Hành Trình Trên Sao Chổi

Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Một Cư Dân Bất Ngờ

❊ ❊ ❊

Tàu Dobryna lúc này đã quay trở lại hòn đảo. Chuyến hải hành của nó kéo dài từ ngày 31 tháng Giêng đến ngày 5 tháng Ba, tổng cộng là ba mươi lăm ngày (vì là năm nhuận), tương ứng với bảy mươi ngày theo cách tính của tiểu thế giới mới.

Nhiều lần trong thời gian vắng mặt, Hector Servadac đã tự hỏi tình cảnh thăng trầm hiện tại của họ rồi sẽ đi đến hồi kết ra sao, và lòng ông mang theo chút hoài nghi không biết bản thân có còn đặt chân lên lại hòn đảo cùng viên sĩ quan tùy tùng trung thành của mình nữa hay không. Thế nên, không khỏi xúc động, ông đã tiếp cận bờ biển của mảnh đất Algeria duy nhất còn sót lại. Nhưng những lo lắng của ông hóa ra lại vô căn cứ; đảo Gourbi vẫn y nguyên như lúc ông rời đi, chẳng có gì khác lạ ngoài một đám mây vô cùng kỳ lạ đang lơ lửng bên trên, ở độ cao chỉ hơn một trăm thước.

Khi chiếc du thuyền tiến sát bờ, đám mây này dường như nhô lên hụp xuống như thể bị chi phối bởi một thế lực vô hình nào đó. Sau khi chăm chú quan sát, vị thuyền trưởng nhận ra đó hoàn toàn không phải là sự tích tụ của hơi nước, mà là một bầy chim đặc kín tụm lại với nhau dày đặc như một đàn cá trích, phát ra những tiếng kêu điếc tai và lạc điệu. Thỉnh thoảng, giữa những âm thanh ấy, người ta còn nghe rõ tiếng súng nổ đanh thép.

Tàu Dobryna phát tín hiệu báo sự xuất hiện của mình bằng một phát đại bác, rồi thả neo tại cảng nhỏ ở Shelif. Gần như ngay lập tức, người ta thấy Ben Zoof tay cầm súng đang chạy thục mạng về phía bờ biển; anh vượt qua dãy đá cuối cùng chỉ bằng một cú nhảy vọt, rồi bất chợt khựng lại. Trong vài giây, anh đứng bất động, mắt dán chặt vào một điểm cách đó chừng mười lăm thước như thể đang tuân lệnh của một huấn luyện viên quân sự, toàn thân toát lên vẻ phục tùng và kính cẩn. Thế nhưng, hình ảnh vị thuyền trưởng đang bước lên bờ quá đỗi đỗi mừng rỡ khiến anh không thể giữ nổi bình tĩnh; anh lao tới, chộp lấy bàn tay người chủ và phủ lên đó những nụ hôn. Tuy nhiên, thay vì thốt lên bất kỳ lời chào mừng hay vui mừng nào trước sự trở lại của thuyền trưởng, Ben Zoof lại bật ra những lời kêu la đầy phẫn uẫn.

“Quân trộm cắp, thưa thuyền trưởng! Bọn trộm bỉ oỉ! Người Bedouin! Cướp biển! Lũ quỷ sứ!”

“Này Ben Zoof, có chuyện gì thế?” Servadac dị giọng hỏi.

“Chúng là quân trộm cắp! Đích thị là lũ cướp bạo tàn! Bọn chim chóc khốn kiếp ấy kìa! Chuyện là thế đấy. May mà ngài đã về. Suốt cả tháng trời nay tôi cứ đem thuốc súng đạn dược ra táng tụi nó, mà càng giết thì chúng lại càng kéo đến đông hơn; thế mà nếu tôi mặc thây chúng, chúng ta sẽ chẳng còn nổi một hột bắp nào trên cái hòn đảo này mất.”

Chẳng mấy chốc người ta đã thấy rõ là viên sĩ quan tùy tùng có quá nhiều lý do để lo lắng. Mùa màng đã chín ép rất nhanh trong cái nóng gay gắt hồi tháng Giêng, khi quỹ đạo của xứ Gallia đi qua điểm cận nhật, và giờ đây chúng đang làm mồi cho hàng ngàn con chim chóc. Mặc dù số lượng lớn các lúa đống đã chứng minh cho sự siêng năng của Ben Zoof trong suốt chuyến hải hành của tàu Dobryna, thì hiển nhiên là phần mùa màng chưa thu hoạch vẫn đang đối mặt với nguy cơ bị ăn sạch sành sanh.

Việc đám chim chóc tụ tập này - đại diện cho toàn bộ loài chim trên bề mặt Gallia - đổ xô đến đảo Gourbi (vốn có những đồng cỏ dường như là nơi duy nhất chúng có thể kiếm chút thức ăn) có lẽ là điều tự nhiên; nhưng vì nguồn thức ăn ấy lại lấy đi từ chính thành quả, và có lẽ gây tổn hại nghiêm trọng đến đời sống của con người, nên việc chống trả lại thảm họa tàn phá này là điều tuyệt đối cần thiết.

Một khi đã yên tâm rằng Servadac và các bạn của ông sẽ cùng mình ra tay trừng trị “lũ trộm”, Ben Zoof liền trở nên bình tĩnh, thỏa mãn và bắt đầu hỏi han đủ thứ chuyện. “Và tất cả những đồng đội cũ của chúng ta ở châu Phi đâu rồi?” anh hỏi.

“Theo như tôi có thể nói cho anh biết,” vị thuyền trưởng đáp, “tất cả bọn họ vẫn ở châu Phi; chỉ có điều châu Phi hoàn toàn không nằm ở nơi chúng ta nghĩ.”

“Còn nước Pháp? Montmartre thì sao?” Ben Zoof hào hứng hỏi tiếp. Đó chính là tiếng lòng thổn thức của anh chàng tội nghiệp.

Ngắn gọn hết mức có thể, Servadac cố gắng giải thích tình trạng thực tế của mọi sự việc; ông tìm cách truyền đạt thực tế rằng Paris, nước Pháp, châu Âu, thậm chí cả thế giới đã cách xa đảo Gourbi hơn tám mươi triệu dặm; và ôn tồn, cẩn trọng hết sức, ông bày tỏ nỗi lo rằng có lẽ họ sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy châu Âu, nước Pháp, Paris hay Montmartre thêm lần nào nữa.

“Không, không, thưa ngài!” Ben Zoof quả quyết phản đối; “đó chỉ là chuyện nhảm nhí. Hoàn toàn vô lý khi cho rằng chúng ta sẽ không còn được thấy lại Montmartre nữa.” Và viên tùy tùng kiên quyết lắc đầu, mang phong thái của một kẻ dẫu cho lý lẽ thế nào vẫn quyết tâm giữ vững quan điểm của riêng mình.

“Hay lắm, anh chàng dũng cảm của tôi,” Servadac đáp lời, “cứ hy vọng đi, cứ hy vọng chừng nào còn có thể. Thông điệp gửi đến chúng ta qua biển cả là ‘Đừng bao giờ tuyệt vọng’; dẫu vậy, có một điều chắc chắn là: chúng ta phải lập tức bắt tay vào việc biến hòn đảo này thành chốn định cư lâu dài.”

Thuyền trưởng Servadac bấy giờ dẫn đường đi về phía túp lều gourbi, nơi mà nhờ sự nhọc công của người đầy tớ, đã được dựng lại hoàn toàn; và tại đây, ông làm chủ nhà tiếp đón hai vị khách của mình là bá tước và viên trung úy, đồng thời chào đón cô bé Nina - người đã đi cùng họ lên bờ, và giữa cô bé với Ben Zoof đã sớm thiết lập được mối quan hệ vô cùng thân thiết.

Công trình bên cạnh vẫn được bảo quản tốt, và thuyền trưởng Servadac vô cùng hài lòng khi thấy hai con ngựa Zephyr và Galette đang được chuồng che kín đáo ở đó và có sức khỏe rất tốt.

Sau khi thưởng thức chút đồ ăn thức uống, nhóm người tiến hành một cuộc họp bàn chung về các bước cần thực hiện cho tương lai của họ. Vấn đề cấp bách nhất đặt ra trước mắt là việc tính toán các biện pháp giúp cư dân Gallia sống sót qua cái lạnh khủng khiếp. Do sự thiếu hiểu biết về độ lệch tâm thực sự của quỹ đạo, cái lạnh này, theo họ phỏng đoán, có thể kéo dài trong một khoảng thời gian gần như vô định.

Củi đước vô cùng khan hiếm; than đá thì hoàn toàn không có; cây cối và bụi rậm chỉ đếm trên đầu ngón tay, và việc chặt hạ chúng để đối phó với mùa đông xem chừng là một sách lược đáng lo ngại; dẫu vậy, chắc chắn phải có một giải pháp nào đó được trù định để ngăn chặn thảm họa, và phải làm ngay lập tức.

Việc cung cấp lương thực cho tiểu cộng đồng không gây ra khó khăn trước mắt nào. Nước ngọt rất dồi dào, và các bể chứa chắc chắn sẽ được làm đầy bởi vô số dòng suachảy quanh các đồng bằng; hơn nữa, biển Gallia chẳng bao lâu nữa sẽ bị đóng băng, và băng tan (nước ở thể đông đặc đã mất đi mọi hạt muối) sẽ cung cấp một nguồn nước uống vô tận. Mùa màng đang sẵn sàng thu hoạch, cùng với đàn gia súc và đàn thú thả rông khắp đảo, sẽ tạo thành một nguồn dự trữ dồi dào.

Gần như chắc chắn rằng trong suốt mùa đông, đất đai sẽ trở nên cằn cỗi và không thể thu được thêm thức ăn gia súc tươi nào nữa; do đó, nếu tính toán được chính xác thời gian một năm của Gallia, họ sẽ cần phải phân bổ số lượng gia súc cần giữ lại sao cho tương xứng với độ dài thực tế của mùa đông.

Việc tiếp theo cần thiết là đưa ra một ước tính chính xác về số lượng dân số. Không tính đến mười ba người Anh ở Gibraltar mà hiện tại ông không mảy may bận tâm lắm, Servadac liệt kê tên của tám người Nga, hai người Pháp và cô bé người Ý - tổng cộng là mười một người, coi như toàn bộ danh sách cư dân trên đảo Gourbi.

“Ồ, xin lỗi ngài,” Ben Zoof chen vào, “ngài đã hiểu lầm hoàn toàn tình hình rồi. Ngài sẽ phải ngạc nhiên khi biết rằng tổng số người trên đảo này gấp đôi cơ. Tới hai mươi hai người cơ đấy.”

“Hai mươi hai người!” vị thuyền trưởng thốt lên; “hai mươi hai người trên cái hòn đảo này á? Ý anh là gì?”

“Vì chưa có dịp,” Ben Zoof đáp, “tôi vẫn chưa thể kể cho ngài nghe trước đó, nhưng tôi đã có bầu có bạn.”

“Hãy giải thích đi, Ben Zoof,” Servadac nói. “Anh có bầu bạn gì nào?”

“Ngài không thể ngờ được rằng chỉ với đôi tay không của một mình tôi mà có thể hoàn thành toàn bộ công việc thu hoạch mùa màng mà ngài đang thấy đâu.”

“Thú thật,” Trung úy Procope nói, “chúng tôi dường như không để ý đến điều đó.”

“Vậy thì,” Ben Zoof tiếp lời, “nếu các ngài vui lòng đi cùng tôi chừng một dặm, tôi có thể cho các ngài thấy những người đồng hành của tôi. Nhưng chúng ta phải mang theo súng.”

“Tại sao lại phải mang súng?” Servadac hỏi. “Tôi hy vọng chúng ta không phải đi đánh nhau chứ.”

“Không, không phải đánh với người,” Ben Zoof nói; “nhưng không thể bỏ lỡ cơ hội chiến đấu với lũ chim chóc trộm cắp đó được.”

Để lại cô bé Nina và con dê trong túp lều gourbi, Servadac, Bá tước Timascheff và viên trung úy đầy vẻ khó hiểu liền xách súng lên và đi theo viên tùy tùng. Trên suốt dọc đường đi, họ tàn nhẫn tàn sát lũ chim đang lượn lờ bay lượn xung quanh. Hầu như mọi loài chim chóc đều có mặt trong đám mây sống động ấy. Hàng ngàn con vịt trời; dẽ giun, chim sơn ca, quạ và én; vô số các loài chim biển — vịt mỏ cạp, mòng biển và chim nhạn; bên cạnh đó là vô số loài chim săn — chim cút, gà gô và dẽ gà rừng. Những tay súng đã làm rất tốt nhiệm vụ của mình; phát súng nào trúng phát nấy, và bọn chúng ngã rạp xuống từng tá ở hai bên đường.

Thay vì đi theo bờ biển phía bắc của đảo, Ben Zoof rẽ chéo qua cánh đồng bằng. Tiến bước với tốc độ bất thường nhờ trọng lượng nhẹ đặc thù, Servadac và các bạn nhanh chóng thấy mình ở gần một lùm cây sung mỹ và bạch đàn mọc chen chúc nhau một cách nên thơ dưới chân một ngọn đồi nhỏ. Tại đây họ dừng chân.

“A! Lũ vô lại! Lũ đê tiện! Bọn trộm cắp!” Ben Zoof bất ngờ la lên, giậm chân phừng phừng vì tức giận.

“Sao thế? Mấy người bạn chim chóc của anh lại giở trò gì nữa à?” vị thuyền trưởng hỏi.

“Không, ý tôi không phải lũ chim: ý tôi là mấy gã lười biếng đang trốn việc kia kìa. Nhìn đây này; nhìn kìa!” Vừa nói, Ben Zoof vừa chỉ về phía một số liềm, hái và các dụng cụ làm ruộng khác đã bị bỏ lại trên mặt đất.

“Ý anh là gì?” Servadac hỏi, bắt đầu thấy sốt ruột.

“Suỵt, suỵt! Lắng tai nghe đi!” đó là tất cả câu trả lời của Ben Zoof; và anh giơ ngón tay lên ra hiệu cảnh báo.

Chăm chú lắng nghe, Servadac và các đồng sự có thể nhận ra rõ mồn một một giọng người, kèm theo tiếng đàn ghi-ta và tiếng khua rộn rã của cặp phách castanet.

“Người Tây Ban Nha!” Servadac nói.

“Không lẫn vào đâu được, thưa ngài,” Ben Zoof đáp; “người Tây Ban Nha có thể khua phách ngay trước nòng đại bác ấy chứ.”

“Nhưng tất cả chuyện này có ý nghĩa gì chứ?” vị thuyền trưởng hỏi, càng thêm phần khó hiểu.

“Nghe kìa!” Ben Zoof nói; “đến lượt ông già rồi đấy.”

Và rồi một giọng nói vừa khàn vừa thô vang lên oang oang: “Tiền của tôi! Tiền của tôi! Khi nào các ngươi mới trả tiền cho tôi đây? Trả lại những gì các ngươi thiếu tao đi, lũ majos thảm hại kia.”

Trong khi đó bài hát vẫn tiếp tục vang lên:

“Tu sandunga y cigarro,

Y una cana de Jerez,

Mi jamelgo y un trabuco,

Que mas gloria puede haver?”

Sự hiểu biết của Servadac về tiếng Gascon giúp ông phần nào nắm bắt được nhịp điệu tưng bừng của bài hát ái quốc Tây Ban Nha, nhưng sự chú ý của ông lại bị thu hút bởi giọng nói gầm gừ hung dữ của ông già: “Ta bảo chúng mày phải trả đấy; đúng vậy, thề có Chúa Abraham, chúng mày phải trả tiền cho tao.”

“Một lão Do Thái!” Servadac thốt lên.

“Vâng, thưa ngài, một gã Do Thái gốc Đức,” Ben Zoof nói.

Nhóm người vừa định bước vào lùm cây thì một cảnh tượng kỳ lạ khiến họ khựng lại. Một nhóm người Tây Ban Nha vừa bắt đầu điệu nhảy truyền thống fandango của họ, và trọng lượng siêu nhẹ đã trở thành đặc tính vật lý của mọi vật thể trên hành tinh mới khiến các vũ công bật tung lên không trung tới ba mươi thước hoặc hơn, vượt qua cả ngọn của những hàng cây. Những gì diễn ra sau đó thật hài hước đến mức không thể cưỡng lại được. Bốn gã majos lực lưỡng đã lôi theo một ông già không có khả năng chống cự, ép buộc lão, dù muốn hay không, phải cùng tham gia điệu nhảy; và khi tất cả bọn họ cứ liên tục hiện lên rồi biến mất phía trên vòm lá, những tư thế kỳ dị của họ, kết hợp với vẻ mặt thảm hại của nạn nhân tội nghiệp, không sao tránh khỏi việc gợi nhớ mạnh mẽ đến câu chuyện Sancho Panza bị tung lên trời trong tấm chăn bởi những gã thợ may vui tính ở Segovia.

Servadac, bá tước, Procope và Ben Zoof bấy giờ tiến qua lùm cây cho đến khi tới một bãi cỏ nhỏ, nơi có hai người đang nằm dài lười nhác trên thảm cỏ, một người gảy đàn ghi-ta còn người kia khua cặp phách castanet; cả hai đang cười ngặt nghẽo khi hối thúc các vũ công nhảy sung hơn nữa. Thấy người lạ, họ ngừng chơi nhạc, và đồng thời các vũ công cùng với nạn nhân của họ nhẹ nhàng đáp xuống thảm cỏ.

Hơi thở hổn hển và kiệt sức, lão Do Thái lao đến chỗ Servadac với tất cả sức lực còn lại và kêu lên bằng tiếng Pháp với giọng đặc sệt âm hưởng Teuton: “Ôi, ngài tổng đốc đại nhân, xin cứu tôi với, cứu tôi với! Lũ vô lại này tước đoạt quyền lợi của tôi; chúng cướp của tôi; nhưng nhân danh Chúa Israel, tôi cầu xin ngài phân xử công bằng!”

Vị thuyền trưởng liếc nhìn Ben Zoof đầy hỏi han, và viên tùy tùng bằng một cái gật đầu ra hiệu để chủ nhân hiểu rằng ông hãy đóng vai người mang chức vụ ấy. Ông nắm bắt ngay tín hiệu và lập tức ra lệnh cho gã Do Thái ngậm miệng lại ngay tức khắc. Lão cúi đầu phục tùng hèn m hạ, hai tay đan trước ngực.

Servadac thong thả quan sát lão. Lão khoảng năm mươi tuổi, nhưng bề ngoài trông già hơn ít nhất mười tuổi. Nhỏ thó và gầy guộc, với đôi mắt sáng và ranh mãnh, chiếc mũi khoằm, bộ râu vàng ngắn ngủn, mái tóc bù xù, đôi bàn chân to tướng và đôi bàn tay xương xẩu dài ngoẵng, lão hội tụ tất cả những đặc điểm điển hình của một gã Do Thái gốc Đức: kẻ cho vay nặng lãi nhẫn tâm, xảo quyệt, một tên keo kiệt và bn xỉn chai lì. Giống như sắt bị hút bởi nam châm, gã Shylock này bị thu hút bởi sự hiện diện của vàng bạc, và lão sẽ chẳng ngần ngại rút máu các con nợ nếu điều đó giúp lão bảo đảm được các khoản đòi hỏi của mình.

Tên lão là Isaac Hakkabut, vốn là người Cologne. Tuy nhiên, lão cho thuyền trưởng Servadac biết rằng hầu như toàn bộ thời gian của lão đều lênh đênh trên biển, với công việc thực chất là một thương gia buôn bán tại tất cả các cảng ở Địa Trung Hải. Một chiếc thuyền buôn loại nhỏ tải trọng hai trăm tấn chuyên chở toàn bộ hàng hóa của lão, và nói cho đúng thì nó giống như một khu chợ nổi thu nhỏ, chở hầu như mọi mặt hàng thương mại có thể có, từ một cây diêm quẹt cho đến những thứ vải vóc rực rỡ xuất xứ từ Frankfurt và Epinal. Không vợ không con, chẳng có lấy một mái nhà cố định, Isaac Hakkabut sống gần như hoàn toàn trên chiếc Hansa - tên mà lão đặt cho con thuyền của mình; và thuê một thuyền phó cùng ba thủy thủ - vừa đủ để vận hành một con thuyền nhẹ như vậy, lão lang thang dọc theo các bờ biển Algeria, Tunis, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, hơn nữa còn ghé thăm hầu hết các bến cảng ở vùng Levant. Luôn cẩn thận tích trữ đầy đủ các sản phẩm có nhu cầu cao nhất — cà phê, đường, gạo, thuốc lá, vải bông và thuốc súng — và luôn sẵn sàng đổi chác, buôn bán các mặt hàng đồ cũ, lão đã xoay sở tích lũy được một gia tài đáng kể.

Vào đêm định mệnh ngày mùng 1 tháng Giêng, chiếc Hansa đang đậu ở Ceuta, điểm cực nam trên bờ biển Maroc đối diện chính xác với Gibraltar. Viên thuyền phó và ba thủy thủ đều đã lên bờ, và cũng giống như bao sinh linh khác, họ đã biến mất hoàn toàn; nhưng mỏm đá nhô ra nhất của Ceuta vẫn nguyên vẹn sau thảm họa chung, và khoảng chục người Tây Ban Nha vô tình có mặt ở đó đã may mắn thoát nạn. Tất cả bọn họ đều là những gã majos xứ Andalusian, những lao động nông nghiệp và bản chất vốn vô tư, thờ ơ như phần lớn những kẻ cùng tầng lớp với họ, nhưng họ không khỏi vô cùng bối rối khi phát hiện ra mình bị bỏ lại một mình trên một mỏm đá trơ trọi, cô lập. Họ bàn bạc với nhau hết mức có thể, nhưng chỉ càng thêm hoang mang cực độ. Một trong số họ tên là Negrete, và vì từng đi đây đi đó nhiều hơn những người khác nên hắn ngầm được công nhận là một kiểu thủ lĩnh; mặc dù là kẻ hiểu biết nhất trong số họ, hắn hoàn toàn không thể hình dung nổi bản chất của chuyện đã xảy ra là gì.

Điều duy nhất mà họ nhận thức rõ là họ không có chút hy vọng nào để kiếm nổi lương thực, và do đó việc đầu tiên họ phải làm là vạch ra kế hoạch tẩu thoát khỏi nơi ở hiện tại. Chiếc Hansa đang neo đậu ngoài khơi. Người Tây Ban Nha sẽ chẳng mảy may do dự mà lập tức chiếm đoạt nó, nhưng sự dốt nát hoàn toàn về hàng hải khiến họ miễn cưỡng đi đến kết luận rằng sách lược khôn ngoan hơn là thỏa thuận với người chủ tàu.

Và giờ là phần kỳ lạ nhất của câu chuyện. Trong khi đó, Negrete và các đồng phạm đã nhận được chuyến viếng thăm của hai sĩ quan người Anh từ Gibraltar. Chuyện gì đã xảy ra giữa họ thì lão Do Thái không hề hay biết; lão chỉ biết rằng, ngay sau cuộc gặp gỡ đó, Negrete đã đến tìm lão và ra lệnh cho lão nhổ neo khởi hành ngay lập tức đến điểm gần nhất của Maroc. Lão Do Thái sợ không dám cãi lời, nhưng với bản tính luôn nhòm ngó món lợi trước mắt, đã ra điều kiện rằng vào cuối chuyến hải hành, nhóm người Tây Ban Nha phải trả tiền vé cho chuyến đi của họ — một yêu cầu mà họ chẳng ngần ngại đồng ý, giống như bất kỳ yêu cầu nào khác, bởi họ biết tỏng rằng mình chẳng hề có ý định trả cho lão lấy một xu real nào.

Tàu Hansa đã nhổ neo vào ngày mùng 3 tháng Hai. Gió thổi từ hướng tây, và nhờ đó việc điều khiển chiếc tàu buôn trở nên vô cùng dễ dàng. Những thủy thủ tay mơ chỉ việc kéo buồm lên, và dẫu hoàn toàn không hề hay biết, ngọn gió đã đưa họ đến đúng duy nhất một điểm trú ẩn trên tiểu thế giới mà họ đang chiếm giữ.

Và thế là vào một buổi sáng nọ, Ben Zoof từ đài quan sát của mình trên đảo Gourbi đã nhìn thấy một con tàu - không phải tàu Dobryna - xuất hiện trên đường chân trời và lững thững tiến về hướng vốn trước đây là bờ phải sông Shelif.

Đó chính là phiên bản của Ben Zoof về những gì đã xảy ra, theo những gì anh thu lượm được từ những người mới đến. Anh kết thúc câu chuyện của mình bằng nhận xét rằng kho hàng trên tàu Hansa sẽ cực kỳ hữu ích cho họ; quả thực, anh dự đoán rằng Isaac Hakkabut sẽ là một kẻ khó trị, nhưng cho rằng chẳng có hại gì khi trưng dụng hàng hóa vì lợi ích chung, bởi giờ đây chẳng còn cơ hội nào để đem chúng đi bán nữa.

Ben Zoof nói thêm: “Và về những rắc rối giữa lão Do Thái và các hành khách của lão, tôi đã nói với hắn rằng ngài tổng đốc đang đi thị sát chuyến công du, và ngài sẽ là người phân xử mọi chuyện một cách công bằng.”

Mỉm cười trước chiến thuật của viên tùy tùng, Servadac quay sang Hakkabut và bảo rằng ông sẽ đảm bảo các yêu sách của lão được điều tra thích đáng và mọi khoản đòi hỏi hợp lý sẽ được thanh toán. Lão tỏ ra hài lòng, và ít nhất là tạm thời từ bỏ những lời phàn nàn cùng sự nài nỉ của mình.

Khi lão Do Thái đã lui ra, Bá tước Timascheff hỏi: “Nhưng làm sao mà anh có thể bắt đám người đó trả tiền cho được cơ chứ?”

“Họ có rất nhiều tiền,” Ben Zoof đáp.

“Khó lắm,” vị bá tước đáp lời; “từ trước đến nay anh từng thấy người Tây Ban Nha nào giống như bọn họ mà lại có lắm tiền bao giờ chưa?”

“Nhưng chính mắt tôi đã thấy mà,” Ben Zoof nói; “và đó là tiền của Anh.”

“Tiền Anh ư!” Servadac lặp lại; và tâm trí ông lại hướng về chuyến thám hiểm do viên đại tá và viên thiếu tá thực hiện từ Gibraltar - chuyến đi mà họ đã giữ kín vô cùng. “Chúng ta phải tìm hiểu thêm về chuyện này mới được,” ông nói.

Rồi quay sang Bá tước Timascheff, ông nói tiếp: “Nhìn chung, tôi nghĩ các quốc gia châu Âu đều có đại diện khá đầy đủ qua dân số của xứ Gallia.”

“Đúng vậy, thưa thuyền trưởng,” vị bá tước đáp; “chúng ta chỉ có một mảnh vỡ của thế giới, nhưng nó lại hội tụ những thần dân đến từ Pháp, Nga, Ý, Tây Ban Nha và Anh quốc. Thậm chí Đức cũng có thể coi là có đại diện qua nhân vật là gã Do Thái khốn khổ này.”

“Và ngay cả ở hắn,” Servadac nói, “có lẽ chúng ta cũng sẽ tìm thấy một đại diện không đến nỗi tồi tệ như chúng ta vẫn tưởng tượng hiện giờ.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.