Trong khi Nat đang có một giấc ngủ ngon và dài, tôi sẽ kể cho những độc giả nhỏ tuổi của mình nghe đôi điều về các cậu bé mà thằng bé đã gặp khi tỉnh dậy.
Hãy bắt đầu với những người quen cũ của chúng ta. Franz là một thiếu niên cao ráo, năm nay mười sáu tuổi, mang đậm chất một người Đức chính gốc: vạm vỡ, tóc vàng, mọt sách, lại rất mực gia giáo, dễ mến và có khiếu âm nhạc. Người chú đang chuẩn bị cho cậu vào đại học, còn người dì thì vun đắp cho cậu một tổ ấm hạnh phúc trong tương lai, bởi dì luôn ân cần dưỡng dục ở cậu tác phong tao nhã, lòng yêu quý trẻ thơ, sự kính trọng đối với phụ nữ từ già đến trẻ, cùng sự tháo vát trong công việc nhà. Cậu là trợ thủ đắc lực của dì trong mọi hoàn cảnh, điềm đạm, tử tế và kiên nhẫn; cậu yêu quý người dì vui tính của mình như mẹ ruột, bởi dì vẫn luôn đối xử với cậu như vậy.
Emil hoàn toàn trái ngược, vốn là một đứa trẻ nóng tính, bồn chồn và xốc vác, mang trong mình dòng máu của những chiến binh Viking xưa luôn sục sôi không chịu khuất phục. Người chú hứa rằng cậu sẽ được đi biển khi đủ mười sáu tuổi, bèn cho cậu học hàng hải, giao cho cậu đọc những câu chuyện về các đô đốc và anh hùng lỗi lạc, đồng thời để cậu thỏa chí vẫy vùng như một chú ếch ở sông, ao, suối khi đã học xong bài vở. Căn phòng của cậu trông giống như một khoang tàu chiến, bởi mọi thứ đều mang phong cách hải quân, quân sự và ngăn nắp như trên tàu. Thuyền trưởng Kyd là thần tượng của cậu, và niềm vui thích lớn nhất của cậu là diện trang phục giống như vị hải tặc hào hoa ấy, rồi gào lên những khúc ca biển hùng tráng với hết cỡ giọng. Cậu chỉ chịu múa điệu múa thủy thủ, dáng đi thì lúc lắc như chòng chành sóng nước, và nói năng ra điều thủy thủ nhất mức mà người chú cho phép. Bác cậu gọi đùa là “Đề đốc,” và rất đỗi tự hào về hạm đội của cậu — những chiếc thuyền buồm trắng xóa cả mặt ao, dẫu phải hứng chịu bao tai ương mà có lẽ chẳng vị tư huy nào ngoài một cậu nhóc say mê biển cả dám đương đầu.
Demi là một trong những đứa trẻ thể hiện rõ rệt thành quả của tình yêu thương và sự chăm sóc thông minh, nơi phần hồn và phần xác cùng hòa quyện nhịp nhàng. Sự tinh tế tự nhiên mà không nền giáo dục nào ngoài gia đình có thể dạy dỗ đã ban cho cậu cung cách dịu dàng và giản dị: người mẹ nuôi dưỡng trong cậu một trái tim ngây thơ và đôn hậu; người cha dõi theo sự phát triển thể chất, rèn giũa thân hình nhỏ bé ấy thêm thẳng thắn và cường tráng nhờ chế độ ăn uống lành mạnh, vận động cùng giấc ngủ ngon; trong khi ông ngoại March vun đắp cho tâm hồn thơ trẻ sự khôn ngoan dịu dàng của một nhà Pythagoras thời hiện đại, không bắt cậu nhồi nhét những bài học dài dòng, khó nhằn theo kiểu con vẹt, mà giúp tâm hồn ấy nở rộ tự nhiên và tươi đẹp như cách ánh nắng và giọt sương giúp những đoa hồng khoe sắc. Cậu chẳng phải là một đứa trẻ hoàn hảo gì cho cam, nhưng những khuyết điểm của cậu đều thuộc về kiểu đáng yêu; và nhờ sớm được dạy bảo bí quyết tự chủ, cậu không phó mặc bản thân cho những ham muốn và cảm xúc bộc phát như bao sinh linh bé bỏng tội nghiệp khác, để rồi phải chịu phạt vì đã sa ngã trước những cám dỗ mà chúng chẳng có lấy một tấm khiên che chở. Một cậu bé trầm tính và có vẻ cổ quái, nghiêm túc nhưng lại rất đỗi vui tươi, hoàn toàn không ý thức được rằng mình vô cùng thông minh và khôi ngô, song lại rất nhạy bén trong việc thấu hiểu và yêu mến sự thông minh hay nét đẹp ở những đứa trẻ khác. Vừa ham đọc sách, vừa tràn ngập những mộng tưởng sinh động sinh ra từ một trí tưởng tượng phong phú cùng bản tính tâm linh, những nét tính cách ấy khiến cha mẹ cậu lo lắng phải tìm cách kìm hãm bằng tri thức hữu ích và môi trường xã hội lành mạnh, kẻo cậu sẽ biến thành một trong những đứa trẻ tài năng sớm nhưng xanh xao — những kẻ đôi khi khiến cả gia đình kinh ngạc rồi phấn khích, để rồi lụi tàn như những đóa hoa trong nhà kính vì tâm hồn non trẻ nở quá sớm mà thân thể lại thiếu đi sức sống để bám rễ vững chãi vào mảnh đất cuộc đời này.
Thế là Demi được “bứng” đến Plumfield, và nhanh chóng thích nghi với cuộc sống nơi đây đến nỗi Meg, John cùng ông ngoại đều cảm thấy hài lòng vì quyết định của mình. Việc hòa nhập với những đứa bé khác đã khơi gợi khía cạnh thực tế trong con người cậu, đánh thức tinh thần và quét sạch những mạng nhện xinh xắn mà cậu vốn rất thích giăng mắc trong bộ óc nhỏ bé ấy. Quả thực, có lần khi về thăm nhà, cậu đã khiến mẹ được một phen hoảng hốt khi đập cửa rầm rầm, thốt lên câu “trời đánh thánh vật” đầy quả quyết, và nằng nặc đòi mua cho được đôi bốt cao thật dày “gõ lộc cộc giống như bốt của bố.” Thế nhưng John lại vô cùng phấn khích, cười xòa trước những lời lẽ bộc phát của con, mua ngay đôi bốt ấy cho cậu, rồi điềm tĩnh bảo:
– Thằng bé đang tiến bộ rất tốt; cứ để nó đi bốt gõ lộc cộc đi. Bố muốn con trai mình phải ra dáng một nam nhi, và sự thô ráp tạm thời này chẳng hại gì đâu. Lớn lên chúng ta mài giũa sau cũng được; còn chuyện học hành, nó sẽ tự lượm lặt nhanh thôi như loài bồ câu nhặt hạt đậu vậy. Thế nên đừng có giục giã nó làm gì.
Daisy vẫn rạng rỡ và đáng yêu như ngày nào, với muôn vàn nét nữ tính đang chớm nở trong người, bởi cô bé giống hệt người mẹ hiền dịu và rất đỗi say mê việc gia đình. Con bé có cả một gia đình búp bê được nuôi dạy theo những chuẩn mực mực thước nhất; không thể sống thiếu chiếc giỏ đựng đồ khâu vá nhỏ xinh cùng những mảnh vải vụn, con bé khâu khéo đến mức Demi thường xuyên phải rút khăn tay ra để khoe những đường kim mũi chỉ gọn gàng ấy, và bé Josy thì có hẳn một chiếc váy lót bằng vải nỉ do chính tay chị Daisy tỉ mẩn may tặng. Con bé thích lúi húi quanh tủ đựng đồ sứ, chuẩn bị từng chiếc lọ đựng muối, sắp xếp muỗng nĩa ngay ngắn trên bàn; và ngày nào cũng cầm chổi đi một vòng phòng khách để phủi bụi cho bàn ghế. Demi hay gọi đùa con bé là “mụ nội trợ già,” nhưng lại vô cùng mừng rỡ khi có em giữ gìn trật tự cho đồ đạc của mình, cho mượn đôi tay lanh lẹ trong mọi việc và giúp mình học bài, bởi hai anh em luôn tiến bước song song và chẳng bao giờ tỵ nạnh lẫn nhau.
Tình cảm giữa hai anh em vẫn thắm thiết như xưa; và chẳng ai có thể cười chê hay khiến Demi từ bỏ thái độ trìu mến dành cho Daisy. Cậu bênh vực em gái đầy dũng cảm, và chẳng tài nào hiểu nổi tại sao con trai lại phải xấu hổ khi dám “nói thẳng” rằng mình yêu thương các chị em gái. Daisy thì sùng bái cậu sinh đôi của mình hết mực, coi “anh trai tôi” là cậu bé kỳ diệu nhất trên đời, và sáng nào cũng mặc chiếc áo choàng ngủ nhỏ xinh, chạy lon ton đến gõ cửa phòng anh với giọng điệu ra dáng người lớn: “Dậy đi anh yêu, sắp đến giờ ăn sáng rồi này; và đây là chiếc cổ áo sạch của anh.”
Rob là một mẩu năng động tột cùng, dường như đã tìm ra bí quyết của chuyển động vĩnh cửu bởi thằng bé chẳng bao giờ chịu ngồi yên một chỗ. May thay, nhóc không hề nghịch ngợm tai quái hay quá gan lì; thế nên thằng bé giữ mình khỏi rắc rối khá tốt, cứ dao động qua lại giữa bố và mẹ giống như một quả lắc nhỏ đầy trìu mến với tiếng tích tắc vui tai, vì Rob vốn là một đứa trẻ cực kỳ hay huyên thuyên.
Teddy còn quá nhỏ để đóng một vai trò quá lớn trong các hoạt động ở Plumfield, dẫu vậy cậu bé vẫn có khoảng trời riêng và tô điểm cho nó thật tuyệt vời. Ai nấy đôi khi đều cảm thấy cần có một vật cưng để chiều chuộng, và bé út luôn sẵn sàng đáp ứng, bởi những màn hôn hít và ôm ấp tỏ ra cực kỳ hợp rơ với cậu nhóc. Bà Jo hiếm khi di chuyển mà vắng bóng thằng bé; thế nên cậu nhóc nhúng ngón tay mũm mĩm của mình vào mọi công việc gia đình, và ai nấy đều thấy mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn nhờ thế, bởi ở Plumfield người ta rất mực sùng bái trẻ thơ.
Dick Brown và Adolphus hay còn gọi là Dolly Pettingill là hai cậu bé lên tám. Dolly bị tật nói lắp khá nặng, nhưng đang dần khắc phục được, bởi chẳng ai được phép chế giễu cậu và ông Bhaer đã cố gắng chữa trị bằng cách bắt cậu tập nói chậm rãi. Dolly là một cậu nhóc ngoan ngoãn, hoàn toàn mờ nhạt và bình thường, nhưng lại phát triển rất tốt ở nơi này, hoàn thành các nhiệm vụ lẫn niềm vui thường ngày với sự điềm tĩnh, mãn nguyện và nền nếp.
Nỗi khổ tâm của Dick Brown là chiếc lưng gù, thế nhưng cậu mang gánh nặng ấy với một tinh thần phơi phới đến nỗi có lần Demi đã thắc mắc bằng giọng điệu kỳ cục của mình rằng: “Lưng gù khiến người ta dễ tính phải không nhỉ? Tớ cũng muốn bị gù nếu đúng là thế đấy.” Dick lúc nào cũng vui vẻ và luôn cố gắng hết sức để được giống như những đứa trẻ khác, bởi ẩn chứa trong thân hình nhỏ bé yếu ớt ấy là một tinh thần vô cùng gan góc. Ngày mới đến, cậu rất nhạy cảm về khiếm khuyết của bản thân, nhưng chẳng mấy chốc đã học được cách quên đi điều đó, bởi chẳng ai dám nhắc nhở cậu nữa sau khi ông Bhaer trừng phạt một cậu bé dám cười chê cậu.
– Chúa chẳng bận tâm đâu; vì tâm hồn tôi thẳng thỏi dẫu tấm lưng tôi có cong vẹo đi chăng nữa, – Dick nức nở đáp lại kẻ trừng phạt mình trong dịp ấy; và nhờ nuôi dưỡng ý nghĩ đó, vợ chồng ông Bhaer chẳng mấy chốc đã khiến cậu tin rằng mọi người cũng yêu quý tâm hồn cậu, và chẳng màng gì đến thân thể cậu ngoại trừ việc xót thương và giúp cậu gánh vác nó.
Có lần khi đang chơi trò sở thú cùng những đứa trẻ khác, ai đó đã hỏi:
– Cậu sẽ làm con thú gì nào, Dick?
– Ồ, tớ là lạc đà một bướu đây; các cậu không thấy cái bướu trên lưng tớ sao? – Cậu cười vang đáp lại.
– Cậu đúng thế thật đấy, chú lừa đảo xinh xắn của tớ, kẻ chẳng chịu chở nặng mà cứ hiên ngang bước đi trước con voi trong đám rước, – Demi, người đang đạo diễn màn trình diễn, lên tiếng.
– Mong rằng những người khác cũng sẽ đối xử tốt với đứa trẻ tội nghiệp đáng yêu ấy như cách các con tôi đã học được, – bà Jo nói, vô cùng mãn nguyện với thành quả giáo dục của mình khi Dick lững thững bước qua mặt bà, trông giống như một chú lạc đà một bướu vô cùng hạnh phúc nhưng lại vô cùng yếu ớt, sánh bước bên cạnh cậu nhóc Stuffy vạm vỡ đóng vai con voi với vẻ trang trọng nặng nề.
Jack Ford là một cậu bé ranh mãnh và có phần lỏm khỏm, được gửi đến ngôi trường này chỉ vì nó có học phí rẻ. Nhiều kẻ hẳn sẽ coi cậu là một đứa trẻ khôn ngoan, nhưng ông Bhaer lại chẳng thích cách cậu minh họa cho từ ngữ mang đậm chất Yankee ấy chút nào, và cho rằng sự sắc sảo già trước tuổi cùng lòng tham tiền của cậu cũng là một nỗi bất hạnh chẳng kém gì tật nói lắp của Dolly hay chiếc lưng gù của Dick.
Ned Barker giống như hàng ngàn đứa trẻ mười bốn tuổi khác, toàn những chân với cẳng, đầy vẻ hậu đậu và ba hoa chích choè. Quả thực, cả nhà gọi cậu là “Khẩu súng thần công cồng kềnh” và luôn đinh ninh sẽ thấy cậu vấp ngã dúi dụi qua những chiếc ghế, đâm sầm vào bàn ghế và đánh rơi bất kỳ món đồ nhỏ nào ở gần đó. Cậu khoác lác khá nhiều về những gì mình có thể làm, nhưng hiếm khi thực hiện được điều gì để chứng minh, chẳng dũng gan dạ cho lắm và có hơi thích đi mách lẻo. Cậu hay bắt nạt những đứa trẻ nhỏ và nịnh hót những đứa lớn hơn, và dù không hẳn là kẻ xấu, cậu lại chính là kiểu người rất dễ bị dẫn đường lầm lối.
George Cole từng bị hư hỏng bởi một người mẹ quá đỗi nuông chiều, nhồi nhét cho ăn đủ thứ đồ ngọt đến mức ngã bệnh, rồi lại cho rằng cậu quá yếu ớt không thể học hành, để rồi khi lên mười hai tuổi, cậu trở thành một đứa trẻ xanh xao, bệu mạc, đần độn, hay hờn dỗi và lười biếng. Một người bạn đã thuyết phục mẹ cậu gửi đến Plumfield, và ở đó chẳng mấy chốc cậu đã được đánh thức, bởi đồ ngọt hiếm khi được dung thứ, các bài tập vận động được yêu cầu rất nhiều, và việc học được làm cho trở nên thú vị đến mức Stuffy cứ thế được dỗ dành tiến bước một cách nhẹ nhàng, cho đến khi khiến người mẹ lo lắng của cậu phải ngỡ ngàng trước sự tiến bộ của mình và tin chắc rằng bầu không khí ở Plumfield quả thực có điều gì đó vô cùng kỳ diệu.
Billy Ward là kiểu người mà người Scotland trìu mène gọi là “kẻ khờ khạo,” bởi dẫu đã mười ba tuổi, cậu trông giống như một đứa trẻ lên sáu. Cậu từng là một cậu bé thông minh bất thường, và người cha đã thúc ép cậu tiến nhanh quá mức, nhồi nhét cho đủ thứ bài học khó nhằn, bắt vùi đầu vào sách vở sáu tiếng mỗi ngày và kỳ vọng cậu hấp thụ kiến thức hệt như cách một con ngỗng ở Strasburg tiếp nhận thức ăn bị nhồi nhét xuống cổ họng. Người cha nghĩ rằng mình đang làm trònn bổn phận, nhưng ông đã suýt bức tử đứa con trai, bởi một trận sốt đã mang lại cho đứa trẻ tội nghiệp một kỳ nghỉ hè cay đắng, và khi hồi phục, bộ não bị quá tải đã sụp đổ khiến tâm trí Billy trở nên trống rỗng như một chiếc bảng đen vừa bị miếng bọt biển quét qua.
Đó là một bài học khủng khiếp đối với người cha đầy tham vọng; ông không thể chịu nổi khi nhìn thấy đứa con trai đầy triển vọng nay đã biến thành một kẻ đần độn yếu ớt, và bèn tống cổ cậu đến Plumfield, chẳng mảy may hy vọng rằng cậu có thể được chữa khỏi, nhưng chắc chắn rằng cậu sẽ được đối xử tử tế. Billy rất ngoan ngoãn và vô hại, và thật đáng thương khi chứng kiến cậu cố gắng học tập chăm chỉ nhường nào, cứ như đang dò dẫm trong mờ mịt để tìm lại tri thức đã từng đánh đổi bằng ngôii giá quá đắt.
Ngày qua ngày, cậu miệt mài bên bảng chữ cái, kiêu hãnh đọc to chữ A và chữ B rồi đinh ninh rằng mình đã thuộc lòng chúng, thế nhưng sang ngày hôm sau mọi thứ đã bay biến sạch và toàn bộ công sức lại phải làm lại từ đầu. Ông Bhaer dành sự kiên nhẫn vô biên cho cậu và cứ thế kiên trì bất chấp sự vô vọng hiển hiện của nhiệm vụ, chẳng màng đến những bài học sách vở mà chỉ dịu dàng tìm cách xua tan màn sương mù khỏi tâm trí tối tăm ấy, trả lại cho cậu đủ sự minh mẫn để đứa trẻ bớt đi phần nào gánh nặng và nỗi bất hạnh.
Bà Bhaer thì bồi bổ sức khỏe cho cậu bằng mọi phương pháp có thể nghĩ ra, và đám trẻ đều tỏ lòng thương cảm cũng như đối xử tử tế với cậu. Cậu không thích những trò chơi vận động mạnh của bọn trẻ, nhưng có thể ngồi hàng giờ liền để ngắm nhìn những chú chim bồ câu, đào những cái hố cho Teddy cho đến khi ngay cả cậu nhóc cuồng đào bới ấy cũng phải thấy thỏa mãn, hoặc lẽo đẽo theo chân Silas — bác thợ làm vườn — từ nơi này sang nơi khác để xem bác làm việc, bởi bác Si thật thà rất tốt với cậu, và dù có thể quên mất mặt chữ nhưng Billy vẫn nhớ như in những khuôn mặt thân thiện.
Tommy Bangs chính là đứa trẻ ngỗ nghịch nhất trường, và cũng là kẻ ngỗ nghịch phiền phức nhất từng tồn tại. Nghịch ngợm như khỉ, nhưng lại tốt bụng đến mức người ta chẳng thể nào giận nổi những trò khăm của cậu; tâm trí thì bay bổng đến độ mọi lời dặn dò trôi tuột qua tai như gió thoảng, song lại vô cùng ân hận sau mỗi lần phạm lỗi đến mức chẳng thể nào giữ được vẻ nghiêm nghị khi cậu thề thốt những lời thề cải hóa hùng hồn, hay tự đề xuất đủ mọi hình phạt kỳ quặc giáng lên chính thân mình. Vợ chồng ông Bhaer luôn sống trong trạng thái sẵn sàng đón nhận mọi tai ương, từ việc Tommy tự làm gãy cổ mình cho đến việc thổi bay cả nhà bằng thuốc súng; và mụ vú nuôi có riêng một ngăn kéo chuyên đựng băng gạc, thuốc dán cùng cao xoa dành riêng cho cậu nhóc, bởi Tommy lúc nào cũng được bế thốc về nhà trong trạng thái nửa sống nửa chết; thế nhưng chẳng thứ gì có thể quật ngã được cậu, và sau mỗi lần ngã ngựa, cậu lại trỗi dậy với sức sống mãnh liệt gấp bội.
Ngay ngày đầu tiên đặt chân đến trường, cậu đã chặt đứt phăng đầu một ngón tay bằng chiếc máy thái cỏ, rồi trong suốt tuần đó, cậu ngã từ mái nhà kho xuống, bị một con gà mái nổi giận rượt đuổi vì dám tò mò thò tay bắt gà con, bị ngựa lồng léo kéo đi, và bị mụ Asia tát lật mặt vì tội dám cả gan vớt vát lớp váng kem béo ngậy trên chảo bằng một nửa chiếc bánh nướng ăn cắp được. Thế nhưng, bất chấp mọi thất bại hay cú vấp ngã, cậu thiếu niên bất khuất ấy vẫn tiếp tục tự giải trí bằng đủ mọi trò khăm quái ác cho đến khi chẳng ai cảm thấy an toàn nổi. Nếu không thuộc bài, cậu luôn có sẵn vài cái cớ buồn cười để chống chế, và vì thường khá thông minh trong chuyện sách vở cũng như lanh lợi như chớp khi phải bịa ra câu trả lời cho những phần mình chưa thuộc, cậu vẫn lướt qua trường lớp khá suôn sẻ. Thế nhưng ngoài giờ học, lạy các vị thần linh và tiểu yêu! Tommy tha hồ quậy phá tưng bừng!
Cậu lấy dây phơi quần áo của chính mụ Asia béo tốt để trói quấn mụ vào cột nhà, rồi bỏ mặc mụ ở đó hậm hực cằn nhằn suốt nửa tiếng đồng hồ vào một buổi sáng thứ Hai bận rộn. Cậu thả một đồng xu nóng hổi xuống cổ áo Mary Ann khi cô hầu bàn xinh đẹp ấy đang phục vụ bàn ăn vào một ngày có khách quý đến dự tiệc, khiến cô gái tội nghiệp làm đổ cả bát súp rồi hoảng loạn chạy tháo thân khỏi phòng, để mặc cả gia đình ngỡ rằng cô đã phát điên. Cậu treo một xô nước lên cây với một dải ruy băng buộc vào quai, và khi Daisy bị thu hút bởi chiếc nải ruy băng sặc sỡ liền với tay kéo xuống, cô bé lĩnh trọn một gáo nước lạnh làm hỏng chiếc váy sạch sẽ và tổn thương sâu sắc tâm hồn bé bỏng. Cậu lén bỏ những viên sỏi trắng xù xì vào bát đường khi người bà đến uống trà, khiến cụ bà tội nghiệp cứ ngẩn ngơ tự hỏi tại sao chúng mãi chẳng chịu tan trong tách, nhưng lại quá lịch sự nên chẳng dám nói năng gì. Cậu chuyền tay nhau lọ thuốc hít trong nhà thờ khiến năm đứa trẻ hắt xì mạnh đến mức phải lủi thủi đi ra ngoài. Vào mùa đông, cậu đào những lối đi rồi lén lút tưới nước lên để người ta trượt ngã dúi dụi. Cậu làm cho bác Silas tội nghiệp phát điên lên bằng cách treo những đôi bốt to tướng của bác ở những nơi dễ đập vào mắt nhất, bởi bàn chân bác to bản đến mức bác vô cùng xấu hổ về chúng. Cậu thuyết phục cậu nhóc Dolly cả tin buộc một sợi chỉ vào chiếc răng lung lay của mình, để đầu dây thò lè tè ra khỏi miệng khi đi ngủ để Tommy có thể giật phăng nó ra mà không làm cậu nhóc phải trải qua cảm giác đau đớn đáng sợ. Thế nhưng chiếc răng chẳng chịu bung ra ngay cú giật đầu tiên, và Dolly tội nghiệp bừng tỉnh trong nỗi thống khổ tột cùng, từ đó mất hẳn niềm tin vào Tommy.
Trò quỷ quái gần đây nhất là cho lũ gà mái ăn bánh mì ngâm rượu rum, khiến chúng say mèm và làm hoen ố thể diện của toàn bộ họ nhà gà, bởi những mụ gà mái già đáng kính cứ lảo đảo bước đi, mổ mổ kêu cục tác theo cách ngớ ngẩn nhất có thể, trong khi cả nhà được một trận cười bể bụng trước những trò hề của chúng cho đến khi Daisy thấy thương hại và nhốt tụi nó vào chuồng để ngủ cho qua cơn say.
Đó là những cậu bé, và chúng sống bên nhau hạnh phúc như mười hai thiếu niên có thể, vừa học vừa chơi, vừa làm việc vừa cãi cọ, chiến đấu với khuyết điểm và vun đắp những đức tính tốt theo lối cổ điển tốt lành. Trẻ em ở những ngôi trường khác có lẽ học được nhiều kiến thức sách vở hơn, nhưng lại thu nhận ít hơn thứ minh mệ tuệ tốt đẹp hơn ấy vốn nhào nặn nên những người đàn ông chân chính. Tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp và toán học đều rất tuyệt, nhưng theo quan điểm của Giáo sư Bhaer, sự tự thấu hiểu, tự lực và tự chủ mới là những điều quan trọng hơn cả, và ông đã cố gắng dạy dỗ chúng một cách thật cẩn trọng. Người đời thỉnh thoảng vẫn lắc đầu ngán ngẩm trước những tư tưởng của ông, dẫu cho họ phải thừa nhận rằng đám trẻ đã tiến bộ kỳ diệu về cả tác phong lẫn đạo đức. Nhưng dẫu sao đi nữa, như bà Jo từng nói với Nat, “đó là một ngôi trường kỳ quặc.”