Như trường hợp của Steffens đã cho thấy, ở tòa soạn McClure’s luôn có rất nhiều sự cân nhắc, mổ xẻ một đề tài trước khi một phóng viên nào đó được giao nhiệm vụ tiến hành. Gợi ý ban đầu có thể xuất phát từ cái đầu và túi áo luôn đầy ắp ý tưởng của ông McClure, từ những cuốn sổ tay của ông Phillips vốn gắn bó với ông chẳng khác nào đôi kính tròng mắt, từ những lá thư tín đến hằng ngày, hay từ một lời tình cờ nói ra của một vị khách ghé thăm. Tất cả chúng tôi đều đem những mảnh thông tin thu lượm được đóng góp vào chung. Chúng phải liên quan đến cuộc sống đương thời, đến những gì đang thu hút sự quan tâm của công chúng. Một ý tưởng, một khi đã được khơi xướng, sẽ lớn dần lên cho đến khi gắn liền với một ai đó; và một khi đã bắt đầu, nó tiếp tục phát triển tùy theo phản hồi từ độc giả. Không có phản hồi — thế là hết các chương tiếp theo. Phản hồi tích cực — bao nhiêu chương tùy theo lượng tư liệu cho phép.
Chính nhờ quá trình này mà bài viết dài tiếp theo của tôi đã ra đời: “Lịch sử Công ty Standard Oil.”
Làn sóng các tập đoàn độc quyền ùa tới sau khi cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ kết thúc và sự “trở lại của thịnh vượng” đã làm dấy lên bao nỗi bất an và hoang mang trong lòng công chúng. Nó đi ngược lại với triết lý của họ, trái ngược với niềm tin rằng nếu có được cơ hội tự do và cạnh tranh tự do, con người ta sẽ luôn có đủ trí tuệ và nghị lực để ngăn chặn ngay cả những nhà lãnh đạo tài ba nhất độc quyền hóa một ngành công nghiệp. Điều gì đang cản trở sự vận hành tự do của các thế lực mà họ vẫn hằng đặt trọn niềm tin? Họ từng trông cậy vào Luật Chống độc quyền Liên bang được thông qua mười năm về trước. Phải chăng nó hoàn toàn vô dụng? Trông có vẻ là như vậy.
Đã có rất nhiều cuộc bàn tán xoay quanh vấn đề này tại tòa soạn, và cuối cùng, ý tưởng sử dụng câu chuyện về một tập đoàn tiêu biểu để minh họa cho câu hỏi bộ máy ấy lớn lên bằng cách nào và vì sao lại hình thành đã nổi lên hàng đầu. Thế còn tập đoàn lớn nhất trong số đó — Công ty Standard Oil — thì sao?
Tôi đoán chắc mình đã thổ lộ khá thoải mái về những ký ức cũng như ấn tượng của bản thân đối với quá trình phát triển của nó. Từ thời thơ ấu trở đi, đó đã là một sợi chỉ bền chắc tự đan cài vào bức tranh cuộc đời tôi.
Tôi cất tiếng khóc chào đời ngay trước thời điểm dầu mỏ được phát hiện, và mảnh đất nơi tôi sinh ra cách giếng dầu đầu tiên ấy chưa đầy ba mươi dặm. Phát kiến đó đã định hình cuộc đời cha tôi, giải cứu ông khỏi thời kỳ suy thoái kéo dài đã tàn phá thập niên 1850, giống như cách nó đã cứu vớt hàng ngàn người khác. Tôi lớn lên cùng những tháp khoan dầu, bồn chứa dầu, đường ống dẫn, nhà máy lọc dầu và các sở giao dịch dầu mỏ. Tôi còn nhớ những gì đã xảy ra tại Vùng Dầu mỏ vào năm 1872, khi các công ty đường sắt và một nhóm nhà lọc dầu bên ngoài mưu toan chiếm đoạt những gì mà biết bao người đã gầy dựng nên. Đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi về một cuộc cách mạng. Ngay lập tức, từ ấy trở nên thiêng liêng đối với tôi. Đấu tranh chống lại bất công là đặc quyền và cũng là bổn phận của bạn. Tôi vô cùng phấn khích khi không lâu sau đó, tôi tình cờ đọc được cuốn “Khế ước xã hội” của Rousseau và nghiền ngẫm những lời biện hộ của ông cho quyền được nổi dậy.
Tôi chỉ láng thoáng ý thức được những gì đã diễn ra trong thập niên tiếp theo — thập niên mà Công ty Standard Oil hoàn tất sự độc quyền của mình. Chính tác động lên những con người xung quanh mới là điều làm tôi thổn thức, đó là lòng căm thù, sự nghi kỵ và nỗi sợ hãi đã nhấn chìm cả cộng đồng. Như tôi đã kể, bi kịch con người ấy đã lay động sâu sắc đến mức tôi từng có một nỗ lực yếu ớt và vô quả nhằm nắm bắt lấy nó, gói ghém nó vào một cuốn tiểu thuyết.
Vở kịch cuộc đời vẫn tiếp tục diễn ra trong khoảng thời gian tôi ở nước ngoài, thậm chí còn bước thẳng vào chính gia đình chúng tôi khi một người cộng sự của cha tôi — bị phá sản bởi tình hình phức tạp lúc bấy giờ — đã tự sát, để lại cho cha tôi những khoản giấy nợ. Để trả nợ trong cơn hoảng loạn của năm 93, cha buộc phải làm điều mà trong nếp sống giản dị của ông là bất hợp lý và đầy nhục nhã: đem thế chấp ngôi nhà của gia đình. Trong khi những bi kịch cá nhân được kể qua những lá thư của mẹ, thì anh trai tôi lại viết cho tôi những dòng miêu tả sống động về những gì đang diễn ra trong thế giới dầu mỏ bên ngoài: về sự trì trệ của Ủy ban Thương mại Liên bang mà từ đó tất cả các hãng độc lập từng đặt rất nhiều kỳ vọng, về những doanh nghiệp lụi tàn trong lúc mòn mỏi chờ đợi phán quyết; về vụ kiện ở Ohio đã đẩy tập đoàn này vào công cuộc tái cơ cấu, một thắng lợi pháp lý chẳng hề làm suy suyển vị thế thống trị hay kìm hãm sự bành trướng của nó.
Dù mọi chuyện thật ảm đạm là thế, tôi vẫn vô cùng phấn khởi trước những bản báo cáo của anh trai tôi về sức mạnh ngày càng lớn mạnh của một nỗ lực hợp tác được liên kết chặt chẽ giữa các nhà sản xuất, lọc dầu, vận chuyển và tiếp thị, chính là Công ty Pure Oil. Lối thoát duy nhất khả dĩ cho những ai muốn kinh doanh độc lập, ông lập luận đầy thuyết phục, là tự xây dựng liên minh cho riêng mình, ít phụ thuộc hơn vào các phong trào kích động, chính trị, luật pháp, mà hãy dựa nhiều hơn vào nền tảng kinh doanh vững chắc. Hãy chiến đấu nếu cần thiết, nhưng trên hết hãy làm ăn cho đàng hoàng.
Khi tôi còn ở Paris, mớ hỗn độn gồm những ký ức, ấn tượng, sự phẫn nộ và niềm hoang mang ấy đã kết tinh thành một thứ gì đó có hình thù rõ rệt nhờ tác phẩm xuất sắc “Của cải chống lại Thịnh vượng chung” của Henry D. Lloyd. Tôi từng nghe ngóng về cuốn sách này qua thư từ quê nhà, nhưng bản sao đầu tiên lại được đem đến cho tôi bởi người bạn người Anh H. Wickham Steed — người vừa trải qua hai năm tiếp xúc với chủ nghĩa xã hội Đức và đánh giá rất cao tác phẩm này. Chẳng phải đây là bằng chứng thuyết phục cho thấy chủ nghĩa tư bản vốn dĩ mâu thuẫn với một đời sống kinh tế công bằng và chính trực hay sao? Chẳng phải chủ nghĩa xã hội là lối thoát duy nhất, như suy nghĩ của Lloyd đó sao?
Tôi có cách nghĩ đơn giản hơn về vấn đề này. Theo góc nhìn của tôi, gốc rễ của câu chuyện mà ông Lloyd đã kể lại một cách đầy kịch tính không nằm ở bản thân chủ nghĩa tư bản, mà nằm ở sự phớt lờ công khai đối với các chuẩn mực đạo đức kinh doanh đàng hoàng từ phía giới tư bản.
Việc đọc sách và những cuộc thảo luận đã khơi dậy sự thèm muốn trong tôi; và khi tôi trở về Mỹ vào năm 1894, lại được nghe kể lặp lại trong vòng tay gia đình những gì đang diễn ra, khát khao thuở nào muốn ghi lại vở kịch ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ. Những ghi chép tôi từng thực hiện hồi ở Chautauquan đang nằm ở đâu cơ chứ? Chúng đang phủ bụi trong căn phòng trên tháp. Tôi tìm lại chúng, và nhận ra mình đã đúng đắn biết bao khi chọn Pithole làm cảnh mở đầu. Chẳng có nơi nào trong lịch sử dầu mỏ lại mang tính kịch tính như Pithole. Nó đã làm giàu và tàn phá biết bao nhiêu con người! Thế nhưng “cánh cửa địa ngục đã sụp đổ” vào năm 1866. Giờ đây — năm 1894 — những gì còn sót lại của nó là gì? Anh em tôi đã lái xe đến đó để tận mắt mục sở thị.
Ba mươi năm trước, Pithole từng là một thành phố với khoảng hai mươi ngàn cư dân nam nữ, cùng đầy đủ cơ sở hạ tầng cho một cuộc sống định cư lâu dài. Giờ đây, trước mắt tôi chỉ là những bãi đất hoang tàn chẳng còn lấy một dấu tích nào của thị trấn cũ. Chúng tôi đã trải qua một ngày dài đằng đẵng cố gắng định vị những giếng dầu nổi tiếng, tìm lại khu xưởng bồn chứa của cha tôi — nơi từng mang lại nguồn lợi nhuận lớn chừng nào khi Pithole còn hưng thịnh, và lần theo phần móng của Khách sạn Bonta, nơi từng cung cấp vật liệu để dựng nên ngôi nhà của chúng tôi ở Titusville. Ngày hôm ấy để lại trong chúng tôi cảm giác u sầu về tính vô thường của những nỗ lực nhân gian; và quan trọng hơn cả, nó cho tôi thấy rằng nếu muốn tái dựng lại thị trấn ấy cùng các hoạt động và con người nơi đây, muốn phác họa nên thời kỳ hưng thịnh lẫn lụi tàn của nó, tôi buộc phải quay về với các hồ sơ tài liệu, bản đồ và hồi ký; rằng tôi phải thực hiện một công cuộc điều tra dài hơi và nghiêm túc trước khi bắt đầu viết. Thế nhưng, khi đã có trong tay tư liệu rồi, liệu tôi có đủ khả năng để thổi hồn vào chúng, để tạo nên vở kịch mà tôi hằng cảm nhận được hay không? Tôi thừa biết rằng trước khi có thể sáng tạo, người ta phải là một nghệ sĩ cái đã. Mà tôi thì chẳng phải nghệ sĩ.
Cuộc gọi giục giã lên đường viết cuốn tiểu sử về Napoleon của ông McClure đã chấm dứt mọi sự do dự trong tôi; và khi Napoleon vừa hoàn thành, tiếp đó lại là Lincoln cùng cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha - Mỹ — chẳng còn thời gian đâu để nghĩ đến dầu mỏ, hay thậm chí để vui mừng trước thành công cuối cùng của ngành công nghiệp tích hợp mà anh tôi đã gắn liền vận mệnh của mình vào đó.
Thế nhưng, giờ đây tôi lại một lần nữa phải đối mặt với niềm đam mê thuở trước. Khát khao làm một điều gì đó với nó, ghi lại những gì mình từng chứng kiến, lại trỗi dậy chiếm lĩnh tâm trí tôi. Liệu có khả năng tiếp cận câu chuyện theo chiều hướng lịch sử, tạo nên một bài tường thuật có đầy đủ tài liệu chứng minh hay không? Càng trò chuyện nhiều, tôi càng thêm phần quả quyết rằng điều đó hoàn toàn làm được. Tuy nhiên, kể lại câu chuyện sao cho mọi người chịu đọc lại là một chuyện hoàn toàn khác. Cuối cùng, ông Phillips đã giao phó cho tôi nhiệm vụ phác thảo một đề cương về những gì tôi cho là khả thi. Chúng tôi không thể tiến hành nếu không có sự chấp thuận của ông McClure, nhưng lúc ấy ông đang lâm bệnh và đang ở châu Âu cùng toàn thể gia đình.
John Phillips nói: “Hãy qua đó đi, đem bản đề cương cho Sam xem, rồi nghe quyết định của anh ấy.” Và thế là vào mùa thu năm 1890, tôi lên đường đến Lausanne ở Thụy Sĩ để bàn bạc lại mọi chuyện với ông McClure. Tôi nghĩ một tuần là đủ; nhưng tôi đã tính toán sai lầm về phương pháp làm việc của ông McClure.
Ông bảo: “Đừng bận tâm về điều đó. Tôi muốn suy nghĩ thêm đã. Vợ chồng tôi và cô sẽ đến Hy Lạp nghỉ đông. Cô chưa từng đặt chân đến đó bao giờ. Chúng ta có thể thảo luận về Standard Oil ở Hy Lạp cũng tốt như ở đây thôi. Nếu thấy kế hoạch khả thi, cô có thể cho người gửi tài liệu sang và làm việc ngay trong đền Pantheon.” Và ông cười khúc khích khi hình dung ra viễn cảnh đó.
Gần như chưa kịp định thần lại, chúng tôi đã hướng thẳng đến Hy Lạp qua ngõ các hồ nước thuộc miền bắc nước Ý, Milan và Venice. Đến Milan, ông McClure đột ngột quyết định rằng hai vợ chồng ông cần phải chữa bệnh trước khi tới Hy Lạp, thế là họ đổi hướng đến thị trấn suối khoáng cổ kính Salsomaggiore. Tại đây, giữa những khoảng thời gian tắm bùn, xông hơi và ngắm nhìn những nhân vật vĩ đại lừng lẫy như Cecil Rhodes cùng đoàn tùy tùng đang hồi phục sức khỏe sau cuộc phiêu lưu mới nhất tại Nam Phi, cuối cùng chúng tôi cũng đi đến quyết định. Tôi sẽ quay lại New York và xem mình có thể làm được gì với bản đề cương mà tôi vừa mới trình bày. Chuyến đi Hy Lạp đành phải gác lại.
Để lại hai vợ chồng ông McClure ở lại hoàn tất liệu trình chữa trị, tôi lên đường về New York để viết một tác phẩm mà nếu xét về tựa đề thì quả thực trông chẳng khác nào một canh bạc mạo hiểm đối với một tờ tạp chí như McClure’s: “Lịch sử Công ty Standard Oil.”
“McClure’s thật là can đảm.” Câu nói đó đã được thốt lên biết bao lần sau khi dự án của chúng tôi đi vào hoạt động! Thế nhưng, lòng dũng cảm luôn ngầm ẩn một sự hoài nghi về hiểm họa. Chẳng ai trong tòa soạn chúng tôi mảy may nghĩ đến điều đó. Chúng tôi đang tiến hành một công việc mà mình xem là nghiên cứu lịch sử chính đáng. Chúng tôi không đóng vai những kẻ biện hộ hay những nhà phê bình, mà chỉ là những nhà báo quyết tâm tìm ra những yếu tố nào đã cấu thành nên tập đoàn độc quyền hoàn hảo nhất này. Chúng tôi có gì mà phải sợ chứ?
Tuy nhiên, tôi sớm nhận ra rằng, dẫu chúng tôi không sợ hãi, thì bản thân tôi lại phải làm việc trong một lĩnh vực mà nơi đó rất nhiều nam nữ thanh niên đang sợ hãi, họ tin tưởng vào con mắt tinh tường thấu suốt và vươn tay quyền lực tối thượng của vị vua ngành dầu mỏ. Họ tin rằng bất cứ ai dám nghênh ngang tiến hành một dự án nào đó gây trở ngại cho Standard Oil dưới bất kỳ hình thức nào đều sẽ vấp phải những đòn tấn công trực diện hoặc gián tiếp. Việc xem xét các phương thức hoạt động của họ luôn là điều cấm kỵ đối với họ. Không chỉ một người từng đi đến kết luận đó — từ những quan sát lâu năm hoặc từ những nỗi đau khổ dằng dặc — đã nói với tôi rằng: “Cứ tiến lên đi, rồi cuối cùng bọn chúng cũng tóm được cô thôi.”
Ngay cả cha tôi cũng khuyên: “Đừng làm thế, Ida — bọn chúng sẽ tờ tạp chí tiêu đời đấy.”
Đó là một màn sương mù dai dẳng của sự nghi ngờ, hoang mang và sợ hãi. Ngay từ phút ban đầu, làn sương mù ấy đã gây cản trở cho công việc quan trọng hàng đầu của tôi: thu thập cho chắc chắn các tài liệu liên quan đến vụ việc. Tôi thừa biết chúng có tồn tại. Gần như liên tục kể từ khi được thành lập vào năm 1870, Công ty Standard Oil đã trở thành đối tượng điều tra của Quốc hội Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và cơ quan lập pháp của các tiểu bang nơi hãng này hoạt động, do những nghi vấn cho rằng họ nhận khoản chiết khấu hoàn tiền từ các công ty đường sắt và đang thực hiện những chiêu trò kìm hãm thương mại tự do. Vào các năm 1872 và 1876, hãng này đã phải hầu chuyện các ủy ban Quốc hội; năm 1879, họ tiếp tục đối mặt với các thanh tra viên của Khối thịnh vượng chung Pennsylvania cùng các ủy ban do cơ quan lập pháp bang New York và Ohio thành lập nhằm điều tra về ngành đường sắt. Hoạt động của họ liên tục xuất hiện trong các cuộc tranh luận dẫn đến sự ra đời của Ủy ban Thương mại Liên bang vào năm 1887; và kể từ đó cho đến nay, ủy ban này đã nhiều lần được triệu tập để điều tra trực tiếp hoặc gián tiếp về mối quan hệ giữa hãng này với các công ty đường sắt.
Năm 1888, trong cuộc Điều tra về các Tập đoàn do Quốc hội và bang New York tiến hành, Công ty Standard Oil chính là đối tượng nghiên cứu trọng tâm. Tại tiểu bang Ohio, trong khoảng thời gian từ năm 1882 đến 1892, một cuộc chiến tranh không khoan nhượng đã được châm ngòi nhằm chống lại Standard tại các tòa án và cơ quan lập pháp, để lại hàng tập tài liệu lấy lời khai. Cơ quan lập pháp của nhiều bang khác cũng bận tâm về vấn đề này. Những luồng luật pháp thù địch ấy đã buộc tập đoàn này phải tự xé lẻ thành các bộ phận cấu thành vào năm 1892, thế nhưng các cuộc điều tra vẫn không hề dừng lại; quả thực, trong cuộc điều tra công nghiệp quy mô lớn do Ủy ban được Tổng thống McKinley chỉ định tiến hành, Công ty Standard Oil vẫn liên tục trở thành đề tài bàn thảo, và hàng trăm trang lấy lời khai về hãng này đã xuất hiện trong mười chín tập báo cáo mà ủy ban đã trình lên.
Khối lượng lời khai đồ sộ này — phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đều được tuyên thệ trước tòa — chứa đựng các bản hiến chương và thỏa thuận khác nhau mà dưới đó Quỹ tín thác Standard Oil từng hoạt động, vô số hợp đồng và thỏa thuận ký kết với các hãng đường sắt, nhà máy lọc dầu, hệ thống đường ống dẫn; đồng thời nó cũng lưu giữ những trải nghiệm kinh doanh từ năm 1872 cho đến năm 1900 của vô số cá nhân. Những trải nghiệm này mang đúng bản chất của những lời hồi tưởng cá nhân từ các nhân vật trong những sự kiện lớn, với một giá trị gia tăng là chúng được cung cấp ngay trên bục nhân chứng; do đó, thật công bằng khi cho rằng chúng có sự thận trọng và chuẩn xác hơn trong lời khai so với nhiều cây bút viết hồi ký khác. Những cuộc điều tra này, bao trùm toàn bộ các bước quan trọng trong quá trình phát triển của tập đoàn tín thác, đã bao gồm cả những bản tường thuật đầy đủ về quan điểm của các giám đốc điều hành hãng đối với tiến trình phát triển ấy, cũng như những lời giải thích của họ về nhiều hoạt động từng dấy lên tranh cãi.
Bên cạnh khối lượng lớn các lời khai có tuyên thệ mà các nhà nghiên cứu có thể tiếp cận, còn có một lượng tài liệu dạng ấn phẩm mỏng đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề, cùng với các tập lưu trữ của vô số tờ nhật báo và tạp chí nguyệt san được Vùng Dầu mỏ hậu thuẫn, trong các cột báo của những ấn phẩm này người ta không chỉ tìm thấy số liệu thống kê, mà còn có cả những bản tường thuật đầy đủ về mọi cuộc tranh cãi giữa những người hành nghề dầu mỏ.
Tuy nhiên, các nguồn tài liệu lưu trữ hoàn toàn chưa được in ấn hết. Quỹ tín thác Standard Oil và các công ty cấu thành của nó từng vướng vào nhiều vụ kiện dân sự, mà lời khai của chúng vẫn nằm dưới dạng bản thảo trong các hồ sơ lưu trữ tại các tòa án nơi các vụ án được thụ lý.
Tôi từng đinh ninh rằng việc định vị các hồ sơ của những cuộc điều tra và vụ án quan trọng sẽ rất dễ dàng, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra mình đã quá ngây thơ tin người. Đơn giản như vụ điều tra liên bang về Công ty South Improvement — nỗ lực đầu tiên nhằm thiết lập một liên minh gắn kết chặt chẽ giữa các hãng đường sắt chuyên chở dầu mỏ và các nhà lọc dầu, một liên minh mà chắc chắn sẽ bóp chết bất cứ ai không được kết nạp, bởi theo thỏa thuận, các công ty đường sắt không chỉ dành cho nhóm nhà lọc dầu đặc quyền khoản chiết khấu trên mọi chuyến hàng của họ mà còn trả cho họ cả tiền hoa hồng hoàn lại từ các lô hàng của các hãng độc lập. Các hãng đường sắt cũng đồng ý cung cấp cho họ thông tin chi tiết về số lượng cũng như điểm đến của các lô hàng từ những đối thủ cạnh tranh. Công ty Standard Oil dưới tư cách là một tập đoàn độc quyền đã lớn lên từ cạm bẫy tinh vi này.
Tôi có thể kiếm một bản sao của cuộc điều tra đó ở đâu cơ chứ? Hơn một kẻ hoài nghi đã nói với tôi rằng: “Cô sẽ chẳng bao giờ tìm thấy đâu — tất cả chúng đã bị tiêu hủy rồi.” Khi tôi dò ra được các bản sao nằm rải rác trong hai bộ sưu tập tư nhân khác nhau, tôi đã bị từ chối quyền chạm tay vào chúng.
Quả thực, bằng sự kiên trì tìm kiếm, cuối cùng tôi cũng tìm thấy cuộc điều tra được cất giấu kỹ lưỡng đó trong một ấn phẩm mỏng — một trong ba cuốn tài liệu hiếm hoi mà tôi được biết là vẫn còn tồn tại. Tôi không cho rằng không còn những bản khác, bởi vì khi được thông báo rằng toàn bộ số lượng ấn bản của một tài liệu in đã bị tiêu hủy, tôi đã nhanh chóng học được cách tiếp tục tìm kiếm. Một khi một tài liệu đã được ấn hành, ở đâu đó, vào lúc nào đó, một bản sao thế nào cũng sẽ xuất hiện, dù số lượng ấn bản có ít ỏi đến đâu đi chăng nữa. Chẳng hạn như cuộc điều tra Hepburn quan trọng về mối quan hệ giữa các hãng đường sắt và các doanh nghiệp tư nhân do bang New York thực hiện vào năm 1879. Tôi không thể tìm thấy một bản sao nào ở Vùng Dầu mỏ nơi tôi đang làm việc. Người ta bảo Standard đã thiêu hủy tất cả chúng rồi. Vào thời điểm đó, tại Thư viện Công cộng Thành phố New York có một trong những nhà thư tịch học tài năng nhất nước Mỹ — Adelaide Hasse. Bà đã giúp tôi hết lần này đến lần khác trong việc tìm kiếm những tài liệu hiếm.
Tôi viết thư cho cô Hasse: “Còn cuộc điều tra Hepburn này thì sao?”
Cô đáp: “Nó đang ở đây trong Thư viện, sẵn sàng cho cô sử dụng bất cứ lúc nào cô ghé qua.” Nhưng cô còn nói thêm: “Chỉ có đúng một trăm bản từng được xuất bản. Đây là một ấn phẩm cực kỳ hiếm. Tôi từng biết có một bộ hoàn chỉnh được bán với giá 100 đô-la.” Cô giải thích thêm: “Vào thời điểm đó, người ta ngầm hiểu rằng một hoặc hai vị chủ tịch đường sắt quan trọng có lời khai trước ủy ban đã mua gom và tiêu hủy càng nhiều bộ càng tốt.”
Cuối cùng, tất cả các tài liệu in ấn đều đã được định vị. Thế nhưng vẫn còn đó những lời khai chưa được in trong các vụ kiện tụng. Liệu những lời khai mang tính buộc tội có bị đánh tráo khỏi hồ sơ tòa án hay không? Henry Lloyd từng đưa ra cáo buộc như vậy trong ấn bản đầu tiên của cuốn “Của cải chống lại Thịnh vượng chung.” Nó đã biến mất trong ấn bản thứ hai. Tôi viết thư hỏi ông: “Tại sao vậy?” Ông đáp: “Những lời khai đó đã được đưa trả lại sau khi cuốn sách của tôi lần đầu xuất hiện.” Tôi vô cùng sốt sắng muốn có được bản gốc của một trong những tài liệu này, thế nhưng khi đi tìm, nó lại không có trong hồ sơ. Nó nằm ở đâu cơ chứ? Làm sao tôi có thể định vị nó đây? Và nếu tôi có thành công đi chăng nữa thì liệu có chút cơ hội nào — đánh giá từ những kinh nghiệm quá khứ — rằng nó sẽ được bàn giao cho tôi không? Tôi nhận ra mình buộc phải có một trợ lý, tốt nhất là một người ở Cleveland, Ohio — nơi trong bao nhiêu năm qua đã là đại bản cho các hoạt động của Standard. Điều đó đồng nghĩa với việc tốn kém thêm chi phí, trong khi tôi vốn dĩ đã khiến tòa soạn tiêu tốn một khoản tiền làm tổn hại đến thói quen tiết kiệm của mình. Thế nhưng ông McClure và ông Phillips, với sự hào phóng, kiên nhẫn cùng niềm tin khá vững chắc rằng cuối cùng chúng tôi sẽ thu được thứ gì đó xứng đáng, đã bảo tôi cứ tiếp tục tiến hành.
Tôi từng rút ra bài học từ công trình nghiên cứu về Lincoln rằng một người trợ lý, dù có trung thành và chăm chỉ đến đâu chăng nữa, đôi khi vẫn có thể trở thành thứ vướng víu khi bước vào công đoạn điều tra. Nó đòi hỏi nhiều hơn là sự chính xác; nó cần đến niềm đam mê khám phá sự thật, giải mã những câu đố — bất kỳ câu đố nào của ai đi nữa. Tôi muốn tìm một thanh niên có nền tảng đại học, có một hoặc hai năm kinh nghiệm làm phóng viên, thông minh, năng nổ, tò mò, và đinh ninh rằng mọi việc mình được giao phó đều là quan trọng, dẫu có lúc cậu ta chưa hiểu ngay lý do vì sao. Cậu ta phải tìm thấy niềm vui trong cuộc săn đuổi — còn bạn thì thu được chiến lợi phẩm. Hơn nữa, cậu ta phải là người đáng tin cậy để giữ kín cái miệng của mình.
Tôi hoàn toàn có thể giới thiệu kỹ thuật mà tôi từng áp dụng trong trường hợp này để săn lùng "chú chim quý hiếm" của mình. Từ ba biên tập viên khác nhau ở Cleveland, tôi xin tên của một thanh niên mà họ cho là có năng lực lần ra một mẩu thông tin trông có vẻ không mấy quan trọng. Gửi đến mỗi cái tên được cho, tôi đều đính kèm những chỉ thị từ New York. Tôi bảo rằng tôi sẽ sớm ghé qua để nhận báo cáo, đồng thời dặn thêm là tôi muốn cậu ta giữ kín về nhiệm vụ này.
Khi đến Cleveland để mục sở thị các ứng viên của mình, tôi thấy cả ứng viên số một lẫn số hai đều là những anh chàng tuyệt vời và thông minh. Các bản báo cáo của họ vô cùng xuất sắc, thế nhưng họ chẳng có lấy chút ít hứng thú nào với công việc mình vừa làm. Tôi cảm ơn họ, trả thù lao và nói lời: “Chào anh.” Chàng thanh niên thứ ba bước đến, người thấp đậm, đôi mắt bừng sáng vì phấn khích. Cậu ta ngồi ghé vào mép ghế. Khi nhìn cậu ta, tôi bỗng dâng lên một cảm giác lo sợ không đâu nhỡ cậu ta bung cả cúc áo ra mất. Tôi chưa từng có cảm giác tương tự đối với bất kỳ cá nhân nào khác ngoại trừ Theodore Roosevelt. Tôi từng quan sát vị tổng thống Roosevelt đầu tiên trong một buổi hòa nhạc tại Nhà Trắng mà có cảm giác bộ quần áo của ông sắp không chứa nổi con người ông nữa, ông hừng hực nhiệt huyết đến thế, sẵn sàng lao vào, tấn công bất cứ thứ gì, ở bất cứ đâu.
Chàng thanh niên đưa cho tôi bản báo cáo của mình; nhưng điều đáng giá chính là cách cậu ta đeo bám tài liệu, sự tò mò của cậu ta, niềm tin chắc chắn rằng nó rất quan trọng vì tôi đã yêu cầu. Tôi nghĩ mình đã tìm đúng người. Chỉ qua vài lần thử thách nữa là tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng John M. Siddall chính là một phát hiện lớn. Vào thời điểm đó, cậu là cộng sự của Frank Bray trong việc biên tập tờ The Chautauquan, có trụ sở vừa mới chuyển từ Meadville về Cleveland.
Khi Siddall đã hiểu rõ tôi đang mưu tính điều gì, cậu liền chớp lấy cơ hội — lao vào làm việc với tất cả ý chí và cứ thế miệt mài cho đến khi nhiệm vụ hoàn thành. Cậu là nguồn vui bất tận cũng như chỗ dựa vững chắc cho dự án của tôi. Chẳng có lá thư nào gửi về tòa soạn McClure’s tuyệt vời hơn những bức thư của Siddall. Dần dà, tất cả mọi người đều đọc những bức thư Siddall gửi cho tôi, dù đó chỉ là một vấn đề thống kê thuần túy hay chuyện đời tư thường ngày ở Cleveland của John D. Rockefeller — người đứng đầu Công ty Standard Oil. Nếu có điều gì bên trong hoặc quanh vùng Ohio khiến tòa soạn quan tâm, họ lập tức gợi ý: “Hãy hỏi Sid đi.” Và Sid lúc nào cũng tìm ra câu trả lời. Ông McClure và ông Phillips bắt đầu lên tiếng: “Chúng tôi muốn có Sid ngay khi cô dùng xong cậu ấy.” Nhận thấy cơ hội, Siddall liền gia nhập đội ngũ biên tập viên của McClure’s ngay khi tôi có thể nhường cậu lại.
Tôi đã miệt mài làm việc suốt một năm trời để thu thập và sàng lọc tài liệu trước khi loạt bài được công bố chính thức. Ngay sau đó, ông McClure lao vào tòa soạn một ngày nọ để báo cho tôi hay rằng ông vừa trò chuyện với Mark Twain, và nhà văn này cho biết người bạn của ông — Henry Rogers, nhân vật nổi bật nhất trong nhóm Standard Oil vào thời điểm đó — đã nhờ ông tìm hiểu xem tờ McClure’s dự định xuất bản loại lịch sử thế nào về tập đoàn của họ.
Ông McClure đã nói với ông ấy rằng: “Anh sẽ phải đi hỏi cô Tarbell thôi.”
Mark Twain hỏi: “Liệu cô Tarbell có chịu gặp ông Rogers không?”
Ông McClure quả quyết rằng tôi chẳng mong gì hơn thế, và điều đó hoàn toàn chính xác. Thế là một cuộc gặp gỡ đã được sắp xếp vào một ngày đầu tháng Giêng năm 1902 tại tư gia của ông Rogers, khi ấy nằm ở số 26 Đông Phố 57. Tôi cảm thấy hơi sợ hãi trước ý nghĩ đó. Tôi từng gặp gỡ đủ mọi kiểu người, nhưng đây là vị đại tư bản sừng sỏ đầu tiên mà tôi diện kiến. Liệu tôi có đang tự đút đầu vào hang hùm không nhỉ? Tôi không nghĩ thế. Càng ngày tôi càng thấy rõ ràng rằng việc cố gắng cắn xé đầu chúng tôi sẽ là điều ngu ngốc nhất mà Công ty Standard Oil có thể làm, xét đến tai tiếng của họ lúc bấy giờ. Tôi tự nhủ họ đâu đến nỗi ngu ngốc như vậy. Tuy nhiên, việc đối đầu với Standard Oil qua những văn bản tài liệu như tôi vẫn làm là một chuyện, còn việc giáp mặt trực tiếp lại là chuyện hoàn toàn khác. Liệu ông Rogers có “chịu nhượng bộ” không? Tôi có trò chuyện nổi với ông ấy không? Cho tới lúc đó, mọi nỗ lực trò chuyện của tôi với các thành viên trong tổ chức này đều kết thúc trong thất bại. Tôi luôn vấp phải thứ ngôn ngữ sáo rỗng được đúc khuôn sẵn bởi những kẻ đã tôn sùng một tín điều, một hoàn cảnh, một hệ thống nào đó nhằm đánh lạc hướng kẻ điều tra đang cố tìm hiểu xem tất cả những điều này có ý nghĩa gì.
Sự hồi hộp và hoài nghi trong tôi bỗng chốc tan biến khi ông Rogers bước đến thư viện để chào đón tôi. Ông thẳng thắn và cởi mở. Rõ ràng ông muốn tôi cảm thấy thoải mái. Bằng cách đó, ông biết mình có thể nhanh chóng nhận ra việc tiếp tục tốn thời gian với tôi có đáng giá hay không.
Vào thời điểm này, Henry Rogers là một người đàn ông khoảng sáu mươi tuổi, một nhân vật nổi bật, nói chung là gương mặt đẹp trai và hào hoa nhất Phố Wall. Ông cao ráo, cơ bắp, uyển chuyển như một người da đỏ. Vẫn còn vương vấn đâu đó nét phong trần của những chuyến phiêu lưu dầu mỏ thuở ban đầu trong dáng điệu của ông, dẫu cho toát lên từ ông là vẻ quyền uy, sự chải chuốt hoàn hảo, cùng phong thái của một con người sắc sảo, thích nghi tự nhiên với mọi tầng lớp xã hội. Cái đầu lớn với chiếc trán cao được làm nổi bật bởi mái tóc dày bạc phơ đẹp mắt; chiếc mũi của ông sắc nét như mũi diều hâu. Khởi điểm từ đôi môi — mà tôi tưởng tượng chắc phải linh hoạt, vừa có thể đưa ra quyết định đanh thép vừa biết nở nụ cười giòn giã — đã bị che khuất bởi bộ ria mép rủ xuống màu trắng. Đôi mắt ông to và sẫm màu, nheo lại đôi chút vì sự cẩn trọng, nhưng có thể bừng sáng như tôi sắp sửa được chứng kiến, được che chở bởi cặp lông mày dày màu xám mang lại nét uy quyền và sức mạnh cho khuôn mặt ông.
Tôi nhớ mình đã thầm nghĩ khi đang cố định thần lại: Giờ thì tôi hiểu vì sao Mark Twain lại quý mến ông ấy đến vậy. Họ giống nhau ngay cả ở vẻ bề ngoài. Họ có điểm chung là những trải nghiệm thuở ban đầu tương đồng — Mark Twain ở Nevada, còn Henry Rogers ở những vùng dầu mỏ thuở khai hoang.
Khi mời tôi ngồi xuống — tôi nhận ra ánh sáng chiếu thẳng vào mặt mình — ông Rogers hỏi: “Sự quan tâm của cô đối với dầu mỏ bắt đầu từ khi nào và ở đâu vậy?”
Tôi đáp: “Trên những khoảng đất bằng và đồi núi ở Rouseville.”
Ông thốt lên: “Dĩ nhiên rồi, dĩ nhiên rồi! Xưởng bồn chứa của nhà Tarbell. Tôi biết cha cô chứ. Tôi có thể chỉ chính xác vị trí mà những xưởng đó từng đứng.”
Thế là chúng tôi bắt nhịp được với nhau. Cả hai quên đi công việc nghiêm túc để hào hứng trò chuyện về những ngày tháng thuở sơ khai bên con lạch. Ông Rogers kể cho tôi nghe tin tức về cơn sốt dầu mỏ đã lôi kéo ông rời bỏ quê nhà thời thơ ấu ở New England như thế nào, cách ông tìm đường đến Rouseville và bước chân vào nghề lọc dầu. Ông đã kết hôn và dùng số tiền một ngàn đô-la đầu tiên của mình để mua một ngôi nhà trên sườn đồi nằm cạnh nhà chúng tôi.
Ông kể: “Đó là một ngôi nhà nhỏ màu trắng, với mái nhọn cao.”
Tôi kêu lên: “Ồ, tôi nhớ chứ! Hồi ấy tôi cứ nghĩ đó là ngôi nhà đẹp nhất trên đời.” Đó là lần đầu tiên tôi tiếp cận với kiến trúc vòm Gothic, lần đầu tiên tôi nhận ra vẻ đẹp của một công trình xây dựng.
Chúng tôi cùng nhau tái hiện lại địa lý của khu phố thuở nào, lưu luyến mãi vẻ duyên dáng của khe núi hẹp ngăn cách giữa những sườn đồi nhà chúng tôi, với một lối mòn ở mỗi bên.
Ông Rogers kể: “Lối mòn dọc theo bờ suối đó, cứ mỗi sáng thứ Hai là tôi phải khiêng quần áo đi giặt và đến chiều thứ Bảy lại ra lấy về. Chắc là tôi đã từng nhìn thấy cô đi hái hoa ở sườn đồi bên kia khe núi rồi đấy. Đẹp làm sao! Chưa bao giờ tôi cảm thấy hạnh phúc hơn thế.”
Liệu có hai người lạ mặt nào, mỗi người đều mang chút dè dặt đối với đối phương, lại có thể khởi đầu cho một cuộc trò chuyện nghiêm túc suôn sẻ hơn thế không? Bởi vì những gì diễn ra sau đó thực sự nghiêm túc và có cả những khoảnh khắc căng thẳng.
Cuối cùng, ông hỏi: “Cô đang dựa vào những tài liệu nào để viết câu chuyện của mình vậy?”
“Dựa vào các tài liệu văn bản. Tôi bắt đầu từ vụ Công ty South Improvement.”
Ông ngắt lời: “À, cái đó dĩ nhiên là một vụ làm ăn tai tiếng rồi. Đó là nơi nhà Rockefeller mắc phải sai lầm lớn nhất của họ.”
Dĩ nhiên tôi thừa biết ông Rogers từng kịch liệt chống lại thương vụ chớp nhoáng thuở ban đầu ấy; và tôi cũng biết rằng sau đó ông đã gia nhập “bọn âm mưu” — theo cách gọi của người dân Vùng Dầu mỏ — để từng bước thực hiện chương trình ban đầu đó. Nhưng tôi không hề đem chuyện đó ra để vặn vẹo ông.
Ông Rogers hỏi: “Sao cô không đến tìm chúng tôi ngay từ lúc khởi đầu cơ chứ?”
Tôi đáp: “Điều đó không cần thiết. Các anh đã tự viết nên lịch sử của mình rồi; vả lại, làm thế cũng chẳng ích gì.”
Ông nói: “Chúng tôi đã thay đổi chính sách rồi. Chúng tôi đang cung cấp thông tin cho công luận.” Thực tế mà nói, tôi nghĩ ông Rogers có thể được xem là cố vấn quan hệ công chúng đầu tiên của Công ty Standard Oil — người tiên phong cho Ivy Lee — và tôi, theo hiểu biết của mình, chính là đối tượng đầu tiên mà chính sách mới này được thử nghiệm.
Trong khoảng thời gian gần hai tiếng đồng hồ tôi ở bên Henry Rogers chiều hôm đó, chúng tôi đã điểm lại lịch sử ngành kinh doanh dầu mỏ. Chúng tôi nói về các khoản chiết khấu hoàn tiền và hệ thống đường ống dẫn, những cuộc đấu tranh và thất bại của các hãng độc lập, cũng như sự thâu tóm mọi thứ chạm đến tham vọng của họ. Ông bày tỏ góc nhìn từ phía họ cho tôi nghe, về sự vĩ đại trong thành tựu của họ, sự hoàn hảo trong dịch vụ của họ. Ông cũng kể về những thử thách, sự bức hại (theo cách gọi của ông) từ các đối thủ cạnh tranh, và đợt tấn công của Lloyd: “Tôi chưa bao giờ hiểu nổi vì sao Harper lại có thể cho xuất bản cuốn sách đó. Chà, tôi vốn là bạn xã giao của Harry Harper cơ mà.”
Hơi buồn rầu một chút, ông nói: “Lúc nào cũng có chuyện rắc rối xảy ra. Hãy nhìn tình hình bây giờ đi — Nga và Texas. Dường như trữ lượng dầu mỏ ở đó là vô tận. Làm sao chúng ta có thể kiểm soát nó đây? Trông có vẻ như có thứ gì đó đang bóp cổ Công ty Standard Oil rồi, một thế lực còn lớn hơn cả chúng ta.”
Càng trò chuyện, tôi càng cảm thấy gần gũi và càng quý mến ông hơn. Cảm giác ấy tựa như đang chuyện trò cùng ông McClure và ông Phillips vậy.
Cuối cùng, chúng tôi đã đạt được một thỏa thuận. Tôi sẽ bàn bạc với ông về từng vụ việc trong lịch sử của họ mỗi khi tôi viết tới. Ông sẽ cung cấp cho tôi các tài liệu, số liệu, lời giải thích và sự biện minh — bất cứ thứ gì và mọi thứ có thể giúp mở rộng sự hiểu biết cũng như nhận định của tôi. Tôi nhận thức rõ ràng đóng góp của ông sẽ lớn lao nhường nào nếu ông tiếp tục giữ được sự thẳng thắn như trong buổi nói chuyện sơ bộ này. Tuy nhiên, tôi cũng làm cho ông hiểu rõ rằng dẫu tôi rất hoan nghênh bất kỳ thông tin hay lời giải thích nào mà ông có thể đưa ra, thì phán quyết cuối cùng phải thuộc về tôi chứ không phải ông.
Tôi nói với ông: “Dĩ nhiên, thưa ông Rogers, tôi hiểu rằng những phán quyết của mình có thể sẽ không đứng vững về lâu về dài; nhưng tôi vẫn phải tự đứng vững hoặc sụp đổ dựa trên chính những phán quyết ấy.”
Khi tôi đứng dậy định ra về, ông nói: “Chà, tôi đoán chúng ta đành phải chịu vậy thôi. Cô có sẵn lòng đến văn phòng của tôi để tiến hành những buổi trò chuyện này không? Như vậy có lẽ sẽ tiện lợi hơn một chút.”
Tôi đáp: “Dạ được chứ.”
Ông có vẻ hơi ngạc nhiên.
“Cô sẽ trò chuyện với ông Rockefeller chứ?”
Tôi nói: “Đương nhiên rồi.”
Hơi hoài nghi một chút, ông đáp: “Được rồi, tôi sẽ cố gắng sắp xếp.”
Thỏa thuận đó đã được tuân thủ nghiêm ngặt trong suốt hai năm trời, tôi thường xuyên đến văn phòng của ông tại số 26 Phố Broadway. Bản thân điều đó ngay từ phút ban đầu — đối với một kẻ vốn dĩ xa lạ với khung cảnh và lề thói của giới kinh doanh lớn như tôi — đã là một cuộc phiêu lưu thực thụ. Việc tôi ra vào văn phòng của ông Rogers luôn được tiến hành trong một sự bảo mật chưa bao giờ thôi làm tôi buồn cười. Những anh chàng trẻ tuổi nhanh nhẹn, bảnh bao và ra dáng doanh nhân đón tiếp tôi ở lối vào dãy phòng làm việc của ông Rogers đã dẫn dắt tôi không chút sai sót qua một lối đi mà chẳng ai nhìn thấy tôi và tôi cũng chẳng thấy ai để bước vào cùng một căn phòng nhỏ hướng ra khoảng sân trong, và dường như chẳng bao giờ đi chung một lối cũ. Tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng ở khoảng sân trong, qua khung cửa sổ trực diện đối diện luôn túc trực một quý ông có cái đầu dường như quay về phía tôi mỗi khi tôi nhìn sang. Dù điều đó có thể chẳng mang ý nghĩa gì. Tôi chỉ ghi lại sự thật mà thôi.
Người duy nhất ngoài ông Rogers mà tôi từng gặp trong những văn phòng ấy chính là thư ký riêng của ông, cô Harrison: một người phụ nữ vào thời điểm đó được nhắc đến với vẻ đầy kính sợ khi hưởng mức lương 10.000 đô-la, một người nắm rõ công việc của sếp mình từ A đến Z và được ông tuyệt đối tin tưởng. Cô tỏa ra thứ năng lượng của sự hiệu quả — năng lực kinh doanh tuyệt đỉnh. Đi kèm với năng lực ấy là chút sắc lạnh mà những người phụ nữ kinh doanh tài năng hiếm khi tránh khỏi. Cô Harrison chỉ xuất hiện trong những dịp hiếm hoi khi cần đến một tài liệu bổ sung. Cô vô cảm chẳng khác nào những chiếc ghế trong phòng.
Trong những buổi phỏng vấn này, chúng tôi đã thảo luận một cách hoàn toàn cởi mở về những điều luật mà họ từng phớt lờ. Tôi không thể làm ông Rogers ngạc nhiên với các hồ sơ tài liệu — thậm chí ngay cả khi có lần tôi đối chất với ông bằng lời khai mà chính ông từng đưa ra về một điểm nào đó mà ông thừa nhận là không đúng với thực tế. Ông cộc lọn gạt phăng vấn đề đi. “Họ chẳng có quyền gì mà xía vào chuyện riêng tư của tôi cả.” Còn về các khoản chiết khấu hoàn tiền, “Sẽ có kẻ khác hốt lấy chúng nếu chúng tôi không làm thế.”
Tôi biện luận: “Nhưng với tiềm lực mạnh mẽ của mình, thưa ông Rogers, các anh hoàn toàn có thể ép buộc các hãng đường sắt cũng như đối thủ cạnh tranh phải chơi đẹp cơ mà.”
Ông đáp: “À, nhưng trong cuộc cạnh tranh lúc nào cũng xuất hiện những kẻ chẳng có chút đạo đức nào, dẫu kẻ đó có nhỏ bé đến đâu đi chăng nữa. Và rồi hắn có thể lớn mạnh lên.”
Chính là nó đấy, nỗi ám ảnh của Công ty Standard Oil, rằng hiểm họa luôn rình rập ở cả những điều nhỏ nhặt lẫn lớn lao, rằng không gì được phép tồn tại ngoài tầm kiểm soát của họ, dù cho nó có tầm thường đến đâu đi nữa.
Những cuộc trò chuyện này giúp tôi thấu hiểu — điều mà tự các tài liệu không thể mang lại — góc nhìn cá nhân của những nhà kinh doanh độc lập như ông Rogers, những kẻ từng được thu nạp vào tổ chức trong thập niên đầu tiên của công cuộc gầy dựng thế lực độc quyền. Chẳng hạn như lý do khiến ông Rogers khao khát đạt được thỏa thuận tín thác vào năm 1882:
Ông Rogers kể: “Đến năm 1880, tôi nắm giữ cổ phần trong hầu hết khoảng bảy mươi công ty mà chúng tôi đã thâu tóm. Thế nhưng tình trạng thực tế của những công ty này lại không được công chúng biết đến. Nếu tôi qua đời, thực tế sẽ chẳng có người mua nào ngoài ông Flagler, ông Rockefeller và một vài gương mặt cốt cán bên trong nội bộ. Những người thừa kế của tôi sẽ không thể gặt hái được thành quả từ số cổ phần mà tôi nắm giữ. Thỏa thuận tín thác đã thay đổi điều đó. Công chúng ngay lập tức nhận ra giá trị của chứng chỉ tín thác. Tức là, gia sản của tôi đã được bảo vệ trong trường hợp tôi qua đời.”
Ông thường xuyên nhấn mạnh vai trò của sự tiết kiệm, không chỉ trong việc gầy dựng cơ ngơi mà còn trong tài sản cá nhân của họ — tiết kiệm và tái đầu tư tiền của mình vào hoạt động kinh doanh. Ông từng nói với tôi: “Chúng tôi sống trong những ngôi nhà đi thuê và dành dụm tiền để mua cổ phần của công ty.”
Chỉ những ai còn nhớ, giống như tôi, vị trí quan trọng mà việc sở hữu một ngôi nhà riêng chiếm giữ trong đời sống kinh tế cá nhân của một con người có lòng tự trọng vào thời đại đó mới có thể cảm nhận hết sức nặng của lời giải thích này.
Tôi tò mò muốn biết làm thế nào ông có thể dung hòa niềm đam mê đầu cơ nổi tiếng của mình với sự ác cảm nổi tiếng của ông Rockefeller đối với mọi hình thức cờ bạc.
Tôi hỏi: “Ông ấy chưa từng phản đối sao?”
Hơi buồn rầu một chút, ông đáp: “À, tôi chưa bao giờ là người được sủng ái cả. Tôi đoán mình sinh ra đã mang máu đỏ đen. Những ngày đầu thành lập Công ty Charles Pratt — công ty mà tôi là thành viên, và tôi luôn là kẻ thay mặt thực hiện các vụ đầu cơ cho hãng — ông Pratt từng nói: ‘Henry, tôi không đủ gan để đầu cơ đâu. Tối qua tôi trằn trọc đến mức đá văng cả chăn vì lo lắng cho thị trường.’ Tôi bảo ông ấy: ‘Đưa tiền đây, tôi sẽ lo phần can đảm cho.’ Thế là chúng tôi cứ thế vơ vét tiền về” — ông làm động tác quơ tay bằng cả hai tay. “Và dĩ nhiên tiền đó đều rút từ túi của người sản xuất.”
Tôi bảo ông: “Đó chính là điều mà cha tôi luôn miệng nói. Một trong những bài giáo huấn nghiêm khắc nhất mà ông từng đưa ra xuất phát từ một trong những cơn sốt thị trường khiến mọi người ở Vùng Dầu mỏ phát cuồng. Tôi đoán chính các ông là thủ phạm gây ra nó. Tôi còn nhớ có một ngày các trường học hầu như phải đóng cửa vì toàn bộ giáo viên ở Titusville đều đổ ra đường hoặc có mặt ở Sở giao dịch dầu mỏ — ai nấy đều đang đầu cơ. Hồi đó tôi đang học trung học; cơn sốt ấy cũng lây sang tôi, và tôi đã xin cha 100 đô-la để thử vận may trên thị trường. Ông đã nổi giận với tôi một trận lôi đình chưa từng thấy. Ông nói: ‘Không đời nào con gái ta lại...’, vân vân và vân vân.”
Ông Rogers bình luận: “Đúng là một người khôn ngoan.”
Tôi nói: “Nhưng không phải vì ông quá cẩn trọng đâu. Mà là vì ông cho rằng điều đó sai trái về mặt đạo đức. Ông thà không bao giờ đầu cơ trên thị trường chứng khoán còn hơn là chơi bài xì phé ăn tiền.”
Ông Rogers nhận xét: “Tôi luôn chơi bài xì phé mỗi khi thị trường đóng cửa. Tôi không tài nào bỏ được. Cứ vào chiều thứ Bảy là gần như thế nào tôi cũng tụ tập một nhóm chơi bài, và chốc chốc John Gates với tôi lại dựng lên một vụ gì đó. Cậu ta sẽ ghé qua và nói: ‘Henry, chẳng phải đã đến lúc chúng ta bắt đầu khởi sự rồi sao?’ Và thế là chúng tôi thường làm thế.”
Tất cả những cuộc trò chuyện đó đều diễn ra theo lối thân mật, tự nhiên. Chúng tôi thậm chí còn tranh luận với một sự thân thiện hoàn toàn về câu hỏi đầy tranh cãi: “Đâu là điều tồi tệ nhất mà Công ty Standard Oil từng làm?” Chỉ thỉnh thoảng mới có lúc một trong hai nổi giận, và rồi người kia thường sẽ chủ động đổi chủ đề.
Tôi từng bùng nổ phẫn nộ vào một ngày khi chúng tôi đang bàn về một kẻ từng dẫn dắt một chiến dịch mà đối với tôi là vô cùng ghê tởm: “Hắn là một kẻ dối trá và đạo đức giả, và ông thừa biết điều đó.”
Vừa hướng mắt ra ngoài cửa sổ với vẻ dửng dưng phô trương, ông Rogers vừa nói: “Tôi nghĩ trời sắp mưa đấy.”
Ông Rogers không chỉ cung cấp tài liệu và lý lẽ; ông còn giới thiệu cả những con người mà tôi muốn trò chuyện cùng. Nhân vật quan trọng nhất trong số đó chính là Henry Flagler — người từng nhúng tay vào vụ South Improvement, thương vụ chớp nhoáng ban đầu với các hãng đường sắt từng đưa Công ty Standard Oil bước lên con đường độc quyền. Từ trước đến nay vẫn luôn có những tranh cãi xung quanh việc ai là kẻ đã đưa ra ý tưởng tinh vi đó. Chính ông Flagler đã tham gia vào vụ này. Ông ấy biết những gì? Ông Rogers đã sắp xếp để tôi có buổi trò chuyện với ông ta.
Vào những năm tháng đó, Henry Flagler thậm chí không phải là một nhân vật được đón nhận ở Phố Wall. Đã có những vụ bê bối về đời tư của ông ta mà dù có là sự thật hay không thì các đồng nghiệp tài phiệt của ông ta cũng chẳng hề thích chút nào. Chuyện đó chẳng tốt cho việc làm ăn. Tôi nhận ra ông ta thuộc tuýp người hoàn toàn khác với Henry Rogers. Chẳng hạn như ông ta chẳng hề che giấu sự bất tín của mình đối với John Rockefeller. Không kiềm chế được bản thân, ông ta văng ra một câu với cú đấm giận dữ nện xuống bàn: “Hắn ta sẵn sàng lừa tôi một đô-la ngay ngày hôm nay”; và rồi, sực tỉnh lại với một sự thay đổi giọng điệu đáng kinh ngạc: “Ý tôi là, nếu hắn có thể làm điều đó một cách hợp pháp, thưa cô Tarbell, nếu hắn có thể làm điều đó một cách hợp pháp.”
Ông Flagler thừa biết mục đích chuyến viếng thăm của tôi, thế nhưng thay vì trả lời các câu hỏi trực diện của tôi, ông ta lại bắt đầu kể với đôi chút xúc động về quãng đời thuở hàn vi của mình, cách ông rời khỏi nhà vì cha ông chỉ là một mục sư nghèo — thu nhập 400 đô-la một năm, nuôi một đàn con đông đúc. Ông ta chẳng thể gặt hái được thành công nào cho đến khi bước chân vào lĩnh vực kinh doanh môi giới cùng ông Rockefeller ở Cleveland. Với vẻ thành kính, ông nói: “Và kể từ thời điểm đó, chúng tôi bắt đầu phát đạt.” Trong câu chuyện dài mà ông ta kể, cụm từ “Chúng tôi đã phát đạt” cứ lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác. Đó không phải là thứ tôi đang tìm kiếm. Sự giàu sang thịnh vượng của họ là điều quá hiển nhiên rồi. Cuối cùng, với chút ít bực bội, tôi quay trở lại với mục đích chuyến ghé thăm của mình.
“Thưa ông Flagler, tôi thấy ông không biết hoặc không chịu nói ai là kẻ đã khởi xướng Công ty South Improvement; thế nhưng có một điều chắc chắn là: ông Rockefeller chính là người đứng tên nhận tiếng thơm về chuyện đó ở Vùng Dầu mỏ. Bản thân ông cũng thừa biết tâm lý căm phẫn ở đó lớn đến nhường nào mà.”
Ông ta đáp: “Nhưng này cô Tarbell, danh tiếng của một người trong suốt cuộc đời họ thường khác biệt biết bao so với bản chất thực sự của họ! Hãy lấy nhân vật vĩ đại nhất trong lịch sử chúng ta ra mà xem. Chúa và Đấng Cứu Thế của chúng ta khi còn sống đã bị người ta nhìn nhận khác biệt thế nào so với những gì chúng ta được biết về Ngài ngày nay!”
Sau câu nói đó, việc tiếp tục đặt câu hỏi dĩ nhiên trở thành vô vọng, và cho đến khi ông Rogers quay trở lại, tôi cứ ngồi đó lắng nghe câu chuyện về việc Chúa đã làm cho ông ta phát đạt ra sao. Chưa bao giờ tôi cảm thấy nhẹ nhõm khi rời khỏi một căn phòng như thế, dẫu rằng ông Flagler cũng chẳng vui vẻ gì hơn khi thấy tôi cút đi.
Ông Rogers đã giới thiệu ông Flagler cùng những nhân vật kém quan trọng hơn. Thế nhưng mặc dù tôi từng nhắc nhở về lời hứa lấp lửng của ông trong buổi phỏng vấn đầu tiên rằng sẽ sắp xếp để tôi gặp ông Rockefeller, tôi nhận ra sau vài tháng rằng chẳng còn chút hy vọng nào cho chuyện đó nữa. Mỗi khi tôi úp mở nhắc đến, ông lại tìm cách lảng tránh.
Gần một năm trôi qua kể từ buổi phỏng vấn đầu tiên của tôi với ông Rogers thì các bài báo mới bắt đầu xuất hiện. Tôi cứ đinh ninh rằng ông sẽ cắt đứt quan hệ với tôi khi nhận ra tôi đang cố gắng chứng minh rằng Công ty Standard Oil chẳng qua chỉ là một phiên bản phóng to của Công ty South Improvement. Thế nhưng thật ngạc nhiên, các lập luận của tôi dường như chẳng hề làm ông bận tâm. Chẳng phải họ đã chiến thắng rồi sao? Thỉnh thoảng ông có phàn nàn rằng tôi đã quá sỗ sàng một cách không cần thiết hoặc mang chút ít tính thù hằn, thế nhưng ông vẫn tiếp tục đón tiếp tôi một cách thân thiện và cung cấp cho tôi — có lẽ không phải tất cả sự trợ giúp mà ông có thể, nhưng luôn là thứ gì đó khiến tôi phải suy nghĩ thấu đáo hơn, và thường xuyên chỉnh sửa lại một góc nhìn nào đó.
Thế nhưng nếu bản thân ông không hề bận tâm bởi những gì tôi đang làm, thì tại sao ông vẫn tiếp tục những buổi gặp gỡ này? Dần dần tôi đi đến kết luận rằng đó là vì ông quan tâm đến cách tôi thể hiện một tập एपिसोड cụ thể trong lịch sử của họ. Đó là vụ việc mà ông Rogers và John Archbold, cùng với toàn thể các thành viên hội đồng quản trị của một công ty con — Công ty Vacuum Oil ở Rochester, New York — đã bị truy tố vì tội âm mưu tiêu hủy một nhà máy lọc dầu độc lập ở Buffalo, New York.
Ngay trong buổi phỏng vấn mở đầu với ông Rogers, với chút ít xúc động, ông đã bày tỏ mong muốn tôi có được một phiên bản chính xác và vô tư về vụ Buffalo này, theo cách mà ông vẫn thường gọi. Giọng ông hơi chùng xuống khi ngập ngừng nói: “Vụ án đó là một nỗi đau đối với ông Archbold và tôi. Tôi muốn cô phải đi sâu nghiên cứu nó thật thấu đáo. Tôi đang giữ các bản ghi lời khai trước đại bồi thẩm đoàn; tôi đã mất hàng tháng trời mới thu thập được chúng. Dĩ nhiên theo một nghĩa nào đó tôi chẳng có quyền gì giữ chúng. Tôi từng nói với các con tôi rằng nếu ký ức về cha chúng có bao giờ bị bôi nhọ thì tập tài liệu này sẽ dùng để minh oan cho ông. Chúng phải đánh giá ông ấy qua những lời khai đó.”
Trong buổi phỏng vấn thứ hai, ông trưng ra bản ghi lời khai trước đại bồi thẩm đoàn, lại một lần nữa lặp lại rằng dẫu ông chẳng có tư cách gì dính líu đến nó nhưng ông buộc phải có được nó. Ông không cho phép tôi mang nó đi, và theo yêu cầu của ông, tôi đã đọc ngấu nghiến sáu mươi mấy trang tài liệu ngay trước mặt ông. Đối với tôi, mọi chuyện có vẻ khá rõ ràng — như tôi đã nói với ông Rogers sau khi đọc xong — rằng mối liên hệ của ông với vụ bê bối này mờ nhạt đến mức chẳng có lý do gì để truy tố ông, mặc dù tôi cũng thấy rõ ràng không kém rằng có đầy đủ lý do để truy tố một số thành viên trong hội đồng quản trị của Vacuum. Vị thẩm phán cũng có chung quan điểm đó, khi ông bác bỏ cáo trạng nhắm vào ông Rogers cùng hai vị giám đốc đồng nghiệp trong khi vẫn giữ nguyên cáo trạng đối với những kẻ chịu trách nhiệm vận hành trực tiếp công ty.
Tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng điều ông Rogers muốn tôi khẳng định là ba kẻ đã sáng lập nên doanh nghiệp độc lập kia — toàn bộ đều là cựu nhân viên của Công ty Vacuum Oil — đã thành lập nó với duy nhất một mục đích là ép Standard phải mua lại với giá cao; nghĩa là, đó là một vụ tống tiền đã được lên kế hoạch từ trước. Thế nhưng các lời khai thực sự chẳng đưa ra mấy bằng chứng cho điều đó, trong khi lại phơi bày đủ rõ ràng rằng ban quản lý Công ty Vacuum Oil, ngay từ giờ phút hay tin về dự án đó, đã chủ tâm thực hiện những động thái công khai nhằm ngăn cản nhà máy lọc dầu Buffalo tiến hành hoạt động kinh doanh.
Càng đi sâu tìm hiểu vấn đề — và tôi đã đầu tư rất nhiều công sức vào đó — tôi càng thêm phần quả quyết rằng, dẫu đã có sự bất tín và nhiều chiêu trò đáng ngờ từ phía các thành viên hãng độc lập, thì họ thực sự đã bắt tay vào việc gầy dựng một cơ ngơi kinh doanh cho riêng mình. Hơn nữa, rõ ràng là họ chẳng thu được chút thành công nào đáng kể dưới sự kìm kẹp đối đầu gắt gao từ phía tập đoàn Standard. Điều này bao gồm nhiều vụ kiện vi phạm bằng sáng chế, mà toàn bộ đều bị Standard thua kiện. Trong suốt những năm tháng kiện tụng đó, bốn hội đồng bồi thẩm — hai đại bồi thẩm đoàn và hai bồi thẩm đoàn sơ thẩm — đều đưa ra phán quyết chống lại Công ty Standard Oil.
Cuối cùng, doanh nghiệp độc lập ấy đã bị bắn tơi tả bởi những đợt oanh tạc liên miên đến mức phải rơi vào tay một bên thụy thu. Standard ngỏ ý dàn xếp với giá 85.000 đô-la, và vị thẩm phán đã ra lệnh chấp thuận. Điều đó biến họ trở thành chủ nhân của khúc xương tranh chấp.
Tôi có cảm giác rằng kết luận cuối cùng của tôi về vấn đề này có lẽ sẽ đặt dấu chấm hết cho mối quan hệ giữa tôi với ông Rogers. Tôi không muốn bất ngờ ném kết luận đó lên đầu ông, nghĩa là, tôi muốn ông biết trước thời điểm xuất bản về hướng đi mà tôi đã đúc kết được. Dù tôi chưa bao giờ cho phép ông đọc trước bất kỳ bài báo nào trước khi nó xuất bản, đó vốn là một phần của thỏa thuận ban đầu, nhưng tôi đã phá vỡ quy tắc của mình trong trường hợp này. Ngay lập tức, tôi nhận được một bức thư yêu cầu ghé qua số 26 Phố Broadway. Ông đón tiếp tôi bằng thái độ niềm nở quen thuộc và cho biết ông đã xem xét kỹ lưỡng bài viết của tôi, so sánh nó với một số giấy tờ ông đang giữ và đã viết cho tôi một bức thư trình bày những lời chỉ trích của ông.
Trao bức thư cho tôi, ông nói: “Tôi nghĩ cô nên đọc to nó lên, để chúng ta có thể cùng thảo luận về nó ngay tại đây.”
Tôi bắt đầu đọc, nhưng liền khựng lại ngay câu đầu tiên. Ông Rogers đã viết rằng ông đánh giá cao yêu cầu của tôi về việc làm sao cho câu chuyện khớp với sự hiểu biết và quan điểm của ông về vụ án.
Tôi nói: “Thưa ông Rogers, nếu ông nhìn vào bức thư của tôi, ông sẽ thấy rằng tôi không hề gợi ý ông làm cho bài báo khớp với quan điểm của ông về vụ án này. Tôi đinh ninh rằng mình không thể làm thế được. Tôi đã yêu cầu ông xem xét bài báo để xem tôi có mắc phải sai sót nào trong phát ngôn hay bỏ sót bất kỳ tài liệu chứng minh thiết yếu nào từ cả hai phía hay không.”
Ông mỉm cười. “Thôi được rồi, cứ đọc tiếp đi,” ông nói.
Bức thư đó thực sự xuất sắc, hầu như mọi điểm đều rất xác đáng. Chẳng có điều gì là không thích hợp để tôi ít nhất phải cân nhắc, và với một số điểm của ông, tôi lập tức tuyên bố mình sẵn sàng tuân theo. Khi cuộc thảo luận về bức thư kết thúc, tôi thầm thở phào nhẹ nhõm. Chúng tôi sắp sửa chia tay trong bầu không khí thân thiện mà chẳng ai trong hai người phải từ bỏ niềm tin của mình.
Thế nhưng tôi đã tính toán sai về những thủ đoạn của Henry Rogers trong một vấn đề mà ông vô cùng quan tâm, đặc biệt là thứ chạm đến lòng tự tôn cá nhân và khơi dậy tinh thần chiến đấu trong ông. Bởi vì khi tôi chuẩn bị ra về, ông liền giáng vào tôi một cách giải thích hoàn toàn mới về vụ án. Không chỉ vụ kiện của nhà máy lọc dầu độc lập mà trong đó ông bị truy tố là sự tiếp nối của kế hoạch tống tiền ban đầu, mà ngay cả các luật sư trong vụ án ấy cũng nhúng tay vào âm mưu này. Ông bày ra trước mặt tôi một loạt tài liệu mà ông khẳng định đã chứng minh điều đó. Chủ chốt trong số đó là bản báo cáo chi tiết của bên thụy thu. Bản báo cáo này, theo ông, cho thấy các luật sư đã nhận vụ án với ý thức rằng nếu doanh nghiệp Buffalo không thắng kiện thì sẽ chẳng có thù lao nào cả, và nó cũng cho thấy khi sự việc cuối cùng được dàn xếp, họ đã đưa ra những đòi hỏi mà bên thụy thu cho là cắt cổ cho các dịch vụ của họ. Có tổng cộng năm người, và cuối cùng họ đã được chấp thuận khoảng ba mươi ngàn đô-la.
Vừa chỉ ra những sự thật đó, ông Rogers vừa nói: “Cô có thể thấy vì sao họ lại hào hứng muốn kết tội chúng tôi đến thế chứ. Họ đang thực hiện một vụ cướp bóc nhắm vào Standard, và ghế thẩm phán thì đứng về phía họ.”
Cáo buộc của ông rằng ghế thẩm phán đứng về phía họ dựa trên thực tế là hai trong số các luật sư ban đầu của vụ án sau đó đã được cất nhắc lên làm thẩm phán. Dĩ nhiên họ không hề thụ lý vụ án đó, nhưng họ đã cung cấp thông tin và kết luận của mình để những người kế nhiệm tùy nghi sử dụng.
Tôi cảm thấy giật mình trước lời cáo buộc đột ngột và đầy nham hiểm này, tôi ngồi thẫn thờ một lúc lâu với cái đầu cúi gằm xuống đống tài liệu, quên mất sự hiện diện của ông, cố gắng tìm cho ra ý nghĩa đằng sau những giấy tờ ấy. Liệu còn có lời giải thích nào khác ngoài những gì ông Rogers đã thuyết phục tôi không? Ngước lên đột ngột, lần đầu tiên trong suốt thời gian quen biết ông Rogers, tôi bắt gặp ánh mắt ông đang nheo lại đầy ranh mãnh nhìn mình. Tôi lập tức dấy lên cảnh giác.
“Cô thấy đấy, chúng tôi không phải là những kẻ duy nhất đâu, cô Tarbell.”
“Nếu điều này có ý nghĩa như những gì nó thể hiện thì các ông không phải. Nhưng tôi sẽ phải nghiên cứu kỹ những tài liệu này, thưa ông Rogers; tôi sẽ phải tham khảo ý kiến của một luật sư về thông lệ phổ biến trong những vụ án như thế này.”
Ông đáp: “Không sao cả.”
Ông tỏ ra hào hứng hơn bao giờ hết. “Tôi biết thế nào tập giấy tờ đó cũng sẽ có ích vào một ngày nào đó. Để có được nó, tôi đã phải đồng ý để người của chúng ta mua lại nhà máy lọc dầu Buffalo — chúng ta vốn chẳng muốn nó chút nào, nhưng tôi muốn có được các báo cáo của bên thụy thu để biết chính xác số tiền chúng ta trả cho họ đã được dùng vào những việc gì.”
Nói chung, chưa bao giờ tôi thấy ông mãn nguyện với bản thân mình đến thế như ở thời khắc đó. Sự thỏa mãn của ông lớn đến mức lần đầu tiên trong mối quan hệ của chúng tôi, ông đã lên lớp dạy dỗ tôi vì một lời nhận xét cay độc mà tôi vừa thốt ra. Ông nói: “Đó không phải là một phát ngôn mang tinh thần Thiên Chúa giáo.” Tôi cãi rằng đó chính là biểu hiện hoàn hảo cho khái niệm của tôi về một tín đồ Thiên Chúa giáo.
Ông bảo: “Cô nên đi nhà thờ thường xuyên hơn đi. Sao không đến nghe mục sư của tôi, tiến sĩ Savage, thuyết giáo nhỉ?”
Chúng tôi chia tay trong bầu không khí tốt đẹp sau một hồi thảo luận về quan điểm tôn giáo cũng như thói quen đi lễ nhà thờ của mình, và ông gửi lời mời nồng nhiệt mong tôi quay trở lại, điều mà tôi đã đồng ý sẽ làm ngay khi nghiên cứu xong khía cạnh mới trong vụ án Buffalo.
Được sự hỗ trợ của một vị luật sư vô tư và công tâm, tôi đã tiến hành nghiên cứu thấu đáo các tài liệu; thế nhưng dù cố gắng hết sức, tôi vẫn không tài nào tự thuyết phục mình rằng lập luận của ông Rogers là có cơ sở vững chắc. Việc các luật sư nhận những vụ án mà họ tin tưởng, với ý thức rằng thù lao của họ phụ thuộc vào chiến thắng, không phải là chuyện bất thường. Nhiều khách hàng có những vụ án chính đáng sẽ bị tước đoạt quyền có luật sư đại diện nếu họ buộc phải bảo đảm một khoản thù lao cố định, bởi vì không hiếm khi, giống như trong vụ Buffalo, toàn bộ gia tài của khách hàng đều bị cuốn vào một vụ kiện. Thông lệ này quá đỗi phổ biến trong giới luật sư uy tín đến mức chắc chắn không thể xem đó là bằng chứng của một âm mưu, trừ khi có lý do để cho rằng họ đã nhận một vụ án mà ngay bản thân họ cũng hoài nghi về tính chính đáng của nó. Không có bằng chứng nào cho thấy các cố vấn pháp lý của doanh nghiệp độc lập kia không bị thuyết phục ngay từ đầu rằng họ nắm giữ một vụ án cực kỳ vững chắc. Những đòi hỏi bồi thường của họ rất lớn; thế nhưng luật sư vốn chẳng nổi tiếng gì với sự khiêm tốn trong các khoản phí của họ, và vả lại, những khoản phí cắt cổ khó lòng có thể bị gán ghép là bằng chứng của một âm mưu.
Khi cuối cùng đã viết xong kết luận của mình, tôi gửi một bản sao cho ông Rogers kèm theo lời nhắn rằng tôi rất sẵn lòng thảo luận lại với ông nếu ông muốn. Quả thực ông có muốn — ông viết thư cho tôi bảo rằng ông có tài liệu mới cần trình bày. Thế nhưng trước ngày hẹn gặp, một bài báo trong loạt bài của chúng tôi đã được xuất bản và chính nó đã đặt dấu chấm hết cho mối quan hệ thân thiện của chúng tôi.
Khi nghiên cứu các lời khai của các doanh nghiệp độc lập trong khoảng thời gian khoảng ba thập niên, tôi đã phát hiện ra những lời phàn nàn lặp đi lặp lại rằng các lô hàng dầu mỏ của họ bị gây cản trở, toa tàu của họ bị gạt sang đường ray nhánh trên đường vận chuyển trong lúc áp lực được đè nặng lên người mua nhằm buộc họ hủy bỏ đơn hàng. Có rất nhiều cáo buộc cho rằng các nhân viên vận tải đang làm rò rỉ thông tin về các lô hàng của phe độc lập.
Ban đầu tôi không lấy làm nghiêm túc cho lắm. Tôi tự nhủ rằng phải tính đến tâm lý nghi kỵ chung đối với các thương vụ của Standard từ phía các doanh nghiệp độc lập. Hơn nữa, tôi cũng sẵn lòng thừa nhận rằng việc dành một mức độ quan tâm nhất định đến những gì đối thủ đang làm được xem là tập quán kinh doanh hợp pháp. Tôi biết rằng tại tòa soạn Tạp chí McClure’s, chúng tôi cũng vô cùng nhạy bén muốn biết các nhà xuất bản khác đang làm gì. Và thêm nữa, luôn có những nhân viên quá nhiệt tình và vô nguyên tắc, dưới danh nghĩa cạnh tranh, chẳng màng đến bất kỳ quy tắc nào trong cuộc chơi của họ.
Thế nhưng những lời cáo buộc cứ thế nhân lên gấp bội. Tôi bắt gặp chúng trong các lời khai, và tôi bắt gặp chúng trong các buổi phỏng vấn. Mọi người bảo tôi rằng chẳng thể nào né tránh được tình trạng gián điệp. “Chúng biết chính xác chúng tôi gửi từng thùng dầu đi đâu. Một nửa thời gian là dầu của chúng tôi chẳng bao giờ đến được đích.” Tôi suýt không thể tin nổi điều đó. Và rồi, một cách bất ngờ, một đống bằng chứng không thể chối cãi rơi xuống bàn làm việc của tôi, chứng thực rằng những gì tôi hằng nghe ngóng hoàn toàn là sự thật, thậm chí còn hơn thế nữa. Thực tế mà nói, hệ thống theo dõi các lô hàng dầu độc lập này hoàn hảo đến từng con chữ, hoàn hảo đến mức nó được đưa vào làm một hạng mục trong hệ thống sổ sách kế toán của công ty.
Ông Rogers từng nói với tôi: “Đôi khi có cảm giác như có thứ gì đó đang bóp cổ Công ty Standard Oil vậy, một thế lực còn lớn hơn cả chúng ta.”
Trong trường hợp này, thế lực lớn hơn đó chính là lương tâm của một thiếu niên. Một cậu nhóc mười sáu hay mười bảy tuổi làm việc trong văn phòng của một nhà máy thuộc Standard có nhiệm vụ định kỳ hằng tháng là thiêu hủy một khối lượng lớn hồ sơ tài liệu. Cậu đã thực hiện mệnh lệnh đó trong suốt nhiều tháng trời mà chẳng mải quan tâm đến nội dung bên trong. Rồi bỗng nhiên vào một đêm nọ, mắt cậu rơi vào tên của một người từng là bạn của cậu từ thuở nhỏ, thậm chí từng là giáo viên trường chủ nhật của cậu, một nhà lọc dầu độc lập trong thành phố, đồng thời là đối thủ cạnh tranh của Standard. Cậu bé bắt đầu để tâm; cậu phát hiện ra cái tên đó xuất hiện lặp đi lặp lại trên các biểu mẫu khác nhau và trong những lá thư mà cậu đang tiêu hủy. Điều đó khiến cậu cảm thấy bất an, và cậu bắt đầu xâu chuỗi các hồ sơ lại với nhau. Chẳng mấy chốc, cậu kinh hoàng nhận ra rằng doanh nghiệp mà cậu đang làm việc đang thu thập từ các văn phòng đường sắt trong thị trấn thông tin chi tiết về mọi lô hàng mà người bạn của cậu đang thực hiện; hơn thế nữa, văn phòng còn viết thư cho đại diện của họ tại vùng lãnh thổ mà lô hàng dầu độc lập đang hướng tới với nội dung: “Hãy chặn lô hàng đó lại — chiếm lấy thị trường đó.” Và nội dung thư từ đã phơi bày cách thức cả hai việc đó được thực hiện ra sao.
Một thanh niên trẻ tuổi phải làm gì trong hoàn cảnh đó? Ban đầu cậu chẳng làm gì cả, thế nhưng cuối cùng, khi không thể chợp mắt nổi mỗi đêm vì cứ nghĩ về nó, cậu đã gom góp một bộ tài liệu đầy đủ và lén lút mang chúng đến cho người bạn của mình.
Mà ngặt một nỗi, nhà lọc dầu độc lập cụ thể này lại là một độc giả thường xuyên theo dõi các bài báo trên McClure’s. Cậu ta đã bị thuyết phục rằng tôi đang cố gắng giải quyết vấn đề một cách công bằng; cậu ta cũng tự thuyết phục bản thân rằng tôi là một người đáng tin cậy. Thế là vào một đêm nọ, cậu ta mang đến cho tôi toàn bộ tập tài liệu mang tính buộc tội đó. Không có gì phải nghi ngờ về tính xác thực của chúng. Điều thú vị nhất đối với tôi là cách chúng khớp hoàn toàn với những lời khai nằm rải rác trong các cuộc điều tra và vụ kiện tụng. Ở đây có sẵn các bản ghi chép sổ sách giải thích cho mọi cáo buộc từng được đưa ra. Thế nhưng tôi phải sử dụng chúng như thế nào đây? Chúng tôi cùng nhau vạch ra một kế hoạch theo đó các biểu mẫu và giấy tờ trắng khác nhau có thể được tái tạo lại bằng cách thay thế tên giả cho các cá nhân và địa điểm nguyên gốc.
Chính sau khi khối tư liệu này nằm gọn trong tay tôi, tôi đã mang vấn đề này ra trao đổi với ông Rogers. “Thưa ông Rogers, công thức ban đầu của South Improvement quy định việc thu thập các báo cáo về những lô hàng độc lập từ các hãng đường sắt. Tôi đã bắt gặp những lời phàn nàn lặp đi lặp lại rằng tập quán đó vẫn tiếp diễn. Thế nào đây? Các anh có theo dõi các lô hàng độc lập không? Các anh có chặn chúng lại không? Các anh có nhận được sự giúp đỡ từ các nhân viên vận chuyển đường sắt trong hoạt động đó không?”
Ông Rogers đáp: “Dĩ nhiên chúng tôi làm mọi thứ hợp pháp và công bằng có thể để tìm hiểu xem các đối thủ đang làm gì, giống như cách cô đang làm ở Tạp chí McClure’s vậy. Thế nhưng còn cái gọi là hệ thống theo dõi và ngăn chặn như cô vừa gợi ý thì đó là chuyện nhảm nhí. Làm sao chúng tôi có thể làm được điều đó ngay cả khi muốn chứ?”
Tôi nói: “Vậy thì, hãy cung cấp cho tôi mọi thứ ông có về điểm này đi.”
Ông bảo ông chẳng có gì ngoài những gì ông đã kể cho tôi rồi.
Như tôi đã nói, bài báo được phát hành ngay trước thềm cuộc gặp gỡ giữa tôi và ông Rogers về thứ mà tôi hằng hy vọng sẽ là vụ án Buffalo cuối cùng. Khoảnh khắc duy nhất trong toàn bộ mối quan hệ với ông mà tôi chứng kiến khuôn mặt ông tái đi vì thị nộ chính là khi tôi đến cuộc hẹn do chính ông sắp đặt. Cuộc phỏng vấn của chúng tôi diễn ra ngắn ngủi.
Vừa chỉ tay vào tờ tạp chí nằm trên bàn, ông vừa tức giận nói: “Cô lấy mớ rác rưởi đó ở đâu ra vậy?”
Tất cả những gì tôi có thể nói về mặt bản chất là: “Thưa ông Rogers, giây phút nào ông cũng không thể nghĩ rằng tôi sẽ nói cho ông biết tôi lấy nó từ đâu. Ông sẽ nhớ lại những nỗ lực của tôi nhằm moi từ ông bất cứ thứ gì ngoài lời phủ nhận chung chung rằng những hành vi gián điệp bị phàn nàn lâu nay là không có thật, rằng chúng có thể được giải thích bằng cạnh tranh chính đáng. Ông thừa biết bản ghi chép sổ sách này là sự thật.”
Đã có một vài lời qua tiếng lại cụch cằn về các điểm khác trong tài liệu, nhưng theo tôi nhớ thì chẳng còn chuyện gì về vụ Buffalo nữa. Bài báo đó đã chấm dứt những chuyến viếng thăm của tôi đến số 26 Phố Broadway.
Gần bốn năm trôi qua trước khi tôi gặp lại Henry Rogers, và trong khoảng thời gian ấy, những sự kiện đầy kịch tính và bi thảm đã đổ ập xuống cuộc đời ông.
Đó là cuộc chiến đồng. Ông và những người bạn của mình từng mưu toan gầy dựng một tập đoàn độc quyền về đồng nhằm đối trọng với sự độc quyền dầu mỏ của Standard Oil, đó là Công ty Amalgamated Copper. Một gã thanh niên trẻ tuổi tên là F. Augustus Heinze đã đặt chân đến Montana, và bằng những thủ đoạn táo bạo cùng sự tàn nhẫn đã tự tay dựng lên một công ty đồng cho riêng mình. Hai tổ chức nhanh chóng lao vào cấu xé lẫn nhau. Đó là một cuộc chiến thương mại chẳng màng chút xíu đạo đức nào, nơi mọi mánhnh lừa lọc tinh vi của luật pháp và chính trị đều được cả hai phía tận dụng triệt để.
Thế nhưng ông Rogers còn vướng phải những rắc rối khác. Ông cùng các bằng hữu của mình bận rộn tổ chức các lợi ích khí đốt ở miền Đông. Họ đã dàn dựng những vụ thâu tóm chứng chỉ cổ phiếu gây thảm họa cho Phố Wall chẳng kém gì khu Phố Chính cờ bạc. Những hoạt động như vậy trong quá khứ chưa bao giờ mang lại cho ông điều gì tệ hơn một lời phàn nàn giận dữ thoáng qua từ báo chí công luận. Thế nhưng giờ đây, thứ giáng xuống lại là đòn chí mạng giáng vào uy danh và niềm tự hào của ông. Đó là một loạt bài viết giật gân được thực hiện bởi một nhà môi giới kiêm đầu cơ vô cùng liều lĩnh và nắm rất rõ nội bộ — Thomas Lawson ở Boston. Suốt gần hai năm trời, Lawson đều đặn xuất bản mỗi tháng trên tờ Everybody’s Magazine dưới tựa đề tuyệt vời “Tài chính cuồng loạn” những tường thuật chi tiết về các vụ đầu cơ của nhóm Rogers cùng cái giá mà những kẻ nhẹ dạ cả tin phải gánh chịu. Câu chuyện đó cắt sâu vào lòng tự ái của ông Rogers. Người ta đồn rằng ông từng đe dọa sẽ tiêu diệt Công ty Phát hành Báo chí Mỹ nếu họ bày bán tờ tạp chí ấy.
Gom tất cả lại, sự phấn khích tột độ cùng cơn thịnh nộ đã vượt quá sức chịu đựng ngay cả đối với bộ khung xương bằng sắt và tinh thần bất khuất của ông, để rồi vào mùa hạ năm 1907, ông hứng chịu một cơn đột quỵ khiến ông phải rời khỏi chiến trận trong nhiều tuần lễ. Khi quay trở lại, ông lập tức đụng độ với vụ kiện của Chính phủ chống lại Công ty Standard Oil, và ngay sau đó là “cơn hoảng loạn của giới nhà giàu” vào năm 1907 — một cuộc khủng hoảng mà kẻ thù cũ của ông trong ngành đồng, F. Augustus Heinze, chính là thủ phạm phần lớn.
Đầu tháng Mười một, khi cơn hoảng loạn vẫn đang càn quét các ngân hàng và giới triệu phú của đất nước, tôi đứng ở một góc phố trên Đại lộ Fifth chờ giao thông thưa bớt. Bỗng nhiên tôi nhìn thấy một cánh tay vẫy về phía mình từ một chiếc ô tô mui trần đang chạy chậm, và đó chính là H. H. Rogers đang mỉm cười với tôi bằng vẻ thân thiện nhất.
Khi tôi kể lại cuộc chạm trán ấy tại tòa soạn, ông Phillips lập tức lên tiếng:
“Sao không thử tìm cách gặp ông ta xem? Nếu ông ấy chịu mở miệng nói về những gì đang diễn ra, thì đó sẽ là một câu chuyện tuyệt vời nhường nào!”
Thế nhưng liệu ông ấy có chịu gặp tôi không? Tôi hơi hoài nghi về việc thử vận may. Dẫu vậy, cái vẫy chào và nụ cười ấy dường như ngầm hiểu rằng chí ít thì ông không mang lòng thù hằn nào cả. Tôi tự nhủ, nhỡ đâu ông đã chùng xuống đủ để cùng tôi ôn lại cuộc đời đầy biến động của mình thì sao? Một tài liệu về giới kinh doanh lớn trong thập niên 80 và 90 sẽ ra sao nếu ông chịu đặt bút ghi lại những ký ức của mình với sự thẳng thắn mà ông từng trò chuyện với tôi! Trông có vẻ đáng để thử, thế là tôi xin một cuộc hẹn. Tôi đã không tính toán sai. Ông Rogers không hề mang chút thù hằn nào. Tôi nhanh chóng nhận được lời mời đến tư gia của ông. Tôi thấy ông đã thay đổi về mặt thể chất, mập mạp hơn, kém gân guốc hơn, thế nhưng vẫn thẳng thắn như ngày nào. Ông kể cho tôi nghe về cơn đột quỵ của mình; ông cay đắng phàn nàn về thứ mà ông gọi là cơn hoảng loạn Roosevelt cũng như sự nhúng tay của Roosevelt vào công việc làm ăn của Công ty Standard Oil. Ông đã bật mí cho tôi hướng đi khi bắt đầu bàn về những ngày tháng thuở sơ khai ở Vùng Dầu mỏ. Ông nói: “Có cả một chương dài chưa từng được viết thành sách, đó là khoảng thời gian từ năm 59 đến năm 72.”
Mọi chuyện đang tiến triển vô cùng suôn sẻ thì cuộc phỏng vấn của chúng tôi bị cắt ngang bởi một tấm danh thiếp được đưa đến tay ông — Joseph Seep, người đứng đầu Cơ quan Mua sắm Dầu mỏ Standard. Việc ông Seep ghé qua vào đúng lúc tôi đang ở đó khiến ông vô cùng buồn cười.
Ông nói: “Bây giờ cô phải về thôi,” và ông đẩy tôi ra ngoài theo một lối đi vòng vèo. Giống như ở số 26 Phố Broadway, những vị khách ghé thăm không được phép nhìn thấy mặt nhau.
Khi chúng tôi bước vào một hành lang tối tăm, ông bật đèn lên. Vừa cười lớn, ông vừa nói: “Cô thấy đấy, bây giờ chúng tôi phải tiết kiệm mà.” Lời chào tạm biệt của chúng tôi diễn ra nồng nhiệt. Ông dặn: “Chúng ta sẽ bàn tiếp chuyện này sau nhé. Hãy gọi cho cô Harrison trong vòng một tuần hoặc mười ngày nữa, chúng ta sẽ đặt lịch hẹn.”
Lịch hẹn đó chẳng bao giờ thành hiện thực. Những tháng ngày sắp tới quá đỗi khó khăn đối với ông Rogers. Các công việc kinh doanh khổng lồ của ông tiếp tục rơi vào vòng phức tạp; huyền thoại về sự bất khả chiến bại của ông trên thương trường đã suy yếu. Hơn thế nữa, sự cay đắng của Công ty Standard Oil đối với vụ kiện của Chính phủ lớn đến mức tôi hoài nghi liệu ông hoặc các cộng sự của ông có cho rằng việc ông trò chuyện với tôi là khôn ngoan hay không. Có lẽ họ cho rằng ông đã nói quá nhiều rồi mà chẳng thu lại được bao nhiêu. Họ — và có lẽ cả bản thân ông — chưa bao giờ hiểu hết việc ông đã góp phần lớn nhường nào để làm tôi nhận thức được sự vĩ đại chính đáng của Công ty Standard Oil, hay ông đã giúp tôi thấu hiểu sâu sắc hơn về sự bao la, phức tạp của các vấn đề nơi đây cùng khả năng nắm bắt đáng kinh ngạc mà họ dùng để giải quyết chúng.
Lời phàn nàn của họ nhắm vào tôi, lời phàn nàn của ông Rogers, là tôi chưa bao giờ có thể kìm nén sự khinh miệt của mình đối với những phương thức phi pháp của họ để nhường chỗ cho sự ngưỡng mộ dành cho thiên tài tổ chức, sự táo bạo trong tưởng tượng và thi hành của họ. Thế nhưng sự khinh miệt trong tôi chỉ có tăng lên chứ chẳng hề thuyên giảm khi tôi lao vào công việc.
Tôi chưa từng mang lòng thù hằn nào đối với quy mô và sự giàu có của họ, chưa bao giờ phản đối hình thức công ty của họ. Tôi hoàn toàn sẵn lòng để họ liên kết và bành trướng lớn mạnh giàu có đến đâu tùy thích, nhưng phải bằng những phương thức hợp pháp. Thế nhưng họ chưa bao giờ chơi đẹp, và điều đó đã phá hủy sự vĩ đại của họ trong mắt tôi. Tôi đinh ninh rằng tấm gương rực rỡ của họ không chỉ góp phần làm xói mòn các chuẩn mực đạo đức của đất nước mà còn đẩy nền kinh tế lâm vào tình trạng bất ổn. Trải nghiệm trong thập niên vừa qua đặc biệt cho tôi thấy đã minh chứng đầy đủ cho niềm xác tín của mình.
Tôi chẳng bao giờ có cơ hội gặp lại ông Rogers nữa, bởi vào tháng 5 năm 1909, ông đột ngột qua đời — hai năm trước thời điểm Tòa án Tối cao phán quyết giải thể Công ty Standard Oil.