Mọi chuyện này là về cái gì? Đó là câu hỏi chúng tôi tự đặt ra khi vào ngày 2 tháng 5, hưởng ứng tiếng gọi của chủ tịch hội đồng, tiến sĩ Anna Shaw, chúng tôi đã tề tựu tại Washington. Và chúng tôi sẽ ngồi ở đâu? Chúng tôi chỉ là một trong số vô vàn ủy ban đang lo âu, bối rối và quay cuồng trong việc tìm kiếm một chốn dung thân. Tình thế khó khăn của chúng tôi cuối cùng được giải quyết bằng việc tìm thấy một căn phòng đâu đó trên Đại lộ Pennsylvania—một căn phòng ảm đạm với chiếc bàn thô kệch và không có đủ ghế cho mọi người. Đóng góp đầu tiên của tôi vào công cuộc chiến thắng Chiến tranh là đi “mượn” ghế từ các văn phòng bên cạnh. Thành công đó đã thắp lên trong tôi niềm hy vọng rằng suy cho cùng, tôi ít nhất cũng có thể làm một chân sai vặt trong cỗ máy chiến tranh này.
Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, Ủy ban Phụ nữ đã trở thành thụ hưởng của làn sóng hào phóng ái quốc từ dân chúng vừa quét qua Washington. “Các chị có thể dùng nhà của chúng tôi, căn hộ của chúng tôi,” mọi người kêu gọi. Một ngôi nhà cổ kính, rộng rãi và đẹp đẽ nằm sát Đại lộ Connecticut, đối diện Đại sứ quán Anh, đã được ngỏ ý trao cho chúng tôi; đó là một trụ sở thoải mái và trang trọng hơn nhiều so với những gì chúng tôi dám mong đợi trong hoàn cảnh bấy giờ. Chúng tôi đã ở lại đó suốt cả thời kỳ Chiến tranh.
Nhưng chúng tôi có mặt ở đó để làm gì? Chính phủ đã thành lập ra chúng tôi. Họ kỳ vọng gì ở chúng tôi? Rất nhanh chóng, người ta thấy rõ ràng rằng điều họ muốn lúc bấy giờ là một cơ quan chính thức để họ có thể chuyển hướng những phụ nữ nhiệt thành và kỳ kèo muốn được “giúp đỡ”—tức các tổ chức khác nhau vốn đang vận động phụ nữ tham gia hành động. Sự kình lực đáng kể đã nảy sinh giữa các hội nhóm ấy, và chắc chắn nó sẽ ngày càng trở nên khó xử hơn. Ủy ban của chúng tôi đã được tổ chức một cách khôn ngoan để dập tắt sự kình địch này, khi quy tụ được các chủ tịch của những đoàn thể phụ nữ quốc gia hàng đầu: Hội Quyền bầu cử Quốc gia, Liên đoàn Câu lạc bộ Phụ nữ, Hội đồng Phụ nữ Quốc gia, Hội các Nữ nhi thời Thuộc địa, và Liên đoàn Quốc gia vì Dịch vụ Phụ nữ. Mọi cái tên trong danh sách ấy đều đại diện cho một thế lực nào đó, ngoại trừ tôi. Tôi chỉ là một nhà báo đơn độc, không có mối liên hệ hoạt động nào với bất kỳ tổ chức hay ấn phẩm nào. Tôi ý thức rõ điều đó là một bất lợi cho mình trong ủy ban, mặc dù dường như nó không nằm trong suy nghĩ của Tổng thống Wilson và Bộ trưởng Baker.
Chúng tôi không phải là một cơ quan độc lập, mà là một trong số nhiều chi nhánh trực thuộc Hội đồng Quốc phòng, với người đứng đầu điều hành là chủ tịch đương nhiệm của Công ty Điện thoại và Điện báo Mỹ, Walter Gifford—một con người đầy trí tuệ, mẫn cảm, có khả năng tự chủ và sự kiên nhẫn đến kinh ngạc. Điều này tôi có cơ sở để biết rõ, vì tôi thường xuyên đại diện cho ủy ban để làm việc với ông.
Việc chúng tôi phải đến gặp đàn ông để xin mệnh lệnh đã khiến tiến sĩ Shaw khó chịu ngay từ đầu. Bà cảm thấy chúng ta phải có khả năng tự quyết định xem phụ nữ nên làm gì, hoặc ít nhất là bản thân bà, với tư cách là người đứng đầu ủy ban, phải có một ghế trong Hội đồng Quốc phòng. Tôi nghĩ tiến sĩ Anna chưa bao giờ hoàn toàn tha thứ cho Chính phủ vì đã đặt chúng tôi dưới sự chỉ đạo của đàn ông—những kẻ mà quyền lực độc tôn trong các vấn đề thế giới đã bị bà tranh cãi trong suốt bao năm qua.
Nhiệm vụ của chúng tôi là xem xét công tác phòng thủ của phụ nữ cho quốc gia. Nhưng chúng tôi phải làm gì với những kết quả từ sự cân nhắc và các khuyến nghị của mình? Kết luận của chúng tôi là phải tìm cách đưa chúng đến với phụ nữ trên khắp cả nước. Để làm được điều đó, chúng tôi phải điều phối các cơ quan khác nhau có đại diện trong tổ chức của mình, chiêu mộ thêm những lực lượng khác, và tạo ra một kênh truyền đạt các yêu cầu cùng mệnh lệnh của Chính phủ. Điều đó đồng nghĩa với việc tổ chức lực lượng. Ở mặt này, chúng tôi rất mạnh, bởi vì tiến sĩ Shaw và Carrie Chapman Catt là những nhà tổ chức phụ nữ giàu kinh nghiệm và thành công nhất đất nước. Hơn nữa, họ không chỉ huy động được các tổ chức do chính tay họ gây dựng mà còn, thông qua những người cộng sự trong ủy ban, nắm quyền điều phối các đại đoàn thể quốc gia khác. Đối với tôi, cái cách mà bộ máy tổ chức ấy ra đời một cách nhanh chóng và lặng lẽ đến vậy tựa như một phép màu, bởi tôi vốn không quen với công tác tổ chức dưới bất kỳ hình thức nào. Chẳng mất bao lâu, mọi bang, mọi quận hạt, và hầu như mọi cộng đồng đều đã có một chi nhánh của Ủy ban Phụ nữ thuộc Hội đồng Quốc phòng. Trước khi năm đầu tiên khép lại, đã có những bang mà chỉ trong vòng hai mươi bốn giờ sau khi nhận được yêu cầu của chúng tôi, họ có thể truyền đạt chúng đến tận những xó xỉnh xa xôi nhất.
Ngay từ đầu, ủy ban đã guồng quay làm việc—tiến sĩ Anna đã đảm bảo điều đó. Bà và bà Catt định cư hẳn ở Washington. Về phần mình, tôi hủy hai hợp đồng viết sách, quyết tâm làm những gì có thể, dẫu cho nhiệm vụ có vẻ mông lung đến đâu. Chúng tôi họp hành đều đặn; chúng tôi tuân thủ giờ giấc làm việc; chúng tôi vô cùng hào hứng muốn tạo dựng một thành tựu gì đó từ công việc của mình.
Ủy ban mặc định rằng chúng tôi sẽ phải giải quyết vấn đề lương thực vốn đang trở nên cấp bách. Đến giữa mùa hè, chúng tôi đã có các tổ chức hiện diện khắp nơi, lo việc gieo trồng và cuốc xới. Bồi đắp lên trên đó là công nghệ làm khô thực phẩm, và chúng tôi đã có vô số cuộc tranh luận nảy lửa về phương pháp tối ưu nhất. Tôi nhớ có một buổi sáng, ủy ban đã dành toàn bộ thời gian để hồi tưởng lại những ngày giúp bà ngoại xâu táo để phơi khô, hay cách mà người mẹ sấy khô ngô và các loại quả mọng.
Rồi đến công đoạn đóng hộp—cái kho dự trữ phải được lấp đầy. Chúng tôi đang tiến hành khá suôn sẻ và vô cùng tự hào về bản thân, nghĩ rằng đây là một công việc đặc biệt, thì Herbert Hoover quay về sau chuyến đi cứu trợ châu u và được đặt vào ghế đứng đầu Cơ quan Quản lý Lương thực Mỹ trong một tòa nhà riêng của ông, trên thực tế nắm quyền như một kẻ độc tài về vấn đề lương thực ở Mỹ. Hiển nhiên, ông Hoover là người duy nhất trên thế giới có thể điều hành trọn vẹn công việc khổng lồ và đa chiều ấy; nhưng điều đó lại gây ra không ít nỗi niềm ấm ức trong lòng Ủy ban Phụ nữ khi việc làm vườn, đóng hộp và phơi sấy lại không được giao trọn vẹn cho chúng tôi. Chẳng phải chúng tôi đã có mặt trên trận tuyến từ trước hay sao? Chẳng phải chúng tôi đã có một bộ máy tổ chức đang vươn nhanh đến từng người phụ nữ cuối cùng trên đất nước này sao? Chẳng phải họ cũng đang cuốc đất, gieo trồng, đóng hộp và tiết kiệm đó sao? Thế nhưng, bất chấp sự phản đối sừng sộ của tiến sĩ Anna, chúng tôi nhanh chóng bị đưa về đúng vị trí của mình và chỉ được xem như một cơ quan phụ trợ. Tôi được giao trọng trách làm sĩ quan liên lạc, thực chất chẳng có gì nhiều ngoài việc tìm hiểu xem trụ sở lương thực muốn gì từ phụ nữ rồi chuyển đạt lại.
Thứ mà chúng tôi nhanh chóng xoay sở để trở thành, nhờ phần lớn công lao của tiến sĩ Anna và bà Catt, chính là một đường dây thông suốt để qua đó chúng tôi có thể truyền đi một cách nhanh chóng và liền mạch bất kỳ yêu cầu nào xuất phát từ bất kỳ bộ phận nào của cỗ máy chiến tranh. Chúng tôi đã phát triển thành một đội quân kỷ luật có trong tay những nhiệm vụ khác ngoài việc đan lát và làm băng gạc, làm vườn và đóng hộp—dù những việc đó có thiết yếu và quan trọng đến đâu đi chăng nữa.
Dịch vụ hữu ích nhất của chúng tôi, theo tôi thấy, là việc ngày càng gia tăng các hoạt động nhằm ngăn chặn cỗ máy của đời sống thường nhật không bị gỉ sét giữa cơn giông bão chiến tranh. Lấy ví dụ như những người phụ nữ ồ ạt kéo nhau vào làm việc trong các ngành công nghiệp. Phần lớn họ cũng thiếu đào tạo chẳng kém gì những thiếu niên bị động viên vào quân đội, và cũng sẵn sàng lao thân vào đó, tự vứt bỏ cả bản thân mình.
Jane Addams từng nói với tôi vào đầu cuộc Chiến tranh: “Mọi thứ chúng ta đã giành được trên con đường lập pháp xã hội sẽ bị phá hủy. Nó sẽ đẩy chúng ta thụt lùi về điểm xuất phát của hai mươi lăm năm trước.”
Điều đó đối với tôi có vẻ không phải là tất yếu, và quả thực cũng không phản ánh đúng hướng đi của thời cuộc lúc bấy giờ. Hãy nhìn vào những người phụ nữ làm việc trong các ngành công nghiệp mà cô Addams đặc biệt lo lắng ấy. Việc tuyển mộ lao động cho các nhà máy sản xuất đạn dược đã được đẩy mạnh từ trước khi chúng ta tham gia Chiến tranh bởi Liên đoàn Quốc gia vì Dịch vụ Phụ nữ, do Maude Wetmore—một thành viên của Ủy ban Phụ nữ—làm chủ tịch. Ngay từ tháng 3 năm 1917, liên đoàn đã bắt đầu công việc tại Bộ Lao động. Ngay sau khi chiến tranh được tuyên bố, Tổng thống cùng các Bộ trưởng Bộ Chiến tranh và Bộ Lao động đã kêu gọi sự ủng hộ chung đối với các luật lao động dành cho phụ nữ cũng như nam giới. Bà J. Borden Harriman chẳng mấy chốc được cử làm chủ tịch ủy ban về phụ nữ trong ngành công nghiệp trực thuộc Hội đồng Quốc phòng. Khoảng thời gian đó, ủy ban của chúng tôi cũng thành lập một bộ phận để giải quyết vấn đề này và kết nạp thêm thành viên thứ mười xuất thân từ các phong trào phụ nữ có tổ chức—cô Agnes Nestor đến từ Chicago, một thủ lĩnh trong liên đoàn lao động ngành sản xuất găng tay. Chúng tôi có chút e dè trước gương mặt mới được bổ nhiệm này, nhưng cô Nestor ngay từ đầu đã trở thành một trong những thành viên hữu ích nhất của ủy ban—sáng suốt và kiên nhẫn trong việc thấu hiểu mọi vấn đề, dẫu bản thân cô tất yếu vẫn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực của mình vốn đã vô cùng nan giải, do sự bùng nổ quá nhanh của các cơ quan kèm theo những sự kình địch và ghen tị không thể tránh khỏi.
Quyết tâm không chỉ bảo vệ phụ nữ trong vai trò mới mà còn giáo dục và đẩy họ tiến lên là vô cùng mãnh liệt. Các đại diện của phụ nữ có tổ chức đã tề tựu tại Kansas City vào tháng 6, yêu cầu thiết lập các tiêu chuẩn mới cho các hợp đồng thời chiến. Kết quả là Florence Kelley được cử làm thành viên Hội đồng Kiểm soát Tiêu chuẩn Lao động cho Quân phục. Mọi thứ tiến triển rất nhanh sau đó. Một bộ phận phụ nữ đã được thành lập vào tháng 1 tại Cơ quan Dịch vụ Việc làm Hoa Kỳ do bà H. M. Richard làm người đứng đầu. Khoảng thời gian tương tự, Mary Van Kleeck được bổ nhiệm làm người đứng đầu chi nhánh phụ nữ thuộc Cục Quân khí, và cô Agnes Nestor của chúng tôi—người lúc này đã được công nhận rộng rãi về trí tuệ và sự vững vàng—đã được bổ nhiệm vào hội đồng cố vấn mới thành lập của Bộ trưởng Bộ Lao động về luật lao động thời chiến.
Agnes Nestor và Mary Anderson, người đứng đầu hiện tại của Cục Phụ nữ thuộc Bộ Lao động, đã minh chứng cho tôi thấy một bài học vỡ lòng mà tôi chưa từng thấy ở đâu khác: đó là sự giáo dục có được từ một tổ chức lao động—nơi tìm cách cải thiện hoàn cảnh của mình thông qua thương lượng, thương lượng nữa và thương lượng mãi, mà không làm suy yếu ngành công nghiệp nuôi sống họ; một tổ chức chỉ dùng đến vũ lực như một phương sách cuối cùng, tuyệt đối không dùng nó như một lời đe dọa suông.
Tất cả những điều này quy lại là nhờ các hoạt động của phụ nữ cả trong lẫn ngoài ngành công nghiệp, vị thế của chúng tôi đã được làm sáng tỏ và củng cố một cách vững chắc.
Công lao chính của Ủy ban Phụ nữ trong vấn đề này là đảm bảo thông tin đầy đủ về những gì đang diễn ra được truyền đi khắp nơi. Các báo cáo của cô Nestor đã tiếp cận được những người phụ nữ ở những nơi mà có lẽ các tiêu chuẩn lao động chưa từng được nghe đến bao giờ. Trong các bản tin của mình, chúng tôi duy trì một dòng chảy liên tục các tin tức về những gì phụ nữ đang làm trong các ngành công nghiệp không chỉ ở đất nước này mà còn ở những nơi khác. Mục tiêu của chúng tôi là làm cho khối lượng đông đảo phụ nữ nước nhà nhận thức được nhu cầu của những người chị em đang làm việc bên máy móc, và khát khao ủng hộ những gì Chính phủ đã quyết định là đúng đắn và công bằng để bảo vệ họ. Chúng tôi đã làm tròn phần việc của mình trong việc chứng minh rằng ngay cả trong chiến tranh, những người phụ nữ kiên định không chỉ ngăn chặn được sự thụt lùi mà thậm chí còn tiến về phía trước.
Tương tự như những gì chúng tôi đã làm cho phụ nữ trong ngành công nghiệp là sự trợ giúp mà chúng tôi có thể mang lại cho Cục Nhi đồng. Julia Lathrop, người đứng đầu cục này, đã kể cho chúng tôi nghe công việc của họ đang bị tụt lại phía sau như thế nào: các sân chơi ở nhiều nơi bị bỏ hoang, công tác chăm sóc thai sản bị đình trệ. Liệu chúng tôi có thể giúp chặn đứng dòng chảy thụt lùi này không? Chúng tôi lập tức quay guồng bộ máy của mình để hậu thuẫn cho cục. Những người phụ nữ ở các vùng mà công việc của cục chưa từng được biết đến nay đã được đánh thức để thành lập các trung tâm điều dưỡng, quan tâm đến các ca sản phụ, và lấy lại hứng thú với những gì đang diễn ra đối với trẻ em. Đó là một công việc mang tính giáo dục cũng như hồi sinh.
Julia Lathrop đã kể với tôi một ngày nọ, ngay trước khi ủy ban giải thể, rằng công việc của cục bà trong vài tháng chúng tôi thúc đẩy còn được mở rộng hơn nhiều so với những gì họ có thể làm được bằng bộ máy của chính họ trong ngần ấy năm.
Khi tính hiệu quả của kênh truyền thông quốc gia bắt đầu được thấu hiểu, điều hiển nhiên là đủ loại yêu cầu đã đổ dồn về: nhờ giúp đỡ để thực hiện đề án này hay dự án nọ, hay xinân ân huệ cho người quen này hay người quen khác. Dù phần lớn các nỗ lực đó hoàn toàn chính đáng, vẫn có một số mang tính chất mập mờ.
Tôi nhớ một minh họa đầy thú vị về vế sau. Ngay sau khi chiến tranh bắt đầu gây ra những mất mát đau thương, Hội các Bà mẹ Ngôi sao Vàng được thành lập, và ủy ban của chúng tôi được yêu cầu chuẩn bị một chiếc băng tay chính thức có thêu một hoặc nhiều ngôi sao vàng. Ý tưởng đó còn chưa kịp lan rộng thì một quý ông có thế lực trong các hội đồng của quốc gia đã đến gặp chúng tôi với yêu cầu: hãy làm chiếc phù hiệu ấy bằng nhung tím—nhung tím chứ không phải màu đen như đã định. Lý do của ông ta là một người bạn của ông, một nhà sản xuất vải nhung, đang tồn đọng hàng ngàn thước vải nhung màu tím mà ông ta muốn tống khứ đi. Chúng tôi không đời nào thay đổi sự lựa chọn về màu sắc và chất liệu của mình.
Một yêu cầu khác đã mang lại vô vàn phiền toái cho tôi lại xuất phát từ hai con người trên cả nước mà tôi ít ngờ tới nhất lại đi tìm sự giúp đỡ từ chúng tôi—Loie Fuller và Sam Hill, những người bạn của Nữ hoàng Marie xứ Romania. Nếu tôi nhớ không lầm, họ muốn chúng tôi đưa bà ấy sang Mỹ vì lợi ích của phe Đồng minh. Chúng tôi đã thỏa hiệp bằng cách hứa sẽ gửi cho bà một thông điệp bày tỏ sự đồng cảm. Tôi được giao nhiệm vụ đảm bảo rằng nó được trang trí thật đẹp, và thông qua mối liên hệ của tôi với Câu lạc bộ Bút và Cọ ở New York, một nhóm gồm các nữ nhà văn và nghệ sĩ, một cuộn giấy da thực sự tuyệt mỹ đã được ra lò. Chúng tôi vô cùng hài lòng với nó đến mức chúng tôi đã làm thêm một cuộn cho Nữ hoàng Elisabeth của Bỉ.
Nhưng làm thế nào để chúng tôi đưa chúng đến tay các Nữ hoàng đây? Ông Gifford của Hội đồng tỏ ra không mấy mặn mà. Sẽ chẳng ai dám đề nghị ông Lansing rằng Bộ Ngoại giao nên nhúng tay vào việc này. Bộ Chiến tranh thì chắc chắn không thể gánh vác việc đó. Những bức thông điệp ấy cứ nằm lăn lóc ở Ủy ban Phụ nữ trong nhiều tuần trời như một gánh nặng và cuối cùng biến thành một trò đùa—một gánh nặng kiêm trò đùa đã trút lên đôi vai tôi khi vào tháng 1 năm 1919, tôi đến Paris để quan sát cho Tạp chí Hội Chữ thập đỏ. Chắc chắn ở Paris sẽ có cách nào đó để trao tận tay họ chứ. Chính Robert Bliss thuộc Đại sứ quán của chúng ta đã đến giải cứu tôi trong trường hợp của Nữ hoàng Marie, và để tôi trút được gánh nặng, ông đã chuyển cuộn giấy đi—tôi được biết là cho một đại diện của Chính phủ Romania, mặc dù tôi chưa bao giờ nhận được bất kỳ sự đảm bảo ngoại giao nào cho thấy nó thực sự đã nằm trên bàn làm việc của Nữ hoàng.
Còn về bức thông điệp gửi Nữ hoàng Elisabeth, bà Vernon Kellogg, một người rất được lòng Nữ hoàng, đang có mặt ở Paris; và biết rằng bà ấy sắp quay lại Brussels, tôi liền vội vã tìm đến với cuộn giấy của mình, kể hết tình cảnh khó khăn, nài nỉ bà gánh hộ, và bà đã tử tế nhận lời. Và đó là lần cuối cùng tôi nghe nhắc đến những bức thông điệp gửi các Nữ hoàng.
Đến cuối năm đầu tiên hoạt động, tôi tin chắc rằng việc thành lập một cơ quan liên bang thường trực chính là Ủy ban Phụ nữ. Tôi mang ý tưởng của mình đến gặp Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Franklin Lane—người đã chứng minh là một người bạn hữu ích của ủy ban trong những thời điểm căng thẳng.
“Tại sao,” tôi hỏi, “Ủy ban Phụ nữ hiện tại lại không thể tiếp tục duy trì sau khi Chiến tranh kết thúc dưới sự quản lý của Bộ Nội vụ? Tại sao nó không được đặt dưới quyền một nữ trợ lý bộ trưởng và được sử dụng như một kênh truyền tải kiến thức đến những phụ nữ ở tận chốn thâm sơn cùng cốc trên đất nước về những gì các cơ quan chính phủ đang làm nhằm nâng cao đời sống nhân dân? Anh biết tầm với của nhiều phát hiện từ các cục nghiên cứu, hay các kế hoạch của họ về y tế, giáo dục và đào tạo hạn hẹp đến nhường nào mà? Tại sao chúng ta không làm cho thời bình những gì chúng ta đang làm cho thời chiến?”
Bộ trưởng Lane rất hứng thú, nhưng ngay trong nội bộ ủy ban thì chẳng có mấy phản hồi. Tiến sĩ Anna bĩu môi gạt đi. Đó là một sự công nhận quá hạn hẹp. Thứ bà muốn là một ghế đại diện trong Nội các, và bà không chịu nhận bất cứ thứ gì khác.
Có thể tiến sĩ Anna không muốn cổ vũ cho những ý tưởng về phụ nữ xuất phát từ một người phụ nữ vốn hững hờ với phong trào phụ nữ bầu cử như tôi. Bà muốn một ủy ban phải tích cực thúc đẩy sự nghiệp tranh đấu quyền bầu cử cho phụ nữ cũng như trong công tác phòng thủ, bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Dưới góc nhìn của bà, phong trào ấy cũng thiết yếu ngang ngửa với việc bảo vệ phụ nữ trong các ngành công nghiệp, thậm chí là cốt lõi đối với vấn đề đó.
Chỉ có một người phụ nữ khác trong ủy ban cũng hững hờ với phong trào bầu cử như tôi, và đó là một trong những thành viên quý giá và xuất sắc nhất của chúng tôi—bà Joseph Lamar ở Atlanta, góa phụ của Thẩm phán Lamar thuộc Tòa án Tối cao Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Bà Lamar và tôi nhìn chung có cùng chí hướng trong công việc của ủy ban, và cả hai đều cho rằng chúng tôi nên đứng ngoài phong trào tranh đấu quyền bầu cử. Điều đó tất nhiên không dễ dàng gì đối với những nhà lãnh đạo kỳ cựu như tiến sĩ Anna và bà Catt, khi mà những nhà hoạt động quyền bầu cử quá khích đang giăng biểu ngữ ngoài Nhà Trắng và van xin bị bắt giam; thế nhưng họ đã thể hiện sự kiềm chế đáng nể. Quả thực, tôi tin rằng sự kiềm chế đó về lâu về dài chính là chiến lược khôn ngoan nhất. Nó chắc chắn đã góp phần giúp cả hai viện của Quốc hội thông qua Tu sửa án thứ Mười Chín vào đầu mùa hè năm 1919, trao quyền bầu cử trên quy mô toàn quốc cho phụ nữ.
Thái độ của tiến sĩ Anna đối với tôi là hoàn toàn có thể hiểu được. Bà quen thuộc và tỏ ra phẫn nộ—như bà đã thẳng thắn nói với tôi—trước một số hoạt động của tôi vốn đi ngược lại với cả niềm tin lẫn lập luận của bà; những hoạt động từng khiến nhiều người mà tôi hết mực coi trọng ý kiến phải ngạc nhiên và tiếc nuối.
Tôi vẫn luôn bất bình trước việc những nhà hoạt động quyền bầu cử quá khích tìm cách hạ thấp công lao mà phụ nữ đã cống hiến cho thế giới trong quá khứ, vẽ nên hình ảnh họ như một chiếc “tấm chùi chân” ngoan ngoãn và quỳ rạp. Tôi cảm thấy họ đã từ chối ghi nhận một cách xứng đáng những thành tựu xã hội và kinh tế tốt đẹp mà phụ nữ đã làm được trong quá trình kiến tạo nước Mỹ. Và vào năm 1909, sau khi chúng tôi tiếp quản tờ American Magazine, tôi đã bùng nổ với một loạt các bài nghiên cứu về những người phụ nữ lỗi lạc của nước Mỹ từ thời kỳ Cách mạng cho đến Nội chiến, bao gồm những nhân vật kiên trung như Mercy Warren, Abigail Adams, Esther Reed, Mary Lyon, Catharine Beecher, các thủ lĩnh chống chế độ nô lệ kiên cường—mà không bỏ qua hai người mà tôi hết lòng ngưỡng mộ dẫu không hoàn toàn đồng quan điểm với họ, đó là Elizabeth Cady Stanton và Susan B. Anthony.
Tôi nghĩ mình đã làm khá tốt, nhưng hóa ra nó lại không hề được chào đón. Và bồi đắp lên trên đó, tôi đã đóng đinh vị trí của mình trong tâm trí tiến sĩ Anna cùng nhiều bằng hữu của bà thông qua một loạt các bài tiểu luận ngắn mà tôi cuối cùng đã tập hợp lại dưới nhan đề “Nội trợ là một nghề” (The Business of Being a Woman). Nựa chọn nhan đề ấy chẳng khác nào một tấm vải đỏ chọc giận đám bò mót trước nhiều người bạn quá khích của tôi. Ý tưởng cho rằng phụ nữ có một thiên chức do tự nhiên và xã hội giao phó vốn quan trọng hơn cả đời sống công cộng đã khiến họ nổi giận; ngay cả khi điều đó là thật đi nữa, họ cũng không muốn nó bị nhấn mạnh.
Với suy nghĩ của mình, tôi không thể đứng lên chiến đấu vì quyền bầu cử, dẫu cho tôi không chống lại nó. Hơn nữa, tôi tin rằng quyền ấy rồi sẽ đến, bởi trong tâm trí của phần đông mọi người, nền dân chủ chỉ là một cỗ máy, và động lực của nó chính là lá phiếu. Đa số những người ủng hộ quyền bầu cử của phụ nữ nhìn thấy sự tái sinh, một thế giới mới thông qua các điều luật và hệ thống; nhưng tôi lại nhìn nhận dân chủ như một đức tin tâm linh. Tôi không phủ nhận rằng nó phải được diễn giải qua các điều luật và hệ thống, nhưng công sức của những thứ ấy chỉ có thể đào sâu và mở rộng khi tinh thần lớn lên. Điều tôi lo sợ ở phụ nữ là họ sẽ thay thế tinh thần bằng câu chữ, làm suy yếu vị trí chiến lược mà Tự nhiên và xã hội đã ban cho họ để giữ cho ngọn lửa tinh thần trong nền dân chủ luôn sống mãi, đưa nó lên vị trí dẫn đầu của dòng chảy sự sống, và rèn luyện tuổi trẻ cho sứ mệnh của nó. Nhưng những ý tưởng ấy thì có cơ hội nào khi đứng cạnh chương trình hành động thực tế của những người tranh đấu cho quyền bầu cử chứ?
Các lập luận của tôi một lần nữa lại chẳng mang chút cảm xúc nào. Chúng chẳng hứa hẹn gì về việc sẽ nhanh chóng cải tổ cuộc sống khắc khổ mà hầu hết phụ nữ đang phải trải qua và vẫn luôn trải qua. Những nhà tranh đấu quyền bầu cử vẽ ra một xã hội được đổi mới, tái sinh, gột sạch tham nhũng và bất công, tất cả chỉ được thực hiện bằng một cú phất tay duy nhất—trao quyền bầu cử cho phụ nữ. Họ sẽ không bao giờ phản bội niềm tin ấy—cái ảo tưởng xưa cũ mà họ bám lấy một cách ngoan cố rằng bản tính phụ nữ “tốt đẹp” hơn đàn ông và chỉ cần một cơ hội chính trị để thanh tẩy xã hội khỏi nhơ nhớp. Tôi không thể đồng tình với điều đó.
Chẳng có gì lạ khi tiến sĩ Anna hoài nghi tôi, và mang trong lòng một sự bực dọc nhất định khi tôi là thành viên trong ủy ban của bà. Bất chấp tất cả những điều đó, khi những tháng ngày trôi qua, bà và tôi đã trở thành những người bạn ngày càng thân thiết. Bà là một con người tài năng, nhiệt huyết và cống hiến trọn vẹn cho lý tưởng của mình đến mức tôi luôn dành cho bà sự ngưỡng mộ chân thành. Giờ đây, tôi nhận ra bà là một người vô cùng ấm áp và giàu lòng nhân ái, lại vừa có sự sắc sảo đầy thú vị trong thái độ gay gắt đối với đàn ông và những thói hư tật xấu của họ.
Một sự kiện đáng nhớ trong lịch sử ủy ban chúng tôi là buổi tụ họp hoành tráng diễn ra vào một buổi tối tại một nhà hát ở Washington. Tất cả chúng tôi ngồi trang trọng trên bệ sân khấu, còn trong các lô ghế là một số thành viên Nội các cùng chính Tổng thống Wilson, ít nhất là trong một phần của buổi tối hôm đó. Tiến sĩ Anna đã có một bài phát biểu xuất sắc, thỉnh thoảng lại tung ra vài câu châm chọc nam giới khiến họ phải giật mình, mang lại niềm thích thú đặc biệt cho Tổng thống.
“Tiến sĩ Anna,” tôi nói với bà vào ngày hôm sau, “bà là một trong những người phụ nữ kích thích sự tò mò nhất mà tôi từng biết, một tay sát gái chính hiệu.” Nhưng lúc này chúng tôi đã đủ thân thiết để bà có thể bật cười sảng khoái. Tôi không dám chắc, nhưng có lẽ bà cũng cảm thấy hơi hãnh diện một chút.
Khi công việc của ủy ban khép lại và bà gửi đi bản báo cáo cuối cùng, chính thức cảm ơn từng người chúng tôi vì đóng góp của mình vào cái mà tôi vẫn luôn coi là thành quả của riêng bà, bà đã đính kèm trong phần của tôi một lá thư tay cá nhân—thứ mà tôi sẽ mãi mãi trân trọng như một minh chứng cho tấm lòng cao cả và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ tuyệt vời này.
Hiển nhiên là bà vẫn nhớ có lúc bà đã từng bực bội với tôi ra sao. “Cô nói quá nhiều đấy, cô Tarbell.” Đúng vậy—tôi luôn thế nếu có một khán giả chịu lắng nghe. “Tôi ghét những kẻ hững hờ,” bà từng tuyên bố khi tôi cứ khăng khăng cân nhắc các luồng ý kiến. Quả thực bà ghét thế; trong đời mình, bà chưa từng biết đến sự nản lòng hay những mối bận tâm của thái độ hững hờ là gì.
Nhưng giờ đây, bà viết thư cảm ơn tôi vì điều mà bà gọi là “sự thấu hiểu và lòng tốt” của tôi dành cho cái mà bà gọi là “những sai lầm và sơ suất” của bà. Chính xác ý bà là gì, tôi cũng không rõ. Chỉ cần bà kết thư bằng lời “kính trọng chân thành và thân ái” là quá đủ đối với tôi—đủ bởi tôi biết bà hiểu rõ điều mà tôi chưa từng thốt thành lời, rằng đối với bà, tôi chưa bao giờ có gì ngoài một sự kính trọng chân thành—một sự kính trọng mà qua những năm tháng gắn bó đã biến thành tình cảm sâu sắc thực sự.
Công việc chuyên nghiệp duy nhất tôi làm trong giai đoạn này là vài tuần đi diễn thuyết theo một hợp đồng đã ký từ trước khi chúng tôi bước vào cuộc chiến.
Tôi từng nhắc đến sự tĩnh lặng và vững vàng mà người dân trên khắp đất nước dường như đã thể hiện khi đón nhận lời kêu gọi tuyển quân vào năm 1916 lúc tôi đang đi lưu diễn quanh các tụ điểm Chautauqua—cũng như niềm xác tín của tôi khi chứng kiến họ ở miền Trung Tây vào thời điểm chiến tranh được tuyên bố tháng 4 năm 1917, rằng họ đã sớm định đoạt tâm thế và sẵn sàng ra trận.
Nhưng tôi phải thú nhận rằng mình hoàn toàn không chuẩn bị tinh thần cho những gì tôi bắt gặp ở khắp mọi nơi vào đầu năm 1918, khi di chuyển chủ yếu ở miền Nam, miền Trung Tây và Tây Nam. Đất nước không còn tĩnh lặng, không còn trầm ngâm nữa. Tại mọi góc phố, quanh mỗi bàn ăn, người ta đang bàn chuyện chiến tranh với thái độ cảnh giác, nghi ngờ và quyết liệt. Toàn bộ các vật dụng của đời sống đã được khoác lên màu áo chiến tranh; các bục diễn thuyết nơi tôi đứng nói chuyện được quấn quanh bởi những lá cờ đến mức tôi thường phải cẩn thận bước đi mỗi khi lên xuống. Tôi nhận ra mình cũng bị kỳ vọng phải đeo một lá cờ—chứ không phải một bó hoa cài ngực. Tại mọi bữa trưa hay bữa tối mà tôi làm khách, mọi lời tuyên bố đều mang sắc đỏ, trắng và xanh.
Khi bạn đang trong một chuyến đi diễn thuyết, một trong những chỗ dựa hiếm hoi của bạn chính là sạp báo. Tôi có thói quen lục lọi các giá bưu ảnh để tìm những điểm tham quan địa phương—những dịp lễ hội của vùng. Nhưng giờ đây, tất cả những thứ đó đã biến mất. Các giá trưng bày chật cứng hình ảnh binh lính trong vô số các hoạt động của họ, từ lớn lao cho đến tầm thường—không chỉ trong các cuộc duyệt binh, mà cả khi đang “làm nhiệm vụ gọt khoai tây”. Có những bức ảnh ly kỳ về những cuộc xung phong của kỵ binh, những chuyến hành quân băng qua đồng quê, những chiếc máy bay điều hướng các cuộc tập trận dã chiến, những cảnh tượng cảm động trong bệnh viện, những khoảnh khắc vui tươi trong các trò chơi, và vô vàn bức ảnh sướt mướt để gửi cho các chàng trai.
Một sự thay đổi đã bao trùm lên các ấn phẩm bày bán ở sạp báo. Những tạp chí nghiêm túc mà trước đây tôi chưa từng thấy ở một số thị trấn miền Tây Nam nay đã xuất hiện ở đó. “Bất cứ thứ gì liên quan đến lòng yêu nước đều bán rất chạy,” một nhân viên bán báo ở nhà ga xe lửa nói với tôi. “Cô xem những cuốn sách chúng tôi đang bán này!” Và chúng đây rồi, những Hankey, Empey, Boyd Cable, đang tranh giành sự chú ý với “Slashaway, the Fearless,” “Gunpowder Jim,” “The Mystery of Demon Hollow.”
Thư viện của hàng tá thị trấn đã chuyên doanh hóa các loại sách chiến tranh. Tại Council Bluffs—tương đương một thị trấn cổ kính, rộng lớn, giàu có và văn minh—tôi tìm thấy trên một chiếc kệ mở ngay bên bàn làm việc của người thủ thư cuốn “Lịch sử Châu Âu Hiện đại” của Hazen, “Gallipoli” của John Masefield, “Chiến tuyến Cũ,” các bài tiểu luận của André Chéradame, tác phẩm “Giữa St. Denis và St. George” của Hueffer, và chục đầu sách khác. Tất cả đều in hằn dấu hiệu của việc đã được đọc qua rất nhiều.
Còn về các tờ báo, chúng hoàn toàn bị chi phối bởi chiến tranh. Đó là trách nhiệm của tôi trong việc đảm bảo rằng chúng đang dành sự quan tâm thỏa đáng cho các bản tin phát hành từ ủy ban của chúng tôi. Và chúng thực sự đã làm thế—những người phụ nữ ở địa phương đã lo liệu việc đó. Các chủ bút có thể và đã cằn nhằn vì Washington cứ ném vào họ một khối lượng thông tin và gợi ý quá tải mà họ thường cảm thấy chỉ là “tin cũ” hay sự lặp lại; nhưng họ vẫn nghiến răng làm cho tròn trách nhiệm của mình.
Thái độ của giới báo chí không hề mang theo sự tôn kính thái quá dành cho những cái tên lớn, đặc biệt là khi cái tên lớn đó lại là của kẻ thù. Tôi đang ở Texas khi bức điện mật Zimmermann được Tổng thống công bố. Không gì có thể buồn cười hơn thái độ đầy khinh miệt của một công dân Texas bình thường mà tôi có dịp gặp gỡ. Một vài tờ báo địa phương thậm chí còn chẳng buồn in đầy đủ tên của vị quý nhân kia mà chỉ gọi cộc lốc là “Zim”. Bạn sẽ có ấn tượng rằng một cuộc tấn công của liên quân Đức-Nhật vào biên giới Tây Nam của chúng ta sẽ chỉ là một chuyện vặt vãnh để người dân Texas dọn dẹp sạch sẽ. Tất cả những gì họ đòi hỏi, tôi được nghe kể, là Chú Sam hãy khoanh tay đứng nhìn. Họ sẽ tự lo lấy mọi thứ. Chẳng có mấy sự giận dữ mà chỉ toàn là sự khinh miệt.
Khắp mọi nơi, các chàng trai trẻ chính là tâm điểm thu hút mọi sự quan tâm. Ở miền Tây Nam và dọc theo bờ biển Đại Atlantic, tôi gần như sống chung với họ. Họ chen chúc ở mọi nhà ga xe lửa, hối hả lao lên mỗi chuyến tàu. Hầu như chẳng có đêm nào mà tôi không bị đánh thức bởi tiếng họ đòi giường ngủ trên những toa tàu giường nằm vốn đã quá tải. Những đoàn tàu chở quân lướt qua bạn dọc đường, với đủ loại khẩu hiệu nguệch ngoạc bằng phấn trên thành toa. Dù xuất phát từ đâu, họ cũng chắc chắn tuyên bố rằng điểm đến của họ là Berlin.
Tất nhiên, sẽ là sai sự thật nếu cho rằng toàn bộ các binh sĩ trẻ tuổi đều vạm vỡ, vui tính, nhiệt huyết và dũng cảm; nhưng ấn tượng chung đọng lại chắc chắn là sự to lớn, sự phóng khoáng và niềm phấn khích tột độ trong sứ mệnh này. Người ta dần nuôi dưỡng một niềm tự hào mãnh liệt về họ, một sự thiếu kiên nhẫn trước bất kỳ lời chỉ trích nào nhắm vào hành động của họ, và một khát khao cháy bỏng được chiến đấu thay cho họ, vì bản thân không thể sát cánh chiến đấu cùng họ.
Khi băng qua cung đường Apache Trail vào tháng 3 năm 1918, chúng tôi đã đón ba thanh niên lặng lẽ, xù xì đến từ một chốn hoang mạc nào đó đang tìm đường đến trại tập trung để tòng quân. Họ là những người bạn đồng hành đầy cuốn hút—rụt rè, cảnh giác, đa nghi, lần đầu tiên khám phá những sắp đặt bình thường của đời sống đường sắt. Tôi nhớ đến một chàng trai hoang dã tuyệt vời mà tôi đã đồng hành suốt một ngày. Chúng tôi phụ thuộc vào các quán ăn dọc đường để kiếm đồ ăn và rồi tá hỏa khi phát hiện ra chuyến tàu của mình đã trễ sáu giờ đồng hồ. Điều đó đồng nghĩa với việc sẽ chẳng có bữa sáng nào cho đến tận mười một giờ trưa. Dĩ nhiên là cậu nhóc đó đói ngấu nghiến. Cậu ta ngấu nghiến ăn rồi mua bất chấp mọi thứ: bánh mì kẹp, bánh ngọt, trứng luộc chín, cả một ôm đầy những gói đồ ăn. Bạn gần như có thể nghe thấy cậu ta đang tự lẩm bẩm với chính mình: “Họ sẽ không tài nào bắt bẫy tôi lần nữa đâu.” Bọn họ đã chơi xỏ cậu ta một vố, nhưng lần tới thì cậu ta sẽ luôn sẵn sàng đối phó.
Sự hào hứng của các chàng trai đối với những gì đang chờ đợi họ phía trước là không bao giờ cạn kiệt. Họ không hề sợ hãi khi phải bàn về những kịch bản tồi tệ nhất. Khi chiếc tàu Tuscania chìm xuống, những người đang trên đường ra bến cảng để lên tàu vượt biển không hề mảy may nao núng trước hiểm nguy của chuyến hải trình; nhưng hết lần này đến lần khác, tôi cảm thấy thảm kịch ấy chỉ càng làm bùng lên khát khao được trực tiếp đối đầu với kẻ thù của họ.
Sự quan tâm của những người đàn ông lớn tuổi dành cho các binh sĩ trẻ là vô tận. Họ giống hệt những cậu nhóc tì ở điểm đó. Lũ trẻ không tài nào cưỡng lại sức hút của một người lính. Thật đáng kinh ngạc khi thấy một đứa bé ba tuổi lẻn ra khỏi vòng tay mẹ, đi dọc lối đi xuống chỗ một người lính trẻ đang ngồi, lặng lẽ ngắm nhìn anh ta với đôi mắt mở to, rồi táo bạo hơn một chút thì vươn tay vuốt ve trang phục của anh, và còn táo bạo hơn nữa khi ngỏ ý xin được đội thử chiếc mũ của người lính.
Dù có là lính hay không, đàn ông vẫn bàn chuyện chiến tranh, bàn suốt thời gian họ không đọc báo. Thật khó mà hiểu nổi tin tức đã len lỏi đến những vùng xó xỉnh hẻo lánh ấy bằng cách nào. Khi đi qua cung đường Apache Trail, tôi đã giật mình khi thấy một người đàn ông nhô lên từ chốn hoang mạc—cảm giác là vậy—và hỏi xem chúng tôi có thêm tin tức gì về “những khẩu đại bác lớn đó không,” hay liệu có ai tìm ra “cách mà họ làm điều đó chưa.” Chúng tôi đưa cho ông ta tất cả số báo mà mình có, và các hành khách đã hào hứng chia sẻ những lý giải của họ về điều bí ẩn ấy.
Đi kèm với sự quan tâm không dứt đó là một quyết tâm vô song trong việc đảm bảo mọi gợi ý của Chính phủ phải được thi hành triệt để. Khi Chiến dịch Công trái Tự chiến Thứ ba mở màn, tôi đang di chuyển qua một vùng có rất nhiều người gốc Đức định cư.
“Thái độ của họ thế nào?” tôi hỏi một phụ nữ đang tích cực tham gia công tác của ủy ban chúng tôi.
“Cả thị trấn này chỉ có duy nhất một hộ gia đình như thế,” cô đáp. “Sau khi được năm vị tai to mặt lớn của chúng ta đến thăm nhà vận động, họ đã mua tới 10.000 đô la Trái phiếu Tự do.”
Tôi không biết liệu những vị tai to mặt lớn ấy có mang theo những sợi dây thừng trong tay khi họ đến cuộc hẹn đó hay không, nhưng tôi đã thực sự nhìn thấy ở một thị trấn nọ một nhóm công dân diễu hành với những đoạn dây thừng vắt trên yên ngựa cùng các tấm biểu ngữ mang dòng chữ “Hãy cẩn thận”.
Tất cả các bên liên quan đều đã thống nhất rằng tôi sẽ nói chuyện về những gì đang diễn ra ở Washington dưới góc nhìn của mình. Thỉnh thoảng tôi lại được người bảo trợ “cho mượn” để hỗ trợ cho chiến dịch này hay chiến dịch khác. Có bận tôi phát biểu từ bích chương của “Oklahoma Billy Sunday,” một nhà truyền giáo phục hưng đầy ấn tượng và cực kỳ thành công, người luôn mô phỏng các chiến dịch của mình theo người tiền bối vĩ đại cùng tên. Một chiến dịch công trái tự do đang diễn ra, và không một buổi tụ tập nào—thậm chí cả một buổi lễ phục hưng, và chắc chắn là không một buổi diễn thuyết nào—được phép diễn ra tại thị trấn nếu không dành thời gian cho vị chủ ngân hàng nghiêm nghị đứng đầu ủy ban địa phương. Ông ta mở màn buổi họp và để lại tôi trong nỗi run rẩy về những gì có thể giáng xuống đầu những kẻ dám bất đồng với ông ta về quy mô tiền mua trái phiếu. Tiếp theo là những bản thánh ca ầm ĩ và những lời cầu nguyện, bị ngắt quãng để nhường chỗ cho tôi kể câu chuyện của mình. Nó mới tẻ nhạt và thiếu cảm hứng làm sao khi bị kẹp giữa sự thúc giục và kích động ấy!
Càng đi nhiều, tôi càng nhận ra rằng mình thực sự chẳng biết nhiều hơn về đề tài của mình so với những người dân ở Bisbee, Arizona, hay Little Rock, Arkansas—bởi họ quá kiên trì khai thác mọi nguồn thông tin; nhưng chắc chắn tôi ít biết hơn những điều vốn dĩ không có thật. Thật tất yếu, khi bị khuấy động đến tận tâm can bởi dòng chảy liên tục của bao nhiêu sinh mạng trẻ tuổi hướng tới các chiến trường châu u, họ đã “nhìn thấy màu đỏ” của sự thù hận và nghi kỵ. Tôi vừa không thể cung cấp cho họ những thông tin thâm cung bí sử mà họ thèm khát, vừa chẳng thể kích động lòng thù hận ở họ—thứ mà đôi khi tôi cảm thấy họ tuyệt đối cần đến để duy trì lòng dũng cảm của mình.
“Cô là người theo chủ nghĩa hòa bình phải không?” một công dân nghiêm nghị trên sân ga xe lửa ở Missouri đã chặn hỏi tôi vào một buổi sáng khi tôi vừa rời khỏi thị trấn nơi tôi có bài phát biểu tối hôm trước, và nơi tôi từng lên án mong muốn thù hận mà tôi đang cảm nhận được.
“À,” tôi né tránh, “tôi ủng hộ việc giành chiến thắng trong cuộc chiến này.”
“Cô đã ký vào đây chứ?” Ông ta rút ra một danh sách tên từ thời tiền chiến, một danh sách của hội hòa bình trên đó có xuất hiện tên tôi. Đứng đầu danh sách ấy là Jane Addams—“người phụ nữ đó,” cách ông ta gọi bà.
“Tôi tự hào khi được xếp chung mâm với ‘người phụ nữ đó’,” tôi phẫn nộ đáp. “Bà ấy là một trong những nhân vật vĩ đại nhất thế giới, và nếu thế giới có thể hoặc chịu lắng nghe những lời khuyên của bà thì các anh giờ này đã chẳng phải bỏ mạng ở Pháp.”
Chẳng có thời gian để tranh cãi hay bị bắt giữ, bởi đoàn tàu của tôi đã đến. Tôi bước lên tàu, để lại phía sau những ánh nhìn hằm hằm của không chỉ một thính giả.
Nhưng chính những chàng trai trẻ mới là những người đang hành động. Họ đã hiến dâng cả máu xương, và trái tim họ đi liền với sự hiến dâng ấy. Tất cả họ đều giống như một lão già mà tôi từng nghe thấy thốt lên đầy nghẹn ngào một ngày nọ: “Tôi không chịu nổi khi nghĩ đến cảnh một đứa con của chúng ta bị thương.”
Sẽ là viển vông nếu phờ phạc giả vờ rằng trên vùng lãnh thổ mà tôi đã đi qua kể từ thời điểm cắt đứt quan hệ với nước Đức cho đến khi ký Hiệp định Đình chiến—trên hai mươi lăm bang khác nhau, với khoảng cách chừng hai mươi lăm ngàn dặm—không có chút dấu hiệu nào của sự nổi loạn; nhưng theo những gì tôi chứng kiến, chúng rất hiếm hoi và chưa bao giờ bộc lộ công khai. Thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp một người đàn ông hay người phụ nữ dám thì thầm với tôi khi kéo tôi vào một góc: “Tôi là người theo chủ nghĩa hòa bình. Chúng ta phải tìm một con đường khác.” Một quan điểm mà tôi hoàn toàn tâm đắc. Nhưng người đàn ông hay phụ nữ đó sẽ không đời nào dám thốt lên câu ấy ngoài góc phố mà không đánh đổi bằng sự nguy hiểm đến tính mạng của mình.
Mọi người nhìn chung không có mấy hứng thú với những gì sẽ xảy ra sau khi Chiến tranh kết thúc. Họ mặc định rằng nước Đức sẽ bị đánh đuổi. Đó là mục đích họ đang dốc sức vì nó. Nhưng những sự điều chỉnh sẽ được thực hiện ra sao—điều đó không làm họ bận tâm sâu sắc. Thứ họ muốn là chấm dứt tất cả và đưa các chàng trai trở về nhà. Khi điều đó hoàn thành, họ sẵn sàng quên đi, thanh toán hóa đơn—nhưng tuyệt đối không được phép có thêm cái trò vô nghĩa này trên thế giới nữa. Ngay cả những kẻ hung hăng nhất đôi khi cũng tâm sự điều đó với bạn.
Tất cả những quan sát ấy—những điều mà tôi e rằng mình đã nói quá nhiều với các thành viên trong ủy ban khi trở về—đã củng cố thêm niềm xác tín của tôi rằng, bất chấp cái giá phải trả là gì, không còn nghi ngờ gì nữa việc đất nước sẽ kiên quyết đi đến cùng của cuộc chiến. Niềm xác tín đó chưa bao giờ mạnh mẽ hơn thế vào khoảnh khắc Hiệp định Đình chiến đột ngột được ký kết.