Gia đình Tarbell vốn có truyền thống góp phần tiếp đãi các mục sư dòng Giám lý và các vị trưởng lão chủ tọa những người định kỳ đến “giảng đạo” tại nhà thờ của chúng tôi. Vào mùa đông sau khi tôi trở về từ chuyến đi Poland, chúng tôi có đón một vị khách, một nhân vật có thế lực ở địa phương, Tiến sĩ Theodore L. Flood. Ông là một mục sư đã nghỉ hưu để chuyển sang làm chủ biên của một tạp chí mang tên The Chautauquan, được ấn hành tại một thị trấn cách Titusville — nơi tôi vừa trải qua bốn năm gắn bó — chừng ba mươi dặm. Đó là Meadville, quê hương của Cao đẳng Allegheny.
Trong chuyến ghé thăm này, Tiến sĩ Flood đã ngỏ lời mời tôi “giúp một tay” trong một hoặc hai tháng tại một chuyên mục mới trên tạp chí của ông. Tôi nhận lời ngay, vừa mừng vì có thể làm được việc gì đó hữu ích, bởi tôi lớn lên cùng cái gọi là Phong trào Chautauqua. Thật vậy, nó gần như đã trở thành một phần đời tôi chẳng kém gì ngành kinh doanh dầu mỏ, và theo cách riêng của nó, phong trào ấy mang đậm bản sắc Mỹ. Nếu chúng ta có một thước đo giá trị chuẩn xác hơn, chắc hẳn chúng ta sẽ đánh giá nó là điều vô cùng quan trọng.
Phong trào Chautauqua này xuất phát từ một buổi cắm trại thường niên của dòng Giám lý tổ chức tại Fair Point, bên hồ nước nên thơ từng là điểm đến cuối trong những chuyến dã ngoạn cả ngày đầy tham vọng của chúng tôi thời thơ ấu. Đến năm 1870, chủ tịch của Hiệp hội này là một người được khắp vùng hết mực kính trọng nhờ những việc làm thiện nguyện cùng sự nhạy bén trong kinh doanh — ông Lewis Miller, một nhà sản xuất đến từ Akron, Ohio. Ông Miller sau này được cả nước biết đến với tư cách là bố vợ của Thomas Edison, nhưng những người gắn bó lâu năm với Chautauqua lại thích nói ngược lại: “Edison chính là con rể của Lewis Miller.” Trong tâm trí họ, chừng đó là quá đủ để bảo chứng cho danh tiếng của Edison.
Sự quan tâm của Lewis Miller đối với Chautauqua vượt xa khuôn khổ của buổi cắm trại thường niên. Ông nhìn thấy cơ hội xây dựng tại nơi đây một chốn nghỉ hè, nơi các bậc cha mẹ có thể cho con cái mình những giờ phút vui chơi lành mạnh ngoài trời, bảo vệ chúng khỏi những cạm bẫy của lối sống trụy lạc, đồng thời truyền thụ cho chúng những kiến thức Kinh Thánh hiện đại và chuẩn mực. Sự đồng tình với chương trình này đã thuyết phục nửa tá gia đình thuộc Nhà thờ Giám lý Titusville cùng nhau hùn tiền mua một mảnh đất ở vùng ngoại vi khu đất trại để lập nên một khu định cư Titusville — gồm một ngôi nhà nhỏ có nhà ăn chung cùng vài căn phòng, với lều vải làm chỗ ngủ cho những người đến thêm. Cha tôi gia nhập cộng đồng này chẳng lâu sau khi chúng tôi chuyển đến Titusville. Nhà chúng tôi có một chiếc lều và một chiếc thuyền đáy bằng.
Suốt những năm tháng mà tôi vừa ôn lại, những năm học trung học, đại học, và làm Hiệu trưởng Chủng viện Poland Union, phần lớn mùa hè nào của tôi cũng gắn liền với Chautauqua. Nỗ lực đáng ngợi ca của Lewis Miller nhằm cung cấp những bài học Kinh Thánh hấp dẫn thoạt đầu chẳng có ý nghĩa mấy đối với tôi; chiếc thuyền đáy bằng mới là thứ có sức hút lớn lao. Thế nhưng vào năm 1874, một sự kiện đã xảy ra kéo tôi rời khỏi mặt nước. Lewis Miller đã thuyết phục được nhà biện giáo nổi bật nhất nước Mỹ về trường Chúa nhật, Tiến sĩ (sau này là Giám mục) John H. Vincent, chọn Fair Point làm trụ sở cho Học viện Trường Chúa nhật Liên giáo phái Quốc gia — một dự án mà ông và những người cùng chí hướng đã ấp ủ từ lâu. Phiên họp đầu tiên của tổ chức mới này diễn ra vào năm 1874 dưới tên gọi Hội nghị Chautauqua. Nó lập tức được thừa nhận như một cuộc cách mạng làm lật đổ trật tự cũ.
Nét ngoạn mục nhất của cuộc cách mạng ấy chính là diễn đàn Chautauqua, khi nó tạo ra những mối liên hệ đầy hứng khởi và thách thức với đời sống trí tuệ đương thời. Ở đó, người ta được lắng nghe những diễn giả lớn của thời đại bàn về đủ mọi đề tài. Ở đó, những buổi hòa nhạc tuyệt vời được trình diễn. Chính những bài giảng khoa học mới là thứ thu hút tôi, đặc biệt là các bài giảng của Tiến sĩ R. Ogden Doremus đến từ New York. Những thí nghiệm trên sân khấu của ông, với sự hỗ trợ của hai phụ nữ khéo léo, đã khiến tôi phấn khích đến mức chưa từng có trong đời. Thế nhưng, điều đánh động tôi mạnh mẽ nhất lại là những màn trình diễn với một chiếc kính hiển vi lộng lẫy mà họ đang trưng bày trong một căn nhà nhỏ nằm tách biệt sang một bên.
Chẳng có gì trên đời lúc bấy giờ quan trọng với tôi bằng việc được trò chuyện với hai người phụ nữ ấy, xin lời khuyên của họ về công việc tôi đang bắt đầu thực hiện với chiếc kính hiển vi nhỏ bé mua bằng chính số tiền tôi đã chắt chiu cẩn thận. Có lẽ, ồ, có lẽ nào, tôi mơ mộng rằng họ sẽ cho phép tôi nhìn qua cỗ máy tuyệt mỹ mà họ đang thao tác vô cùng khéo léo ấy, tự tay điều chỉnh tiêu cự, và ngắm nhìn sự sống đang diễn ra trong vi trường của nó. Thế là có một hôm, tôi nấn ná ở lại sau khi buổi nói chuyện kết thúc, rón rén bước lại gần họ, tự dặn lòng phải thật can đảm để thổ lộ rằng mình muốn trở thành một nhà nghiên cứu kính hiển vi, rồi khẩn khoản xin họ cho vài bài bài học cùng lời khuyên bảo. Hai vị phu nhân mỉm cười nhìn xuống từ vị thế cao sang của họ, bộc lộ rõ ràng rằng họ đang nghĩ tôi chỉ là một đứa trẻ nhà quê với những biểu hiện tâm lý kỳ quặc. “Hoàn toàn không thể,” họ đáp gọn lỏn, rồi quay lưng tiếp tục cuộc thảo luận với Tiến sĩ Doremus.
Bẽ bàng, nhục nhã, nhưng may là cũng quá tức giận để mà khóc, tôi lủi thủi quay trở về chiếc thuyền đáy bằng của mình. Tôi nhất định sẽ cho họ thấy tay tôi, tôi tự nhủ, hai bàn tay siết chặt thành nắm đấm!
Phải mất nhiều năm sau tôi mới lại dám kỳ vọng nhận được từ một dự án Chautauqua nhiều hơn những gì nó đang bày bán cho công chúng nói chung. Đã có rất nhiều dự án như thế. Tiến sĩ Vincent luôn đảm bảo điều đó. Ở châu Mỹ những năm thập niên tám mươi, khó lòng tìm được một người nào có đủ trải nghiệm, niềm tin và cá tính để thuyết phục một cộng đồng đang ngái ngủ và hoàn toàn mãn nguyện chịu chấp nhận một trật tự mới giỏi hơn ông. John Vincent bước sang tuổi bốn mươi hai khi ông đến Chautauqua — đẹp trai, tự tin, nhanh nhẹn, đầy năng lượng và tỏa ra một nguồn sinh khí ngập tràn sự sung túc. Ông còn là một diễn giả tài ba, và nghệ thuật hùng biện tại Chautauqua đã khiến con người ta trở nên dung thứ ngay cả với những tư tưởng dị giáo. Ông bắt tay vào việc tổ chức các hoạt động của Hội nghị với một sự thành thạo khiến tất cả mọi người phải thán phục, kể cả những kẻ vốn có thành kiến với việc thế tục hóa buổi cắm trại thân yêu của họ. Dưới tư cách là một người quản lý sân khấu, tôi chưa từng thấy ai sánh kịp ông. Ông có sức hút mãnh liệt, nhưng lại biết rõ khi nào và làm thế nào để phát huy nó; ông sắc sảo, khôn ngoan và đầy châm biếm. Ông biết cách làm xẹp những ảo tưởng và rèn giũa thính giả của mình. Khán giả Chautauqua dần trở thành một trong những tập thể dự khán ngoài trời có kỷ luật nhất đất nước. Việc chúng ta ở ngoài trời từng khiến chúng ta ngỡ rằng mình có quyền tự do rời khỏi các buổi họp nếu cảm thấy chán nản, hoặc nếu chợt nhớ ra mình hãy còn để ổ bánh mì trong lò, hay đứa bé có lẽ vừa thức giấc. Sau khi chương trình bị dừng lại một hoặc hai lần để “tạo cơ hội cho quý cô kia ra ngoài mà không làm phiền thêm đến diễn giả nữa”, chúng tôi đã học được cách ở nhà hoặc ngồi yên cho đến hết buổi giảng.
Chỉ có một từ duy nhất để mô tả những gì mà Lewis Miller và Tiến sĩ Vincent đã làm với Chautauqua lúc bấy giờ, đó chính là “sự điện khí hóa”. Cộng đồng nơi đây phần lớn gồm những người đàn ông và phụ nữ làm việc vất vả, những người khao khát một kỳ nghỉ trong một môi trường mà ở đó họ không phải “lo lắng về lũ trẻ”. Quả thực, nếu những hàng rào cao vút với những cánh cổng mà qua đó bạn không thể ra vào sau mười giờ tối — tuyệt đối không thể qua lại nếu không có vé, và ngay cả có vé cũng không được phép vào Chủ nhật — nếu những người gác cổng luôn cảnh giác cùng tiếng chuông giới nghiêm lúc mười giờ, nếu sức mạnh của dư luận từ các bậc bô lão nhằm hậu thuẫn cho những quy định hạn chế ấy có thể dập tắt mọi trò nghịch ngợm và thói vô kỷ luật của đám thanh thiếu niên tụ tập đông đúc tại Chautauqua, thì các bậc phụ huynh hoàn toàn có quyền yên giấc ngủ ngon. Trên thực tế, tôi chưa từng chứng kiến bất kỳ hành vi sai trái nghiêm trọng nào, dẫu rằng chắc hẳn vẫn có rất nhiều điều xảy ra mà khi ấy tôi còn quá nhỏ để có thể nhận thức được. Trò nghịch dại lớn nhất mà cá nhân tôi từng tòng phạm chính là chơi trò đuổi bắt ngược xuôi trên mô hình phù điêu tái hiện xứ Palestine, chạy dọc theo bờ hồ hệt như cách xứ Palestine nằm kề bên Địa Trung Hải. Nơi đó được chấm phá bằng những mô hình làm bằng thạch cao mô phỏng các thị trấn từ Damascus đến Bethsaida. Tôi nhớ một quy định trong trò chơi của chúng tôi là bạn sẽ không bị bắt nếu đứng dạng chân dang rộng hai bên thành Jerusalem. Vụ phá hoại nghiêm trọng nhất mà tôi biết mà bản thân không hề nhúng tay vào chính là việc đánh cắp Damascus, Nazareth hay Tyre rồi khiêng đi mất tivi.
Tiến sĩ Vincent không hề thay đổi các quy định hạn chế, nhưng ông khiến chúng trở nên dễ chịu hơn nhờ luồng sinh khí mới mà ông thổi vào đời sống của chúng tôi. Tác động của ông đối với cộng đồng về mặt vật chất là vô cùng nhãn tiền. Nơi đây bắt đầu phát triển. Tiếng búa đinh đóng những căn nhà gỗ phần lớn vốn mỏng manh ấy vang lên không ngớt. Kết quả rất giống với những gì mà Mark Twain từng bắt gặp tại khu định cư mùa hè Onteora ở vùng Catskills vào năm đầu tiên thành lập của nó — “những bức vách mỏng đến mức bạn có thể nghe thấy mấy bà nội trợ đang đổi ý.”
Công việc gia đình được cải thiện. Vốn dĩ nó từng sơ sài hệt như những căn nhà gỗ vậy — kiểu quản gia dã ngoại. Bạn có thể thấy họ làm việc đó, ngay phía sau những ngôi nhà gỗ của mình, quây quần bên một cái lò củi cũ hoặc một bếp đá, mấy ông thì tay áo xắn cao, mấy bà thì diện những chiếc tạp dề lớn, nếu không muốn nói là mặc cả áo choàng ở nhà. Những tấm ván đặt trên giá cưa dùng làm bàn, những tấm thảm lót (lúc bấy giờ chúng tôi chưa biết dùng từ “khăn lót đĩa” doily), và những chiếc ghế dài dùng làm chỗ ngồi. Thói quen tự nhiên là mang những món đồ nội thất bỏ đi từ nhà đến để trang hoàng cho các căn nhà gỗ đã dẫn đến món đồ nội thất đặc trưng duy nhất của Chautauqua mà tôi còn nhớ được — một chiếc ghế dài lưng cao làm từ chiếc giường bốn cột kiểu cũ. Hầu như chẳng có gác xép nào ở vùng phụ cận Chautauqua lại không cất giấu một hoặc hai chiếc giường như thế. Chúng đã bị cất xó khi các gia đình có đủ khả năng tài chính để sắm sửa những bộ phòng ngủ bằng gỗ sồi bổ tư hoặc gỗ óc chó theo kiểu dáng mới. Một bộ óc đầy sáng tạo nào đó đã nhận ra rằng bằng cách cắt ngắn các thanh chắn bên của chiếc giường bốn cột sao cho vừa vặn với chiều rộng của ghế, rồi tận dụng phần thành đầu giường làm tựa lưng, bạn sẽ có được một chỗ ngồi vừa rộng rãi, lại vừa thoải mái nếu có thêm đệm, thậm chí có thể dùng làm ghế bành dài. Chúng xuất hiện rải rác khắp mọi nơi.
Cùng với sự hiện diện của Tiến sĩ Vincent, Chautauqua đã nhanh chóng phát triển một tuyến Lối đi dạo (Promenade) dọc theo đầu phía nam của bờ hồ. Những ngôi nhà gỗ ở đây đều được trát vách phên lót thạch cao, có đặt ghế mây trên hiên nhà, và chẳng mấy chốc cư dân nơi đây đã bắt đầu dùng bữa tại Khách sạn Athenaeum thực sự uy nghi. Chính tại hàng nhà ở mặt tiền này, Tiến sĩ và Phu nhân Vincent đã đến sinh sống trong một chiếc lều, một cỗ lều thượng hạng kèm theo cả một ngôi nhà thực thụ — theo cách nhìn của chúng tôi — nằm ẩn ngay phía sau.
Thỉnh thoảng, khi đã ăn mặc và đi giày dép chỉnh tề, chúng tôi đi dạo qua khách sạn và những dãy nhà gỗ là nơi sinh sống của giới quý tộc chúng tôi, và nếu tình cờ bắt gặp Tiến sĩ hay Phu nhân Vincent, hoặc tuyệt vời nhất là “cậu con trai nhỏ của nhà Vincents” — người mà sau này chúng tôi biết tên là George — chà, thế là chúng tôi lại khoác lác về điều đó bên bàn ăn tối chẳng khác nào người ta có thể thốt lên ngày nay rằng: “Tôi đã gặp Tổng thống Roosevelt, Phu nhân Roosevelt, Sistie, Buzzie.”
Tiến sĩ Vincent không ngừng thúc đẩy vùng đất này vươn lên không chỉ bằng việc cải thiện đều đặn chất lượng sân khấu, các chương trình giải trí, chất lượng của những con người đến để giảng dạy và truyền đạo, mà còn bằng một dòng chảy liên tục các dự án mới. Ông không ngừng lên kế hoạch để lay động không chỉ tâm hồn mà cả tâm trí của chúng tôi. Chúng tôi dần có thói quen chờ đón những ý tưởng mới trong mỗi kỳ hội nghị kế tiếp và chưa bao giờ phải thất vọng dẫu đôi khi có chút bối rối. Đằng sau tất cả những dự án đa dạng ấy là bàn tay chèo lái vững vàng của Lewis Miller, người cộng sự thầm lặng, người đã khởi đầu bằng việc khảo sát vùng đất, thiết lập một cộng đồng, đặt nền móng cho Viện nghiên cứu như nó hiện hữu ngày nay — một trung tâm của nền văn hóa dân chủ và Cơ Đốc giáo.
Kiệt tác của Tiến sĩ Vincent, theo như tôi luôn suy tôn, xuất hiện vào năm 1878 khi ông trình bày trước cộng đồng Chautauqua một kế hoạch đã được ấp ủ từ lâu trong tâm trí chưa bao giờ ngơi nghỉ của ông. Ông đã làm điều này trong một bài phát biểu mang tính truyền cảm hứng xuất sắc nhất mà tôi từng được nghe — ít nhất là nó đã lay động tôi sâu sắc đến mức tôi chưa từng quên được gương mặt của vị diễn giả và, quan trọng hơn thế, là những gương mặt đang ngẩng lên hướng về phía ông của các thính giả. Ông công bố một kế hoạch cho chương trình đọc sách tại nhà kéo dài bốn năm dưới sự hướng dẫn của ban quản lý Chautauqua, được thiết kế phù hợp cho những nam thanh nữ tú từng bỏ lỡ cơ hội học đại học, nhưng lại ấp ức một niềm khao khát tri thức sâu sắc và sẵn sàng đón nhận bất kỳ kế hoạch thiết thực nào mang lại cho họ tầm nhìn của bậc đại học. Chương trình ấy được đặt tên là Vòng tròn Văn học và Khoa học Chautauqua.
Nghe qua thì điều này có vẻ chẳng lấy gì làm phấn khích; nhưng trên thực tế nó lại vô cùng kích thích, bởi vị diễn giả đang dốc trọn cõi lòng mình. Bản thân ông chưa từng được bước chân vào giảng đường đại học; ông chưa từng nguôi ngoai cảm giác thiếu hụt những gì mà ông tin rằng lẽ ra ngôi trường ấy phải ban tặng cho mình. Ông đã vật lộn để bù đắp cho sự mất mát của mình bằng việc đọc sách và nghiên cứu hàng ngày một cách kiên trì, có hệ thống. Hình thành thói quen ấy từ khi còn là một thiếu niên, ông chưa bao giờ từ bỏ nó. Nó mang lại cho ông sự thỏa mãn sâu sắc, và ông tin rằng nó cung cấp cho ông tầm nhìn của một người từng qua trường lớp đại học. Ông tin rằng có hàng ngàn nam nữ thanh niên trên khắp nước Mỹ, hàng chục, thậm chí hàng trăm người đang ngồi trong thính phòng của ông, cũng từng bị ép buộc phải hy sinh những hoài bão học hành thuở trẻ giống như ông. Họ đã chôn giấu nỗi khát khao ấy tận sâu trong tim, nơi mà đôi khi nó vẫn ngày đêm cắn rứt. Và giờ đây, ông đang mang lại cho họ sự giúp đỡ tương tự mà ông từng tìm thấy; với sự tự tin và rạng rỡ, ông phác họa chương trình đọc sách tại nhà mà Tiến sĩ John H. Finley sau này đã đặt cho một danh hiệu rất đỗi tâm đắc: Tiên phong Giáo dục Người lớn ở Mỹ.
Những gương mặt ngẩng cao xung quanh tôi đã thay lời muốn nói, đặc biệt là gương mặt của những người phụ nữ ở độ tuổi từ ba mươi trở lên. Phụ nữ của thế hệ đó có niềm khao khát tri thức tự nhiên bị thôi thúc mạnh mẽ bởi phong trào Quyền của Phụ nữ, trong đó điều khoản cốt lõi nhất chính là yêu sách đòi quyền tiếp cận giáo dục bậc cao. Những người phụ nữ ấy giờ đây đã qua cái tuổi có thể đến trường đại học, nhưng trước mắt họ là một thứ mà trực giác mách bảo rằng vô cùng thực tế.
Phản ứng nhanh nhạy của họ phần nào được lý giải bởi lòng tận tụy dành cho Tiến sĩ Vincent. Tôi đoán rằng phần lớn những người phụ nữ thường lui tới Chautauqua đều ít nhiều đem lòng say đắm ông, đó là sự sùng bái mà một người đàn ông dạt dào cảm xúc nhận được từ những hàng ghế khán giả, thế nhưng đa phần thính giả của ông thà chết chứ nhất quyết không chịu hé lộ niềm đam mê thầm kín ấy.
Chà, đó là một trải nghiệm cảm xúc vĩ đại với những kết quả thực tế lớn lao và nhãn tiền, bởi vì ngay trước khi kỳ họp mùa hè khép lại, đã có tới tám ngàn người gia nhập Vòng tròn Văn học và Khoa học Chautauqua.
Họ đã gia nhập, và họ đang đổ xô mua những cuốn sách được chọn. Tập sách quan trọng nhất trong chương trình của năm đầu tiên ấy chính là cuốn “Lịch sử Ngắn gọn về Nhân dân Anh” (Short History of the English People) của Green — theo phán đoán của tôi thì đây là cuốn sách quan trọng thứ hai, ngoại trừ một cuốn duy nhất mà Vòng tròn Văn học và Khoa học Chautauqua từng đưa vào chương trình, và ngoại lệ đó chính là tác phẩm “Đặc điểm nước Pháp” (French Traits) của W. C. Brownell. Nhu cầu đột ngột đổ dồn vào một tập sách đồ sộ và đắt đỏ như bộ Lịch sử của Green, nằm ngoài các kênh thương mại thông thường, tiếp nối sau đó là những đợt phát hành sách với doanh số ngoạn mục mà cả nhà xuất bản lẫn tác giả đều chưa từng dám mơ tới kết quả bình thường nào, đã khiến toàn bộ thế giới xuất bản được một phen chấn động, và dĩ nhiên làm dấy lên câu hỏi: “Làm thế nào để chúng ta chen chân vào thị trường mới mẻ này đây?”
Đã có nhiều cách tiếp cận, tất cả đều hoàn lắm chứ nếu xét theo hiểu biết của tôi. Tôi vừa tìm ra một bằng chứng khá thú vị về một trong số đó cách đây chưa lâu trong bộ sưu tập bản thảo và sách quý tuyệt vời của Marjorie Wiggin Prescott — một ấn bản cuốn “Ben-Hur” của Lew Wallace được làm phong phú thêm bởi bức thư gửi cho nhà xuất bản, do chính Phu nhân Wallace ký tên và đề ngày 24 tháng 11 năm 1884. Bức thư với nội dung tự giải thích ấy được tái bản lại tại đây với sự cho phép của bà Prescott.
Crawfordsville, ngày 24 tháng 11 năm 1884.
Thưa Ngài,
Do những câu hỏi thắc mắc từ các độc giả thư tín về số lượng người vợ mà Tướng Wallace từng có, tôi nghĩ tốt hơn hết là nên hướng dẫn ngài bổ sung vào phần đề tặng của cuốn Ben-Hur, để nó trở thành như sau:
Tặng
Người Vợ Thuở Thanh Xuân Của Tôi
Người vẫn đang gắn bó cùng tôi
Điều này có sự đồng thuận của Tướng Wallace.
Một số câu lạc bộ văn học đã chọn nó làm cẩm nang học tập kết hợp với môn Lịch sử La Mã. Nếu bằng cách nào đó ngài có thể khiến nó được Câu lạc bộ Chautauqua — nơi quy tụ hai mươi ngàn thành viên — thông qua lựa chọn, thì rất đáng để thử đấy chứ. Mong ngài tha thứ cho lời đề nghị này.
Tôi có thể xin ngài cung cấp cho tôi một báo cáo về doanh số bán sách của Ben-Hur, qua từng năm, kể từ thời điểm phát hành ban đầu được không?
Với sự kính trọng cao nhất,
Trân trọng kính chào ngài,
Susan E. Wallace.
Khi Vòng tròn Văn học và Khoa học Chautauqua ngày một lớn mạnh, nhu cầu về một sự quản lý mang tính đồng cảm và ổn định cũng trở nên ngày càng bức thiết. Để trợ giúp cho nhiệm vụ này, người ta đã quyết định vào năm 1880 là sẽ cho ra mắt một ấn phẩm nguyệt san — dự kiến sẽ mang tên The Chautauquan — nơi một phần nội dung của các bài đọc bắt buộc có thể được đăng tải với chi phí rẻ hơn so với việc in thành sách, và thông qua đó, bằng những lời khuyên nhủ cùng gợi ý, ban lãnh đạo có thể giữ được mối liên hệ gần gũi hơn với độc giả — nhằm đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của họ. Tiến sĩ Vincent rất nhạy bén trong việc đánh hơi ra những điểm yếu kém trong bộ máy tổ chức, và vô cùng khéo léo khi nghĩ ra các biện pháp để khắc phục chúng. Và chính để thử nghiệm một trong số những sáng kiến của ông mà Tiến sĩ Flood lúc bấy giờ mới ngỏ lời nhờ vả sự trợ giúp mang tính tạm thời của tôi.
Và đây là thực trạng vừa mới được phơi bày — hàng trăm con người từng gia nhập đại gia đình này cùng mua sắm sách vở của họ lại đang hoàn toàn thiếu vắng từ điển, bách khoa toàn thư, hay bất kỳ tài liệu trợ giúp giải thích nào khác, trong khi họ lại sống quá xa xôi — trên những vùng Đại thảo nguyên, tận chốn núi cao, hay trên những nông trại hẻo lánh — để có thể với tới các thư viện. Trụ sở chính ngập chìm trong các câu hỏi gửi đến: Làm thế nào để phát âm từ này, dịch cụm từ kia? Người đàn ông này, người phụ nữ nọ là ai? Ý nghĩa của câu này hay cụm từ kia là gì?
“Liệu tờ The Chautauquan có thể giải quyết khó khăn này không,” Tiến sĩ Vincent gợi ý, “bằng cách chú thích các phần văn bản khác nhau cần phải đọc trong tháng đó chăng? Hãy giao cho ai đó thử nghiệm xem sao.”
Vì tình cờ tôi lại là “kẻ” đang ở trong tầm với khi Tiến sĩ Flood nhận được gợi ý ấy, nên nhiệm vụ này đã được đặt lên vai tôi — một thử nghiệm mang tính tạm thời, tôi được cho hiểu rõ là như vậy. Giờ đây, từ thuở ấu thơ tôi đã từng biết đến những mái nhà và thị trấn nơi hầu như chẳng có lấy một cuốn sách nào ngoài Kinh Thánh và sách đánh vần của trẻ em. Do sách vở luôn là thứ có sau bánh mì trong gia đình chúng tôi, nên bản nhiên tôi vô cùng thương cảm cho những ai không có được chúng; thế nên tôi đã đảm nhận phần chú thích với quyết tâm làm sao cho chúng trở nên hữu ích nhất có thể.
Đến sự ngạc nhiên và vui sướng của tôi, Tiến sĩ Vincent đã gửi lời nhắn đến bảo rằng tôi đã nắm bắt được ý tưởng của ông, đồng thời ông đã khuyên Tiến sĩ Flood hãy nhờ tôi soạn thảo những chú thích tương tự cho mỗi tháng tiếp theo.
“Cô có đồng ý làm không?” Tiến sĩ Flood hỏi.
Tôi chớp lấy cơ hội ngay lập tức, thầm tính toán rằng việc này sẽ ngốn không quá hai tuần trong tổng số một tháng của tôi, mang lại cho tôi chút tiền vặt tiêu vặt, và vẫn chừa lại thời gian cho chiếc kính hiển vi — rằng tương lai của tôi nằm ở chiếc kính đó, chứ tôi hoàn toàn không hề mơ mộng gì xa xôi.
Thế nhưng nhiệm vụ của tôi lại đòi hỏi những thư viện được trang bị tốt hơn những gì Titusville có thể cung cấp; Meadville, cách đó chỉ ba mươi dặm, nơi đặt trụ sở của tờ The Chautauquan, lại sở hữu những thứ đó, và thế là tôi sắp xếp để thực hiện công việc của mình ở trỏng, ở lại cho đến khi tôi đọc xong các bản in thử — một công việc đòi hỏi sự khắt khe đến mức chẳng bao giờ ngừng khiến tôi lo lắng. Chấp nhận thế nào nếu dấu trọng âm bị đặt nhầm chỗ? Sẽ ra sao nếu tôi đưa một nhân vật nào đó chào đời sai năm sinh? Đôi khi những chuyện tương tự cũng xảy ra, và khi chúng xảy ra, tôi nhanh chóng nhận ra rằng, dẫu có thể có rất nhiều độc giả Chautauqua không có sẵn sách tham khảo, thì vẫn có nhiều người khác sở hữu chúng và thừa biết cách sử dụng chúng.
Một khi đã bắt nhịp được với văn phòng của tờ The Chautauquan, tôi bắt đầu nhìn thấy những việc cần phải làm. Tiến sĩ Flood vốn chẳng mặn mà gì với các chi tiết nhỏ nhặt. Tờ tạp chí được biên tập theo một lối ngẫu hứng, và theo quan điểm của tôi là vô cùng bừa bãi. Tôi không tài nào kìm được đôi tay mình lại. Phụ nữ vốn là một nhà quản lý bẩm sinh: đó đã là công việc của họ qua suốt bao thế hệ. Theo trực giác, họ biết cách thu dọn, sắp xếp lại mọi thứ và thiết lập trật tự. Tôi lập tức bắt tay vào việc thực thi dòng máu gia truyền của mình, tỏ ra hữu ích, được đề nghị một công việc toàn thời gian, và dốc toàn tâm toàn lực vào nỗ lực tìm hiểu cách để biên tập một tờ tạp chí theo đúng cách mà tôi linh cảm rằng một tờ tạp chí nên được thực hiện.
Khi người thợ cả nhẫn nại lâu nay của nhà in phát hiện ra tôi làm việc thực sự nghiêm túc, ông đã đứng ra hướng dẫn cho tôi, dạy tôi các thuật ngữ chuyên môn — chiếc hộc chứa bản in galley duy nhất mà tôi từng nghe đến cho đến thời điểm đó là một chiến thuyền thời Trung Cổ — gợi ý những bản mẫu dàn trang, và đưa ra một mô hình chuẩn mực. Ông cấy vào tôi sự tôn trọng đúng mực đối với các thời hạn nộp bài viết và thời điểm khóa trang in; cho tôi thấy tầm quan trọng của một bản thảo sạch sẽ bằng cách ép tôi phải tận mắt chứng kiến khoảng thời gian cần thiết để thực hiện một thao tác sửa lỗi, huấn luyện tôi đến mức tôi có thể đứng giám sát quá trình khóa trang in cuối cùng và chỉ đạo những thay đổi cần thiết nhằm nhét vừa một mẩu quảng cáo dài ba dòng vừa mới gửi đến, mà ngặt nỗi do tờ The Chautauquan lúc ấy đang rất khát quảng cáo nên tuyệt đối không được phép loại bỏ bằng mọi giá. Khi tôi có thể làm được điều đó một cách dửng dưng thản nhiên, tôi có cảm giác như thể mình đã thực sự thành công. Và tôi phải ghi nhận công ơn huấn luyện này cho một bậc thầy thủ công cừ khôi bậc nhất trong ngành lúc bấy giờ; đồng thời ông cũng là một quý ông lịch thiệp và kiên nhẫn — ông Adrian McCoy, người bấy lâu giữ cương vị người đứng đầu phòng in nơi tờ The Chautauquan được ấn hành.
Sự sẵn lòng gánh vác những công việc vụn vặt chẳng mấy chốc đã kéo về bàn làm việc của tôi phần lớn lượng thư từ hành chính thường nhật — những bức thư cần được hồi đáp theo những mẫu văn bản có sẵn ít nhiều, được ký tên dưới danh nghĩa của Tiến sĩ Flood và gửi đi mà không làm phiền ông phải đọc chúng.
Trong số lượng thư từ dồn ứ ấy có rất nhiều lá thư từ độc giả, chủ yếu là phụ nữ, những người trút bỏ những nỗi niềm phiền muộn và niềm hy vọng của họ lên đôi vai chúng tôi, đầy tin tưởng vào sự thấu cảm và lời khuyên bảo. Những câu trả lời của Tiến sĩ Flood cho các thông điệp ấy mang tính lịch thiệp nhưng vô cùng hình thức. Có lẽ ông đã đánh giá cao sự an toàn ấy theo cách mà tôi chưa hề thấu hiểu. Tôi lại có cảm giác mạnh mẽ rằng một lời thỉnh cầu hay một tâm sự như thế đáng lẽ phải nhận được một bức thư cá nhân mang đậm tính chia sẻ, và tôi bắt đầu viết ra chúng, tuôn trào những lời khuyên nhủ và xót xa. Giờ đây nghĩ lại tôi vẫn thấy rùng mình khi nhớ về thứ tình cảm ngây ngô mà tôi có lẽ đã phung phí lúc bấy giờ. Thế nhưng sự nghiệp tư vấn chuyên nghiệp của tôi đã bị chặn đứng đột ngột bởi kết quả bất ngờ từ một chuỗi thư từ trao đổi với một cộng tác viên. Quý ông này, một giảng viên và nhà giáo người nước ngoài, đang cảm thấy lạnh lẽo trước sự thiếu thấu hiểu của người Mỹ đối với những lý tưởng của ông. Và ông bày tỏ tất cả những điều đó qua những lá thư gửi về tòa soạn sau khi chúng tôi nhận đăng một hoặc hai bài viết của ông. Tôi đã vô cùng xúc động trước những lời bộc bạch của ông và đáp lại bằng một thái độ tương đương — tất nhiên là ký tên của vị chủ biên. Rồi có một hôm, Tiến sĩ Flood nhận được một bức thư thông báo rằng vào ngày nọ vị quý ông đó sẽ có mặt ở Meadville. Ông ấy nhất định phải gặp cho bằng được người đã thấu hiểu mình sâu sắc đến thế. Và quả thật ông ấy đã đến. Tội nghiệp Tiến sĩ Flood, ông chẳng hề hay biết chuyện quái gì đang xảy ra.
“Nhưng còn những bức thư này thì sao?” vị khách thốt lên đầy hào hứng. “Ồ,” Tiến sĩ Flood đáp, “Cô Tarbell đã viết những bức thư đó. Chúng ta sẽ gọi cô ấy ra.”
Và thế là tôi được gọi ra mắt — trên tay cầm lăm lăm những bức thư — Tiến sĩ Flood nhìn tôi với ánh mắt nghiêm khắc và phó mặc tôi cho số phận.
“Cô đã viết những bức thư này ư?” vị khách nước ngoài đang ngơ ngác và thất vọng cất lời hỏi.
Tất cả những gì tôi có thể thốt lên chỉ là: “Vâng, tôi đã viết chúng.”
“Và Tiến sĩ Flood chưa từng đọc qua chúng sao?”
“Không,” tôi đáp, “ông ấy chưa bao giờ đọc cả.”
“Lẽ ra tôi phải biết đó là bút tích của một người phụ nữ chứ,” ông ta rên rỉ, rồi vùng vằng bỏ đi. Và đó cũng là lần cuối cùng chúng tôi nhìn thấy hay nghe ngóng gì về con người ấy. Thế nhưng sự kiện đó đã tạo ra một bước ngoặt lớn cho thư tín biên tập của tôi.
Tuy vậy, tôi vẫn chưa cảm thấy thỏa mãn với việc sắp xếp lại mọi thứ cho ngăn nắp và đưa ra lời khuyên cho những kẻ bất hạnh. Sau khi đã thuyết phục được vị tổng biên tập rằng tôi có thể quản lý cơ ngơi của ông ta gọn gàng hơn những gì ông từng bận tâm thực hiện, tôi bắt đầu nuôi hoài bão được đóng góp vào việc trang hoàng cho nó, mở rộng phạm vi hoạt động của nó vượt ra ngoài những vấn đề thuần túy mang tính chất Chautauqua. Tôi khởi đầu bằng việc cống hiến các bài viết cho chuyên mục mang tên Bàn làm việc của Chủ biên — Sổ tay Chủ biên. Tôi bắt đầu tự viết các bài báo, thậm chí còn cất công đi đây đi đó để thu thập thông tin về những đề tài mà tôi cho là phù hợp.
Thử thách đầu tiên và tham vọng nhất trong số những dự án đó chính là một cuộc điều tra thực hiện tại Cục Sáng chế ở Washington về số lượng các phát minh mà hồ sơ ghi nhận phụ nữ từng thực hiện. Tôi đã bị trăn trở suốt một thời gian dài bởi điều mà tôi cho là sự hạ thấp có tính toán những thành tựu trong quá khứ của phụ nữ bởi nhiều nhân vật tích cực trong chiến dịch đòi quyền bầu cử. Họ đồng thuận với những kẻ đối lập rằng phụ nữ hầu như không thể hiện được năng lực sáng tạo nào hoặc có chăng thì rất ít. Họ ngụy biện rằng đó là vì nam giới đã cố ý và đố kỵ gạt bỏ phụ nữ ra khỏi lĩnh vực hành động của mình. Lập luận ấy tất nhiên nhằm mục đích khơi dậy sự phẫn nộ của phụ nữ, thúc giục họ đứng lên hành động. Thế nhưng với tôi, nó dường như lại càng làm dấy lên mối hoài nghi về năng lực sáng tạo của giới nữ nhiều hơn. Sức mạnh sáng tạo có thể phá vỡ mọi rào cản. Phụ nữ đã chứng minh điều này, tôi tin là vậy, hết lần này đến lần khác trong lúc gánh vác điều mà với tư cách là một người quan sát xã hội, tôi dần nhìn nhận là nhiệm vụ tinh tế, phức tạp và thiết yếu nhất trong mọi nhiệm vụ sáng tạo — đó là việc vun vén tổ ấm gia đình. Lại nói về lĩnh vực phát minh. Vào thời điểm bấy giờ, người ta vẫn đang râm ran bàn tán trên các ấn phẩm lẫn các diễn đàn rằng trong toàn bộ lịch sử của Cục Sáng chế, phụ nữ chỉ đăng ký vỏn vẹn khoảng ba trăm bằng sáng chế mà thôi.
Tôi từng chứng kiến quá nhiều sự tháo vát của người phụ nữ ngoài đồng áng lẫn trong gian bếp nên tôi vô cùng hoài nghi về những con số thống kê đó; và thế là tôi quyết định cất bước đi kiểm chứng, cảm thấy vô cùng quan trọng dẫu trong lòng sợ sệt vì sự liều lĩnh của bản thân khi dám cả gan xâm nhập vào một cơ quan chính phủ và phỏng vấn cả người đứng đầu của nó. Tôi đã có thể ngay lập tức đặt ngón tay mình lên hơn hai nghìn bằng sáng chế, một con số đủ để thuyết phục tôi rằng, dù đây có là một thế giới do đàn ông tạo dựng hay không chăng nữa, thì nếu một người phụ nữ có một ý tưởng hay ho cùng sự gan dạ để đi tìm kiếm một tấm bằng sáng chế, cô ấy hoàn toàn có cơ hội ngang ngửa với nam giới để giành lấy nó. Điều này càng được củng cố thêm qua việc thư tín với hai hoặc ba phụ nữ vào thời điểm đó vẫn đang đều đặn đăng ký các bằng sáng chế.
Những cú dấn thân vào làng báo chí ấy, dẫu kết quả có rụt rè và thuần túy thực tế đến đâu đi chăng nữa, cũng đã tiếp thêm da thịt cho vị trí của tôi, bắt đầu khơi dậy một cách chậm rãi năng lực tự biểu đạt hãy còn sơ khai trong tôi. Song song đó, địa vị của tôi cũng được tô điểm thêm bởi một nét đặc sắc mới lạ trong dự án của chúng tôi, một điều mà bất kỳ vị chủ biên nào của một tờ tạp chí nguyệt san cũng đều có thể thấu hiểu. Chúng tôi chỉ phát hành mười số báo mỗi năm, tạm ngưng vào tháng Bảy và tháng Tám để có thể dời toàn bộ ra thực địa tại khu đất Chautauqua và cho ra mắt một tờ nhật báo tám trang — tờ Nhật báo Hội nghị Chautauqua (Chautauqua Assembly Daily Herald). Điều này đồng nghĩa với việc phải di dời toàn bộ đội ngũ nhân sự tại Meadville ra vùng hồ vào giai đoạn cuối tháng Sáu.
Chẳng mấy chốc tôi đã đóng góp tới hai cột bài xã luận mỗi ngày cho tờ Nhật báo, bao gồm những bình luận về các hoạt động diễn ra hằng ngày của Hội nghị, và qua đó kết giao được với rất nhiều nhân vật uy tín đầy kích thích tư duy. Trong số họ, tôi đặc biệt trân trọng Tiến sĩ Herbert B. Adams và Tiến sĩ Richard T. Ely thuộc Đại học Johns Hopkins, những con người đang làm khuấy động giới trẻ và khiến các bậc bô lão phải bàng hoàng bởi những cách tân mang tính tự do trong việc diễn giải lịch sử và kinh tế học. Chúng tôi cảm thấy khá tự hào về bản thân tại Chautauqua vì đã đủ cởi mở để mời Tiến sĩ Adams và Tiến sĩ Ely đảm nhận vai trò giảng viên lẫn giáo viên thường trực, và vì cộng đồng cử tri của chúng tôi đã chấp nhận họ, dù đôi khi còn hoài nghi đôi chút.
Không chỉ riêng đội ngũ giảng viên của Johns Hopkins mới bổ sung thêm những người bạn vào cuộc đời tôi. Một người cho đến nay vẫn nằm trong số những người mà tôi trân trọng nhất xuất thân từ chính khối sinh viên của trường — Tiến sĩ JohnH. Finley. Tiến sĩ Finley đã dành vài mùa hè để gắn bó với tờ Nhật báo Hội nghị, đảm nhận công việc đọc bản thảo và rà soát bản in thử trong số các nhiệm vụ khác. Chính ông là người đã duyệt qua hai cột bài của tôi và, chắc chắn rồi, đã giúp tôi tránh được biết bao rắc rối; thế nhưng có một lần đã có một lỗi trích dẫn lọt qua mắt ông mà cho đến tận bây giờ ông vẫn tủm tỉm cười mỗi khi chúng tôi ôn lại những ngày tháng ở Chautauqua. Tôi từng hình thành thói quen mở đầu cột bài đầu tiên của mình bằng một bản tóm lược các sự kiện trong ngày — mỗi dòng ứng với một sự kiện và, dùng như một câu mở đầu cho đoạn văn, là một câu trích dẫn. Có một hôm tôi đã vô cùng đắc ý khi chọn được một dòng thơ từ tác phẩm của James Thomson:

Đội ngũ nhân sự của tờ The Chautauquan, năm 1888: Cô Tarbell ngồi ở bìa trái
Buổi sáng mắt hiền hiện ra, mẹ của những giọt sương.
Một bản in của tờ báo vẫn thường được ném lên hiên căn phòng ở tầng trên của tôi vào khoảng năm giờ sáng, và tôi liền bật tung người khỏi giường để xem cột bài của mình đã xảy ra cơ sự gì. Sáng hôm ấy, một thảm hoạ thực sự đã xảy ra, bởi vì câu trích dẫn của tôi lại biến thành thế này:
Con sâu mắt lé hiện ra, mẹ của những giọt sương.
Sự uy bác vẫn thường từ bên kia đại dương vượt sóng ghé thăm hằng năm để tô điểm thêm sắc màu và tầm quan trọng cho các hoạt động của chúng tôi, theo như chúng tôi hằng nghĩ. Một vị khách nước ngoài mà tôi có mối quan hệ giao thiệp vô cùng tốt đẹp kéo dài qua nhiều năm chính là Tiến sĩ J.P. Mahaffy thuộc Đại học Dublin. Tiến sĩ Mahaffy từng đóng góp một chuỗi bài viết tuyệt thú vào phần đọc bắt buộc trên tờ The Chautauquan — bộ môn “Chuyện phiếm về Hy Lạp” (Gossip About Greece) — và vào mùa hè năm 1889, ông đã vượt biển sang đây để giảng dạy hai hoặc ba khóa học tại Hội nghị. Ông là một nhân vật xuất chúng, và ở ông toát lên một sự tương phản rõ rệt qua những bộ đồ vải tu-e (tweed), dáng đi khoáng đạt cùng lối trò chuyện hào hứng vươn xa muôn nẻo so với phần đông chúng tôi.
Mối quan hệ quen biết của tôi bắt nguồn từ niềm đam mê chung đối với hệ thực vật tại bất cứ chốn nào mà chúng tôi tình cờ đặt chân đến. Có một hôm, khi tôi vừa trở về sau một chuyến đi thực địa hái lượm thực vật bên ngoài khuôn khu đất trại, tay mang theo những nhành huệ đồng hoang dã vô cùng đáng yêu vốn phổ biến ở vùng này, Tiến sĩ Mahaffy liền chộp lấy cánh tay tôi: “Cô quan tâm đến hoa cỏ và thực vật cơ à? Tôi cứ nghĩ phụ nữ Mỹ chẳng mời mọc gì đến chúng chứ.” Một lời vu khống mà tôi lập tức cất tiếng kêu la phản đối. Để bảo vệ cho hội chị em của mình, tôi đã siêng năng bắt tay vào việc cho ông thấy hệ thực vật mùa hè của chúng tôi. Thế nhưng ông chẳng màng đến thứ gì cho bằng những đóa huệ mùa hè của chúng tôi, và sau khi mùa hoa tàn phái, ông đã khẩn nài tôi gửi củ giống sang cho ông, và tôi đã tự hào thực hiện điều đó. Để đáp lại, tôi nhận được từ khu vườn ở Dublin của ông những hạt giống của một loài hoa anh túc trắng mà theo lời thư ông viết, ban đầu ông đã thu hoạch chúng ngay dưới bóng bức tượng Memnon tại Ai Cập. Những đóa hoa anh túc ấy vẫn luôn đồng hành cùng tôi suốt dọc đường đời; chúng từng sinh sôi nảy nở trong khu vườn của mẹ tôi ở Titusville — và giờ đây chúng tiếp tục khoe sắc trong khu vườn của tôi ở Connecticut.
Cuộc đời tôi bận rộn, đa dạng, đang hé mở một cách tốt đẹp theo nhiều ngả đường, thế nhưng sau sáu năm, nó cũng ngày càng trở nên bất như ý, bất mãn đến mức tôi đã len lén, lén lút vô cùng, ấp ủ ý định đổi thay.
Tôi cảm thấy sợ hãi trước những gì mà tờ The Chautauquan dường như đang tác động lên kế hoạch mà tôi từng vạch ra để phát triển tâm trí mình. Tôi lớn lên cùng một quyết tâm sắt đá là sẽ theo đuổi một con đường học vấn cho đến cùng, để phát triển một chuyên môn sâu. Công việc tôi đang làm lại đòi hỏi một sự phân tán tư duy mà tôi bắt đầu lo ngại rằng nó sẽ khiến tôi chẳng bao giờ có thể suy xét thấu đáo bất cứ điều gì nữa. Tôi nhận thức được rằng một vị chủ biên có giá trị buộc phải có chính kiến về nhiều vấn đề hơn là tôi lúc bấy giờ, cảm thấy bản thân sẵn sàng chiến đấu vì những điều đó nếu cần thiết. Tôi chẳng có một chương trình nghị sự nào mà tờ The Chautauquan quan tâm cả. Hơn nữa, tôi chẳng muốn làm một biên tập viên chút nào.
Thế nhưng việc dứt áo ra đi với tờ The Chautauquan đồng nghĩa với việc hy sinh đi sự an toàn. Từ lâu tôi vẫn luôn ôm ấp một viễn cảnh về bản thân được an yên trú ngụ tại một góc nhỏ an toàn nào đó, giản dị, không quá lớn lao. Tôi chưa từng ham hố vật chất; tôi vẫn luôn có sự chướng mắt đối với những thứ đồ đạc cồng kềnh vướng víu, nhưng tôi khao khát một chốn chốn nương thân ấm áp, vui tươi và bền vững. Nơi đó tôi có thể miệt mài nghiên cứu những gì mình yêu thích, ngày qua ngày, chẳng mảy may lo lắng về miếng cơm manh áo. Lúc bấy giờ, tờ The Chautauquan chính là một bến đỗ an toàn; xét theo những gì tôi có thể tính toán, ít nhất nó cũng sẽ duy trì được qua suốt quãng đời của tôi. Từ bỏ nó đồng nghĩa với sự bất ổn hoàn toàn về mặt kinh tế. Có lẽ tôi sẽ chẳng đời nào sẵn lòng đánh đổi thứ mà tôi tin là mình đã làm lụng vất vả mới kiếm được nếu như trong tôi không dần nung nấu một niềm xác tín về sự cằn cỗi của cái gọi là sự an toàn. Vây quanh tôi là những con người ít ra cũng tự tin rằng họ đang an toàn về mặt vật chất. Họ sống sung túc trong khả năng tài chính của mình, họ bận rộn duy trì mọi thứ y nguyên như cũ, gìn giữ những gì họ đang có. Họ là những con người đáng kính nhất trong thị trấn, thế nhưng thầm kín trong lòng, tôi bắt đầu hoài nghi về sự đáng kính của họ.
Có một hôm, khi đang lắng nghe một vị mục sư Trưởng lão người Xcốt-len lớn tuổi đáng kính — người sở hữu trong giáo đoàn của mình một nhóm đông đảo những con người vững chãi, an toàn và đáng kính bậc nhất ấy — tôi giật mình thon thót khi ông cúi người qua bục giảng, vừa lắc lắc nắm đấm về phía chúng tôi vừa gầm lên rằng: “Quý vị đang chết dần chết mòn vì thói đáng kính đấy!” Phải chăng đó cũng là điều đang xảy ra với tôi? Tôi nhận thấy với một sự rõ ràng ngày càng tăng tiến rằng tôi không thể tiến xa hơn một giới hạn nhất định nào đó tại tờ The Chautauquan, dù là về mặt tinh thần, xã hội hay tâm linh. Nếu tôi tiếp tục ở lại, đồng nghĩa với việc tôi chấp nhận muôn vàn sự giới hạn, và toàn bộ bản ngã của tôi lại chống lại việc chấp nhận những giới hạn ấy. Nó đi ngược lại với bản chất của vạn vật theo cách nhìn nhận của tôi; để có thể hạnh phúc, tôi buộc phải bước tiếp với những nỗ lực mới, những cuộc phiêu lưu mới. Thứ từng khiến tôi hoảng sợ thuở thiếu thời nay lại trồi lên bề mặt: thứ đã khiến tôi quả quyết rằng mình sẽ không bao giờ kết hôn bởi nó đồng nghĩa với việc từ bỏ tự do, vốn dĩ chỉ là một chiếc bẫy. Rành rành trước mắt là tôi đã sa bẫy — một cái bẫy êm ái, vô cùng dễ chịu, vô cùng an toàn, nhưng đích thị là một cái bẫy.
Thời gian trôi qua, tôi nhận ra rằng thứ an toàn mà người ta cứ bám víu lấy ấy không phải lúc nào cũng có thể trông cậy được. Họ cứ đinh ninh là thế, thế nhưng chẳng lẽ tôi chưa từng chứng kiến những ngôi nhà xinh đẹp bị đem ra bán đấu giá ở Titusville hay sao, đó là nhà của những con người từng được thị trấn xem là kiên cố về mặt tài chính cơ mà? Trong những năm tháng làm việc tại tờ The Chautauquan ở Meadville, tôi từng là một nhân chứng đầy bàng hoàng trước một trong vô số những thất bại chính trị đầy kịch tính của thập niên tám mươi, đó là thất bại của ứng cử viên đảng Cộng hòa chạy đua vào ghế Thống đốc bang Pennsylvania trong một thời điểm ngặt nghèo — một chủ ngân hàng ở Meadville tên là Wallace Delamater. Tôi vốn là một kẻ trung lập quá khích để có thể dung dưỡng sự đồng cảm với cương lĩnh của đảng Cộng hòa, thế nhưng tôi lại có thiện cảm với Wallace Delamater. Tôi tin tưởng ông, và tôi nghĩ các hồ sơ lịch sử cũng đã minh chứng điều đó, rằng ông chỉ là con tốt thí trong tay một bậc thầy thao túng chính trị lão luyện — Matthew Quay. Được Quay đỡ đầu, huy động các nguồn lực từ ngân hàng Delamater và các ngân hàng đồng minh ở Meadville theo tiếng gọi của đảng phái, ông đã thực hiện một chiến dịch tranh cử được ca tụng là vô cùng xuất sắc. Chẳng có chút hoài nghi nào về kết quả sẽ diễn ra ở Meadville cả.
Tôi đi ngủ sớm vào đêm bầu cử, thỉnh thoảng chờ đợi được đánh thức bởi tiếng chuông reo vang, tiếng còi tàu hụ vang rền, bởi vì sẽ có một màn ăn mừng diễn ra. Khi tôi giật mình tỉnh giấc thì trời đã sáng bạch. Chẳng lẽ tôi đã ngủ quên qua cả màn ăn mừng đó rồi sao? Một cảm giác như tận thế lơ lửng bủa vây lấy tôi; tôi vội vã mặc quần áo, chạy ù ra ngoài để mua báo. Wallace Delamater đã thất bại. Ngay lập tức, ngân hàng Delamater đóng cửa và nối tiếp theo sau đó là bốn ngân hàng khác của thị trấn lần lượt sụp đổ. Một làn sóng rút tiền ồ ạt đổ dồn vào ngân hàng duy nhất còn trụ lại, nơi tôi đang gửi gắm khoản tiết kiệm nhỏ nhoi của mình. Sự hoảng loạn bao trùm thị trấn trở nên vô cùng tuyệt vọng; mọi thứ đang sụp đổ tan tành. Tôi nghĩ rằng trong đời mình chưa từng cảm thấy hổ thẹn về bất cứ điều gì liên quan đến tiền bạc hơn khoảnh khắc tôi cầm sổ tiết kiệm chạy ra ngân hàng để đòi rút lại khoản tiền gửi của mình. Đó là toàn bộ số tiền tôi có trên đời — thời buổi khi ấy vô cùng khó khăn. Thế nhưng cho đến nay tôi vẫn luôn cảm thấy hơi hổ thẹn vì bản thân đã đầu hàng trước sự hoảng loạn ấy, càng tệ hơn nữa là vì ngân hàng của tôi rốt cuộc chẳng hề sụp đổ chút nào!
Không, thứ an toàn mà loài người cứ tự huyễn hoặc rằng mình đã đạt được chưa bao giờ là điều chắc chắn. Hơn thế nữa, sự an toàn của tôi đang phải đánh đổi bằng những giá trị quý giá đến mức tôi chẳng đành lòng trả. Lấy ví dụ về việc nhào nặn bản thân trở thành một cá thể có năng lực chuyên môn vững vàng, hữu ích và chính đáng, đây chính là “vật quý giá” duy nhất mà tôi đang bàn đến! Tôi không thể làm gì hơn để đạt được điều đó ở chốn cũ. Trước hết, cuối cùng tôi cũng đã tường tận điều mình thực sự muốn làm là gì. Nó không còn là việc đi tìm kiếm chân lý thông qua chiếc kính hiển vi nữa. Sự đắm chìm thuở thiếu thời của tôi vào đá sỏi và thực vật đã chuyển hướng sang một niềm đam mê mãnh liệt không kém dành cho con người. Tôi đang cảm nhận cùng một niềm khát khao thấu hiểu đàn ông lẫn phụ nữ, cùng một sự hăng hái thu thập và phân loại thông tin về họ. Tôi tìm thấy những bằng chứng về sự thay đổi lòng trung thành chậm chạp và vô thức này trong một chồng sổ tay rách rưới được cất giấu qua nhiều năm, bị lãng quên và chỉ được khơi gợi lại sau khi tôi tự đặt ra cho mình một nhiệm vụ kỳ quặc là dò dẫm lại con đường mình đã đi qua suốt tám mươi cuộc đời, cố gắng tìm hiểu lý do tại sao tôi lại làm việc này chứ không phải việc kia, và làm quen với chính đời sống lao động của bản thân.
Dường như tôi bắt đầu ghi chép các quan sát về con người ngay sau khi tôi đã an vị để học cách làm thế nào biên tập một cuốn tạp chí theo một trật tự ngăn nắp. Tôi áp dụng chính phương pháp mà tôi đã dùng suốt bao năm trời trong việc thu thập và phân loại các hiện vật tự nhiên từng khơi gợi sự tò mò của mình. Lấy những chiếc lá làm ví dụ, thứ mà tôi luôn vô cùng say mê. Tôi bắt đầu bước chân vào bậc trung học với việc sưu tầm chúng từ mọi hệ thực vật trong lãnh địa của mình, phân loại chúng theo hình dáng, gân lá, cuống lá, màu sắc. Hiếm khi nào tôi cầm một cuốn sách gia đình của những năm tháng thuở thiếu thời ấy lên mà lại không có những chiếc lá này hay lá khác rơi ra từ giữa các trang sách, vốn là những chiếc lá từng được tôi ép khô để hỗ trợ cho việc thực hiện sơ đồ phân loại của mình. Tôi hồ nghi rằng mình chẳng tiến xa hơn là bao ngoài việc đọc làu làu tên gọi các bộ phận.
Một điều tương tự đã xảy ra khi tôi nhận thức được rằng đàn ông và phụ nữ cũng xứng đáng được ghi chép chẳng kém gì những chiếc lá, rằng tồn tại một khoa học xã hội cũng như khoa học thực vật vậy.
Những gì đã xảy ra chắc chắn là do những náo động, những thách thức của thời đại cuối cùng cũng xuyên thủng lớp vỏ bọc xa cách của tôi, và rằng tôi đang ngày càng cảm nhận rõ hơn nhu cầu phải dự phần vào chúng. Thập kỷ tôi trải qua ở Poland và trên tờ The Chautauquan mang một bối cảnh không quá khác biệt so với thập kỷ hiện tại. Ngay tại thời điểm khởi đầu của nó, chúng ta chỉ cách một cuộc nội chiến có vỏn vẹn mười lăm năm — cuộc chiến đã để lại đằng sau không chỉ một vùng đất tàn tạ hoang vu cùng bài toán tái thiết của nó, mà còn để lại bài toán về một dân tộc vừa mới được giải phóng. Nó đã để lại những vết hằn cay đắng với cường độ và sự bền bỉ mà chẳng cuộc chiến nào ngoài nội chiến có thể để lại. Chúng ta từng trải qua lạm phát, một cơn bùng nổ tàn khốc tiếp nối sau đó là bảy năm suy thoái, cùng sự bùng nổ của đủ loại triết lý cấp tiến mà thế giới lúc bấy giờ từng biết đến. Giới trẻ ngày nay nói về chủ nghĩa cộng sản một cách trôi chảy cứ như thể nó vừa mới xuất hiện ở đất nước này; thế nhưng những người theo chủ nghĩa cộng sản theo đường lối Marx đã dời trụ sở của Quốc tế Cộng sản về Thành phố New York từ những năm thập niên bảy mươi. Nổi bật hơn cả những người cộng sản chính là lực lượng Vô chính phủ. Mọi thành phố lớn ở Hoa Kỳ đều có những nhóm nhỏ của riêng họ, ra sức rao giảng và thỉnh thoảng lại thực thi hành động trực tiếp. Quả thực, họ là một nhân tố trong mọi biến động lao động bạo lực của thời kỳ đó.
Vào năm 1879, sự thịnh vượng đã quay trở lại một cách ồn ào cuồng nhiệt, và cũng giống như cách mà mụ ta thường làm sau một thời gian dài vắng bóng, nó nhanh chóng vắt kiệt sức mình bởi những sự quá trớn mang tính kinh tế đầy hoang đường. Đến thời điểm tôi đảm nhận việc viết chú thích cho các bài đọc thuộc Vòng tròn Văn học và Khoa học Chautauqua, đất nước lại bắt đầu oằn mình gánh chịu những hệ lụy từ nạn đầu cơ bừa bãi và việc xây dựng đường sắt vượt mức một cách liều lĩnh. Các nhà máy, hầm mỏ và xưởng sản xuất đồng loạt đóng cửa; và khi guồng quay lao động ngưng trệ cũng là lúc bạo loạn bùng nổ, đặc biệt là trên các tuyến đường sắt miền Tây Nam, vụ thảm sát kinh hoàng người Trung Quốc ở Wyoming — khủng khiếp hơn nữa là vụ bạo loạn Quảng trường Haymarket ở Chicago tiếp nối sau đó bằng án tử hình dành cho bốn người đàn ông, tất cả đều là những kẻ xúi giục bạo lực thì quả thật không sai, thế nhưng chẳng có ai trong số họ bị phán quyết là có tội trong việc chế tạo hay ném quả bom đó cả.
Những năm thập niên tám mươi đẫm máu, và con người ta vật lộn để tìm kiếm nguyên nhân, tìm kiếm những giải pháp khắc phục, nhằm nhân đạo hóa và xã hội hóa đất nước; bởi vì khi ấy cũng như bây giờ, vẫn luôn có những con người mơ về một thế giới tốt đẹp dẫu có những thời điểm họ có cảm giác như thể nó đang phát điên lên vậy.
Tờ The Chautauquan đã tự cuốn mình vào toàn bộ bức tranh đời sống hỗn loạn và đầy nhiễu nhương này. Quả thực, nó nhanh chóng trở thành mối bận tâm biên tập đặc biệt của riêng tôi. Chúng tôi ghi chép và thảo luận thực tế từng hạng mục trong chương trình xã hội vốn đang không ngừng phát triển ổn định trong suốt năm mươi năm qua, những hạng mục đã kết tinh thành Thỏa thuận Công bằng (Square Deal), Nền tự do Mới (New Freedom), và Thỏa thuận Mới (New Deal).
Lập luận hiện tại về mức lương cao từng được chúng tôi đưa ra từ những năm thập niên tám mươi. Chúng tôi gọi nó là “hệ số kinh tế mới trong đời sống công nghiệp của chúng ta”. “Chính người công nhân được trả lương cao,” tờ The Chautauquan khẳng định, “mới là đối tượng tiêu dùng có sức mua tương đối lớn. Chúng ta được xây dựng trên một nền tảng mà người công nhân hưởng lương cao này là một bộ phận vô cùng trọng yếu.”
Còn về thời gian làm việc và các điều kiện lao động, chúng tôi là những cổ động viên nhiệt thành của ngày làm việc tám tiếng, mục tiêu hàng đầu của phong trào lao động có tổ chức trong thập niên tám mươi, đồng thời chúng tôi ủng hộ các bản hợp đồng lao động giữa người lao động và giới chủ tư bản, trong đó mỗi bên đều phải chịu trách nhiệm cho phần thỏa thuận của mình. Chúng tôi ủng hộ giáo dục, trọng tài phân xử, lập pháp, ủng hộ cương lĩnh của Hiệp hội Hiệp sĩ Lao động (Knights of Labor) hơn là cương lĩnh bạo lực mà Liên đoàn Lao động Mỹ (American Federation of Labor) lúc bấy giờ đang từng bước dung nạp. Chúng tôi thảo luận không dứt về bài toán khu ổ chuột ngày càng lan rộng, đặc biệt ủng hộ mạnh mẽ các dự án nhà ở hợp tác xã, tiệm giặt ủi và tiệm bánh chung; chúng tôi hậu thuẫn phong trào Câu lạc bộ Thị trấn và Nông thôn đang rất thịnh hành, tìm kiếm sự cân bằng lành mạnh giữa đôi bên; chúng tôi là những tín đồ của phong trào ôn tuyền kiêng khem rượu chè nhưng lại ngán ngẩm trước lệnh cấm rượu — phần lớn, theo tôi nghĩ, là bởi vì nó đã trở thành một vấn đề chính trị, và chúng tôi chẳng thích thú gì khi thấy các nhà lý tưởng chủ nghĩa của mình dấn thân vào con đường chính trị, giống như cách mà Bellamy, Henry George và các thủ lĩnh của nhiều phong trào đang làm lúc bấy giờ.
Nói tóm lại, trong thập niên tám mươi, chúng ta đã thảo luận và trăn trở về chính những vấn đề cốt lõi hệt như những gì chúng ta đang đối mặt ngày nay.
Sự nhận thức của tôi về những áp lực của thời kỳ đó bắt nguồn ngay từ chính mái nhà mình. Titusville và toàn bộ Vùng Dầu mỏ của bang Pennsylvania đang oằn mình đấu tranh để phá vỡ gọng kìm kiềm tỏa của tập đoàn độc quyền hùng mạnh — kể từ cuộc tấn công đầu tiên vào mảng kinh doanh này vào năm 1872, nó đã không ngừng bành trướng quyền lực và quy mô cho đến khi sở hữu và kiểm soát hơn 90 phần trăm ngành công nghiệp dầu mỏ ngoại trừ khâu khai thác dầu thô. Toàn vùng bị chia cắt thành hai chiến tuyến thù địch — phe các Nhà sản xuất và Lọc dầu Độc lập với phe Công ty Standard Oil. Những bước đi chiến thuật và chiến lược của họ đã đẩy cả thị trấn lẫn vùng nông thôn vào một trạng thái kích động, hoài nghi, hy vọng và tuyệt vọng liênền miên.
Sự suy yếu diễn ra không ngừng trong hàng ngũ các đơn vị độc lập, xuất phát từ cả những người đã kiệt sức hoặc khánh kiệt vì cuộc chiến, lẫn những kẻ nhìn thấy sự bình yên và an toàn cho bản thân chỉ bằng cách quy hàng và buông súng đầu hàng.
Vào những ngày tháng đó, tôi dành ánh mắt khinh miệt cho kẻ đã đầu gia nhập phe Standard Oil hơn là kẻ từng ngồi tù. Tôi dành sự cảm thương cho kẻ sau, thế nhưng tuyệt nhiên không một chút xót thương cho những kẻ đào ngũ khỏi hàng ngũ các nhà độc lập chiến đấu. Đó là những giai đoạn mà việc tự do hóa vận tải, đặc quyền có tác động đến sự hình thành của tập đoàn độc quyền lớn hơn bất kỳ yếu tố nào khác, thậm chí còn lớn hơn cả tài năng kiệt xuất của ban điều hành nó, chính là mục tiêu tối thượng của mọi nhà cải cách. Suốt nhiều năm trời, phe Độc lập đã nỗ lực đấu tranh cho một bộ luật thương mại liên bang nhằm biến hành vi phân biệt cước phí thành một tội danh. Đối với tôi, một bộ luật như thế dần mang một thứ ý nghĩa thiêng liêng nào đó. Đó chính là nền tự do mới, và khi nó được thông qua vào năm 1887, tôi đã cảm thấy một niềm hân hoan dâng trào mà chưa có bất kỳ sự kiện nào trong đời sống công cộng, ngoại trừ thông điệp thuế quan của Tổng thống Cleveland vào năm trước đó, có thể mang lại cho tôi.
Thế nhưng, khía cạnh kinh tế trong cuộc chiến tại Vùng Dầu mỏ lại không phải là thứ khiến tôi bận tâm hay day dứt sâu sắc nhất. Điều đó nằm ở những tác động của nó lên chính con người, lên những con người mà tôi quen biết, lên cha mẹ tôi và những người bạn của họ. Đó là một thị trấn bị chia rẽ, là sự nghi kỵ, lòng tham lam, sự cay đắng, những thất bại và sự đầu hàng. Đây vốn dĩ là một sản phẩm được định sẵn để mang lại phúc lộc cho nhân loại — theo như niềm tin của tôi là vậy; thế nhưng cuối cùng nó lại hóa thành một lời nguyền rủa giáng xuống chính những con người từng phát hiện ra nó, từng phát triển nó.
Tôi bắt đầu lấp đầy những trang sổ tay bằng các ghi chép về những gì mắt thấy tai nghe, và cuối cùng tôi quyết định mình sẽ viết một cuốn tiểu thuyết về đề tài này. Vô cùng lén lút, tôi bắt tay vào thực hiện, xây dựng một dàn nhân vật, phác thảo cốt truyện, viết được hai hoặc ba chương. Quả là một thứ văn chương tồi tệ. May mắn thay, tôi sớm nhận ra rằng mình đang với tay quá tầm và đành từ bỏ nó.
Căn cứ vào những cuốn sổ tay của mình, tôi đánh giá rằng tôi đã từ bỏ cuốn tiểu thuyết đó một cách dễ dàng hơn bởi vì tôi đã ấp ủ một thứ mà tôi gọi là “một nghiên cứu mang tính nền tảng hơn”! Đó không gì khác hơn là một Khoa học Xã hội được minh họa bằng chính những quan sát của bản thân tôi về đàn ông và phụ nữ. Nhìn lại nó lúc này, tôi nhận ra rằng bộ khung của công trình ấy bắt nguồn từ việc đọc những cuộc tranh luận đồ sộ về bản chất xã hội vốn đang ngập tràn trong dư luận lúc bấy giờ. Tôi nhặt nhạnh bộ khung ấy ở bất cứ nơi nào tôi tìm thấy, thế nhưng tôi làm đầy nó bằng những quan sát thu lượm từ mọi phía, từ những người tôi quen biết, nghe kể về họ, và đặc biệt là đọc về họ trên các trang báo.
Thế nhưng công trình đầy tham vọng này chẳng mấy chốc cũng chung số phận với cuốn tiểu thuyết. Nó đứt gánh giữa đường ngay đoạn kết của chương thứ ba bởi vì tôi đã đi đến kết luận rằng tôi không thể tái dựng lại xã hội như nó vốn có cho đến khi tôi tường tận hơn về phụ nữ. Tôi hoài nghi rằng giới nữ đã đóng một vai trò lớn lao hơn trong việc nhào nặn xã hội nhiều so với những gì họ tự nhận thức được hoặc có lẽ sẵn lòng thừa nhận. Tôi đang hoài nghi về cái lập luận cho rằng đây hoàn toàn là một thế giới do đàn ông tạo dựng. Tôi đã tìm thấy quá nhiều bộ phận do phụ nữ nhào nặn trong đó để có thể chấp nhận nguyên văn cái định kiến bề mặt ấy. Khoa học xã hội của tôi sẽ không còn tính trung thực nữa, tôi đi đến kết luận, nếu như vai trò duy nhất mà phụ nữ được phép đóng trong đó chỉ là chiếc thảm chùi chân, món đồ chơi, và công cụ sai khiến. Tôi cũng vô cùng bận lòng trước luận điểm cho rằng phụ nữ phải được trao quyền bầu cử thì xã hội mới có thể khá lên được. Đàn ông đã làm cho thế giới này ra nông nỗi hỗn độn, người ta bảo với tôi như vậy; phụ nữ phải thay đàn ông cầm lấy những công cụ ấy và vãn hồi trật tự. Tôi không có được sự tự tin như những người bạn quả cảm của mình. “Tại sao chúng ta lại kỳ vọng họ sẽ làm tốt hơn đàn ông với lá phiếu trong tay chứ?” tôi chất vấn. “Bởi vì họ là phụ nữ,” tôi được trả lời như thế. Thế nhưng họ cũng là những con người bằng xương bằng thịt giống như đàn ông, và họ là những con người hoàn toàn chưa có kinh nghiệm gì về những công cụ mà họ đang khao khát sử dụng; và tôi có đủ sự thấu triệt về quá khứ để tin rằng kinh nghiệm là thứ có trọng lượng, và rằng sẽ khôn ngoan biết bao nếu tất cả nam nữ thanh niên cùng tham khảo nó mỗi khi họ dấn thân vào những cuộc phiêu lưu mới mẻ.
Trong quá khứ từng có những người phụ nữ bước chân vào đời sống chính trị. Họ đã làm được những gì? Tôi buộc phải tìm câu trả lời thỏa đáng cho bản thân trước khi có thể tiếp tục công trình khoa học xã hội của mình hay gia nhập phe đòi quyền bầu cử. Thật là nhục nhã khi không thể tự đưa ra quyết định một cách nhanh chóng về vấn đề này, giống như phần lớn những người phụ nữ mà tôi quen biết. Chuyện quái gì đang xảy ra với tôi vậy, tôi tự hỏi bản thân, khi mà mình không thể nhanh chóng xác tín điều gì? Tại sao tôi cứ phải khăng khăng bám lấy cái thói quen chậm chạp và tẻ nhạt là phải hiểu biết thấu đáo hơn về sự việc trước khi bày tỏ một quan điểm cơ chứ? Giả sử ai cũng làm như vậy thì sao? Cơ hội nào cho trực giác, cho tầm nhìn, cho cảm xúc, cho hành động đây?
Những trang sổ tay của tôi cho thấy tôi bắt đầu công việc mệt nhọc này bằng việc lập ra một danh sách những người phụ nữ dường như cung cấp chất liệu cho sự chiêm nghiệm. Nhóm người khiến tôi phấn khích nhất chính là những người phụ nữ của cuộc Cách mạng Pháp. Tôi thực hiện những nghiên cứu nhỏ về vài nhân vật trong số đó, viết những bài tiểu luận ngắn về họ, và những bài viết nhỏ này đã được tôi gửi gắm cho vị chủ biên tờ The Chautauquan; ông ấy đã cho đăng tải một vài bài trong số đó — một nghiên cứu về Madame de Staël, về Marie Antoinette, và về Madame Roland. Thế nhưng chẳng mấy chốc tôi lại cảm thấy vô cùng hổ thẹn về những bản phác thảo nghèo nàn của mình, vốn được chấp bút từ một nền tảng trang bị quá đỗi khiêm tốn. Tôi cảm nhận điều này sâu sắc nhất đối với Madame Roland. Tôi tự nhủ rằng mình nhất định phải tìm hiểu nhiều hơn về người phụ nữ này, rằng có lẽ bà ấy sẽ dạy cho tôi biết loại đóng góp nào có thể được kỳ vọng từ một người phụ nữ bước chân vào đời sống công cộng.
Điều đó đồng nghĩa với việc phải nghiên cứu chuyên sâu. Làm thế nào để tôi có thể tiến hành nó đây? Bất kỳ việc học tập nghiên cứu nào tôi thực hiện đều phụ thuộc vào khả năng tự túc tài chính của bản thân trong suốt quá trình đó; bất kỳ nghiên cứu nào tôi tiến hành khi đang làm việc cho tờ The Chautauquan cũng phải được chuyển hóa thành thứ gì đó có thể sử dụng được cho tờ tạp chí. Thời gian và sức lực của tôi thuộc về nó. Hiển nhiên là tôi không thể vừa tiến hành nghiên cứu chuyên sâu vừa tiếp tục duy trì vị trí công việc của mình; điều đó cũng bất khả thi hệt như việc vừa đảm nhận cương vị hiệu trưởng Chủng viện Poland Union vừa tiến hành nghiên cứu bằng kính hiển vi vậy. Tôi phải thực hiện công trình nghiên cứu này ở đâu? Chỉ có duy nhất một nơi — Paris. Và làm thế nào để tôi có thể tự túc tài chính tại Paris — một đất nước xa lạ với một thứ ngôn ngữ xa lạ — đủ lâu để có thể viết nên một cuốn sách? Tôi không mảy may cân nhắc đến khả năng kiếm một công việc làm công ăn lương cố định: tôi không muốn điều đó. Tôi khao khát tự do, và tôi mang một ý niệm rằng chẳng có chút tự do nào trong việc thuộc về các tổ chức, chẳng có chút tự do nào trong sự an toàn cả. Tôi mất rất nhiều thời gian để thuyết phục bản thân rằng mình đủ dũng khí để tự lập bước đi trên đôi chân của chính mình. Thế nhưng cuối cùng tôi đã thành công.
Việc đi đến một quyết định mang lại một hiệu ứng giải tỏa, kích thích cho một tâm trí bấy lâu đang ngụp lặn trong sự mông lung không lối thoát. Được giải phóng, nó hân hoan, tràn đầy hy vọng lao vào việc hoạch định một lộ trình mới. Tôi vừa mới quyết định dứt áo ra đi để tự lập thì trong đầu đã bắt đầu sục sôi những kế hoạch. Tôi quên béng mất rằng mình đã bước sang tuổi ba mươi ba và, chiếu theo chuẩn mực của thời đại và xã hội tôi lúc bấy giờ, tôi đã quá già để dấn thân vào những cuộc phiêu lưu mới mẻ; tôi quên mất rằng ngoài khoảng trải nghiệm vô cùng hạn hẹp trên tờ The Chautauquan ra, tôi hoàn toàn mù tịt về thế giới viết lách và xuất bản, nghĩa đen là chẳng có lấy một mối quan hệ xã giao nào với các biên tập viên; tôi quên mất rằng bản thân vốn rất sợ hãi con người, luôn mặc định rằng ai nấy đều vĩ đại và quan trọng hơn thực tế rất nhiều khiến mỗi lần bước chân vào sự hiện diện của một người lạ với một lời thỉnh cầu lại khiến tôi lên cơn rét run vì căng thẳng.
Gạt bỏ sang một bên tất cả những chướng ngại vật thực tế đó, tôi hào hứng lao đầu vào việc hoạch định cho một sự nghiệp làm báo, một nghề báo tự do, tự điều hành. Chắc chắn tôi có thể tìm thấy đủ thứ đề tài ở Paris để viết bài, những chủ đề sẽ thu hút các tờ báo Mỹ. Chúng ta đang chìm ngập trong một chiến dịch náo động lớn về tình trạng và cách thức quản lý của các đô thị Mỹ. Tờ The Chautauquan thỉnh thoảng cũng từng chạm đến đề tài đó. Paris vận hành đời sống gia đình ra sao? Tôi lên kế hoạch lập ra một hãng thông tấn syndicate của riêng mình để giải đáp mọi thắc mắc. Liệu từ những bài báo viết cho báo chí, những bài luận cho các tạp chí có thể đơm hoa kết trái hay không? Tôi tin là có, và những cuốn sách nữa chứ, tất nhiên bắt đầu từ công trình nghiên cứu về Madame Roland của tôi. Chừng nào tôi còn giữ kín kế hoạch của mình với tất cả mọi người, chúng vẫn vận hành một cách tuyệt vời, nâng bước tôi bay cao bay xa tiến vào một thế giới mới mẻ hạnh phúc hơn, nhiều lợi lộc hơn và viên mãn hơn. Thế nhưng ngay khi tôi công bố quyết định của mình, bày biện ra những gì tôi dự định thực hiện, toàn bộ sự rạng rỡ và tự tin bỗng bay biến sạch, mọi điểm yếu trong canh bạc của tôi lại trồi lên bề mặt. Có những người bạn đã không ngần ngại thốt lên những lời chẳng mấy nhã nhặn: “Hãy nhớ rằng cậu đã qua tuổi ba mươi rồi đấy. Phụ nữ không tự tạo dựng những vị trí mới cho bản thân sau tuổi ba mươi đâu.” Có những người bạn cảm thấy bị xúc phạm trước quyết định của tôi vì cho rằng đó là một sự chê bai nhắm vào họ. Một người phụ nữ mà tôi trân trọng tình bạn đã quăng thẳng thừng vào mặt tôi câu nói: “Cậu là người của chúng ta cơ mà. Chẳng lẽ chúng tôi không đủ tốt đối với cậu hay sao?” Hành động của tôi bị coi là một sự phản bội trong mắt cô ấy. Toàn bộ sức mạnh của những vòng tròn đáng kính nơi tôi thuộc về — cái vòng tròn đáng kính vốn thấu hiểu tường tận hơn tôi về giá trị của sự an toàn đã đạt được, cùng xác suất mong manh để thay thế nó nếu chẳng may đánh mất hoặc từ bỏ nó — đều đứng ở thế đối lập với tôi, và xét cho cùng cũng chỉ vì sự quan tâm bằng hữu mà thôi.
Khi tôi thông báo với vị tổng biên tập rằng mình sắp sửa ra đi, chuyển đến Paris để nghiên cứu, ông ấy vô cùng bàng hoàng. “Cô sẽ lấy gì để tự nuôi sống bản thân đây?” ông hỏi, thực lòng lo lắng, bởi ông thừa hiểu rằng tôi phải phụ thuộc hoàn toàn vào nỗ lực của chính mình.
“Bằng việc viết lách,” tôi đáp.
“Cô không phải là nhà văn,” ông phán một câu xanh rờn. “Cô sẽ chết đói cho mà xem.”
Ông đã chạm đúng vào tử huyệt trong canh bạc của tôi: tôi không phải là một nhà văn, và bản thân tôi thừa biết điều đó. Tôi thừa hiểu rằng mình sẽ chẳng bao giờ trở thành một nhà văn theo cái nghĩa cao cả mà lúc bấy giờ cũng như bây giờ tôi vẫn gán cho từ ấy. Tôi chẳng có lấy thiên bẩm, sự đam mê hay khát vọng để trở thành một nhà văn. Tôi đúng hơn là một sinh viên, một kẻ khao khát thấu hiểu vạn vật bất chấp việc mình có thể vận dụng sự thấu hiểu đó ra sao nếu đạt được nó. Có rất nhiều sự ích kỷ trong việc tôi khao khát được thấu triệt chỉ vì muốn biết, phảng phất hình bóng của một học giả mọt sách trong tôi; và chính vị học giả mọt sách cằn cỗi ấy vẫn luôn đeo bám lấy tôi, ít nhiều trở thành một gánh nặng oằn vai.
Thế nhưng nếu tôi không phải là một nhà văn, tôi vẫn sở hữu một số phẩm chất nhất định để hành nghề làm báo theo lối khiêm nhường mà tôi đã chọn. Tôi đặt khá nhiều kỳ vọng vào thói quen hoạch định trước những gì mình sắp sửa thực hiện, đồng thời tôi mang một niềm xác tín mãnh liệt rằng một kế hoạch của riêng tôi có giá trị hơn bất kỳ kế hoạch nào được người khác sắp đặt sẵn cho mình. Hơn nữa, nếu tôi không viết văn hay, ít nhất tôi cũng có một trực giác nhất định về những gì đáng giá trong một đề tài cùng niềm xác tín mạnh mẽ rằng chính trực giác của tôi về những điều cốt lõi, chứ không phải của bất kỳ ai khác, mới là thứ mang lại sự tươi mới và sức sống cho ngòi bút của tôi, nếu như nó có thể tồn tại một chút sinh khí nào.
Thêm vào đó là thói quen làm việc kiên trì, tỉ mỉ — điều đó hẳn phải có giá trị nào đó chứ. Và biết đâu tôi có thể học cách viết văn. Nếu tôi phải làm điều đó, còn cách nào tốt hơn là đắm mình vào dòng văn xuôi tiếng Pháp? Tôi đã đọc tiếng Pháp đều đặn kể từ những ngày còn ngồi trên ghế nhà trường; tôi từng không ít lần dịch các bài báo từ các tập san phê bình lớn cho tờ The Chautauquan. Nếu tôi có thể sống chung với ngôn ngữ đó, liệu tôi có thể lĩnh hội được phần nào những yếu tố được xem là cốt lõi của nó, những yếu tố mang lại cho nó cả thể chất lẫn sự quyến rũ hay không? Những phẩm chất ấy chính là sự vững chãi trong cấu trúc, cách thức liên kết chặt chẽ của câu văn, cùng sự trong sáng tuyệt mỹ trong cách biểu đạt. Ít nhất tôi cũng có thể thử sức với chúng.
Thế nhưng khi tôi cố gắng giải thích tất cả những điều này cho những người bạn vốn mang thái độ hoài nghi của mình, họ tiếp tục tỏ ra nghi ngờ một cách rạch ròi và phẫn nộ. Chính cha và mẹ tôi là những người đã đứng ra hậu thuẫn cho tôi, dù tôi nghĩ rằng cả hai ông bà đều cảm thấy hoang mang và lo sợ. “Cha chẳng biết con có thể làm được gì, Ida,” cha tôi nói, “đó là chuyện của con. Nếu con nghĩ mình làm được, cứ thử xem sao.” Thế nhưng rốt cuộc thì nó cũng ngốn sạch toàn bộ lòng can đảm mà tôi có để có thể dấn bước tiến lên.
Việc đập bỏ những mối quan hệ đã được thiết lập sẵn chưa bao giờ là chuyện dễ dàng. Bạn bắt đầu bằng việc nhổ bật rễ những thứ đã bám sâu vào tâm khảm; bạn từ bỏ những mục đích từng được ấp ủa một thời. Khi tôi rời khỏi tờ The Chautauquan, tôi không còn là một thiếu nữ hăng hái và đầy tự tin của mười năm về trước từng tự mình bước ra thế giới ở Poland, Ohio; tôi đã già đi mười tuổi, và tôi nhận thức sâu sắc rằng trong mười năm đó tôi đã tích lũy được một bộ sưu tập khá hoàn chỉnh những thần tượng đổ nát. Việc tôi có thể quên đi chúng nhanh chóng và trọn vẹn đến thế chính là nhờ vào Paris của những năm thập niên chín mươi. Tôi vừa mới đặt chân qua cánh cổng thành là đã lập tức rơi vào bùa mê của nó. Ngay tức khắc, tôi trải nghiệm toàn bộ sự hồi xuân kỳ diệu phát xuất từ việc đem lòng yêu đương, bất kể đối tượng ấy là gì. Sẽ chẳng có chuyện “Ngắm Paris rồi chết”, như lời giễu cợt của không biết bao nhiêu người bạn. Tôi biết chắc chắn rằng đó phải là “Ngắm Paris để mà sống”.