“Dậy đi, Demi cưng! Mẹ muốn con thức.”
“Ơ, con vừa mới đi ngủ mà; chắc chưa phải buổi sáng đâu ạ;” và Demi chớp chớp mắt như một chú cú con khi tỉnh giấc sau giấc ngủ sâu đầu tiên.
“Mới mười giờ thôi, nhưng bố con đang ốm, và chúng ta phải đến với bố. Ôi John bé bỏng của mẹ! John tội nghiệp của mẹ!” và dì Jo gục đầu xuống gối với một tiếng nấc khiến cơn buồn ngủ bay biến khỏi mắt Demi và lấp đầy trái tim thằng bé bằng nỗi sợ hãi lẫn ngỡ ngàng; vì nó láng mang cảm nhận được lý do tại sao dì Jo gọi mình là “John,” và khóc thương nó như thể một mất mát nào đó đã giáng xuống khiến nó trở thành kẻ trắng tay. Nó ôm chầm lấy dì không nói một lời, và chỉ một phút sau, dì đã lấy lại được bình tĩnh, dịu dàng hôn lên trán nó khi thấy gương mặt đầy lo lắng của đứa cháu,
“Chúng ta sẽ đến để chào từ biệt bố, cục cưng ạ, và không còn thời gian để chần chừ nữa; thế nên hãy thay quần áo thật nhanh và sang phòng dì nhé. Dì phải qua chỗ Daisy đây.”
“Vâng, con đi ngay ạ;” và khi dì Jo vừa rời đi, cậu bé Demi lặng lẽ trộm đứng dậy, thay đồ như trong mơ, rồi để mặc Tommy đang ngủ say, bước đi qua ngôi nhà tĩnh mịch, linh cảm thấy một điều gì đó mới mẻ và đau buồn sắp xảy ra – một điều tách biệt nó khỏi những cậu con trai khác trong một khoảng thời gian, khiến thế giới trở nên tối tăm, tĩnh lặng và lạ lẫm y như những căn phòng quen thuộc ấy trong đêm tối. Một cỗ xe do ông Laurie phái tới đang đợi sẵn trước cửa. Daisy cũng sớm chuẩn bị xong, và hai anh em nắm chặt tay nhau suốt dọc đường vào thị trấn, khi xe lướt đi nhanh chóng và lặng im cùng hai bác qua những con đường mờ ảo để kịp nói lời tạm biệt với bố.
Không một cậu bé nào ngoài Franz và Emil biết chuyện gì đã xảy ra, và khi chúng xuống nhà vào sáng hôm sau, sự kinh ngạc và bất an trùm lên tất cả, bởi ngôi nhà bỗng trở nên quạnh quẽ làm sao khi vắng bóng người chủ gia đình. Bữa sáng diễn ra trong u ám khi không có người dì Jo niềm nở ngồi sau ấm trà; và đến giờ học, chỗ ngồi của thầy Bhaer trống hoắc. Bọn trẻ lang thang quanh quẩn với vẻ mặt bơ phờ suốt một tiếng đồng hồ, ngóng chờ tin tức và cầu mong mọi chuyện đều ổn đẹp với bố của Demi, bởi John Brooke tốt bụng vốn rất được lòng lũ trẻ. Mười giờ trúng, mà chẳng có ai đến để xua tan nỗi lo lắng của chúng. Chúng chẳng có tâm trạng đâu mà chơi đùa, thời gian cứ thế lê thê trôi đi, còn chúng thì ngồi thừ người ra với vẻ ủ rũ, buồn bã. Bỗng nhiên, Franz đứng dậy, cất giọng đầy thuyết phục,
“Này các cậu! Chúng ta hãy vào lớp và học bài cứ như thể bác đang có mặt ở đây đi. Làm vậy thời gian sẽ trôi nhanh hơn, và tớ chắc chắn bác sẽ rất vui lòng.”
“Nhưng ai sẽ là người dò bài cho chúng ta đây?” Jack hỏi.
“Tớ; tớ cũng chẳng biết nhiều hơn các cậu là mấy, nhưng tớ là người lớn tuổi nhất ở đây, và tớ sẽ cố gắng thay thế vị trí của bác cho đến khi bác quay lại, nếu các cậu không phiền.”
Có một điều gì đó trong cách nói nhún nhường mà nghiêm túc của Franz đã gây ấn tượng mạnh với lũ trẻ, bởi vì, dẫu đôi mắt của cậu thiếu niên tội nghiệp hãy còn đỏ hoe vì những giọt nước mắt lặng thầm khóc cho bác John trong đêm dài đằng đẵng ấy, ở cậu đã phảng phất một dáng vẻ chững chạc đầy nam tính, tựa như thể cậu đã bắt đầu cảm nhận được những âu lo và phiền muộn của cuộc đời, rồi dũng cảm tập cách gánh vác chúng.
“Tớ đồng ý,” Emil bước về chỗ ngồi của mình, sực nhớ ra rằng sự vâng lời cấp trên là nghĩa vụ hàng đầu của một người thủy thủ.
Những người khác lần lượt làm theo; Franz ngồi vào vị trí của người bác, và trật tự đã được vãn hồi suốt một tiếng đồng hồ. Bài học được ôn và trả, Franz tỏ ra là một người thầy kiên nhẫn, dễ mến, khôn ngoan bỏ qua những bài vượt quá khả năng của mình, đồng thời duy trì kỷ luật không bằng lời quát tháo nào mà bằng chính sự uy nghiêm điềm đạm mà nỗi buồn đã ban tặng cho cậu. Mấy đứa nhỏ đang đọc bài thì có tiếng bước chân vang lên ở hành lang, và tất cả ngẩng đầu lên để đọc tin tức trên gương mặt ông Bhaer vừa bước vào. Nét mặt hiền hậu ấy lập tức nói cho chúng hay rằng Demi giờ đây không còn bố nữa, bởi nó tiều tụy, tái nhợt và ngập tràn nỗi buồn thương sâu sắc, đến mức chẳng thốt nên lời để đáp lại Rob khi cậu bé chạy ào tới, trách móc,
“Tại sao bố lại bỏ con ở lại trong đêm thế ạ?”
Ký ức về người cha khác đã rời bỏ các con mình trong đêm tối, không bao giờ trở về nữa, khiến ông Bhaer siết chặt đứa con trai của chính mình vào lòng, và trong chốc lát, giấu đi khuôn mặt vào mái tóc xoăn của Robby. Emil gục đầu lên tay, Franz bước đến đặt tay lên vai người bác, gương mặt non nớt tái đi vì đồng cảm và xót xa, còn những đứa trẻ khác ngồi im phăng phắc đến mức tiếng lá thu rơi xào xạc bên ngoài cũng nghe rõ mồn một.
Rob không hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra, nhưng thằng bé ghét phải nhìn thấy bố không vui, thế nên nó ngước cái đầu đang cúi xuống lên, cất giọng lanh lảnh quen thuộc,
“Bố đừng khóc nữa ạ! Tụi con ngoan lắm, tụi con tự học bài mà không cần bố, và anh Franz làm lớp trưởng đấy.”
Bấy giờ ông Bhaer mới ngẩng lên, cố nặn ra một nụ cười, và cất lời bằng giọng đầy biết ơn khiến lũ trẻ cảm thấy mình cao cả như những vị thánh, “Bố cảm ơn các con nhiều lắm. Đó là một cách thật tuyệt vời để giúp đỡ và an ủi bố. Bố đảm bảo sẽ không bao giờ quên điều này.”
“Franz đề xuất đấy ạ, và anh ấy cũng là một lớp trưởng xuất sắc nữa,” Nat nói; và những đứa trẻ khác đồng thanh lẩm bẩm tán thành khiến vị thầy giáo trẻ vô cùng cảm kích.
Ông Bhaer đặt Rob xuống, đứng thẳng dậy, vòng tay ôm lấy bờ vai của cậu cháu trai cao lớn, đoạn nói với ánh mắt chân thành đầy phấn khởi,
“Điều này làm cho ngày tồi tệ của bác trở nên nhẹ nhàng hơn, và trao cho bác niềm tin ở tất cả các con. Bác có việc phải đến thị trấn, và sẽ phải rời xa các con vài tiếng đồng hồ. Bác đã định cho các con nghỉ học, hoặc cho vài đứa về nhà, nhưng nếu các con thích ở lại và tiếp tục học tập như đã bắt đầu, bác sẽ vô cùng vui mừng và kiêu hãnh vì những đứa con ngoan của bác.”
“Tụi con ở lại ạ!”; “Tụi con thích thế hơn!”; “Anh Franz có thể quản lý chúng con mà!” nhiều đứa nhao lên, vô cùng phấn khích trước sự tín nhiệm mà bác dành cho chúng.
“Mẹ có về không hả bố?” Rob thỏ thẻ hỏi; bởi nhà mà không có “mẹ” thì đối với nó chẳng khác nào một thế giới vắng mặt ánh thái dương.
“Tối nay cả bố và mẹ sẽ đều về; nhưng dì Meg tội nghiệp đang cần mẹ hơn các con lúc này, và bố biết các con sẽ sẵn lòng cho mượn mẹ một chút thời gian mà.”
Rob đáp, cứ như thể tin tức ấy có thể đưa mẹ về nhà,
“Vâng, con cho mượn ạ; nhưng Teddy cứ khócòi đòi mẹ, nó còn tát cả vú nuôi nữa, hư lắm cơ.”
“Cậu út của ta đâu rồi?” ông Bhaer hỏi.
“Em Dan đưa em ấy đi dạo rồi, để giữ cho em ấy ngoan. Giờ thì ổn cả rồi ạ,” Franz đáp, chỉ tay ra khung cửa sổ, nơi họ có thể nhìn thấy Dan đang kéo em bé trên chiếc xe đẩy nhỏ của mình, cùng bầy chó quấn quýt nô đùa xung quanh.
“Bố sẽ không gặp con bé nữa, làm thế chỉ khiến nó quấy khóc lại thôi; nhưng hãy nhắn với Dan là bác giao Teddy cho em ấy chăm sóc nhé. Còn các cháu lớn, bác tin tưởng các cháu tự quản lý lấy nhau trong một ngày. Franz sẽ điều hành các cháu, và có Silas ở đây để giám sát mọi việc. Thôi, tạm biệt các cháu đến tối nhé.”
“Xin bố cho con biết một chút về bác John,” Emil níu ông Bhaer lại khi ông đang vội vã chuẩn bị rời đi.
“Bác ấy chỉ ốm có vài tiếng đồng hồ, và ra đi thanh thản, nhẹ nhàng y như cách bác ấy đã sống, đến mức ngỡ như là một tội lỗi nếu làm vẩn đục vẻ đẹp ấy bằng nỗi đau buồn bạo liệt hay ích kỷ nào. Chúng ta đã kịp đến để nói lời từ biệt; và Daisy cùng Demi nằm trong vòng tay bác ấy khi bác chìm vào giấc ngủ ngàn thu trên ngực dì Meg. Thôi không nói nữa, bác không thể chịu nổi,” và ông Bhaer vội vã bước đi với tấm lưng cõng nặng nỗi đau thương, bởi ở John Brooke, ông vừa mất đi một người bạn lẫn người anh em, và chẳng còn ai có thể thay thế vị trí ấy nữa.
Suốt ngày hôm đó, ngôi nhà vô cùng tĩnh lặng; lũ trẻ nhỏ chơi đùa ngoan ngoãn trong nhà trẻ; những đứa lớn hơn thì cảm thấy như thể chủ nhật lại rơi vào giữa tuần, bèn dành thời gian để đi dạo, ngồi trên cây liễu, hoặc bên những con vật cưng của chúng, tất cả đều trò chuyện rất nhiều về “bác John,” và cảm nhận rằng một điều gì đó dịu dàng, công minh và mạnh mẽ đã rời khỏi thế giới nhỏ bé của chúng, để lại một khoảng trống mất mát cứ sâu thẳm thêm lên theo từng giờ. Đến chạng vạng, vợ chồng ông Bhaer trở về một mình, bởi Demi và Daisy lúc này là nguồn an ủi lớn nhất của mẹ chúng và không thể rời đi được. Dì Jo tội nghiệp trông có vẻ kiệt quệ hoàn toàn và rõ ràng rất cần sự an ủi tương tự, bởi những lời đầu tiên của dì khi bước lên cầu thang là, “Em bé của ta đâu rồi?”
“Con ở đây,” một giọng nói nhỏ xíu vang lên khi Dan bế Teddy vào vòng tay dì, cậu bé nói thêm khi dì siết chặt lấy mình, “Anh Danny chăm sóc con suốt cả ngày đấy, và con ngoan lắm.”
Dì Jo quay lại để cảm ơn người y tá trung thành, nhưng Dan đang xua tay ra hiệu cho lũ trẻ – những đứa vừa tụ tập ở hành lang để chào đón dì – và nhỏ giọng bảo, “Lùi lại đi; dì không muốn bị chúng ta làm phiền lúc này đâu.”
“Không, đừng lùi lại. Ta muốn gặp tất cả các con. Lại đây với ta nào, các con của ta. Ta đã lơ là các con suốt cả ngày hôm nay,” và dì Jo giơ hai tay ra đón khi chúng quây quần lại rồi tháp tùng dì vào tận phòng riêng, nói thì ít mà biểu lộ thì nhiều qua những ánh mắt trìu mến cùng những nỗ lực vụng về để bày tỏ nỗi buồn và sự đồng cảm.
“Dì mệt quá, dì sẽ nằm đây ôm ấp Teddy, còn các con hãy mang vào cho dì ít trà nhé,” dì nói, cố gắng cất giọng vui vẻ vì lợi ích của lũ trẻ.
Một màn tranh nhau ào ra phòng ăn diễn ra ngay sau đó, và bàn ăn tối chắc chắn đã bị tàn phá nếu ông Bhaer không can thiệp. Cuối cùng người ta thống nhất rằng một nhóm sẽ mang trà vào cho mẹ, và một nhóm khác sẽ thu dọn mang ra. Bốn đứa gần gũi và thân thiết nhất giành lấy vinh dự đầu tiên, thế nên Franz bưng ấm trà, Emil mang bánh mỳ, Rob cầm sữa, còn Teddy khăng khăng đòi ôm khay đựng đường – thứ mà khi đến nơi đã nhẹ đi vài cục so với lúc xuất phát. Một số phụ nữ có thể sẽ thấy phiền toái vào một thời điểm như thế này khi đám con trai cứ cọt kẹt ra vào, làm đổ cốc và khua muỗng lách cách trong nỗ lực tột bậc hòng giữ yên lặng và tỏ ra hữu ích; nhưng điều đó lại rất hợp với dì Jo, bởi trái tim dì lúc bấy giờ vô cùng mềm yếu; và nhớ lại rằng rất nhiều đứa trẻ của dì đã mất cha hoặc mất mẹ, dì ôm ấp chúng vào lòng, tìm thấy sự an ủi trong thứ tình cảm ngô nghê ấy. Đó chính là thứ “thức ăn” còn bổ dưỡng hơn cả lát bánh mỳ phết bơ dày cộp mà chúng dâng cho dì, và lời thì thầm đứt quãng của anh chàng Hạm trưởng xù xì,
“Cố gắng lên dì nhé, đây là một cú sốc lớn; nhưng thế nào chúng ta cũng vượt qua được thôi;” đã cổ vũ dì nhiều hơn cả cốc trà loãng toẹt mà cậu mang tới, đắng nghét như thể có giọt nước mắt xót xa của chính cậu đã rơi tõm vào đó dọc đường đi. Khi bữa tối kết thúc, một phái đoàn thứ hai vào thu dọn khay khum; và Dan, vừa giơ tay đòi bế cậu nhóc Teddy đang ngái ngủ, vừa nói,
“Để em cho em ấy đi ngủ cho, mẹ mệt lắm rồi.”
“Con có muốn đi ngủ cùng anh không, cục cưng?” dì Jo hỏi vị chúa tể nhỏ bé của mình, người đang nằm gọn trên cánh tay dì giữa đám gối sô-pha.
“Có chứ ạ!” và thằng bé được người bảo mẫu trung thành tự hào bế thốc đi.
“Tớ ước gì mình có thể làm được điều gì đó,” Nat thở dài nói khi Franz cúi người qua chiếc sô-pha, dịu dàng vuốt ve trán dì Jo đang nóng hầm hập.
“Em làm được mà, cưng. Hãy đi lấy vĩ cầm ra, rồi chơi cho dì nghe mấy khúc âm điệu ngọt ngào mà bác Teddy đã gửi cho em lần trước đi. Âm nhạc sẽ an ủi dì tốt hơn bất cứ thứ gì vào tối nay.”
Nat phi nhanh đi lấy cây đàn, và ngồi ngay bên ngoài cửa phòng dì, chơi một bản nhạc chưa từng có trước đây, bởi bấy giờ trái tim cậu đã đặt hết vào đó, như thể tiếp thêm nam châm cho những ngón tay. Mấy cậu con trai khác ngồi lặng lẽ trên bậc thềm, túc trực canh gác để không vị khách mới nào làm phiền đến ngôi nhà; Franz nán lại ở vị trí của mình; và cứ thế, được vỗ về, phục vụ và bảo vệ bởi lũ trẻ, dì Jo tội nghiệp cuối cùng cũng chìm vào giấc ngủ và quên đi nỗi buồn trong chốc lát.
Hai ngày trôi qua trong yên bình, và sang ngày thứ ba, ông Bhaer bước vào ngay sau giờ tan học, tay cầm một lá thư với vẻ mặt vừa xúc động vừa hài lòng.
“Bác muốn đọc cho các con nghe một thứ, các con ạ,” ông nói; và khi chúng vây quanh, ông đọc to:
“ANH FRITZ THÂN MẾN, Em nghe nói anh định không đưa bầy nhỏ sang hôm nay vì nghĩ rằng em có thể không thích điều đó. Xin hãy đưa các con sang nhé. Sự hiện diện của những người bạn sẽ giúp Demi vượt qua giờ phút khó khăn này, và em muốn các con được nghe những gì bố nói về anh John của em. Em biết điều đó sẽ rất tốt cho chúng. Nếu chúng có thể cất lên một trong những bài thánh ca ngọt ngào cũ mà anh đã dạy chúng rất kỹ, em sẽ thích hơn bất kỳ bản nhạc nào khác, và cảm thấy nó vô cùng thích hợp cho dịp này. Xin anh hãy hỏi các con giúp em, kèm theo lời yêu thương của em.
MEG.”
“Các con có muốn đi không?” ông Bhaer nhìn lũ trẻ, những đứa vô cùng cảm động trước những lời lẽ và mong ước tốt đẹp của bà Brooke.
“Dịp ạ!” chúng đồng thanh đáp như một; và một tiếng sau, chúng cùng Franz lên đường để làm tròn phần việc của mình trong tang lễ giản dị của John Brooke.
Ngôi nhà nhỏ trông vẫn tĩnh lặng, ngập tràn ánh nắng và ấm cúng như hồi Meg bước chân vào đây làm cô dâu mười năm về trước, chỉ có điều khi ấy là đầu hè, hoa hồng nở rộ khắp nơi; còn bây giờ là đầu thu, những chiếc lá khô xào xạc rơi xuống, để lại những cành cây trơ trụi. Cô dâu ngày nào giờ đã là góa phụ; nhưng nét thanh thản tuyệt đẹp ấy vẫn ngời lên trên gương mặt cô, và sự chịu đựng ngọt ngào của một tâm hồn sùng đạo chân chính đã biến sự hiện diện của cô thành nguồn an ủi cho những ai đến để chia sẻ nỗi buồn.
“Ôi Meg! Làm sao cậu có thể chịu đựng nổi cơ chứ?” Jo thì thầm khi gặp họ ở cửa cùng một nụ cười chào đón, và chẳng có gì thay đổi trong tác phong dịu dàng ấy, ngoại trừ sự dịu dàng còn nhân lên gấp bội.
“Jo thân mến, tình yêu đã ban phước cho tớ suốt mười năm hạnh phúc vẫn đang nâng đỡ tớ đến tận bây giờ. Tình yêu ấy không thể chết đi, và John giờ đây còn thuộc về tớ nhiều hơn bao giờ hết,” Meg thì thầm; và trong đôi mắt cô, niềm tin tưởng dịu dàng ngời sáng đẹp đẽ đến mức Jo tin là thật, rồi thầm cảm ơn Chúa vì sự bất tử của một tình yêu như thế.
Tất cả bọn họ đều có mặt – cha và mẹ, bác Teddy và dì Amy, cụ Laurence già với mái tóc bạc phơ giờ đã yếu mỏi, vợ chồng ông Bhaer cùng bầy nhỏ của họ, và rất nhiều bạn bè đến để bày tỏ lòng kính trọng đối với người đã khuất. Người ta có thể cho rằng một John Brooke khiêm nhường trong cuộc sống bận rộn, lặng thầm và thấp kém của mình vốn có rất ít thời gian để kết giao bạn bè; thế nhưng giờ đây họ dường như xuất hiện từ khắp mọi nơi, già trẻ, gái trai, giàu nghèo, sang hèn; bởi một cách vô thức, sức ảnh hưởng của anh đã lan tỏa rộng khắp, những đức tính tốt đẹp của anh được ghi nhớ, và những việc thiện ẩn giấu của anh đã trỗi dậy để ban phước cho anh. Nhóm người đứng vây quanh cỗ quan tài của anh chính là một bài điếu văn hùng hồn hơn bất cứ lời nào ông March có thể thốt lên. Ở đó có những người giàu có mà anh đã tận tụy phục vụ trong nhiều năm; những cụ già nghèo khó được anh chăm chút từ khoản tiết kiệm nhỏ nhoi, để tưởng nhớ người mẹ quá cố; người vợ mà anh đã trao cho hạnh phúc trọn vẹn đến mức cái chết cũng không thể vùi lấp; những người anh em đã khắc ghi một góc trong tim họ cho anh mãi mãi; đứa con trai và con gái nhỏ, những kẻ đã sớm cảm nhận được sự mất mát của vòng tay vững chãi và giọng nói dịu dàng; những đứa trẻ nhỏ sụt sùi khóc thương người bạn chơi tử tế nhất; và những cậu thiếu niên cao lớn đang ngắm nhìn với ánh mắt dịu dàng một khung cảnh mà chúng sẽ chẳng bao giờ quên. Một buổi lễ vô cùng giản dị và ngắn gọn; bởi giọng nói ấm áp của người cha từng run rẩy trong thánh lễ kết hôn nay hoàn toàn nghẹn ngào khi ông March cố gắng bày tỏ sự kính trọng và tình yêu thương đối với người con trai mà ông vô cùng tôn sùng. Không có gì ngoài tiếng cúc cu mềm mại của bé Josy trên lầu phá tan khoảng lặng kéo dài sau câu Amen cuối cùng, cho đến khi, theo hiệu lệnh của ông Bhaer, những giọng ca non trẻ được huấn luyện bài bản cất lên khúc thánh ca ngập tràn niềm hân hoan cao cả, khiến từng người một cùng hòa giọng, hát với tất cả trái tim và cảm thấy tâm hồn trôi dạt vào sự bình yên trên đôi cánh của khúc thánh vịnh dũng mãnh, ngọt ngào ấy.
Khi Meg lắng nghe, cô cảm thấy quyết định của mình thật đúng đắn; bởi không chỉ khoảnh khắc ấy an ủi cô với sự đoan chắc rằng khúc hát ru cuối cùng của John được cất lên bởi những giọng ca trẻ tuổi mà anh hết mực yêu thương, mà trên gương mặt của lũ trẻ, cô còn nhìn thấy rằng chúng đã thoáng cảm nhận được vẻ đẹp của đức hạnh trong hình thái ấn tượng nhất, và ký ức về người tốt bụng đang nằm bất động trước mặt chúng sẽ sống mãi và hỗ trợ đắc lực cho tâm trí chúng. Đầu Daisy gối lên lòng mẹ, còn Demi nắm lấy tay cô, chốc chốc lại ngước nhìn với đôi mắt giống hệt mắt bố, cùng một cử động nhỏ tựa như muốn nói, “Mẹ đừng buồn; có con ở đây rồi”; và xung quanh cô là những người bạn để nương tựa và yêu thương; thế nên người phụ nữ sùng đạo, kiên cường Meg đã gạt bỏ nỗi đau nặng nề, cảm nhận rằng sự trợ giúp lớn nhất của cô lúc này là sống vì người khác, y như cách John của cô từng làm.
Tối hôm ấy, khi đám trẻ Plumfield ngồi trên bậc thềm như thường lệ dưới ánh trăng tháng Chín dịu ngọt, chúng tự nhiên chuyển chủ đề sang sự kiện của ngày hôm nay.
Emil mở đầu bằng cách bộc bạch theo bản tính bồng bột của mình, “Bác Fritz là người khôn ngoan nhất, và bác Laurie là người vui tính nhất, nhưng bác John mới là người tuyệt vời nhất; và tớ thà được giống như bác ấy còn hơn bất kỳ người đàn ông nào tớ từng gặp.”
“Tớ cũng vậy. Các cậu có nghe những gì mấy vị quý ông đó nói với ông nội hôm nay không? Tớ ước gì điều đó được nói về mình khi tớ chết đi;” và Franz cảm thấy hối tiếc vì đã không trân trọng bác John đúng mức.
“Họ nói gì thế?” Jack hỏi, người đã bị ấn tượng mạnh bởi những khung cảnh trong ngày.
“Ừ thì, một trong những đối tác của ông Laurence – nơi bác John làm việc lâu nay – đã nói rằng bác ấy tận tụy với công việc kinh doanh đến mức gần như câu nệ nguyên tắc, và không chê trách vào đâu được trong mọi chuyện. Một vị quý ông khác nói rằng không số tiền nào có thể trả hết sự trung thành và trung thực mà bác John đã dùng để phục vụ ông ấy, và rồi ông nội đã kể cho họ nghe điều tuyệt vời nhất. Bác John từng làm việc trong văn phòng của một kẻ lừa đảo, và khi kẻ này muốn bác giúp hắn làm trò đó, bác đã từ chối, mặc dù được trả mức lương rất cao. Gã đó tức giận và nói, 'Anh sẽ chẳng bao giờ ngóc đầu lên được trong kinh doanh với những nguyên tắc cứng nhắc đó đâu'; và bác đã đáp trả lại rằng, 'Tôi sẽ không bao giờ cố ngóc đầu lên mà không có chúng,' rồi rời khỏi nơi đó để đến một nơi vất vả và nghèo khó hơn nhiều.”
“Hay lắm!” mấy đứa trẻ nồng nhiệt kêu lên, bởi chúng đang ở trong tâm trạng dễ dàng thấu hiểu và trân trọng câu chuyện nhỏ ấy hơn bao giờ hết.
“Bác ấy không giàu, phải không?” Jack hỏi.
“Không.”
“Bác ấy chưa từng làm gì để gây chấn động thế giới phải không?”
“Không.”
“Bác ấy chỉ tốt thôi sao?”
“Chỉ vậy thôi;” và Franz chợt thấy ước gì bác John đã làm được điều gì đó đáng khoe khoang, bởi rõ ràng Jack tỏ ra thất vọng trước các câu trả lời của cậu.
“Chỉ tốt thôi. Đó là tất cả và là tất thảy,” ông Bhaer nói, người vừa nghe lỏm được mấy câu cuối và đoán được điều đang diễn ra trong tâm trí lũ trẻ.
“Hãy để bác kể cho các con nghe một chút về John Brooke, và các con sẽ hiểu tại sao mọi người lại tôn kính bác ấy, và tại sao bác ấy mãn nguyện với việc trở nên tốt bụng thay vì giàu có hay nổi tiếng. Bác ấy đơn giản là làm tròn bổn phận của mình trong mọi việc, và làm với tinh thần phấn chấn, trung thực đến mức nó giúp bác giữ được sự kiên nhẫn, dũng cảm và hạnh phúc xuyên suốt nghèo đói, cô độc và những năm tháng làm việc vất vả. Bác ấy là một người con ngoan, đã từ bỏ kế hoạch riêng để ở lại sống cùng mẹ khi bà cần. Bác ấy là một người bạn tốt, đã dạy cho Laurie rất nhiều điều ngoài tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh, có lẽ là một cách vô thức, bằng cách nêu gương cho cậu ấy về một con người chính trực. Bác ấy là một người phục vụ tận tụy, tự làm cho mình trở nên vô giá đối với những người thuê mướn đến nỗi họ sẽ thấy vô cùng khó khăn để tìm người thay thế vị trí của bác. Bác ấy là một người chồng, người cha tốt, vô cùng dịu dàng, khôn ngoan và chu đáo đến mức Laurie và bác đã học hỏi được rất nhiều từ bác ấy, và chỉ thực sự biết bác ấy yêu gia đình mình nhường nào khi chúng ta khám phá ra tất cả những gì bác đã làm cho họ mà không ai mảy may nghi ngờ hay giúp đỡ.”
Ông Bhaer dừng lại một phút, và lũ trẻ ngồi bất động như những bức tượng dưới ánh trăng cho đến khi ông tiếp tục bằng một giọng trầm lắng nhưng kiên quyết: “Khi bác ấy hấp hối, bác đã nói với cậu ấy rằng, 'Đừng bận tâm về Meg và các con nhỏ; tôi sẽ lo cho chúng không bao giờ phải thiếu thốn.' Lúc đó bác ấy mỉm cười, siết chặt tay bác và đáp bằng chất giọng tươi vui quen thuộc, 'Không cần phải thế đâu; tôi đã lo cho họ rồi.' Và quả thực bác đã lo chu toàn, bởi khi chúng ta lục lọi giấy tờ của bác, mọi thứ đều ngăn nắp, không còn vương lại một món nợ nào; và được cất giữ an toàn là khoản tiền đủ để giúp Meg sống thoải mái và tự lập. Lúc đó chúng ta mới hiểu tại sao bác lại sống đạm bạc đến vậy, từ chối bản thân biết bao niềm vui ngoại trừ việc làm từ thiện, và làm việc cật lực đến mức bác e rằng nó đã rút ngắn cuộc đời tốt đẹp của mình. Bác chưa bao giờ đòi hỏi sự giúp đỡ cho bản thân, mặc dù thường xuyên làm thế vì người khác, mà luôn tự gánh vác trĩu nặng và hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách dũng cảm, lặng thầm. Không ai có thể thốt lên một lời phàn nàn nào về bác, vì bác quá đỗi công minh, hào phóng và nhân hậu; và giờ đây, khi bác đã đi xa, tất cả mọi người đều tìm thấy ngần ấy điều để yêu thương, ca ngợi và kính trọng, khiến bác vô cùng tự hào vì từng là bạn của bác ấy, và thà để lại cho các con mình di sản mà bác để lại còn hơn là khối tài sản kếch xù nhất từng được tạo ra. Đúng thế! Sự tốt bụng giản dị, hào phóng chính là nguồn vốn tốt nhất để đặt nền móng cho việc kinh doanh của cuộc đời này. Nó trường tồn khi danh vọng và tiền tài lụi tàn, và là thứ giàu có duy nhất chúng ta có thể mang theo ra khỏi thế giới này. Hãy ghi nhớ điều đó, các con của ta; và nếu các con muốn kiếm được sự tôn trọng, tín nhiệm và tình yêu thương, hãy bước theo dấu chân của John Brooke.”
Khi Demi quay lại trường học sau vài tuần ở nhà, thằng bé dường như đã vượt qua được mất mát với sự đàn hồi phước hạnh của tuổi thơ, và quả thực nó đã phần nào làm được như vậy; nhưng nó không quên, bởi bản tính của nó là thứ mà mọi sự việc đều lắng đọng thật sâu, để rồi được ngẫm ngợi và dung hòa vào mảnh đất nơi những đức tính nhỏ bé đang đơm chồi nảy lộc rất nhanh. Nó chơi đùa và học tập, làm việc và ca hát y như trước, và ít ai ngờ được có sự biến đổi nào; thế nhưng có một sự thay đổi thực sự và dì Jo đã nhìn thấy điều đó – bởi dì theo dõi thằng bé bằng tất cả trái tim mình, cố gắng lấp đầy khoảng trống của John theo cách nghèo nàn của dì. Nó hiếm khi nhắc đến mất mát của mình, nhưng dì Jo thường nghe thấy tiếng nấc nghẹn ngào phát ra từ chiếc giường nhỏ vào ban đêm; và khi dì sang an ủi, tất cả những gì nó kêu lên chỉ là, “Con muốn bố! Ồ, con muốn bố!” bởi sợi dây liên kết giữa hai cha con vốn vô cùng sâu sắc, và trái tim đứa trẻ rỉ máu khi nó bị đứt lìa. Nhưng thời gian đã đối xử nhân hậu với nó, và từ từ nó bắt đầu cảm thấy rằng bố không hề mất đi, mà chỉ vắng mặt một thời gian, và chắc chắn sẽ tìm lại được, khỏe mạnh, lực lưỡng và trìu mến như xưa, dẫu cho đứa con trai nhỏ có phải ngắm nhìn những bông cúc tím nở rộ trên nấm mồ của bố rất nhiều, rất nhiều lần trước khi họ gặp lại nhau. Demi bám chặt lấy niềm tin ấy, và tìm thấy ở đó cả sự trợ giúp lẫn niềm an ủi, bởi nó dẫn dắt thằng bé một cách vô thức từ nỗi khao khát dịu dàng dành cho người cha mà nó từng nhìn thấy đến một niềm tin ngây thơ vào Người Cha mà nó chưa từng thấy. Cả hai đều ở trên thiên đàng, và nó cầu nguyện với cả hai, cố gắng sống tốt vì tình yêu dành cho họ.
Sự thay đổi bên ngoài tương ứng với sự biến chuyển bên trong, bởi chỉ trong vài tuần ngắn ngủi ấy, Demi dường như đã cao lớn hơn, và bắt đầu từ bỏ những trò chơi trẻ con, không phải vì xấu hổ như một số đứa trẻ khác, mà vì nó đã vượt qua chúng và muốn thứ gì đó nam tính hơn. Nó bắt đầu đâm đầu vào môn số học đáng ghét và kiên trì bám trụ đến mức ông bác phải ngạc nhiên, dẫu ông không hiểu nổi sự hứng thú bất chợt ấy, cho đến khi Demi nói,
“Khi lớn lên con sẽ làm nhân viên kế toán giống bố, và con phải hiểu biết về các con số và mọi thứ, nếu không con sẽ không thể có những cuốn sổ cái gọn gàng, đẹp đẽ giống như của bố được.”
Vào một dịp khác, nó đến gặp dì với gương mặt vô cùng nghiêm túc và nói,
“Một đứa trẻ nhỏ thì có thể làm gì để kiếm tiền hả dì?”
“Sao con lại hỏi thế, cục cưng?”
“Bố dặn con phải chăm sóc mẹ và các em gái, và con muốn làm điều đó, nhưng con không biết bắt đầu từ đâu.”
“Ý bố không phải bây giờ, Demi ạ, mà là mai sau, khi con lớn cơ.”
“Nhưng con muốn bắt đầu ngay bây giờ, nếu có thể, bởi vì con nghĩ mình phải kiếm ra tiền để mua đồ cho gia đình. Con mười tuổi rồi, và những đứa trẻ khác chẳng to hơn con là mấy đôi lúc vẫn kiếm được xu đấy thôi.”
“Ừm, thế thì, hay là con ra quét dọn hết mấy đám lá khô rồi phủ lên luống dâu tây đi. Dì sẽ trả con một đô-la cho công việc đó,” dì Jo nói.
“Thế không phải là nhiều lắm ạ? Con có thể làm xong trong một ngày. Dì phải công bằng, không được trả quá nhiều, bởi vì con muốn thực sự làm ra đồng tiền chân chính.”
“John bé bỏng của dì, dì sẽ công bằng và không trả thừa dù chỉ một xu đâu. Đừng làm việc quá sức nhé; và khi xong việc đó, dì sẽ có việc khác cho con làm,” dì Jo nói, vô cùng cảm động trước mong muốn giúp đỡ và ý thức công bằng của thằng bé, sao mà giống người cha cẩn trọng của nó đến thế.
Khi đống lá khô đã được dọn sạch, rất nhiều xe đẩy chứa đầy vụn gỗ được đẩy từ kho củi ra, và thêm một đô-la nữa được kiếm trọn. Sau đó, Demi giúp bọc lại những cuốn sách giáo khoa, làm việc vào các buổi tối dưới sự hướng dẫn của Franz, kiên nhẫn cặm cụi với từng cuốn sách, không cho ai giúp đỡ, và đón nhận thù lao với sự mãn nguyện đến mức những tờ tiền nhàu nát bỗng trở nên rực rỡ hẳn lên trong mắt nó.
“Bây giờ, con có đủ một đô-la cho mỗi người rồi, và con muốn tự tay mang tiền đến cho mẹ, để mẹ thấy rằng con đã vâng lời bố.”
Thế là Demi thực hiện một cuộc hành hương hiếu thảo đến gặp mẹ, người đã đón nhận khoản tiền kiếm được ít ỏi của con trai như một kho báu vô giá và suýt nữa thì giữ nguyên không dùng đến nếu Demi không nài nỉ cô mua một thứ gì đó hữu ích cho bản thân và các em gái – những đứa mà cậu cảm thấy đã được phó thác cho mình chăm sóc.
Điều đó làm cậu bé vô cùng hạnh phúc, và mặc dù thỉnh thoảng nó vẫn quên đi trách nhiệm của mình, mong muốn được giúp đỡ vẫn luôn hiện hữu, lớn dần theo năm tháng. Nó luôn thốt lên những từ “bố của con” với một vẻ tự hào dịu dàng, và thường nói, cứ như thể nó đang nhận lấy một danh hiệu đầy vinh dự, “Đừng gọi con là Demi nữa. Giờ con là John Brooke rồi.” Cứ thế, được củng cố bởi một mục đích sống và một niềm tin, cậu nhóc mười tuổi dũng cảm dấn thân vào đời, bước vào phần di sản thừa kế của mình – chính là ký ức về một người cha khôn ngoan, trìu mến, và di sản của một cái tên trong sạch.