Phải đến khi bản hợp đồng cam kết tôi đi diễn thuyết suốt bốn mươi chín ngày liên tiếp tại bốn mươi chín địa điểm khác nhau được đặt trước mặt, tôi mới bàng hoàng nhận ra mình đã nhận lời làm một việc mà bản thân hoàn toàn không biết cách làm. Chưa bao giờ trong đời tôi đứng thẳng trên đôi chân mình để đọc một bài diễn thuyết chuyên nghiệp. Trước hết—liệu tôi có thể khiến mọi người nghe rõ mình nói không? Tôi vốn tin chắc rằng mình có điều để nói, và những nhà tài trợ của tôi cũng nghĩ vậy—nhưng có ích gì nếu chẳng ai nghe được tiếng tôi? Cái gọi là “đặt giọng” ấy thực chất là gì? Tôi bèn tìm đến người bạn của mình là Franklin Sargent thuộc Học viện Nghệ thuật Sân khấu Hoa Kỳ, kể cho anh nghe tình thế khó xử của mình. Sau một bài kiểm tra sơ bộ, anh đồng ý với tôi rằng tôi hoàn toàn không biết cách sử dụng giọng nói của mình, và nếu không sớm học hỏi, tôi sẽ chuốc lấy một thất bại thảm hại.
Anh Sargent rất tốt bụng khi nhận tôi làm học trò, dẫu tôi hẳn là một học viên vô cùng kém cỏi. Anh bắt đầu bằng những bài tập đơn giản nhất nhưng kèm theo những hướng dẫn nghiêm ngặt về việc phải duy trì chúng đều đặn. Tôi cứ đi lại trong căn hộ của mình suốt ngày đêm để hô vang “Ma, Me, Mi, Mo,” “Ba, Be, Bi, Bo.” Tôi học được rằng giọng nói phải phát ra từ cơ hoành, và cơ hoành phải thật khỏe thì mới có thể đẩy hơi ra liên tục trong suốt một tiếng đồng hồ. Đều đặn mỗi sáng và mỗi tối, nằm ngửa với những chồng sách đặt trên bụng, tôi hít thở sâu cho đến khi có thể nâng được bốn hoặc năm cuốn sách lên.
Vào thời điểm chuyến lưu diễn khởi múa vào tháng Bảy, tôi đã nắm vững về mặt lý thuyết cách sử dụng giọng nói của mình; nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng để làm được điều đó mà không thỉnh thoảng bị nghẹn cổ họng, phát ra những âm thanh kinh khủng và rơi vào trạng thái hoảng loạn thần kinh, tôi buộc phải kiểm soát nó nhiều hơn mức có lợi cho việc truyền tải nội dung. Quả thực, phải đến năm diễn thuyết thứ hai, tôi mới có thể hoàn toàn tin tưởng vào giọng nói của mình suốt một tiếng đồng hồ biểu diễn. Tôi chưa bao giờ
đạt đến mức mà không cần phải yêu cầu đặt sẵn một cốc nước trong tầm với—chỉ để phòng hờ. Tôi nhận ra cốc nước là một cứu cánh an toàn nếu chẳng may sự chú ý của tôi bị phân tán trong chốc lát và tôi quên mất mạch lập luận. Tôi có thể cầm nó lên, vờ như đang uống, đổi tư thế và lấy lại sự bình tĩnh.
Thế là xong phần giọng nói. Tôi đã biết cách làm cho mọi người nghe được những gì mình muốn nói. Giờ thì đến phần nội dung. Tôi phải nói về cùng một chủ đề ngày này qua ngày khác. Nghĩa là, tôi phải lặp lại đúng một bài diễn thuyết ấy mỗi ngày. Tôi rất sợ một bài diễn thuyết học thuộc lòng. Trải nghiệm diễn thuyết của người bạn cũ George Kennan phần lớn là nguyên nhân khiến tôi có nỗi sợ đó. Sau khi xuất bản tác phẩm kinh điển về Siberia, ông Kennan đã mang câu chuyện của mình lên bục diễn thuyết. Ông đã viết bài diễn thuyết đó với sự chăm chút đặc biệt—học thuộc lòng nó và lặp đi lặp lại đêm này qua đêm khác trong những chuyến lưu diễn dài ngày. Đó là một bài diễn thuyết đáng ngưỡng mộ, một trong những bài nói chuyện lay động lòng người nhất mà tôi từng được nghe.
Khi kể cho tôi nghe về những trải nghiệm trên bục giảng của mình, ông Kennan đã đưa ra lời cảnh báo này: “Khi đọc một bài diễn thuyết đã học thuộc lòng, người ta phải hết sức cẩn thận để không có hai câu nào kết thúc bằng những từ giống nhau. Trong bài diễn thuyết về Siberia của mình, tôi đã vô tình dùng năm hoặc sáu từ y hệt nhau để kết thúc các câu khác nhau—một từ nằm gần phần mở đầu, từ kia nằm gần phần kết bài. Một đêm nọ, có lẽ vì quá mệt mỏi, thay vì tiếp nối câu đầu tiên, tôi lại bốc nhầm những từ nối tiếp câu thứ hai. Nghĩa là, tôi đang kết thúc bài diễn thuyết của mình khi mà tôi chỉ vừa mới bắt đầu nó. Tôi đã tự cứu vãn được tình thế, nhưng từ sau lần đó, tôi luôn cẩn trọng để chắc chắn rằng bài nói của mình không có hai câu nào có phần kết thúc giống hệt hay thậm chí là tương tự nhau.”
Trí nhớ của tôi vốn là một cơ quan xảo quyệt và không đáng tin cậy—chưa bao giờ được huấn luyện đàng hoàng, chưa bao giờ được rèn giũa một cách kiên quyết cho công việc của mình. Lẽ ra tôi phải sợ hãi khi đặt niềm tin vào nó trên bục diễn thuyết. Hơn nữa, tôi nhận ra rằng, vì tôi không phải là một nhà hùng biện và cũng chẳng bao giờ trở thành nhà hùng biện được, hy vọng duy nhất của tôi là tạo ra vẻ ngoài nói năng tự nhiên, bộc phát. Tôi đã ghép nối lại những gì đối với mình là một bộ khung logic và quyết định sẽ khoác lên nó một lớp áo mới mỗi ngày, không bao giờ bắt đầu bằng những từ ngữ cũ, sử dụng các minh họa tươi mới, vừa suy nghĩ vừa cãi lên và thử nghiệm. Tôi nhanh chóng
phát hiện ra rằng việc đòi hỏi phải có một sự khởi đầu mới mỗi ngày là quá sức đối với bản thân trong điều kiện di chuyển liên tục. Tôi cũng thấy điều đó thật ngớ ngẩn, bởi vì nếu tôi đã tìm được một lời mở đầu thu hút được sự chú ý, thì hà cớ gì lại đi đổi lấy một lời mở đầu chưa chắc đã làm được điều đó? Tôi sớm nhận ra những dẫn chứng vốn rất ổn trong một bài báo lại không hề phù hợp khi đứng trước đám đông khán giả. Dòng lập luận mà tôi vốn sẽ triển khai trong một bài báo lại trở nên hiệu quả hơn trên bục diễn thuyết nếu được đảo trật tự. Nghĩa là, hóa ra, mặc dù tôi vẫn đang đọc cùng một bài diễn thuyết mỗi ngày, nhưng nó lại chưa bao giờ hoàn toàn giống nhau. Tôi liên tục nhào nặn nó; và chính điều đó đã giữ lại sự hứng thú cho tôi. Tôi nghĩ, bởi vì tôi luôn nhận ra rằng dù mình có mệt mỏi đến đâu, dù tôi có tự khinh miệt bản thân đến nhường nào vì đã cả gan nhận làm một việc mà tôi càng lúc càng nhận ra mình không biết cách làm, thì tôi vẫn luôn cảm thấy hứng thú với đề tài của mình, vẫn nói say sưa như thể đó là điều tôi chưa từng nói bao giờ. Chính niềm đam mê cá nhân ấy đối với chất liệu của mình đã vực tôi đi qua tất cả.
Tôi đã không hề suy nghĩ trước về khía cạnh thể chất của chuyến hành trình này. Tôi vốn biết rằng trong suốt bốn mươi chín ngày, mỗi ngày tôi sẽ phải nói chuyện ở một địa điểm khác nhau; tôi biết điều đó đồng nghĩa với việc phải di chuyển hàng ngày, nhưng chuyện đó chẳng làm tôi bận tâm. Tôi vẫn luôn tự hào rằng mình vượt trội hơn hẳn những ảnh hưởng về mặt thể chất xung quanh. Nhưng tôi chưa kịp tham gia Chautauqua Circuit bao lâu thì đã nhận ra rằng chúng lại chiếm một phần vô cùng lớn trong ngày của tôi. Tôi thấy mình bắt đầu dò hỏi về thị trấn mà chúng tôi sắp tiến đến: “Khách sạn thế nào? Có phòng tắm không? Nếu có, liệu tôi có được một phòng không?”
Tôi cảm thấy bất an về bàn ăn—cách nấu nướng và phục vụ—và vào ban đêm là về những tiếng ồn, những luồng gió lùa cùng những nỗi lo không tên khác. Điều làm tôi kinh ngạc là chiếc giường tôi sẽ ngủ chẳng mấy chốc lại chiếm một tỷ trọng quá lớn trong tâm trí tôi. Sự thật là, khi chuyến lưu diễn kết thúc và tôi ngồi kể lại câu chuyện của nó, tôi có thể phác thảo sơ đồ của bất kỳ căn phòng nào mình từng ngủ qua, chỉ ra chính xác vị trí của chiếc giường so với cửa sổ, cửa ra vào và phòng tắm. Tôi nhớ rõ những chiếc giường ấy trong khi chẳng thể nhớ nổi khách sạn.
Đến sự ngạc nhiên của chính mình, tôi thấy bản thân vô cùng quan tâm đến đời sống vật chất
của chuyến lưu diễn, trông giống hệt như cuộc sống của một gánh xiếc. Chúng tôi biểu diễn trong các lều bạt, và trang thiết bị của đoàn rực rỡ chẳng kém bất cứ thứ gì bạn từng thấy—những chiếc lều vải thô viền đỏ, được bao quanh bởi một hàng rào vải thô lớn, những lá cờ nhỏ bay phấp phới dọc các con đường, và bên trong là sự ngăn nắp, sạch sẽ cùng những bục phát biểu và phòng thay đồ nhỏ xinh tinh tế nhất.
Dĩ nhiên tôi không khỏi tò mò về những người bạn đồng hành của mình trên đường đi. Những người bạn phương Đông hay châm chọc từng bảo tôi rằng ở đó sẽ có những kẻ gióng chuông, những chú chó được huấn luyện và cả những người chuyên hát yodeler kiểu Tyrolean. Tôi chẳng tìm thấy thứ giải trí nào như thế, nhưng có lẽ tôi khó mà tìm được những người bạn đồng hành nào dễ mến hơn thế. Một nhóm gồm năm người trẻ tuổi có nhiệm vụ ca hát trong ba phần tư tiếng trước buổi diễn thuyết buổi chiều của tôi và một khoảng thời gian tương tự trước chương trình giải trí buổi tối, đã chứng minh họ là những người bạn vui vẻ nhất, tử tế nhất và khỏe mạnh nhất. Họ là những người lao động chăm chỉ, thực sự tận tâm với mong muốn làm hài lòng khán giả. Họ không chỉ biết cách làm việc, mà còn biết cách tận hưởng cuộc sống trong cái chuyến đi chơi dài ngày mà tôi đã dấn thân vào. Nói cách khác, đây là một nhóm năm người trẻ đang làm cái việc đối với tôi là vô cùng bất thường, nhưng lại theo một cách thức hoàn toàn chuyên nghiệp. Thành viên thứ bảy trong nhóm chúng tôi, nghệ sĩ biểu diễn buổi tối, Sydney Landon, đã có bề dày kinh nghiệm trên tuyến lưu diễn này. Anh ấy thực hiện công việc của mình chính xác như một nhà văn giỏi hoặc một luật sư tài năng sẽ làm. Tôi nhận ra ngay lập tức rằng thứ mà tôi vừa gia nhập không phải là một kiểu lưu diễn chớp nhoáng nửa kinh doanh, nửa từ thiện, ăn may và hỗn loạn như tôi từng vội vã tưởng tượng. Đó là một công việc nghiêm túc.
Khi bắt đầu công việc tại Chautauqua, tôi không hề ý thức được rằng trong thái độ của mình lại ẩn chứa một tỷ lệ lớn sự trịch thượng. Khán giả đầu tiên đã phơi bày tâm trí tôi ra một cách rõ ràng đến đau đớn, đồng thời hạ nhục tôi đến mức không sao diễn tả nổi. Mọi thứ hoàn toàn khác xa với bất kỳ hình dung nào trong đầu tôi. Tôi phải diễn thuyết vào buổi tối và đến nơi khá muộn sau một ngày khá vất vả. Đó là một thị trấn luyện kim—nơi mà tôi từng biết từ nhiều năm trước. Vẻ đẹp kỳ thú của nơi này đập vào mắt khiến tôi kinh ngạc. Được dựng lên trên một bãi đất trống giữa những con đường lúp xúp, mờ ảo ánh đèn, nơi tiếng thở hồng hộc nặng nề của những lò cao có thể nghe thấy rõ ràng,
tôi nhìn thấy chiếc lều bừng sáng rực rỡ bởi ánh đèn điện, vì thưa bạn, chúng tôi tự trang bị cả thiết bị điện riêng. Từ khắp mọi ngả, đàn ông, phụ nữ và trẻ em đang đổ xô về—những chiếc áo sơ mi trắng nữ tính xuất hiện tràn ngập, rất ít áo khoác và thậm chí còn ít mũ hơn nữa. Và sao mà đông người thế! Tôi cảm thấy một cảm giác hoang mang kỳ lạ. Nơi những bậc ghế dài được dựng cao ấy là vô số gương mặt nghiêm nghị của những người thợ lao động vất vả. Tôi đến để nói về những điều tươi sáng và lạc quan mà tôi từng thấy trong đời sống công nghiệp của đất nước; nhưng khi giáp mặt với những con người này, trong tiếng thở nặng nhọc của những lò luyện khổng lồ, trong tầm mắt là những dãy nhà tập thể không sơn phết, không thoát nước mà tôi đã chú ý lúc ngồi tàu hỏa đến đây, ký ức về vô số cuộc đấu tranh lao động trường kỳ và cay đắng mà tôi từng biết đến trong thung lũng đó bỗng sống lại, và tất cả những câu chuyện êm đềm của tôi giờ đây trở nên thật mỏng manh tột độ. Họ quá nghiêm túc, họ lắng nghe chăm chú đến mức muốn gom nhặt lấy điều gì đó; và bi kịch là tôi lại chẳng có nhiều hơn thế để trao cho họ. Đây là khán giả đầu tiên của tôi. Chưa bao giờ tôi có một buổi diễn nào để lại ấn tượng sâu sắc đến thế.
Tôi chưa tham gia Chautauqua Circuit được bao lâu thì nhận ra rằng khán giả của mình chỉ có chút ít sự quan tâm thờ thững đối với đề tài của tôi, rằng điều họ thực sự quan tâm, muốn nghe và muốn bàn tán chính là cuộc chiến tranh đang bước sang năm thứ hai kết thúc. Nhưng tôi lại không thể nói về Chiến tranh. Chưa có gì từng nhấn chìm tôi sâu đến thế như thể trong một màn sương đen mịt mù, ngậm chặt miệng tôi lại, làm rối trí óc tôi. Chủ yếu là vì sự sụp đổ nhãn tiền của các nỗ lực có tổ chức nhằm thuyết phục hoặc ép buộc các giải pháp hòa bình cho các cuộc tranh chấp quốc tế. Những nỗ lực ấy từng chiếm một vị trí quá lớn trong tư duy và phong trào của những người có tư tưởng tự do mà tôi từng sống cùng, khiến tôi bắt đầu tự huyễn hoặc rằng chúng thực sự đủ mạnh để ngăn chặn những cuộc chiến tranh trong tương lai. Phần lớn những nỗ lực đó là hệ quả từ sự phản ứng dữ dội mà các cuộc xung đột trong những năm thập niên 90 đã gây ra; Chiến tranh Boer, Chiến tranh Hy Lạp-Thổ Nhĩ Kỳ, Chiến tranh Tây Ban Nha. Những con người muốn sống trong hòa bình đã viết sách, nói chuyện, tổ chức các hội nhóm—cả cấp quốc gia lẫn quốc tế. Jane Addams làm rung chuyển thế giới nói tiếng Anh bằng tác phẩm “Lý tưởng mới về hòa bình” của bà. William H. Taft, Elihu Root, những nhân vật công chúng hàng đầu,
các nhà giáo dục, đã cùng nhau thành lập hội này hay hội khác nhằm ủng hộ hình thức cơ chế này hay cơ chế khác.
Và trong khi điều này đang diễn ra, Theodore Roosevelt lại đang làm hết sức mình để vô hiệu hóa nó bằng những lời lẽ táo bạo ca ngợi chiến tranh như một công cụ tôi luyện con người, cỗ máy thích hợp duy nhất để chuẩn bị cho con người dấn thân vào cuộc sống gian khổ đầy phước lành mà ông ta vẫn cổ vũ.
Tạp chí American Magazine phải làm gì về chuyện này đây? Chúng tôi thấy rằng mình cần phải tìm ra một câu trả lời nào đó đối với Theodore Roosevelt. Chắc chắn chúng tôi không thể làm điều đó bằng cách thúc đẩy các nỗ lực có tổ chức; và càng không thể bằng cách đăng đàn thuyết giáo. Chúng tôi phải chứng minh ông ta đã sai.
Vào năm 1910, sự chú ý của chúng tôi hướng về một nỗ lực giáo dục có vẻ hữu ích nhằm chống lại chiến tranh, do vị hiệu trưởng của Đại học Stanford là David Starr Jordan khởi xướng. Tôi biết Tiến sĩ Jordan sơ sơ. Lập luận của ông về việc khai thông các kênh thương mại thế giới vì lợi ích hòa bình đã giúp tôi duy trì tinh thần khi phải vật lộn chống lại những nhóm vận động hành lang thuế quan vốn bóp nghẹt các kênh ấy một cách hiệu quả đến vậy. Họ đang làm gì ở Stanford? Người ta quyết định rằng tôi nên đến đó tận mắt xem sao; chí ít thì cũng có thể thu thập được chất liệu cho một hoặc hai bài báo. Đầu năm 1911, Tiến sĩ Jordan sắp xếp để tôi dành vài tuần tại trường đại học này. Ông rất niềm nở, ra tận Los Angeles đón tôi khi tôi vừa đến nơi với tâm trạng và cơ thể kiệt quệ sau một trận cúm.
Đêm hôm đó sẽ có một buổi họp vì hòa bình—Tiến sĩ Jordan sẽ là diễn giả. Họ đã thông báo tên tôi, và khi tôi từ chối bước ra khỏi giường, họ xem đó là bằng chứng của sự thờ ơ đối với phong trào. Sự thật là ý tưởng phải diễn thuyết ứng khẩu vào thời điểm đó khiến tôi vô cùng sợ hãi; lại thêm bệnh tật bủa vây, tôi không thể, hoặc có lẽ không muốn, tập hợp lại tinh thần của mình. Thà bị coi là một kẻ hèn nhát còn hơn là phải cố gắng làm điều đó.
Nhưng Tiến sĩ Jordan đã thấu hiểu và cười xòa cho qua lời cáo lỗi của tôi, rồi chúng tôi cùng nhau có một chuyến đi thong thả đến Palo Alto. Ông là một người bạn đồng hành tuyệt vời khi có hứng trò chuyện, mà điều đó thì ông có thừa! Chẳng có thứ gì là không thu hút được sự quan tâm của ông. Nhìn qua cửa sổ toa tàu,
ông hoàn toàn không nói về hòa bình mà nói về chim chóc, cây cối, cá tôm, về Roosevelt và trận động đất gần đây.
Tại Palo Alto, tôi nhận ra rằng khóa học hào hứng nhất lúc bấy giờ được giảng dạy cho sinh viên chính là chuyên đề sáu tuần về chiến tranh và hòa bình mà tôi đã cất công đến để nghiên cứu. Phòng hội thảo lớn chật cứng người trong tất cả các buổi thuyết giảng công khai. Theo dõi khóa học này có một số sinh viên ưu tú mà sau này đã thành danh: Bruce Bliven, Robert L. Duffus, Maxwell Anderson.
Có khá nhiều công việc nghiên cứu chuyên sâu về các chủ đề cụ thể. Một sinh viên đang sưu tập các khẩu hiệu chiến tranh; một người khác thực hiện việc so sánh các tuyên ngôn chiến tranh, trong đó mỗi bản đều kêu gọi Thượng đế làm chứng rằng chính nghĩa của họ là công lý. Một sinh viên khác đang tổng hợp các bảng biểu cho thấy sự gia tăng hàng năm trong chi phí vũ trang trong suốt hai mươi năm tính từ năm 1890 trở đi; một người khác tính toán những tổn thất kinh tế do tàn phá chiến tranh gây ra; vâng vâng và mây mây. Tất cả đều là những chất liệu vô cùng thú vị và hữu ích.
Nhưng dẫu có nghiên cứu công trình đó sát sao đến đâu đi nữa, tôi cũng đành bó tay không thể chạm tay vào cái điều cụ thể mà người Mỹ đang cần ấy. Cuối cùng, tôi đem sự chán nản của mình đến gặp Tiến sĩ Jordan, và chúng tôi cùng nhau lên kế hoạch hợp tác thực hiện một loạt bài báo mang tựa đề “Vụ án chống lại chiến tranh.” Tiến sĩ Jordan trong cuốn tự truyện của ông, “The Days of a Man,” đã kể lại kế hoạch của chúng tôi và số phận của nó ra sao; “những sự kiện dồn dập đã cho phép tự chiến tranh vạch ra bản cáo trạng cho chính nó.”
Vào tháng 8 năm 1914, toàn bộ hệ thống cơ chế mà những người yêu chuộng hòa bình từng đặt trọn niềm tin đã sụp đổ. Đảng Xã hội đồng loạt cầm vũ khí ở mọi quốc gia; phong trào lao động có tổ chức cũng vậy, và những nhà vận động hòa bình chuyên nghiệp cũng không ngoại lệ.
Không chỉ sự sụp đổ của những nỗ lực ấy mới làm tôi chết lặng. Kể từ giờ phút chiến tranh được tuyên bố, tôi mang một cảm giác diệt vong khó mà giải thích nổi ở một con người thực tế như tôi. Chúng ta rồi sẽ tham chiến; về điều đó, tôi cảm thấy chắc chắn. Sau khi chúng ta thực sự tham chiến, John Siddall đã không dưới một lần nhắc lại rằng vào tháng 8 năm 1914, khi một nhóm chúng tôi đang
dùng bữa tối tại Nhà hàng Hungary nổi tiếng lúc bấy giờ trên Phố Houston, tôi từng tiên đoán rằng trước khi mọi chuyện kết thúc, Hoa Kỳ và cả thế giới sẽ bị cuốn vào vòng chiến.
“Cô đúng là một nhà tiên tri,” Siddall cười lớn.
Nhưng tôi không phải là nhà tiên tri. Đó chỉ là lô-gích từ niềm tin của tôi rằng thế giới là một thể thống nhất, rằng sự cô lập giữa các quốc gia cũng hoang đường chẳng khác gì việc trái đất cô lập khỏi hệ mặt trời, hay hệ mặt trời cô lập khỏi vũ trụ.
Tất cả những điều đó đã biến tôi thành một kiểu người theo chủ nghĩa hòa bình theo trường phái Fabian. Tôi ủng hộ bất cứ điều gì hướng tới hòa bình và trung lập, nhưng đi kèm luôn là cảm giác tuyệt vọng rằng người ta buộc phải làm những gì có thể khi ngôi nhà đang bốc cháy.
Tôi không thể chia sẻ nỗi căm thù nước Đức, dẫu cho tôi vô cùng tận tụy với nước Pháp, dẫu tôi đinh ninh rằng nước Đức từng tin rằng một cuộc chiến tranh chinh phục là thiết thực để hiện thực hóa cái gọi là vận mệnh của mình, rằng họ đã có ý thức chuẩn bị cho điều đó, và rằng họ nghĩ Ngày ấy đã đến lúc họ có thể mạo hiểm.
Thứ khủng khiếp ấy có vẻ quá lớn lao để những con người nhỏ bé đem lòng căm hận, và tôi đã ngạc nhiên cùng không ít bàng hoàng chẳng lâu sau khi chiến tranh bùng nổ, lúc đến thăm người bạn John Burroughs tại Squirrel Lodge ở vùng Catskills, khi phát hiện ra một con người mà tôi vẫn luôn kính trọng như một sứ giả của hòa bình và ánh sáng lại chìm trong cơn sốt giận dữ không dứt chống lại mọi thứ thuộc về nước Đức. Những con chồn đất đang quấy phá rác ngô của ông, và mỗi buổi sáng ông lại xách súng ra ngoài. “Lại thêm một tên Hung nô khốn kiếp,” ông sẽ gầm lên đầy hung dữ mỗi khi trở về với chiến lợi phẩm trên tay.
Thời gian đã không thể chữa lành cơn thịnh nộ của John Burroughs, bởi vì vào tháng 12 năm 1917, ông đã cam kết trong một bức thư ngỏ được đăng trên tờ New York Tribune rằng sẽ không bao giờ đọc sách Đức, không bao giờ mua bất kỳ món đồ nào do Đức sản xuất. Nhưng John Burroughs không phải là người duy nhất trong số những người bạn vốn hiền hòa của tôi lại cảm thấy cái nhu cầu bức thiết phải trừng phạt không chỉ trong hiện tại mà còn mãi mãi về sau.
Tôi quá mụ mẫm để có thể căm thù hay tham gia vào các phong trào nhằm chấm dứt chiến tranh đang mọc lên khắp nơi quanh mình, mà tôi lại có cảm giác đầy tuyệt vọng rằng tất cả đều vô ích.
Đã có Tàu Hòa bình của ông Ford. Ông Ford từng làm tôi giật mình một ngày nọ vào mùa xuân năm 1915, khi ở Detroit, lúc tôi đang quan sát các phương pháp của ông để tạo nên những con người, bằng cách cất lời đột ngột: “Cô biết đấy, tôi đang đi đến kết luận rằng chúng ta nên gia nhập phe Đồng minh. Nếu chúng ta tham gia, chúng ta có thể kết thúc nhanh chóng mọi chuyện. Và đó là điều nên làm. Cứ như bây giờ, họ sẽ chiến đấu đến cùng. Phải chặn đứng nó bằng cách nào đó, và tôi không thấy còn cách nào khác.”
Sáu tháng sau, ông Ford gọi cho tôi tại nhà riêng ở New York và hỏi liệu tôi có thể đến khách sạn của ông không: ông và cô Addams muốn nói chuyện với tôi. Tất nhiên tôi lập tức lên đường.
Thật kỳ lạ làm sao khi đôi lúc, bước qua một cánh cửa mà chẳng biết điều gì đang chờ đợi phía sau, người ta lại cảm nhận được sự dè dặt. Cửa phòng suite của ông Ford mở toang—chẳng thấy bóng người, gọi chẳng ai trả lời; nhưng tôi nghe thấy những tiếng nói và lần theo chúng đến một căn phòng ở cuối hành lang. Ông Ford đang đứng ở góc phòng, đối diện với tôi. Phía trước ông là hai hàng đàn ông—tôi nhận ra đó là các phóng viên.
“Này các cậu, đây là cô Tarbell—cô ấy sẽ đi cùng chúng ta,” ông gọi lớn.
“Đi đâu cơ, thưa ông Ford?” tôi hỏi.
“Ồ,” ông nói, “chúng tôi đang thuê một con tàu Hòa bình. Chúng ta sẽ đến châu Âu và đưa các chàng trai ra khỏi chiến hào trước Lễ Giáng sinh.”
Lòng tôi thắt lại một cách khủng khiếp. “Ồ, ông Ford, tôi không nghĩ mình có thể tham gia một chuyến thám hiểm như thế!”
“Hãy đi với tôi và chúng tôi sẽ thuyết phục được cô.”
Và ông dẫn tôi vào một căn phòng nơi phu nhân Rosika Schwimmer và người bạn cũ Fred Howe của tôi đang trò chuyện—Jane Addams không có ở đó.
“Hãy nói cho cô Tarbell biết chúng ta sẽ làm gì đi. Chúng tôi muốn cô ấy đi cùng.” Và ông quay trở lại với đám phóng viên.
Tôi đã trải qua một trong những giờ đồng hồ khó khăn nhất cuộc đời. Bà Schwimmer tranh luận rất tài tình; ông Howe cũng vậy; và tất cả những gì tôi có thể thốt lên, trong lòng cảm thấy mình chẳng khác gì một con sâu cái kiến, là: “Tôi không thấy điều đó khả thi.”
Khi ông Ford quay lại và họ nói với ông rằng, “Cô ấy không thấy được điều đó,” tôi liền cố gắng giải thích những hoài nghi của mình. Ông chăm chú lắng nghe rồi nhẹ nhàng nói: “Đừng làm phiền cô ấy—cô ấy sẽ đi thôi.”
Tiếp nối cuộc gặp gỡ này là một bức điện tín dài ngoằn ngoèo theo sau là một bức thư còn dài hơn nữa, cả hai đều có chữ ký của Henry Ford. Giờ đây tôi hoài nghi liệu ông có từng đọc qua dù chỉ một trong số chúng hay không. Chắc chắn chữ ký ở cuối bức thư không phải của ông. Tôi xin đưa chúng vào đây, dẫu chúng có dài dòng đi chăng nữa, bởi vì chúng mang ý nghĩa quan trọng trong lịch sử của Tàu Hòa bình, và theo tôi được biết thì chưa từng được in ấn ở đâu trước đây. Dưới đây là nội dung của chúng:
Ngày 24 tháng 11 năm 1915
Cô có muốn đến làm khách của tôi trên con tàu Oscar Second thuộc Hàng hải Scandinavian-American khởi hành từ New York vào ngày mùng 4 tháng 12 đi Christiania, Stockholm và Copenhagen không? Tôi đang đánh điện cho các nhân vật nam nữ hàng đầu của các quốc gia châu Âu để họ gia nhập cùng chúng ta trên đường đi và tại một điểm trung tâm nào đó sẽ được quyết định sau để thiết lập một Hội nghị Quốc tế chuyên tâm đàm phán dẫn đến một giải pháp công bằng cho Chiến tranh. Một trăm đại diện tiêu biểu của Mỹ đang được mời, trong đó Jane Addams, Thomas A. Edison và John Wanamaker đã nhận lời hôm nay. Thư chi tiết sẽ gửi sau. Với hai mươi nghìn người chết mỗi hai mươi bốn giờ, hàng chục nghìn người tàn phế, nhà cửa hoang tàn, một mùa đông nữa lại bắt đầu, đã đến lúc một số ít nam nữ can đảm và nghị lực bất chấp chi phí về sự bất tiện cá nhân, sự hy sinh tiền bạc và những lời chỉ trích nhằm giải phóng thiện chí của châu Âu để nó có thể tự khẳng định vì hòa bình và công lý với khả năng lớn là có thể đạt được giải trừ quân bị quốc tế.
Vui lòng đánh điện trả lời.
Ngày 27 tháng 11 năm 1915
Thưa cô Tarbell:—
Kể từ khoảnh khắc tôi nhận ra rằng tình hình thế giới đòi hỏi hành động tức thì, nếu chúng ta không muốn ngọn lửa chiến tranh lan rộng hơn nữa, tôi đã gia nhập những lực lượng quốc tế đang nỗ lực chấm dứt thảm họa vô tiền khoáng hậu này. Tôi nhận thức đây là bổn phận con người của mình.
Có đầy đủ bằng chứng cho thấy cuộc tàn sát vốn đã cướp đi mười triệu sinh mạng này hoàn toàn có thể và được kỳ vọng sẽ bị chặn đứng thông qua cơ quan trung gian là hội nghị hòa giải của sáu quốc gia châu Âu trung lập vô can, gồm Hà Lan, Đan Mạch, Thụy Điển, Na Uy, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ.
Các đặc phái viên gửi tới mười ba chính phủ tham chiến và trung lập châu Âu
đã xác định qua bốn mươi chuyến thăm rằng có một khát khao hòa bình phổ quát. Khát khao hòa bình này, vì phép xã giao ngoại giao, không bao giờ có thể được bày tỏ một cách cởi mở hoặc công khai, cho đến khi bên này hay bên kia bị đánh bại hoàn toàn, hoặc cho đến khi cả hai bên đều kiệt quệ.
Trong mười lăm tháng qua, nhân dân thế giới đã mòn mỏi chờ đợi các chính phủ hành động; đã mòn mỏi chờ đợi các chính phủ dẫn dắt châu Âu thoát khỏi nỗi thống khổ và đau đớn khôn tả để ngăn chặn sự hủy diệt toàn diện của châu Âu. Vì các chính phủ trung lập châu Âu không thể hành động nếu thiếu sự hợp tác của chính phủ chúng ta, và vì chính phủ chúng ta, vì những lý do không rõ ràng, đã không đưa ra sự hợp tác này, chúng ta không thể lãng phí thêm thời gian để chờ đợi hành động từ phía chính phủ.
Để sự hy sinh của họ không trở nên vô ích, nhân loại nợ hàng triệu con người bị dẫn đi như cừu đến lò mổ một nỗ lực tối cao nhằm chặn đứng sự lãng phí sinh mạng độc ác này.
Nhân dân các nước tham chiến không muốn chiến tranh. Nhân dân không tạo ra nó. Nhân dân muốn hòa bình. Có cơ hội để tạo ra nó là quyền con người thiêng liêng của họ. Thế giới đang trông chờ vào chúng ta, vào nước Mỹ, để dẫn dắt những lý tưởng. Sứ mệnh vĩ đại nhất từng đặt ra trước một quốc gia thuộc về chúng ta.
Đây là lý do tại sao tôi kêu gọi cô, với tư cách là đại diện cho nền dân chủ Mỹ, trong bức điện ngày 24 của tôi. Cũng chính vì lý do này mà tôi lặp lại lời kêu gọi gửi đến cô và khẩn khoản mời cô gia nhập một cuộc hành hương vì hòa bình.
Những người nam nữ của đất nước chúng ta, đại diện cho mọi lý tưởng và mọi hoạt động của nó, sẽ khởi hành từ New York vào ngày mùng 4 tháng 12 trên con tàu hơi nước Scandinavian-American Oscar II. Tụi tàu hòa bình chở phái đoàn Mỹ sẽ tiến về Christiania, nơi những người con trai và con gái dũng cảm của Na Uy sẽ gia nhập cuộc thập tự chinh. Tại Stockholm, đoàn tùy tùng của con tàu sẽ được tăng cường bởi những tinh hoa của nền dân chủ Thụy Điển. Cuộc thập tự chinh sau đó sẽ tiếp tục đến Copenhagen, nơi những sứ giả hòa bình tiếp theo sẽ tề tựu.
Các nhóm khác nhau này sẽ tạo thêm đà mạnh mẽ cho cuộc thập tự chinh để khi những người hành hương đến La Hay, nơi lưu dấu những thành tựu về công lý và tình bằng hữu quốc tế, sức mạnh đạo đức của phong trào hòa bình sẽ trở nên không thể cưỡng lại. Tại La Hay, chúng ta hy vọng được gặp các phái đoàn từ Thụy Sĩ và Tây Ban Nha.
Từ tất cả các phái đoàn đa dạng này, một cơ quan nghị viện nhỏ sẽ được tuyển chọn để tề tựu tại một trong những thủ đô trung lập. Tại đây, nó sẽ được gia nhập bởi một số lượng giới hạn các bậc thầy có tầm ảnh hưởng quốc tế từ mỗi quốc gia tham chiến. Hội nghị Quốc tế này sẽ soạn thảo các điều khoản hòa bình, dựa trên nền tảng công lý cho tất cả mọi người, bất kể tình hình quân sự ra sao.
Hội nghị Quốc tế này sẽ là một cơ quan trung gian hoạt động liên tục. Nó sẽ tận tâm chấm dứt cuộc tàn sát quốc tế gớm ghiếc này và xa hơn nữa là tận tâm ngăn chặn các cuộc chiến tranh trong tương lai thông qua việc bãi bỏ cuộc chạy đua vũ trang cạnh tranh.
Trong trường hợp có lời kêu gọi từ chính phủ cho một hội nghị trung lập chính thức trước khi Tàu Hòa bình rời New York, hoặc thậm chí trước khi đặt chân đến bờ biển châu Âu, đoàn của chúng ta sẽ tiếp tục sứ mệnh của mình, vui mừng vì cuộc tụ họp chính thức đã thành hiện thực. Khi đó, chúng ta sẽ đặt sức mạnh đoàn kết của mình đứng vững chắc đằng sau những người được chính phủ giao phó thực hiện các cuộc đàm phán hòa bình.
Tại La Hay, các thành viên của Cuộc hành hương Hòa bình sẽ giải tán. Các phương án lo liệu chỗ ở sẽ được chuẩn bị cho từng người trở về nhà riêng. Thật bất khả thi để xác định chính xác thời gian cuộc hành hương sẽ kéo dài bao lâu. Tuy nhiên, nên trù tính khoảng sáu tuần.
Tôi trân trọng khẩn khoản cô hãy hưởng ứng tiếng gọi của nhân loại và gia nhập cùng những tâm hồn thanh cao đã bày tỏ mong muốn góp phần làm nên lịch sử theo một cách thức hoàn toàn mới. Nhân dân châu Âu đang khẩn thiết kêu gọi cô.
Thông tin về địa điểm gặp mặt tại New York, giờ khởi hành, số lượng hành lý, chỗ ở của cô, v.v., sẽ được gửi đi ngay khi chúng tôi nhận được phản hồi từ cô. Tôi sẽ rất kích động nếu cô đánh điện báo quyết định nhận lời. Xin hãy gửi nó đến Khách sạn Biltmore, Phòng suite 717, New York, trụ sở tạm thời của chúng tôi.
Thân ái vì nền hòa bình
Henry Ford.
Tôi không giữ lại bản sao của những bức thư trả lời, nhưng tôi biết ý chính của chúng hẳn là một câu từ chối nặng trĩu tâm can: “Tôi không thể làm được đâu, ông Ford.”
Đêm sau chuyến viếng thăm khách sạn của tôi, cô Addams đã gọi điện cho tôi, và trong suốt nửa tiếng đồng hồ, chúng tôi tranh luận về vấn đề này qua điện thoại. Tất cả những gì tôi có thể nói là: “Nếu chị thấy điều đó khả thi thì chị phải đi thôi, cô Addams ạ. Còn tôi thì không thấy thế và đành chịu. Có thể việc đứng ở góc phố và lớn tiếng kêu gọi ‘Hòa bình, Hòa bình’ sẽ mang lại điều tốt đẹp. Tôi không dám chắc là nó không có ích, nhưng bản thân tôi thì không thể làm thế được.”
Chúng tôi định sáng hôm sau sẽ bàn tiếp, nhưng tối hôm đó họ đã đưa cô ấy về Chicago, vội vã nhập viện. Cô ấy đã rất ốm. Jane Addams đã không lên Tàu Hòa bình.
Nhiều năm sau, tôi hỏi cô ấy: “Chị có đi không nếu lúc đó không bị bệnh?”
“Chắc chắn tôi sẽ đi,” cô nói. “Vẫn có một cơ hội, và tôi ủng hộ việc nắm lấy mọi cơ hội.”
Cô ấy luôn nắm bắt mọi cơ hội khi đó là vấn đề cứu trợ con người. Và nếu cô ấy đi thì mọi chuyện trên Tàu Hòa bình đã khác, bởi vì khi ấy cô chứ không phải bà Schwimmer mới là người nắm quyền chỉ huy. Cô nhìn thấu rất rõ khuynh hướng điều hành độc đoán của bà Schwimmer, nhưng cô cũng nhận ra năng lực của người phụ nữ ấy. Cô không vì những hoài nghi mà nỡ quẳng đi cơ hội củng cố tiếng nói đòi hòa bình, và cô chắc chắn đã đặt niềm tin vào kinh nghiệm lâu năm của mình trong việc quản lý con người để kiểm soát bà Schwimmer. Nhưng rồi cô đã không đi.
Đó là một bi kịch của hành động vội vàng, của việc mưu cầu một mục đích lớn lao mà không có sự chuẩn bị chu đáo. Ông Ford sẽ không bao giờ dám mưu tính chế tạo một loại động cơ ô tô mới theo cái cách mà ông đã cố gắng xoay xở thứ quyền lực mạnh mẽ nhất thế giới—những cảm xúc hoang dã chưa được thuần hóa của con người được tổ chức lại để đi đến kết quả bằng cách tàn sát lẫn nhau.
Tàu Hòa bình đã thất bại; nhưng những nỗ lực ngầm chính thức mà Tổng thống và những người đồng tình khi đó liên tục thúc đẩy cũng thất bại chẳng kém. Mọi thứ ngày càng trở nên u ám. Ngày mà chúng ta bị cuốn vào vòng chiến dường như ngày càng tiến đến gần tôi hơn. Vào tháng 2 năm 1916, nỗi chán nản của tôi càng trầm trọng hơn khi nghe chính tai Tổng thống thừa nhận điều đó. Vợ chồng Ngài Bộ trưởng Daniels đã rất ân cần khi cho tôi vinh dự được góp mặt trong số các khách mời tại bữa tối Nội chiến mà họ thết đãi Tổng thống và phu nhân mới của ông—bà Wilson.
Tất cả chúng tôi đang đứng trong phòng khách nhà Daniels chờ sự xuất hiện của họ. Tôi đang mải trò chuyện say sưa với ai đó đến nỗi
quên bẵng mất lý do mọi người có mặt ở đây, cho đến khi tôi nhận thức được sự hiện diện của một cặp đôi vô cùng nổi bật ở khung cửa ra vào. Tôi mất một khoảnh khắc mới nhớ ra chúng tôi đến đây để làm gì, và rằng đây chính là Tổng thống cùng phu nhân của ngài. Trông họ mới xứng đôi làm sao!
Bên bàn tiệc, Tổng thống tỏ ra vô cùng vui vẻ, kể chuyện cười, đọc thơ trào phúng limerick. Sau đó, khi đến lượt tôi được trò chuyện cùng ngài và tôi bày tỏ sự quyến rũ mà tôi cảm nhận được từ sự hoạt bát và sự dí dỏm sống động của phu nhân Wilson, ngài đã hăng hái chuyển sang nói về vợ mình và, đến nỗi tôi vô cùng kinh ngạc và thích thú, ngài kể về những khó khăn khi cưa cẩm một người phụ nữ mà mỗi lần đến chơi nhà lại bị các mật vụ vây kín bốn bề!
Gạt bỏ vẻ vui đùa, ngài kể cho tôi nghe đôi chút về tình hình lúc bấy giờ. “Tôi chưa bao giờ đi ngủ mà không ý thức được rằng mình có thể bị đánh thức bởi một bản tin đồng nghĩa với việc chúng ta đang có chiến tranh. Trước sáng mai thôi, chúng ta hoàn toàn có thể bước vào chiến tranh. Mọi chuyện càng khó khăn hơn vì những báo cáo gửi đến chúng ta phải được giữ kín. Hành động vội vàng, sự thiếu thận trọng có thể đẩy chúng ta vào một tình thế hiểm nghèo trong khi chỉ cần một chút cẩn trọng thôi là cục diện mọi chuyện đã hoàn toàn thay đổi. Nhiệm vụ lớn lao nhất của tôi là không để bản thân bị lóa mắt bởi cơn thịnh nộ.”
Tôi rời khỏi bữa tối hôm đó với cảm nhận sâu sắc về những khó khăn chồng chất, về hiểm họa khổng lồ bủa vây cuộc sống chúng ta, và về một con người đã tự tôi luyện bản thân để lèo lái chúng ta vượt qua sóng gió. Điều đó càng củng cố niềm tin của tôi ở ngài.
Nhưng về tất cả những điều này, tôi chẳng thể thốt lên nửa lời trên chuyến lưu diễn Chautauqua của mình, ngay cả khi tôi bắt đầu nhận ra rằng, hơn bất cứ thứ gì khác, những con người này thực sự quan tâm đến Chiến tranh.
Một trong những minh chứng thuyết phục nhất mà tôi nhận được đến từ những điều tôi vô tình nghe được vào ban đêm. Chúng tôi kết thúc chuyến lưu diễn của mình bằng một đợt nắng nóng kinh hoàng—thứ nhiệt độ khiến việc ngủ nghỉ trở thành điều bất khả thi. Căn phòng tốt nhất mà bạn có thể thuê thường nằm ở tầng hai hướng ra mặt tiền. Bạn kéo giường ra sát cửa sổ, nằm với phần đầu ló hẳn ra ngoài; nhưng nếu bạn không tài nào ngủ được thì thế nào cũng được giải trí, bởi vì trên vỉa hè phía dưới, tầm chín rưỡi hoặc mười giờ đêm, sẽ tụ tập một nhóm nhỏ người dân
đã kéo ra phố sau bữa tối “để gặp gỡ ai đó.” Chủ tiệm, công nhân, nhân viên tiếp thị, luật sư, và thỉnh thoảng có cả những mục sư hay chủ khách sạn sẽ ngồi ngoài đó bàn tán về chiến tranh, sự chuẩn bị quân sự, sự trung lập, về Wilson, Hughes, suốt nửa đêm.
“Hãy nhìn họ kìa,” một ứng viên quốc hội hay nói năng phát biểu. “Bốn năm trước, tôi có thể đoán chắc gần như từng người một trong thị trấn này sẽ bỏ phiếu cho ai vào tháng Mười Một. Nhưng hôm nay thì tôi chịu. Chẳng ai đoán được đâu. Họ đã rũ bỏ được tinh thần đảng phái đến mức tôi chưa từng dám tin. Họ đang ngồi ngoài kia tranh cãi nảy lửa về Wilson và Hughes, thế mà chưa tới 25 phần trăm trong số họ biết chắc chắn mình sẽ chọn ai khi ngày bầu cử đến.”
Càng lúc tôi càng cảm thấy rằng bạn hoàn toàn có thể trông cậy vào những con người này trong bất kỳ nỗ lực hay sự hy sinh nào mà họ tin là cần thiết. Một trong những điều bộc lộ rõ ràng nhất về một đất nước chính là cách nó đối mặt với hiểm họa chiến tranh. Ngay sau khi chúng tôi khởi hành, lệnh gọi tập hợp quân đội tới Mexico được ban bố. Dường như chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Không hề có sự kích động quá mức nào ở những nơi chúng tôi đi qua, nhưng những chàng trai mặc quân phục dường như mọc lên từ dưới đất.
Tôi sẽ không bao giờ quên một khung cảnh, thứ đang được tái hiện ở rất nhiều nơi trong vùng đất đó. Chúng tôi đang ở một thị trấn miền núi cũ kỹ ở Pennsylvania. Khách sạn của chúng tôi nằm ngay quảng trường công cộng, một mảnh đất nhỏ được bao quanh bởi một dãy các tòa nhà kiểu cũ trang nghiêm. Ở trung tâm đứng một bệ biểu diễn âm nhạc, và bên cạnh là một bức tượng người lính bằng đá trông ngớ ngẩn được dựng trên một bệ cột quá cao—một đài tưởng niệm Nội chiến. Người ta kể với chúng tôi rằng tại quảng trường vào lúc chín rưỡi tối nay sẽ có một buổi họp thị trấn để tiễn đưa những chàng trai đang “lên đường tới Mexico trên chuyến tàu mười rưỡi.” “Có bao nhiêu người thế?” tôi hỏi. “Một trăm ba mươi lăm người,” câu trả lời là vậy. Và đây chỉ là một thị trấn có dân số chưa đầy hai nghìn tám trăm người.
Khi thời điểm đến gần, toàn bộ thị trấn tề tựu đông đủ. Họ đến trong lặng lẽ, như thể cho một buổi họp thường kỳ tự nhiên nào đó; nhưng chỉ ít phút trước mười giờ, chúng tôi nghe thấy tiếng trống và sáo, và từ cuối con đường
tiến lại một đoàn diễu hành khiến tim tôi đập thình thịch. Sát bên các bậc trưởng lão thành phố và các diễn giả là một tá cựu chiến binh, một số người trong số họ mặc chiếc áo khoác xanh đã bạc màu, hai hoặc ba người chống nạng, và theo sau họ là những chàng trai, một trăm ba mươi lăm người—vẻ mặt nghiêm nghị, dáng đi thẳng tắp một cách có ý thức, ánh mắt nhìn thẳng về phía trước, bước chân ngập tràn sức trẻ.
Đoàn diễu hành dừng lại trước vị lính đá nhỏ bé, kẻ mà bỗng nhiên trở nên bất cứ thứ gì ngoài vẻ ngớ ngẩn; anh ta mang trên mình sự uy nghiêm và sức mạnh y hệt như những chàng trai trong hàng ngũ—những thiếu niên mà nếu gặp họ vào ngày hôm trước, tôi có lẽ đã gọi họ là những kẻ vô tâm, lười nhác, không đáng tin cậy. Thị trưởng, các mục sư, một cựu nghị sĩ, tất cả đều phát biểu. Có một lời cầu nguyện, đám đông với giọng trang nghiêm hát vang bài “My Country, ’Tis of Thee.” Một mệnh lệnh ngắn gọn vang lên; đoàn diễu hành tái lập đội hình; các cựu chiến binh dẫn đầu, và cả thị trấn lũ lượt theo chân các chàng trai ra bến tàu chuyến “mười rưỡi.”
Không gì có thể sánh kịp với ấn tượng mà sự tĩnh lặng và tự nhiên của buổi lễ mang lại. So với những phong trào kích động và cuồng loạn liên miên mà miền Đông đã trút lên đầu chúng tôi trong suốt hai năm rưỡi qua, sự uy nghiêm này, hành động dứt khoát này, sự sẵn sàng dấn thân đến cùng này, đã mang lại cho người ta một cảm giác trang nghiêm về sức mạnh và độ tin cậy của con người nơi đây. Đó là một sự ngộ ra mà tôi sẵn sàng đánh đổi bằng bất cứ giá nào để đạt được. Chắc chắn nó đã bù đắp quá sức xứng đáng cho bốn mươi chín đêm ngủ trên bốn mươi chín chiếc giường khác nhau của tôi.
Tám tháng sau, ấn tượng về sự vững vàng của người dân trước hiểm họa chiến tranh ấy lại càng sâu sắc hơn. Sau chuyến lưu diễn Chautauqua, thứ mà tôi từng tưởng chỉ là một cuộc phiêu lưu tạm thời, văn phòng diễn thuyết đã ngỏ ý đặt lịch cho tôi thêm một tháng lưu diễn lyceum, phần lớn là ở khu vực Trung Tây. Cuối tháng 1 năm 1917, tôi lên đường.
Tôi đang trên đường đi thì biến cố cắt đứt quan hệ với Đức xảy ra. Các tờ báo chiều ngày 3 tháng 2 của chúng tôi đã đăng tóm tắt bài phát biểu của Tổng thống trước Quốc hội. Sáng Chủ nhật tiếp theo là toàn văn bài phát biểu. Tôi ra ngoài đi dạo từ sáng sớm hôm đó, và một trong những cảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là một vụ xô xát náo động ngay trước cửa hiệu cắt tóc. Gạn hỏi ra mới biết một gã người Thụy Điển to lớn đã bày tỏ sự cảm thông với Kaiser, và đang bị ném thẳng ra phố. Tại khách sạn, cô hầu phòng, cậu bé thang máy, người phục vụ bàn đều không đợi tôi phải gợi chuyện. Tất cả mọi người đều bàn tán về ý nghĩa của việc cắt đứt quan hệ—tất nhiên là chiến tranh. Họ nói rằng họ đã sẵn sàng.
Những ngày trôi qua, tôi nhận ra đó là ý kiến chung của tất cả mọi người. Một buổi sáng, tôi cập bến tại một thị trấn giao lộ đường sắt, không có chuyến tàu nào cho đến tận chiều muộn. Đó vốn là một nơi tiêu điều vào bất kỳ thời điểm nào, nhưng giờ đây lại càng chết chóc hơn với nhiệt độ ngoài trời rơi vào khoảng âm hai mươi độ. Một nhân viên bán vé thân thiện cảnh báo tôi rằng khách sạn duy nhất ở đây không phải là chốn dành cho phụ nữ, và đẩy tôi đi sâu vào khu vực bên kia nhà xưởng đường sắt đến một ngôi nhà trông xam xám mà theo lời anh ta là do một người phụ nữ sạch sẽ và tươm tất quản lý. Nhìn bên ngoài thì chẳng có chút mời gọi nào, nhưng khách du lịch mà còn chê bai thì chỉ là những kẻ kém cỏi. Người phụ nữ cho tôi thuê một phòng và, tuân thủ đúng nguyên tắc duy nhất của một diễn giả muốn giữ gìn sức khỏe cho bản thân, tôi lên giường đi ngủ. Lúc tôi bước xuống nhà đã là bốn giờ chiều. Người phụ nữ chủ nhà, người mà buổi sáng tôi còn thấy đang cày ải giặt giũ, nay đã mặc một chiếc váy bằng vải gingham mới tinh, ngồi trong phòng khách đọc tờ Chicago Tribune. Bên cạnh bà là một tờ Record Herald. Tôi phát hiện ra rằng người phụ nữ này kể từ khi rắc rối ở châu Âu bùng nổ vẫn luôn theo dõi từng chi tiết qua những tờ báo được biên tập xuất sắc này. Bà bảo mình vốn không ủng hộ chiến tranh, cho đến khi họ nuốt lời.
“Điều đó đã chốt hạ mọi thứ đối với tất cả những người ngoài này. Giờ thì,” bà nói, “chẳng còn cách nào khác phải làm ngoài việc đó.”
Tôi không nhớ nổi mình đã nghe thấy những lời ấy bao nhiêu lần trong những ngày tiếp theo. Khi Tổng thống nói về nước Mỹ trong phần kết bài phát biểu trước Quốc hội vào ngày 2 tháng 4 năm 1917 rằng, “Xin Thượng đế phù hộ, nước Mỹ không thể làm khác hơn,” ngài chỉ đang bày tỏ điều mà phần lớn người dân miền Tây, qua những gì tôi tận tai nghe thấy, đã hạ quyết tâm.
Dẫu theo dõi sát sao, cá nhân tôi vẫn cảm thấy vô cùng xa cách. Chẳng có việc gì
dành cho tôi cả. Giữa mớ hỗn độn những luồng ý kiến, bất cứ điều gì tôi nói hay làm cũng chẳng thể cản trở hay giúp ích được gì, thế nên tôi vẫn tiếp tục guồng quay công việc hằng ngày của mình.
Tôi đang phát biểu tại một bữa tiệc lớn ở Cleveland vào đầu tháng Tư thì một bức điện tín được trao tận tay tôi, do chính Tổng thống ký. Nó bổ nhiệm tôi làm thành viên của cái gọi là Ủy ban Phụ nữ thuộc Hội đồng Quốc phòng Quốc gia.
Tôi chẳng hiểu chức vụ đó có nghĩa là gì, nhưng khi Chính phủ của bạn đang cố gắng tiến hành một cuộc chiến tranh, dù bạn có đồng thuận hay không, tôi từ lâu đã đúc kết rằng về phần mình, tôi sẽ làm bất cứ điều gì được yêu cầu. Thế là tôi lập tức gửi thư chấp nhận thứ mà tôi coi là một mệnh lệnh. Hai tuần sau, tôi nhận được những chỉ thị đầu tiên. Chúng đến từ người đứng đầu ủy ban, Tiến sĩ Anna H. Shaw.