quanh chăm sóc cậu.
“Con khóc vì con bị lạc,” Rob mếu máo vừa cố gắng nặn ra vài giọt nước mắt vừa giải thích, nhưng hoàn toàn thất bại.
“Nhưng bây giờ con được tìm thấy rồi mà. Nan bảo con ở ngoài đồng không hề khóc lعn tiếng nào, và mẹ rất tự hào vì con là một cậu bé dũng cảm.”
“Lúc đó con bận sợ hãi quá nên chẳng có thời gian mà khóc. Nhưng bây giờ con muốn khóc, bởi vì con không thích bị lạc chút nào cả,” Rob giải thích, vừa chiến đấu với cơn buồn ngủ, cảm xúc và một miếng bánh mì phết sữa đầy ụ trong miệng.
Lũ trẻ bật cười rần rần trước cách bù đắp thời gian đã mất đầy ngộ nghĩnh này, đến nỗi Rob phải ngưng lại để ngước nhìn chúng, và sự vui vẻ lây lan nhanh chóng khiến cậu sau một hồi ngớ người ngạc nhiên liền bật cười khà khà sảng khoái, tay cầm thìa gõ lốp bốp xuống bàn hệt như đang tận hưởng trò đùa vô cùng thú vị đó.
“Đã mười giờ rồi; tất cả cút hết lên giường đi ngủ ngay cho ta,” ông Bhaer vừa nói vừa liếc nhìn đồng hồ.
“Và cảm tạ Chúa! Sẽ không có chiếc giường trống nào vào đêm nay cả,” bà Bhaer nói thêm, dõi theo với đôi mắt ngấn lệ khi Robby bước lên lầu trong vòng tay cha còn Nan được tháp tùng bởi Daisy và Demi, những đứa coi con bé là nữ anh hùng thú vị nhất trong bộ sưu tập của chúng.
“Tội nghiệp dì Jo mệt rũ rượi thế kia chắc phải có người cõng lên lầu mới đúng,” dịu dàng Franz nói, vòng tay ôm lấy bà khi bà khựng lại ở chân cầu thang, trông có vẻ hoàn toàn kiệt sức vì cơn hoảng loạn và quãng đường đi bộ dài.
“Chúng ta hãy làm chiếc ghế kiệu bằng tay đi,” Tommy đề xuất.
“Không, cảm ơn các con nhé; nhưng có lẽ đứa nào đó có thể cho ta mượn một bờ vai để tì vào,” bà Jo đáp lại.
“Con! Con!” và nửa tá đứa nhao lên xô đẩy lẫn nhau, đứa nào cũng hăng hái tranh giành được chọn, bởi có một cái gì đó trong gương mặt người mẹ nhợt nhạt đã chạm đến những trái tim ấm áp dưới lớp áo khoác tròn.
Nhận thấy chúng coi đây là một vinh dự lớn lao, bà Jo đã trao đặc ân ấy cho người xứng đáng nhất, và chẳng một đứa nào cằn nhằn khi bà đặt tay lên vai rộng của Dan, nói với một ánh mắt khiến cậu đỏ bừng cả mặt vì tự hào và sung sướng:
“Chính cậu bé này đã tìm thấy lũ trẻ; thế nên ta nghĩ cậu ấy phải là người giúp ta lên lầu rồi.”
Dan cảm thấy vô cùng xứng đáng với công sức buổi tối của mình, không chỉ vì cậu được chọn từ tất cả những đứa khác để kiêu hãnh bước đi mang theo ngọn đèn, mà còn vì bà Jo đã chân thành thốt lên: “Chúc ngủ ngon nhé chàng trai của ta! Chúa phù hộ em!” khi cậu rời khỏi cửa phòng bà.
“Ước gì con là con trai của mẹ,” Dan thốt lên, cảm thấy dường như hiểm nguy và rắc rối bằng cách nào đó đã kéo cậu lại gần bà hơn bao giờ hết.
“Em sẽ là con trai cả của mẹ,” và bà đóng ấn lời hứa ấy bằng một nụ hôn khiến Dan hoàn toàn thuộc về bà.
Cậu bé Rob hoàn toàn bình thường vào ngày hôm sau, nhưng Nan thì bị đau đầu và phải nằm trên chiếc ghế dài của mẹ Bhaer với một lớp kem lạnh bôi lên gương mặt đầy những vết trầy xước. Sự hối hận của con bé đã bay biến đi đằng nào mất, và rõ ràng nó coi việc bị lạc đường chẳng khác nào một trò giải trí thú vị. Bà Jo không hề hài lòng với tình trạng này và chẳng có hứng thú nhìn lũ trẻ nhà mình bị lôi cuốn khỏi những con đường đức hạnh hay đám học trò cứ lảng vảng lang thang ở các cánh đồng việt quất. Thế nên bà đã nghiêm túc nói chuyện với Nan, cố gắng khắc sâu vào tâm trí con bé sự khác biệt giữa tự do và phóng túng, đồng thời kể vài câu chuyện để củng cố bài giảng của mình. Bà vẫn chưa quyết định sẽ trừng phạt Nan như thế nào, nhưng một trong những câu chuyện đó đã gợi ý cho bà một cách, và vì bà Jo rất thích những hình phạt kỳ quặc, bà quyết định thử nghiệm nó.
“Đứa trẻ nào mà chẳng trốn đi chơi,” Nan biện hộ, cứ làm như đó là một điều tự nhiên và tất yếu hệt như bệnh sởi hay ho gà vậy.
“Không phải đứa nào cũng thế, và một số đứa trốn đi thì chẳng bao giờ được tìm thấy nữa đâu,” bà Jo đáp lại.
“Thế chẳng phải chính cô cũng từng làm thế còn gì?” Nan hỏi, đôi mắt nhỏ sắc lẹm thoáng nhận thấy vài nét tương đồng của một tâm hồn đồng điệu ở người phụ nữ nghiêm túc đang cặm cụi may vá đầy đạo đức trước mặt mình.
Bà Jo phì cười và thú nhận rằng mình từng làm vậy thật.
“Kể cho cháu nghe đi,” Nan nài nỉ, cảm thấy mình đang giành phần thắng trong cuộc tranh luận.
Bà Jo nhận ra điều đó, liền nghiêm mặt lại ngay và buông một tiếng thở dài đầy hối hận:
“Ta từng làm thế rất nhiều lần, và hành hạ người mẹ tội nghiệp của ta đủ điều với mấy trò quái quỷ của mình, cho đến khi bà chữa dứt thói đó cho ta.”
“Bằng cách nào ạ?” và Nan ngồi phắt dậy với gương mặt tràn đầy vẻ tò mò thích thú.
“Hồi đó ta có một đôi giày mới và rất muốn khoe nó; thế nên dù đã được dặn là không được rời khỏi khu vườn, ta vẫn trốn đi và lang thang suốt cả ngày trời. Lúc đó ta đang ở trong thành phố, và ta chịu không hiểu sao mình lại không bị xe tông chết nữa chứ. Ta đã có một khoảng thời gian nhớ đời. Ta đùa nghịch trong công viên với lũ chó, thả thuyền dưới Vịnh Back cùng những đứa con trai lạ hoắc, ăn tối với một cô bé ăn xin người Ireland trên món cá muối và khoai tây, rồi cuối cùng người ta tìm thấy ta đang ngủ say sưa trên một bậc thềm cửa với hai vòng tay ôm chặt lấy một con chó lớn. Lúc đó trời đã tối muộn, ta bẩn thỉu như một chú heo con, và đôi giày mới thì rách bươm vì ta đi bộ quá xa.”
“Thích thật đấy!” Nan la lên, trông có vẻ hừng hực muốn xách dép tự mình đi làm lại một chuyến.
“Hôm sau thì chẳng thấy thích tẹo nào đâu;” và bà Jo cố gắng kìm nén ánh mắt để không làm lộ ra việc bà thích thú thế nào khi nhớ về những trò tinh quái thời niên thiếu của mình.
“Bố mẹ có đánh cô không ạ?” Nan tò mò hỏi.
“Bà chỉ đánh ta đúng một lần duy nhất, và sau đó bà đã phải cầu xin ta tha thứ, nếu không chắc ta chẳng bao giờ tha thứ cho bà đâu, vì nó làm tổn thương lòng tự ái của ta ghê gớm.”
“Sao mẹ lại phải xin lỗi cậu? Bố cháu có bao giờ làm thế đâu.”
“Bởi vì khi đánh xong, ta liền quay ngoắt lại và nói: 'Thế mẹ cũng đang nổi giận đấy thôi, mẹ cũng đáng bị đòn y như con vậy.' Bà nhìn ta một phút, rồi cơn giận bỗng biến đi đâu mất, và bà nói với vẻ ngượng ngùng: 'Con nói đúng đấy Jo, mẹ đang giận dữ; và cớ gì mẹ lại phải trừng phạt con vì tội nổi giận trong khi chính mẹ lại nêu ra một tấm gương tồi tệ nhường ấy? Tha lỗi cho mẹ nhé con yêu, và chúng ta hãy cùng cố gắng giúp đỡ lẫn nhau theo một cách tốt đẹp hơn.' Ta không bao giờ quên được điều đó, và nó giúp ích cho ta nhiều hơn cả chục cái roi da.”
Nan ngồi trầm ngâm xoay xoay chiếc lọ kem lạnh nhỏ trong tay suốt một phút, còn bà Jo không nói gì thêm, để cho ý tưởng ấy thấm sâu vào cái đầu bận rộn vốn rất nhanh nhạy trong việc quan sát và cảm nhận mọi thứ xung quanh.
“Cháu thích cách đó đấy,” lát sau Nan lên tiếng, và gương mặt con bé bớt đi vẻ tinh quái với đôi mắt sắc sảo, chiếc mũi tò mò và cái miệng nghịch ngợm. “Thế mẹ đã làm gì cô khi cô trốn đi lần đó?”
“Bà trói ta vào chân giường bằng một sợi dây thừng dài, để ta không thể bước ra khỏi phòng, và ta cứ phải ở lì ở đó suốt cả ngày với đôi giày nhỏ rách bươm treo lủng lẳng ngay trước mặt để nhắc nhở ta về lỗi lầm của mình.”
“Cháu nghĩ cách đó thì ai mà chẳng chừa,” Nan thốt lên, vốn là kẻ coi trọng sự tự do hơn bất cứ thứ gì trên đời.
“Nó đã chữa dứt thói hư của ta, và ta nghĩ nó cũng sẽ hữu ích với cháu, thế nên ta sẽ thử áp dụng xem sao,” bà Jo nói, đột nhiên rút ra một cuộn dây thừng chắc chắn từ ngăn kéo bàn làm việc.
Nan trông có vẻ như đang hoàn toàn thất thế trong cuộc tranh luận và ngồi thừ người ra với vẻ mặt vô cùng ủ rũ trong lúc bà Jo thắt một đầu dây vào vòng eo của con bé còn đầu kia buộc vào thành tay vịn của chiếc ghế dài, vừa làm vừa nói:
“Ta không thích phải trói cháu lại như một chú cún con hư đốn chút nào, nhưng nếu cháu không biết điều hơn một con cún, ta buộc phải đối xử với cháu y như vậy thôi.”
“Cháu thà cứ bị trói thế này còn hơn cháu thích đóng giả cún con mà;” và Nan làm ra vẻ bất cần đời, bắt đầu gừ gừ rồi bò lê bò lết trên sàn nhà.
Bà Jo làm lơ không thèm đếm xỉa gì tới, chỉ để lại vài cuốn sách cùng một chiếc khăn tay đang viền dở rồi đứng dậy bỏ đi, mặc cho tiểu thư Nan tha hồ tung hoành theo ý muốn. Trò này chẳng thú vị gì cho cam, và sau một lát ngồi lì một chỗ, con bé bèn thử tháo đoạn dây thừng ra. Nhưng nó lại được thắt chặt vào phần thắt lưng tạp dề ở phía sau lưng, thế nên con bé đành quay sang xử lý cái nút thắt ở đầu dây bên kia. Chẳng mấy chốc nó đã được tháo lỏng, và vớ lấy cuộn dây, Nan toan trèo ra khỏi cửa sổ thì nghe thấy bà Jo nói với ai đó khi đi ngang qua sảnh:
“Không, tôi không nghĩ con bé sẽ trốn đi đâu; nó là một cô bé có lòng tự trọng và biết rằng tôi làm thế là để giúp đỡ nó thôi.”
Chỉ trong tích tắc, Nan luồn người quay trở lại, tự trói mình vào chỗ cũ và cặm cụi khâu vá một cách điên cuồng. Rob bước vào ngay sau đó và tỏ ra vô cùng thích thú với hình thức trừng phạt mới mẻ này đến mức cậu kiếm ngay một sợi dây nhảy và tự tether (buộc) mình vào chiếc tay vịn bên kia của chiếc ghế dài một cách vô cùng hào hứng.
“Con cũng bị lạc cơ mà, thế nên con cũng phải bị trói nhiều như Nan chứ,” cậu giải thích với mẹ khi bà nhìn thấy tù nhân mới.
“Mẹ không chắc là con không đáng bị phạt một trận đâu, vì con thừa biết việc đi xa khỏi những người khác là sai trái cơ mà.”
“Tại Nan rủ con mà,” Rob bắt đầu, sẵn sàng tận hưởng hình thức kỷ luật mới nhưng nhất quyết không chịu nhận lỗi về mình.
“Con đâu nhất thiết phải đi theo. Con cũng có lương tâm cơ mà, dù con còn là một cậu bé nhỏ tuổi, và con phải học cách lắng nghe nó chứ.”
“Thế ư, nhưng lương tâm của con chẳng hề nhói lên tí nào lúc cậu ấy bảo 'Chúng ta trèo qua tường đi' cả,” Rob đáp lại, trích dẫn một câu cửa miệng của Demi.
“Thế con có dừng lại để xem nó có nhói lên không?”
“Không ạ.”
“Thế thì con không thể biết chắc được đâu.”
“Con đoán là cái lương tâm ấy nhỏ tí xíu nên nó chẳng thèm nhói mạnh để con cảm nhận được ấy mà,” Rob nói thêm sau khi suy ngẫm vấn đề một lát.
“Chúng ta phải mài giũa nó lại cho sắc bén thôi. Thật tệ hại nếu sở hữu một cái lương tâm cùn mòn; thế nên các con có thể ở lại đây cho đến giờ ăn trưa, và tự suy ngẫm về điều đó với Nan đi. Ta tin tưởng cả hai đứa sẽ không tự ý tháo dây trói cho đến khi ta cho phép.”
“Vâng, bọn con không tháo đâu,” cả hai đồng thanh đáp, cảm thấy dường như có một chút đức hạnh nào đó trong việc tự phạt chính mình.
Trong suốt một tiếng đồng hồ chúng rất ngoan ngoãn, nhưng rồi chúng bắt đầu cảm thấy chán ngấy căn phòng và khao khát được ra ngoài. Chưa bao giờ hành lang lại có sức hấp dẫn đến thế; ngay cả căn phòng ngủ nhỏ cũng bỗng chốc trở thành một nơi đầy lôi cuốn, và chúng sẵn sàng bước vào để chơi trò dựng lều với mấy tấm rèm của chiếc giường tốt nhất. Những ô cửa sổ mở toang khiến chúng phát cuồng vì chẳng thể với tới được; và thế giới bên ngoài trông thật đẹp đẽ biết bao, khiến chúng tự hỏi làm thế nào mà mình lại có thể thốt ra cái miệng rằng nó tẻ nhạt cơ chứ. Nan khao khát được chạy một vòng trên bãi cỏ, còn Rob thì hoảng hốt nhớ ra sáng nay mình chưa cho con chó ăn, và tự hỏi không biết tội nghiệp con Pollux sẽ ra sao đây. Chúng dán mắt nhìn chiếc đồng hồ, và Nan thậm chí còn tính toán chi li từng phút từng giây, trong khi Rob học cách nhận diện tất cả các giờ từ tám giờ đến một giờ một cách rành mạch đến mức không bao giờ quên được. Thật là phát điên khi ngửi thấy mùi thức ăn thơm phức, biết rằng bữa nay sẽ có món đậu sốt ngô succotash cùng bánh pudding việt quất, mà lại cảm thấy mình chẳng thể có mặt tại trận để giành giật những phần ăn ngon lành. Khi Mary Ann bắt đầu dọn bàn ăn, chúng rướn người suýt đứt cả đôi lưng chỉ để ngó xem hôm nay có món thịt gì; và Nan thốt lên rằng nó sẵn sàng giúp cô dọn giường, miễn là cô đảm bảo cho nó “thật nhiều xốt chan lên bánh pudding.”
Khi đám con trai ào ạt tan trường túa ra, chúng phát hiện ra hai đứa trẻ đang níu kéo sợi dây thừng ràng buộc hệt như một cặp ngựa con bất kham, và tỏ ra vô cùng thích thú lẫn buồn cười trước hậu quả của cuộc phiêu lưu ly kỳ đêm qua.
“Tháo dây cho con đi Marmar; lần sau lương tâm con sẽ nhói lên như kim châm cho mà xem, con chắc chắn thế,” Rob vừa nói vừa cất tiếng khi tiếng chuông reo vang và Teddy bước tới nhìn cậu với vẻ ngạc nhiên đầy thương cảm.
“Cứ chờ xem đã nhé,” mẹ cậu đáp và thả tự do cho cậu. Cậu cắm cổ chạy một mạch dọc hành lang, vòng qua phòng ăn và dừng phắt lại bên cạnh Nan với gương mặt rạng rỡ niềm mãn nguyện đầy đạo đức.
“Để con mang phần ăn tới cho cậu ấy nhé, được không mẹ?” cậu hỏi, tỏ ra thương xót cho người bạn cùng cảnh ngộ giam cầm.
“Đúng là con trai ngoan của mẹ! Được chứ, kéo chiếc bàn ra và lấy một chiếc ghế đi con;” và bà Jo vội vã rời đi để dẹp loạn sự hăng hái của mấy đứa còn lại, những đứa lúc nào cũng trong trạng thái đói cào ruột vào giữa trưa.
Nan ăn một mình, và trải qua một buổi chiều dài đằng đẵng bị trói dính vào chiếc ghế dài. Bà Bhaer nới lỏng dây xích ra một chút để con bé có thể nhìn ra ngoài cửa sổ; và ở đó nó đứng ngắm lũ trẻ chơi đùa cùng tất cả các sinh vật mùa hè nhỏ bé đang tận hưởng tự do ngoài kia. Daisy tổ chức một buổi dã ngoại cho búp bê trên thãi cỏ để Nan có thể chứng kiến niềm vui dù chẳng thể trực tiếp tham gia. Tommy biểu diễn những cú nhào lộn đẹp mắt nhất để an ủi nó; Demi ngồi trên bậc thềm vừa đọc to cho chính mình nghe vừa tạo ra khối trò chơi thú vị cho Nan.
Nhưng chẳng có gì bù đắp nổi cho sự mất mát tự do; và chỉ vài tiếng đồng hồ bị giam cầm cũng đủ dạy cho Nan biết nó trân quý nhường nào. Bao nhiêu suy nghĩ cứ lướt qua cái đầu nhỏ bé đang tựa cằm lên bệ cửa sổ trong suốt tiếng đồng hồ yên ả cuối cùng khi tất cả lũ trẻ đều ra suối xem chiếc tàu thủy mới của Emil hạ thủy. Lẽ ra con bé là người làm lễ rửa tội cho nó, và nó đã trông chờ vào việc đập vỡ một lọ nhỏ rượu nho currant lên mũi tàu khi nó được đặt tên là Josephine để vinh danh bà Bhaer. Giờ thì nó đã mất toi cơ hội ấy, và Daisy chắc chắn sẽ không làm tốt bằng nó rồi. Những giọt nước mắt trào ra khóe mi khi nó nhớ ra tất cả đều do lỗi của chính mình; và nó lớn tiếng lẩm bẩm, hướng về phía một chú ong mập mạp đang lăng xăng lăn lộn trong nhụy hoa hồng vàng ngay dưới cửa sổ:
“Nếu mày đã trốn đi chơi, tốt nhất là mày nên bay thẳng về nhà ngay đi, và thú nhận với mẹ rằng mày rất hối hận, rồi hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa nghe chưa.”
“Ta rất vui khi nghe cháu đưa ra lời khuyên tuyệt vời đó cho nó, và ta nghĩ nó đã tiếp thu rồi đấy,” bà Jo mỉm cười nói khi chú ong vỗ đôi cánh dầy bụi phấn rồi bay vụt đi.
Nan lau vội một hoặc hai giọt nước mắt sáng lấp lánh đọng trên bệ cửa sổ, rồi rúc sát vào người vị ân nhân khi được bà bế xốc lên đùi, dịu dàng nói tiếp vì bà đã nhìn thấy những giọt nước mắt ấy và hiểu ý nghĩa của chúng:
“Cháu có nghĩ phương pháp chữa bệnh trốn nhà đi chơi của mẹ là một cách hay không?”
“Có ạ,” Nan ngoan ngoãn đáp, hoàn toàn bị khuất phục sau một ngày dài tĩnh tâm.
“Ta hy vọng ta sẽ không phải dùng lại nó lần nữa đâu.”
“Chắc là không bao giờ đâu ạ;” và Nan ngước nhìn lên với một gương mặt kiên quyết đến mức bà Jo cảm thấy vô cùng thỏa mãn và không nói thêm gì nữa, bởi bà thích để những hình phạt tự phát huy tác dụng của chúng và không muốn làm hỏng hiệu quả ấy bằng cách thuyết giáo quá nhiều.
Đúng lúc đó Rob xuất hiện, cẩn thận nâng niu thứ mà Asia gọi là “bánh nướng đĩa” (sarcer pie), ý chỉ chiếc bánh được nướng ngay trong một chiếc đĩa nhỏ.
“Nó được làm từ số quả mọng của con đấy, và con sẽ chia cho cậu một nửa vào giờ ăn tối nhé,” cậu long trọng tuyên bố.
“Sao cậu lại tốt với tớ thế, trong khi tớ hư đốn như vậy cơ chứ?” Nan bẽn lẽn hỏi.
“Bởi vì chúng ta đã cùng nhau bị lạc mà. Cậu sẽ không bao giờ hư đốn nữa đúng không?”
“Không bao giờ,” Nan quả quyết đáp.
“Ôi, tuyệt quá! Nào, chúng ta hãy đi nhờ Mary Ann cắt chiếc bánh này ra sẵn sàng để ăn thôi; sắp đến giờ uống trà rồi đấy,” và Rob giơ chiếc bánh nhỏ ngon lành ra ra hiệu.
Nan chồm dậy định bước theo, nhưng rồi khựng lại và thấu đáo nói:
“Ôi tớ quên mất, tớ vẫn chưa được tháo ra mà.”
“Cứ thử xem nào,” bà Bhaer nói, người vừa lén lút tháo nút thắt sợi dây thừng từ lúc nào trong lúc trò chuyện.
Nan nhận ra mình đã được tự do, và với một cái ôm đầy cuồng nhiệt dành cho bà Jo, con bé lao vút đi hệt như một chú chim ruồi, theo sau là Robby vừa chạy vừa nhỏ giọt nước việt quất tung tóe khắp nơi.