Tháng Bảy đã đến, mùa gặt cỏ bắt đầu; những khu vườn nhỏ xanh tươi mơn mởn và những ngày hè dài đằng đẵng ngập tràn giờ phút dễ chịu. Ngôi nhà rộng mở từ sáng đến tối, và lũ trẻ sống ngoài trời, ngoại trừ giờ học. Các bài học ngắn ngủi và có rất nhiều kỳ nghỉ, bởi vợ chồng Bhaer tin rằng việc vun đắp một cơ thể khỏe mạnh qua nhiều vận động là điều quan trọng, và những mùa hè ngắn ngủi của chúng ta được tận dụng tốt nhất qua lao động ngoài trời. Một đám trẻ má hồng rực, rám nắng, vạm vỡ làm sao; chúng ăn ngon miệng làm sao; đôi tay và đôi chân cứng cáp làm sao, đến mức làm rách cả áo khoác và quần; tiếng cười đùa và những cuộc đua chạy khắp nơi làm sao; những trò tinh quái trong nhà và ngoài chuồng ngựa làm sao; những chuyến phiêu lưu trong các cuộc đi dạo qua đồi qua thung lũng làm sao; và sự mãn nguyện trong lòng của hai vợ chồng Bhaer kính mến khi thấy bầy trẻ của họ thịnh vượng cả về trí tuệ lẫn thể xác, tôi không tài nào tả xiết. Chỉ có một điều duy nhất còn thiếu để khiến chúng hoàn toàn hạnh phúc, và điều đó đã đến vào lúc chúng ít ngờ tới nhất.
Vào một đêm dịu gió khi các cậu bé nhỏ đã lên giường đi ngủ, mấy đứa lớn đang tắm ở suối, còn bà Bhaer đang cởi quần áo cho Teddy trong phòng khách của mình, thằng bé bỗng kêu lên: “Ôi, Danny của con kìa!” và chỉ tay ra cửa sổ, nơi ánh trăng đang chiếu sáng rực rỡ.
“Không, cục cưng ạ, nó không ở đó đâu, đó chỉ là vầng trăng đẹp thôi,” mẹ nó nói.
“Không, không, Danny ở cửa sổ; Teddy thấy cậu ấy mà,” đứa bé khăng khăng, vô cùng phấn khích.
“Có lẽ nào lại thế,” và bà Bhaer vội vã chạy đến cửa sổ, hy vọng điều đó sẽ thành sự thật. Nhưng bóng người đã biến mất, và chẳng có dấu hiệu nào của một cậu bé bằng xương bằng thịt ở bất kỳ đâu; bà gọi tên nó, chạy ra cửa trước trong khi Teddy vẫn mặc chiếc áo ngủ nhỏ và giục thằng bé cùng gọi theo, nghĩ rằng giọng trẻ con có lẽ sẽ có tác dụng hơn giọng của mình. Không ai trả lời, chẳng có gì xuất hiện, và họ quay lại với nỗi thất vọng tràn trề. Teddy không chịu thỏa mãn với vầng trg mặt trăng, và sau khi đã nằm trong cũi, nó cứ ngóc đầu dậy hỏi xem Danny đã “về sớm” chưa.
Lát sau thằng bé chìm vào giấc ngủ, lũ trẻ lũ lượt kéo lên phòng đi ngủ, ngôi nhà trở nên yên tĩnh, và chẳng có gì phá vỡ sự tĩnh lặng êm đềm của đêm hè ngoài tiếng dế kêu rả rích. Bà Bhaer ngồi vá vá may may, bởi chiếc giỏ đựng đồ lớn lúc nào cũng chất đầy tất với những chiếc lỗ thủng trông đến là hoảng, và bà cứ nghĩ mãi về đứa trẻ đã lạc mất. Bà đã đinh ninh rằng đứa bé nhìn nhầm, và thậm chí còn chẳng làm phiền ông Bhaer bằng cách kể cho ông nghe về trí tưởng tượng của thằng bé, vì người đàn ông tội nghiệp ấy có chút thời gian rảnh rỗi nào cho riêng mình đâu cho đến khi lũ trẻ đi ngủ, và ông đang bận viết thư. Lúc đó đã qua mười giờ khi bà đứng dậy để khóa cửa nhà nghỉ ngơi. Khi bà dừng lại một phút để tận hưởng khung cảnh yên bình từ bậc thềm, một vật gì đó màu trắng đập vào mắt bà trên một đống cỏ khô rải rác trên bãi cỏ. Bọn trẻ đã chơi đùa ở đó suốt buổi chiều, và nghĩ rằng Nan để quên mũ như mọi khi, bà Bhaer bèn bước ra để lấy. Nhưng khi đến gần, bà thấy đó không phải mũ cũng chẳng phải khăn tay, mà là một ống tay áo với bàn tay nâu sạm chìa ra khỏi đó. Bà vội vòng ra sau đống cỏ khô, và Dan đang nằm ở đó, ngủ say như chết.
Trông cậu bé rách rưới, bẩn thỉu, gầy gò và kiệt sức; một bên chân để trần, chân kia được băng lại bằng chiếc áo khoác bằng vải gingham cũ mà cậu đã tự cởi ra khỏi người để làm băng gạc thô sơ quấn cho vết thương nào đó. Cậu có vẻ đã trốn sau đống cỏ khô, nhưng trong lúc ngủ lại quăng cánh tay ra làm lộ mất chỗ ẩn nấp. Cậu thở dài và lẩm bẩm như thể những giấc mơ đang làm phiền mình, và có lần khi cựa mình, cậu rên rỉ như thể đang đau đớn, nhưng rồi vẫn tiếp tục ngủ say sưa vì đã kiệt sức.
“Thằng bé không thể nằm đây được,” bà Bhaer nói, và cúi người xuống nhẹ nhàng gọi tên cậu. Cậu mở mắt nhìn bà, cứ như thể bà là một phần trong giấc mơ của mình, bởi cậu mỉm cười và nói ngái ngủ: “Mẹ Bhaer, con đã về nhà rồi.”
Ánh mắt ấy, câu nói ấy chạm đến sâu thẳm trái tim bà, và bà luồn tay xuống dưới đầu cậu để đỡ cậu dậy, cất giọng ân cần:
“Ta vẫn nghĩ con sẽ về, và ta rất vui được gặp lại con, Dan.” Lúc đó cậu có vẻ hoàn toàn tỉnh táo, giật mình vùng dậy nhìn xung quanh như thể chợt nhớ ra mình đang ở đâu, và thậm chí còn nghi ngờ cả sự chào đón ân cần ấy. Nét mặt cậu thay đổi, và cậu cất giọng cộc cằn quen thuộc:
“Con định đi vào buổi sáng mà. Con chỉ ghé lại nhìn vào trong khi đi ngang qua thôi.”
“Nhưng sao lại không vào trong hở Dan? Bộ con không nghe chúng ta gọi sao? Teddy đã thấy và khóc gọi con đấy.”
“Cứ ngỡ mọi người không cho con vào,” cậu nói, tay mân mê gói đồ nhỏ mà cậu vừa cầm lên như thể định đi ngay.
“Cứ thử xem khắc biết,” bà Bhaer chỉ đáp lời có thế, đưa tay ra và chỉ về phía cánh cửa nơi ánh đèn đang chiếu rọi hiếu khách.
Thở dài một hơi thật dài như thể trút được gánh nặng trong lòng, Dan nhặt một chiếc gậy chắc chắn lên, bắt đầu lê bước đi về phía ngôi nhà, nhưng rồi bỗng khựng lại, ngập ngừng hỏi:
“Ông Bhaer sẽ không thích đâu. Con đã trốn khỏi nhà Page.”
“Ông ấy biết chuyện rồi, và rất lấy làm tiếc, nhưng điều đó không thành vấn đề đâu. Chân con bị thọt à?” bà Jo hỏi khi cậu lại lê bước đi tiếp.
“Lúc trèo qua bức tường thì hòn đá rơi trúng chân làm dập nát. Con không sao đâu,” và cậu cố hết sức giấu đi cơn đau mà mỗi bước đi mang lại.
Bánh Bhaer đỡ cậu vào phòng riêng của mình, và vừa vào đến nơi, cậu liền thả người xuống ghế, ngả đầu ra sau, tái nhợt và lả đi vì mệt mỏi cùng đau đớn.
“Dan tội nghiệp của ta! Hãy uống cái này, rồi ăn một chút gì đó; bây giờ con đang ở nhà rồi, và Mẹ Bhaer sẽ chăm sóc con thật chu đáo.”
Cậu ngước nhìn bà với đôi mắt ngập tràn lòng biết ơn, uống cạn ly rượu mà bà đưa lên môi, rồi bắt đầu chậm rãi ăn phần thức ăn bà mang tới. Từng miếng ăn như tiếp thêm sức sống cho cậu, và chẳng mấy chốc cậu bắt đầu trò chuyện như thể rất sốt sắng muốn bà biết hết mọi chuyện về mình.
“Con đã đi những đâu thế, Dan?” bà hỏi, trong lúc bắt đầu lấy ra mấy cuộn băng gạc.
“Con bỏ trốn cách đây hơn một tháng rồi. Ông Page cũng tốt, nhưng nghiêm khắc quá. Con không thích, nên con xuôi dòng sông bỏ đi với một người đàn ông đi thuyền. Đó là lý do họ không thể biết con đi đâu. Khi rời khỏi người đó, con làm thuê vài tuần cho một bác nông dân, nhưng con đánh con trai bác ấy, rồi ông già đó đánh lại con, thế là con lại bỏ trốn và đi bộ về đây.”
“Đi bộ suốt quãng đường dài thế á?”
Vâng, người đàn ông đó không trả công cho con, và con thì không thèm đòi. Coi như trừ vào tiền đánh con bé nhà hắn vậy,” và Dan cười, nhưng trông có vẻ ngượng ngùng khi liếc nhìn bộ quần áo rách rưới và đôi bàn tay bẩn thỉu của mình.
“Làm sao con sống được hay vậy? Đó là một cuộc hành trình dài đằng đẵng đối với một đứa trẻ như con.”
“Ôi, con vẫn xoay xở được thôi, cho đến khi bị thương ở chân. Mọi người cho con đồ ăn, và con ngủ trong các nhà kho rồi đi bộ suốt ban ngày. Con bị lạc đường khi cố đi đường tắt, nếu không thì đã đến đây sớm hơn rồi.”
“Nhưng nếu con không có ý định vào đây ở lại với chúng ta, thì con định làm gì?”
“Con nghĩ mình muốn gặp lại Teddy và cô; rồi con sẽ quay lại chỗ làm cũ ở thành phố, chỉ vì mệt quá nên con mới ngủ thiếp đi trên đống cỏ khô. Con đã đi từ sáng sớm nếu cô không tìm thấy con rồi.”
“Con có tiếc vì ta đã tìm thấy không?” và bà Jo nhìn cậu với ánh mắt nửa vui đùa nửa trách móc, khi quỳ xuống xem xét vết thương ở chân cậu.
Máu bừng lên mặt Dan, và cậu dán mắt vào chiếc đĩa trên tay, nhỏ giọng đáp: “Không ạ, thưa cô, con rất mừng, con thực sự muốn ở lại, nhưng con sợ rằng cô—”
Cậu chưa nói hết câu thì bà Bhaer đã thốt lên một tiếng kêu xót xa khi nhìn thấy bàn chân cậu, bởi nó bị thương rất nặng.
“Con bị từ bao giờ thế?”
“Ba ngày trước ạ.”
“Và con đã đi bộ trên cái chân thế này ư?”
“Con có một cây gậy, và con rửa chân ở mọi con suối đi qua, có một người phụ nữ còn cho con một miếng giẻ rách để quấn vào nữa.”
“Ông Bhaer phải xem và băng bó cho con ngay lập tức mới được,” và bà Jo vội vã bước sang căn phòng bên cạnh, để ngỏ cánh cửa phía sau để Dan có thể nghe thấy hết mọi chuyện diễn ra.
“Fritz, thằng bé đã quay lại rồi anh ạ.”
“Ai cơ? Dan á?”
“Vâng, Teddy thấy nó ở cửa sổ và gọi nó, nhưng nó bỏ đi trốn sau đống cỏ khô ngoài bãi cỏ. Em vừa tìm thấy nó ở đó đang ngủ say như chết, kiệt sức và đau đớn đến nửa sống nửa chết. Nó đã bỏ trốn khỏi nhà Page cách đây một tháng, và cứ thế tìm đường đến với chúng ta từ đó đến nay. Nó giả vờ như không có ý định cho chúng ta thấy mặt, mà định đi thẳng ra thành phố làm lại công việc cũ sau khi ghé qua nhìn chúng ta một cái. Tuy nhiên, rõ ràng là niềm hy vọng được dung thứ đã dẫn nó đến đây bằng mọi giá, và nó đang ở đó chờ xem anh có tha thứ và nhận nó lại hay không.”
“Nó đã nói thế à?”
“Ánh mắt nó nói lên điều đó, và khi em đánh thức nó dậy, nó thốt lên như một đứa trẻ lạc lối: ‘Mẹ Bhaer, con đã về nhà rồi.’ Em không nỡ mắng mỏ gì nó cả, và cứ thế đón nhận nó như một con cừu đen tội nghiệp quay về chuồng. Em giữ nó lại nhé, Fritz?”
“Đương nhiên là em được phép rồi! Điều này chứng tỏ với anh rằng chúng ta có chỗ đứng trong trái tim thằng bé, và anh sẽ chẳng đời nào đuổi nó đi lúc này, cũng giống như anh không đời nào làm thế với Rob của chúng ta vậy.”
Dan nghe thấy một tiếng động nhỏ dịu dàng, như thể bà Jo đang thầm cảm ơn chồng mình không thành lời, và trong sự tĩnh lặng chớp nhoáng theo sau đó, hai giọt nước mắt lớn tụ lại từ từ trong đôi mắt cậu bé đã trào ra, lăn dài trên đôi má bám đầy bụi. Không ai nhìn thấy chúng, bởi cậu vội vã dùng tay quệt đi; nhưng trong khoảng lặng ngắn ngủi đó, tôi nghĩ sự hoài nghi lâu nay của Dan đối với những con người tốt bụng này đã tan biến mãi mãi, góc mềm yếu trong trái tim cậu đã được chạm đến, và cậu cảm thấy một khao khát mãnh liệt muốn chứng minh bản thân xứng đáng với tình yêu thương cùng lòng trắc ẩn vô bờ bến và đầy bao dung ấy. Cậu không nói gì cả, cậu chỉ dồn hết tâm can để ước ao điều đó, quyết tâm thử sức theo cách ngây ngô của một cậu con trai, và niêm phong quyết tâm ấy bằng những giọt nước mắt mà ngay cả nỗi đau, sự mệt mỏi hay cô đơn cũng không thể ép cậu rơi ra nổi.
“Hãy ra xem chân thằng bé đi anh. Em sợ nó bị thương nặng lắm, vì nó đã lê bước suốt ba ngày qua tiết trời oi bức và bụi bặm, chẳng có gì ngoài nước và một chiếc áo khoác cũ để băng bó. Em nói thật đấy Fritz, thằng bé đó là một cậu nhóc dũng cảm, và sau này sẽ trở thành một người đàn ông tuyệt vời cho mà xem.”
“Anh hy vọng thế, vì chính em đấy, người phụ nữ nhiệt huyết ạ, niềm tin của em rất xứng đáng nhận được thành công. Giờ thì anh sẽ đi gặp nhà Sparta nhỏ bé của em đây. Nó đâu rồi?”
“Trong phòng em; nhưng anh à, hãy đối xử thật dịu dàng với nó nhé, dù trông nó có vẻ cộc cằn thế nào đi nữa. Em chắc chắn đó là cách duy nhất để thu phục nó. Nó không chịu được sự cứng nhắc hay kìm kẹp quá mức đâu, nhưng một lời nói nhẹ nhàng và sự kiên nhẫn vô hạn sẽ dẫn dắt nó, hệt như cách từng dẫn dắt em vậy.”
“Cứ như là em từng giống cái tên tiểu yêu này không bằng!” ông Bhaer thốt lên, vừa cười vừa tỏ vẻ nửa đùa nửa thật giận dỗi trước ý nghĩ đó.
“Em đã từng như thế về mặt tinh thần, dù em thể hiện ra bằng cách khác. Em dường như có bản năng thấu hiểu cảm giác của nó, hiểu được điều gì sẽ chinh phục và chạm đến trái tim nó, cũng như đồng cảm với những cám dỗ và lỗi lầm của nó. Em rất mừng vì mình hiểu được điều đó, bởi nó sẽ giúp em giúp đỡ lại nó; và nếu em có thể biến cậu con trai hoang dã này thành một người đàn ông tốt, thì đó sẽ là công việc tuyệt vời nhất trong cuộc đời em.”
“Xin Chúa phù hộ cho công việc ấy, và giúp đỡ người thực hiện!”
Ông Bhaer lúc này cất giọng trang nghiêm chẳng kém gì bà, và cả hai cùng bước vào phòng, bắt gặp đầu Dan đang gục xuống cánh tay như thể đã hoàn toàn kiệt sức vì ngủ gật. Nhưng cậu ngước lên nhanh chóng và cố gắng đứng dậy khi ông Bhaer vui vẻ cất lời:
“Thế ra con thích Plumfield hơn trang trại của Page cơ à. Nào, để xem chúng ta có thể sống với nhau thoải mái hơn lần trước không nhé.”
“Con cảm ơn bác ạ,” Dan nói, cố gắng tỏ ra không cộc cằn, và thấy việc đó dễ dàng hơn cậu tưởng.
“Giờ thì xem cái chân nào! Chà! Thế này là chưa ổn rồi. Ngày mai chúng ta phải nhờ bác sĩ Firth đến thôi. Nước ấm nào Jo, và vải lanh cũ nữa.”
Ông Bhaer rửa và băng bó vết thương cho cậu, trong khi bà Jo chuẩn bị chiếc giường trống duy nhất trong nhà. Nó nằm ở căn phòng khách nhỏ thông ra từ phòng khách lớn, thường được dùng khi lũ trẻ bị ốm, vì nó giúp bà Jo đỡ phải chạy lên chạy xuống, lại có thể quan sát được những gì đang diễn ra bên ngoài. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, ông Bhaer bế thốc cậu bé lên tay, đưa vào phòng, giúp cậu thay quần áo, đặt cậu nằm xuống chiếc giường trắng nhỏ xinh, rồi rời đi với một cái bắt tay cùng lời chúc mang âm hưởng của một người cha: “Chúc con ngủ ngon, con trai của ta.”
Dan chìm vào giấc ngủ ngay lập tức và ngủ say sưa suốt mấy tiếng đồng hồ; rồi vết thương bắt đầu nhức nhối và đau buốt, khiến cậu tỉnh giấc trằn trọc không yên, cố gắng kìm nén không rên rỉ kẻo ai đó nghe thấy, bởi cậu là một cậu nhóc dũng cảm và thực sự chịu đựng nỗi đau giống như “một chiến binh Sparta nhỏ tuổi” đúng như cách ông Bhaer gọi.
Bà Jo có thói quen đi lang quanh trong nhà vào ban đêm để đóng cửa sổ nếu gió trở lạnh, kéo màn chống muỗi cho Teddy, hoặc ngó chừng Tommy, thỉnh thoảng hay mộng du. Chỉ cần một tiếng động nhỏ cũng đủ làm bà tỉnh giấc, và vì hay tưởng tượng ra kẻ trộm, mèo hoang và hỏa hoạn, nên các cánh cửa trong nhà lúc nào cũng mở toang, thế là đôi tai thính nhạy của bà đã bắt được tiếng rên rỉ nho nhỏ của Dan, và bà có mặt ngay lập tức chỉ trong chớp mắt. Cậu đang cố đấm một cú đầy tuyệt vọng vào chiếc gối nóng hổi thì một ánh sáng le lói chiếu qua hành lang, và bà Jo rón rén bước vào, trông hệt như một con ma ngộ nghĩnh với búi tóc to tướng trên đỉnh đầu và chiếc áo choàng dài màu xám lê thết đằng sau.
“Dan, con bị đau lắm à?”
“Đau lắm ạ; nhưng con không có ý định làm cô thức giấc đâu.”
“Ta vốn là một kiểu cú mèo, lúc nào cũng bay lượn quanh nhà vào ban đêm mà. Ừm, chân con nóng như lửa đốt thế này; phải thay băng mới thôi,” và thế là con cú mèo mang bản năng người mẹ lại vỗ cách đi lấy thêm thuốc làm mát và một vại nước đá lớn.
“Ôi, thích quá ạ!” Dan thở phào khi những dải băng ướt lạnh được đắp lên, và một ngụm nước lớn làm dịu đi cổ họng đang khô cháy của cậu.
“Rồi, bây giờ thì ngủ cho ngon đi, và đừng hoảng sợ nếu con lại thấy ta, vì lát nữa ta sẽ tạt xuống rưới thêm chút nước mát cho con.”
Vừa nói, bà Jo vừa cúi xuống lật ngược chiếc gối và vuốt phẳng chăn đệm, thì trước sự ngạc nhiên lớn lao của bà, Dan vòng tay ôm lấy cổ bà, kéo sát khuôn mặt bà xuống và hôn lên má, kèm theo lời ngắt quãng: “Cảm ơn cô ạ,” điều đó còn nói lên nhiều ý nghĩa hơn cả những bài phát biểu hùng hồn nhất; bởi cái hôn vội vã cùng những lời lầm bầm ấy mang ý nghĩa rằng: “Con rất tiếc, con sẽ cố gắng.” Bà hiểu điều đó, đón nhận lời thú nhận không thành lời ấy và không làm hỏng khoảnh khắc ấy bằng bất kỳ biểu hiện ngạc nhiên nào. Bà chỉ nhớ rằng cậu không có mẹ, đặt một nụ hôn lên gò má rám nắng đang ẩn một nửa vào gối như thể đang ngượng ngùng vì chút dịu dàng nhỏ nhoi ấy, rồi rời đi với câu nói mà cậu mãi khắc ghi: “Bây giờ con là con trai của ta rồi, và nếu muốn, con hoàn toàn có thể khiến ta tự hào và hạnh phúc khi nói điều đó.”
Lại một lần nữa, ngay lúc rạng sáng, bà lén bước xuống và thấy cậu đang ngủ say đến mức chẳng mảy may thức giấc, cũng không có dấu hiệu nhận biết nào khi bà thoa nước thuốc lên chân cậu, ngoại trừ việc những đường nét nhăn nhó vì đau đớn đã giãn ra, để lại khuôn mặt vô cùng bình thản.
Hôm đó là Chủ Nhật, và ngôi nhà yên tĩnh đến mức cậu không hề tỉnh giấc cho đến gần trưa, để rồi khi ngước nhìn xung quanh, cậu bắt gặp một khuôn mặt nhỏ nhắn đầy vẻ háo hức đang ngó vào cửa phòng. Cậu dang rộng hai tay, và Teddy lao vụt qua phòng để quăng cả người lên giường, hét lên: “Danny của con về rồi!” trong lúc ôm chặt lấy cậu và ngoằn ngoèo vì quá đỗi thích thú. Bà Bhaer xuất hiện ngay sau đó, mang theo bữa sáng, và dường như chẳng hề để tâm đến vẻ mặt ngượng ngùng của Dan khi nhớ lại khung cảnh nhỏ bé tối qua. Teddy khăng khăng đòi đút “búp-phết” cho cậu và đút ăn cho cậu hệt như một đứa em bé bỏng, điều mà Dan vô cùng tận hưởng dẫu bản thân lúc đó chẳng thấy đói lắm.
Rồi bác sĩ đến, và cậu chiến binh Sparta tội nghiệp đã phải trải qua một phen tơi bời, bởi một vài chiếc xương nhỏ trong bàn chân cậu đã bị tổn thương, và việc nắn chỉnh lại chúng là một công việc đau đớn đến mức môi Dan tái mét, những giọt mồ hôi lớn túa ra trên trán, dù cậu không hề kêu lên một tiếng nào và chỉ nắm chặt tay bà Jo đến mức nó hằn đỏ suốt một thời gian dài sau đó.
“Cậu bé này phải được nghỉ ngơi yên tĩnh, ít nhất là trong một tuần, và tuyệt đối không được để chân chạm đất. Đến lúc đó, tôi sẽ biết liệu cậu ấy có thể lò cò một chút với nạng, hay phải nằm liệt giường lâu hơn nữa,” bác sĩ Firth nói, vừa cất những dụng cụ sáng loáng mà Dan không thích nhìn vào.
“Rồi chân con sẽ lành lại chứ ạ?” cậu hỏi, trông đầy vẻ hoảng hốt trước từ “nạng”.
“Tôi hy vọng thế;” và nói đoạn, bác sĩ ra về, để lại Dan trong tâm trạng vô cùng chán nản; bởi việc mất đi một chân là một thảm họa kinh hoàng đối với một cậu bé hiếu động.
“Đừng lo lắng, ta là một y tá cừ khôi đấy, và chúng ta sẽ giúp con đi lại thoăn thoắt như xưa chỉ trong vòng một tháng thôi,” bà Jo động viên, nhìn nhận sự việc theo hướng đầy hy vọng.
Nhưng nỗi sợ bị què quặt vẫn ám ảnh Dan, và ngay cả những âu yếm của Teddy cũng không thể vực dậy tinh thần cậu; thế là bà Jo đề nghị cho một hoặc hai đứa trẻ vào thăm hỏi một chút, và hỏi xem cậu muốn gặp ai.
“Nat và Demi ạ; con cũng muốn lấy chiếc mũ của mình nữa, hình như trong đó có thứ mà tụi nó sẽ thích xem đấy. Chắc cô đã vứt đống chiến lợi phẩm của con đi rồi phải không?” Dan hỏi với vẻ khá lo lắng.
“Không, ta vẫn giữ lại, vì ta nghĩ chúng hẳn phải là những báu vật nào đó nên con mới nâng niu cẩn thận đến vậy;” và bà Jo mang đến cho cậu chiếc mũ rơm cũ cắm đầy bướm và bọ cánh cứng, cùng một chiếc khăn tay đựng một bộ sưu tập những món kỳ lạ nhặt được trên đường đi: trứng chim được gói ghém cẩn thận trong rêu, vỏ sò và những viên đá lạ mắt, những mẩu nấm, và vài con cua nhỏ đang trong trạng thái vô cùng tức giận vì bị bắt giam.
“Con có thể xin thứ gì để đựng mấy tên này không? Ông Hyde và con tìm thấy chúng đấy, và chúng là những con tuyệt cú mèo luôn, nên con muốn giữ lại để quan sát; được không ạ?” Dan quên bẵng đi cái chân đau, cười lớn khi thấy đám cua bò ngang bò ngửa khắp giường.
“Đương nhiên là được chứ; chiếc lồng cũ của con Polly sẽ vừa như in. Đừng để chúng kẹp ngón chân Teddy trong lúc ta đi lấy nhé;” và bà Jo bước đi, để lại Dan vô cùng sung sướng khi phát hiện ra những báu vật của mình không bị coi là rác rưởi rồi vứt đi.
Nat, Demi và chiếc lồng cùng lúc xuất hiện, và đám cua nhanh chóng được định cư trong ngôi nhà mới, mang lại niềm vui lớn cho lũ trẻ, những đứa vì quá hào hứng với màn chào hỏi này mà quên béng đi sự ngượng ngùng vốn có khi gặp lại kẻ trốn chạy. Trước những thán giả đầy ngưỡng mộ ấy, Dan kể lại những cuộc phiêu lưu của mình chi tiết hơn nhiều so với khi kể cho vợ chồng nhà Bhaer. Sau đó, cậu trưng bày “chiến lợi phẩm” của mình ra và miêu tả từng món một cách sinh động đến mức bà Jo, người đã lui vào căn phòng bên cạnh để cho chúng sự tự do, cảm thấy vô cùng ngạc nhiên, hứng thú cũng như buồn cười trước tiếng trò chuyện rôm rả của tuổi trẻ.
“Thằng bé biết nhiều về mấy thứ này thật đấy! Nó đắm chìm vào chúng biết bao! Và thật may mắn làm sao vào lúc này, vì nó vốn chẳng mặn mà gì với sách vở, sẽ rất khó để giải khuây cho nó khi phải nằm một chỗ; nhưng lũ trẻ có thể cung cấp cho nó bọ cánh cứng và đá sỏi nhiều bao nhiêu tùy thích, và ta rất vui khi phát hiện ra sở thích này của nó; đó là một sở thích lành mạnh, và biết đâu nó lại chính là chìa khóa làm nên tương lai của thằng bé. Nếu sau này nó trở thành một nhà tự nhiên học vĩ đại, còn Nat là một nhạc sĩ, thì ta sẽ có lý do để tự hào về thành quả lao động của năm nay rồi;” và bà Jo mỉm cười ngồi sau cuốn sách của mình, xây dựng những lâu đài trên không hệt như hồi còn là một thiếu nữ, chỉ có điều ngày xưa những ước mơ ấy là dành cho bản thân, còn bây giờ chúng dành cho những người khác, có lẽ đó là lý do vì sao một số trong số chúng đã trở thành hiện thực bởi lòng bác ái chính là nền tảng tuyệt vời để xây dựng bất cứ điều gì.
Nat tỏ ra hứng thú nhất với những cuộc phiêu lưu, nhưng Demi lại cực kỳ thích thú với lũ bọ cánh cứng và bướm, nuốt lấy từng câu chuyện về cuộc đời ngắn ngủi đầy biến động của chúng như thể đó là một dạng truyện cổ tích mới mẻ và đáng yêu; bởi vì, dù diễn đạt theo cách mộc mạc, Dan vẫn kể rất hay và cảm thấy vô cùng mãn nguyện khi nghĩ rằng ít nhất ở đây nhà hiết học nhỏ tuổi có thể học hỏi từ mình. Cả bọn say sưa nghe kể về vụ bắt một con chuột xạ mà bộ da nằm trong số các báu vật, đến mức ông Bhaer phải tự thân bước vào bảo Nat và Demi rằng đã đến giờ đi dạo rồi. Dan nhìn theo bóng họ tha thiết khi họ chạy đi, đến nỗi cha Bhaer đề nghị khiêng cậu ra chiếc ghế dài trong phòng khách để đổi gió và thay đổi không gian.
Khi cậu đã nằm ổn định và ngôi nhà trở nên yên tĩnh, bà Jo, người đang ngồi gần đó cho Teddy xem tranh, cất giọng đầy hứng thú khi hất cằm về phía những món báu vật vẫn đang nằm trong tay Dan:
“Con học được nhiều điều về mấy thứ này ở đâu thế?”
“Con lúc nào cũng thích chúng, nhưng chẳng biết nhiều cho đến khi ông Hyde kể cho con nghe.”
“À, ông ấy là người hay la cà trong rừng để nghiên cứu mấy thứ này — ta chẳng biết các con gọi ông ấy là gì nữa — và viết sách về ếch, cá, vân vân. Ông ấy trọ ở nhà Page, và cứ hay rủ con đi phụ giúp, vui lắm cơ, vì ông ấy kể cho con nghe bao nhiêu là chuyện, lại vừa cực kỳ vui tính vừa uyên bác. Hy vọng thỉnh thoảng con sẽ gặp lại ông ấy.”
“Ta cũng hy vọng thế,” bà Jo nói, bởi khuôn mặt Dan đã bừng sáng và cậu tỏ ra vô cùng hứng thú với vấn đề này đến mức quên mất tính ít nói thường ngày.
“Cậu biết không, ông ấy có thể khiến chim chóc bay đến chỗ mình, còn thỏ và sóc thì chẳng thèm đếm xỉa gì đến ông ấy cứ như thể ông là một thân cây vậy. Cô đã bao giờ cù một con thằn lằn bằng một cọng rơm chưa?” Dan hào hứng hỏi.
“Chưa, nhưng ta rất muốn thử đấy.”
“Chà, con làm rồi, và buồn cười lắm khi thấy chúng lật ngửa người ra rồi duỗi thẳng thớm, chúng thích lắm cơ. Ông Hyde hay làm thế lắm; và ông ấy có thể khiến rắn lắng nghe khi ông huýt sáo, lại biết chính xác lúc nào thì một số loài hoa nở rộ, rồi ong vò vẽ cũng chẳng thèm đốt ông ấy nữa, và ông ấy có thể kể những chuyện kỳ diệu nhất về cá, ruồi, người da đỏ cùng những khối đá.”
“Ta có cảm giác vì quá thích đi cùng ông Hyde nên con hơi lơ là ông Page thì phải,” bà Jo láu lỉnh nói.
“Vâng, đúng thế ạ; con ghét cay ghét đắng việc phải làm cỏ và cuốc đất trong khi có thể đi lang thang cùng ông Hyde. Page thì cho mấy việc đó là ngớ ngẩn, và gọi ông Hyde là kẻ điên chỉ vì ông ấy cứ đứng lì hàng giờ liền để quan sát một con cá hồi hoặc một chú chim.”
“Hay là con dùng từ ‘nằm’ thay vì ‘đứng lì’, nghe sẽ đúng ngữ pháp hơn đấy,” bà Jo dịu dàng nhắc nhở, rồi tiếp lời: “Ừm, Page là một nông dân chính hiệu, và sẽ không thể hiểu được rằng công việc của một nhà tự nhiên học cũng thú vị và có lẽ quan trọng chẳng kém gì công việc của chính ông ấy. Giờ thì Dan, nếu con thực sự yêu thích những thứ này, như ta nghĩ và ta rất vui khi thấy điều đó, con sẽ có thời gian để nghiên cứu chúng và sách vở để hỗ trợ con; nhưng ta muốn con làm thêm một việc nữa, và phải làm cho thật tận tâm, nếu không sau này con sẽ phải hối hận và nhận ra rằng mình lại phải bắt đầu lại từ đầu đấy.”
“Vâng, thưa cô,” Dan ngoan ngoãn đáp, có chút sợ hãi trước giọng điệu nghiêm túc của những lời nói vừa rồi vì cậu vốn ghét sách vở, nhưng rõ ràng đã hạ quyết tâm sẽ học bất cứ thứ gì cô đề xuất.
“Con có thấy chiếc tủ mười hai ngăn kéo kia không?” câu hỏi tiếp theo hoàn toàn bất ngờ được thốt lên.
Dan thực sự nhìn thấy hai chiếc tủ cao theo kiểu cổ điển đứng ở hai bên cây đàn piano; cậu rất rành chúng và thường thấy những đoạn dây thừng nhỏ, đinh, giấy nâu và những thứ hữu dụng tương tự được lấy ra từ các ngăn kéo khác nhau. Cậu gật đầu mỉm cười. Bà Jo nói tiếp:
“Đấy, con không nghĩ những ngăn kéo đó sẽ là chỗ tuyệt vời để cất trứng, đá, vỏ sò và địa y của con sao?”
“Ôi, tuyệt cú mèo luôn ạ, nhưng chắc cô không thích đồ đạc của con ‘bày bừa lộn xộn’ như cách ông Page hay nói đâu, phải không ạ?” Dan vừa nói vừa ngồimật dậy để ngắm nghía món đồ nội thất cổ với đôi mắt lấp lánh.
“Ta lại thích sự bừa bộn kiểu đó đấy; và nếu không thích, ta vẫn sẽ giao cho con những ngăn kéo ấy, bởi ta rất tôn trọng những báu vật nhỏ bé của trẻ con, và ta nghĩ chúng cần được đối xử một cách trân trọng. Giờ thì, ta muốn ra một thỏa thuận với con nhé Dan, và ta hy vọng con sẽ giữ đúng lời hứa một cách danh dự. Đây là mười hai ngăn kéo có kích thước khá, mỗi ngăn tương ứng với một tháng trong năm, và chúng sẽ thuộc về con ngay khi con kiếm được chúng bằng cách hoàn thành những nhiệm vụ nhỏ nhặt thuộc về trách nhiệm của mình. Ta tin vào các phần thưởng ở một mức độ nào đó, đặc biệt là đối với bọn trẻ; chúng giúp chúng ta tiến bước, và dù ban đầu chúng ta có thể làm việc tốt vì mục đích nhận phần thưởng đi chăng nữa, thì nếu được sử dụng đúng cách, chẳng mấy chốc chúng ta sẽ học được cách yêu mến sự tốt đẹp vì chính bản thân nó.”
“Cô cũng có những phần thưởng như thế á?” Dan hỏi, với vẻ mặt có vẻ đây là một bài học hoàn toàn mới lạ đối với cậu.
“Có chứ! Ta vẫn chưa học được cách xoay sở nếu thiếu chúng đâu nhé. Phần thưởng của ta không phải là ngăn kéo, quà cáp hay những kỳ nghỉ, mà chúng là những thứ ta cũng thích chẳng kém gì con thích mấy món kia. Hạnh kiểm tốt và sự thành công của lũ trẻ là một trong những phần thưởng mà ta yêu thích nhất, và ta làm việc vì nó cũng như cách ta muốn con làm việc vì chiếc tủ của mình. Hãy làm những gì con không thích, và làm cho thật tốt, con sẽ nhận được hai phần thưởng: một là phần thưởng con có thể nhìn thấy và cầm nắm được; hai là sự thỏa mãn khi một nhiệm vụ được hoàn thành một cách vui vẻ. Con có hiểu điều đó không?”
“Vâng, thưa cô ạ.”
“Tất cả chúng ta đều cần những sự trợ giúp nhỏ bé ấy; thế nên con sẽ cố gắng làm bài học và công việc của mình, chơi đùa hòa nhã với tất cả các bạn, và tận dụng thật tốt những ngày nghỉ; và nếu con mang về cho ta một báo cáo tốt, hoặc nếu tự tay ta nhìn thấy và cảm nhận được điều đó mà không cần lời nói — vì ta rất tinh tường trong việc soi ra những nỗ lực nhỏ tốt đẹp của lũ trẻ — con sẽ có một ngăn trong hộc tủ dành riêng cho báu vật của mình. Xem này, một số ngăn đã được chia sẵn thành bốn phần, và ta sẽ cho làm những ngăn khác theo cùng cách đó, mỗi tuần một ô; và khi chiếc ngăn kéo ấy ngập tràn những món đồ kỳ lạ và xinh xắn, ta sẽ tự hào về nó chẳng kém gì con đâu; thậm chí còn tự hào hơn nữa — ta nghĩ thế — bởi trong những viên sỏi, đám rêu và những cánh bướm rực rỡ, ta sẽ nhìn thấy những quyết tâm tốt đẹp được thực hiện, những thói quen xấu bị khuất phục, và một lời hứa được giữ trọn vẹn. Chúng ta thỏa thuận thế nhé, Dan?”
Cậu bé đáp lại bằng một cái nhìn nói lên rất nhiều điều, bởi nó cho thấy cậu cảm nhận và thấu hiểu mong muốn cũng như lời nói của cô, dù cậu chẳng biết cách nào để diễn tả sự quan tâm và lòng biết ơn của mình trước sự quan tâm chăm sóc và lòng tốt ấy. Bà hiểu cái nhìn đó, và nhận thấy qua sắc hồng đang ửng lên tận trán rằng cậu đã thực sự xúc động đúng như ý muốn của mình, nên bà không nói thêm gì về khía cạnh đó của kế hoạch mới nữa, mà kéo ngăn kéo trên cùng ra, phủi bụi và đặt nó lên hai chiếc ghế trước chiếc ghế dài, nhanh nhẹn nói:
“Nào, hãy bắt đầu ngay bằng cách cất mấy con bọ cánh cứng tuyệt vời đó vào một nơi an toàn nhé. Các ngăn này chứa được khá nhiều đồ đấy con thấy không. Ta sẽ ghim lũ bướm và bọ quanh các thành vách; chúng sẽ hoàn toàn an toàn ở đó, và chừa lại không gian bên dưới cho những món nặng hơn. Ta sẽ cho con ít bông gòn, giấy sạch và ghim, con có thể chuẩn bị sẵn sàng cho công việc của tuần này.”
“Nhưng con không thể đi ra ngoài để tìm những món mới được,” Dan nói, nhìn bàn chân mình với vẻ mặt đầy tội nghiệp.
“Đúng thế nhỉ; không sao đâu, chúng ta sẽ để những báu vật này dùng tạm cho tuần này, và ta dám cá là lũ trẻ sẽ mang đến cho con đống đồ nếu con nhờ chúng đấy.”
“Tụi nó có biết loại nào ra loại nào đâu; vả lại, nếu con cứ nằm — không, cứ nằm dài ở đây suốt thế này, con sẽ chẳng thể làm việc hay học tập, cũng chẳng kiếm được ngăn tủ nào cả.”
“Có vô số bài học con có thể học khi nằm ở đây, và cả vài công việc nhỏ con có thể làm giúp ta nữa đấy.”
“Con làm được á?” Dan vừa ngạc nhiên vừa vui sướng thốt lên.
“Con có thể học cách kiên nhẫn và vui vẻ bất chấp đau đớn và việc không được chơi đùa. Con có thể giải khuây cho Teddy giúp ta, cuộn len, đọc sách cho ta nghe khi ta khâu vá, và làm rất nhiều việc mà không làm tổn thương chân, giúp những trôi qua nhanh chóng mà không hề lãng phí chút nào.”
Đúng lúc đó Demi chạy vào với một con bướm lớn trên tay này và một con cóc nhỏ vô cùng xấu xí trên tay kia.
“Nhìn này Dan, con tìm thấy chúng đấy, và chạy ngay về để tặng cho anh; chúng đẹp tuyệt phải không ạ?” Demi thở hổn hển nói.
Dan phì cười trước con cóc và bảo rằng mình chẳng có chỗ nào để nhốt nó cả, nhưng con bướm thì đúng là một tuyệt phẩm, và nếu bà Jo cho mượn một chiếc ghim lớn, cậu sẽ ghim thẳng nó lên ngăn kéo luôn.
“Ta không thích nhìn tội nghiệp vùng vẫy trên cây ghim đâu; nếu buộc phải tiêu diệt nó, hãy kết liễu nỗi đau của nó ngay lập tức bằng một giọt long não,” bà Jo vừa nói vừa lấy chai thuốc ra.
“Con biết cách làm đấy — ông Hyde toàn giết chúng theo cách đó — nhưng con chẳng có chút long não nào cả, nên đành dùng ghim,” và Dan nhẹ nhàng nhỏ một giọt lên đầu con côn trùng, lúc này đôi cánh xanh nhạt rung lên một thoáng rồi nằm im bất động.
Màn hành quyết tinh tế nhỏ xíu ấy vừa mới kết thúc thì Teddy từ phòng ngủ vọng ra hét lớn: “Ôi, lũ cua nhỏ chạy thoát rồi, và con cua bự đã ăn sạch tụi nó luôn.” Demi và dì của mình liền vội vã chạy đến ứng cứu, phát hiện ra Teddy đang nhảy cẫng lên phấn khích trên ghế, trong khi hai con cua nhỏ đang bò lổm ngổm khắp sàn nhà vì chui lọt qua các thanh dây thép của cái lồng. Một con thứ ba đang bám vào nóc lồng, rõ ràng đang sợ mất mật vì phía dưới là một cảnh tượng vừa bi ai vừa buồn cười. Con cua lớn đã nêm chặt mình vào cái hốc nhỏ nơi chiếc cốc của con Polly từng đứng, và nó cứ thế ngồi đó thong thả ăn thịt một trong những họ hàng của mình theo cách tỉnh bơ nhất. Tất cả các càng của nạn nhân tội nghiệp đều đã bị bẻ sạch và nó bị lật ngửa bụng ra, chiếc mai trên được giữ chặt bằng một cái càng áp sát vào miệng con cua lớn hệt như một cái đĩa, trong khi nó thong thả múc ăn bên trong bằng chiếc càng còn lại, thỉnh thoảng lại dừng lại để đảo cặp mắt lồi kỳ cục của mình sang hai bên rồiè chiếc lưỡi mảnh mai ra liếm láp theo cái cách khiến lũ trẻ cười ré lên khoái chí. Bà Jo bê chiếc lồng vào cho Dan chứng kiến cảnh tượng đó, trong khi Demi bắt và nhốt những kẻ lang thang dưới một chiếc chậu úp ngược.
“Chắc con phải thả mấy tên này đi thôi, vì con không thể giữ chúng trong nhà được,” Dan nói với vẻ tiếc nuối rõ rệt.
“Con sẽ chăm sóc chúng giúp anh nếu anh chỉ cho con cách, chúng hoàn toàn có thể sống trong bể rùa của con mà chẳng gặp vấn đề gì cả,” Demi nói, thấy chúng thậm chí còn thú vị hơn cả mấy con rùa chậm chạp đáng yêu của mình. Thế là Dan hướng dẫn cho cậu nhóc về nhu cầu và tập tính của lũ cua, và Demi hân hoan bê chúng đi để giới thiệu về ngôi nhà mới cũng như những người hàng xóm mới của chúng. “Thằng bé đúng là một đứa trẻ tốt bụng!” Dan vừa cẩn thận đặt con bướm đầu tiên vào vị trí vừa thầm nghĩ, nhớ lại việc Demi đã từ bỏ buổi đi dạo để mang nó đến cho mình.
“Nó phải thế chứ, vì đã có rất nhiều nỗ lực được bỏ ra để nhào nặn nó thành người như vậy mà.”
“Nó có mọi người chỉ bảo và giúp đỡ; còn con thì không,” Dan thở dài, nghĩ về tuổi thơ bị bỏ bê của mình — một điều hiếm khi cậu làm — và cảm thấy dường như mình chưa bao giờ đối xử công bằng với chính bản thân ở một khía cạnh nào đó.
“Ta biết chứ con yêu, và chính vì lý do đó nên ta không kỳ vọng ở con nhiều như ở Demi, dù nó nhỏ tuổi hơn; con sẽ nhận được tất cả sự trợ giúp mà chúng ta có thể dành cho con lúc này, và ta hy vọng sẽ dạy con cách tự giúp mình theo cách tốt nhất. Con có quên điều mà ông Bhaer đã nói với con khi con ở đây lần trước, về mong muốn trở thành một người tốt và cầu xin Chúa giúp đỡ con không?”
“Không ạ,” cậu đáp rất khẽ.
“Con vẫn duy trì cách đó chứ?”
“Không ạ,” giọng càng nhỏ hơn nữa.
“Con sẽ làm điều đó mỗi đêm để làm vui lòng ta chứ?”
“Vâng ạ,” Dan đáp với vẻ mặt vô cùng nghiêm túc.
“Ta sẽ trông chờ vào điều đó đấy, và ta nghĩ mình sẽ biết liệu con có giữ đúng lời hứa hay không, bởi những điều này luôn biểu hiện rõ với những ai tin tưởng vào chúng, dẫu chẳng một lời nào được thốt ra. Giờ thì, đây là một câu chuyện thú vị kể về một cậu bé bị thương ở chân còn nặng hơn cả con; hãy đọc nó và xem cậu ấy đã dũng cảm đối mặt với những rắc rối của mình ra sao nhé.”
Bà đặt cuốn sách tuyệt vời mang tựa đề “Những cậu bé Crofton” vào tay cậu, rồi rời đi trong suốt một tiếng đồng hồ, thỉnh thoảng lại đi qua đi lại để cậu không cảm thấy cô đơn. Dan vốn chẳng thích đọc sách chút nào, nhưng chẳng mấy chốc đã bị cuốn hút đến mức ngạc nhiên khi thấy lũ trẻ đã về nhà. Daisy mang đến cho cậu một bó hoa dại, còn Nan khăng khăng đòi phụ giúp mang bữa tối cho cậu khi cậu đang nằm trên chiếc ghế dài với cánh cửa phòng ăn mở toang, để cậu có thể nhìn thấy lũ trẻ quây quần bên bàn ăn và chúng có thể gật đầu chào hỏi xã giao với cậu qua lớp bánh mì phết bơ.
Ông Bhaer bế cậu về giường từ sớm và Teddy mặc chiếc áo ngủ bước vào chúc ngủ ngon, bởi thằng bé cũng chuẩn bị chui vào chiếc tổ nhỏ của mình cùng đàn chim.
“Con muốn cầu nguyện với anh Danny; có được không ạ?” nó hỏi; và khi mẹ nó nói “Được chứ”, cậu nhóc quỳ sụp xuống bên giường Dan, chắp đôi bàn tay mũm mĩm lại, khẽ lẩm bẩm:
“Xin Chúa chúc lành cho tất cả mọi người, và giúp con trở thành đứa trẻ ngoan.”
Rồi nó quay đi với nụ cười ngọt ngào đầy ngái ngủ tựa vào vai mẹ.
Nhưng sau khi buổi trò chuyện buổi tối kết thúc, khúc ca ban đêm được cất lên, và ngôi nhà chìm đắm trong sự tĩnh lặng tuyệt mỹ của đêm Chủ Nhật, Dan nằm dài trong căn phòng dễ chịu của mình mà hoàn toàn tỉnh táo, ngẫm nghĩ những suy nghĩ mới mẻ, cảm nhận những hy vọng và khao khát mới đang trỗi dậy trong lồng ngực tuổi thơ, bởi hai vị thiên thần tốt lành đã bước vào: tình yêu thương và lòng biết ơn đã bắt đầu công cuộc mà thời gian cùng sự nỗ lực sẽ hoàn thiện; và với một khát khao mãnh liệt muốn thực hiện lời hứa đầu tiên của mình, Dan chắp đôi bàn tay lại trong bóng tối, khẽ khàng thầm thì lời cầu nguyện nhỏ bé của Teddy:
“Xin Chúa chúc lành cho tất cả mọi người, và giúp con trở thành đứa trẻ ngoan.”