Chiến tranh đã chấm dứt, và nước Mỹ đang cho hãm phanh cỗ máy chiến tranh của mình — trong một số trường hợp, họ siết phanh gấp đến mức gây ra những tình trạng hỗn loạn gần như chẳng kém gì khói lửa chiến trận. Lúc này, Ủy ban Phụ nữ thuộc Hội đồng Quốc phòng Quốc gia chẳng còn việc gì khác ngoài việc thu dọn rồi dọn đi nơi khác. Tiến sĩ Anna ở lại giám sát trong lúc một nữ thư ký điều hành tài năng cùng một nhóm nhân viên văn phòng ít ỏi sắp xếp lại mọi chuyện, lập báo cáo về những việc đã làm, và gửi lời cảm ơn đến tất cả những ai đã hợp tác.
Đến cuối năm, bàn làm việc của tôi đã được dọn sạch và tôi bắt đầu chuẩn bị cho một công việc mới: sang Pháp làm việc cho tờ Red Cross Magazine. Viên chủ bút cũ của tôi, ông John S. Phillips, đã nắm quyền điều hành ở đó được vài tháng, biến tờ báo thành một ấn phẩm thực sự ý nghĩa và đầy tính khích lệ. Ông muốn có một cái nhìn mới mẻ về công tác tái thiết mà tổ chức này đang thực hiện tại Pháp, và ông nghĩ tôi có thể đảm nhận việc đó. Tôi đồng ý thử sức.
Chuyến vượt đại dương vào tháng Giêng năm 1919 đã mang lại cho người ta dăm ba ý niệm về những gì chiến tranh gây ra đối với nhịp sống trật tự thường nhật. Lẽ ra tôi phải lên đường đi Bordeaux vào một giờ cố định; thế nhưng chẳng có con tàu nào khởi hành đúng giờ cả, dẫu hành khách vẫn được yêu cầu phải có mặt đúng giờ rồi cứ thế ngồi dài hàng giờ liền khi chúng tôi bị khóa nhốt trong phòng đợi ở bến tàu. Ít ra thì điều đó cũng cho bạn cơ hội ngắm nghía tổng thể những người sẽ đồng hành cùng mình trên chuyến hải hành. Rõ ràng tất cả mọi người trên tàu của tôi đều ít nhiều dính líu đến một vấn đề khôi phục nào đó, thú vị nhất là những người Pháp quyết tâm phục hồi lại những gia đình mà họ e rằng đã bị tước đoạt sạch trơ. Họ mang theo cả đồ ăn thức uống. Trong lúc chúng tôi chờ đợi, một người phụ nữ đang canh chừng hai chiếc đùi lợn muối khổng lồ đã giải thích với tôi rằng mẹ cô ấy đã nài nỉ cô mang về một chiếc jambon. Đã lâu lắm rồi bà không được ăn jambon. Đó là một ý tưởng mới mẻ đối với tôi. Tôi vốn biết đồ ngọt sẽ làm bạn bè mình vui lòng, nên đã thủ sẵn chocolate và kẹo ngọt; thế nhưng lại là một chiếc jambon! Cớ sao tôi lại không thể mang một chiếc cho người bạn thân yêu Madame Marillier của mình cơ chứ? Xin được giấy phép rời bến tàu, tôi rảo tìm một khu chợ gần đó và sau hồi kỳ kèo mặc cả, tôi thuyết phục được một tay buôn sỉ bán cho mình một đùi lợn muối to gần bằng người tôi. Việc đưa nó lên tàu đã là một vấn đề, nhưng đưa nó xuống tàu rồi mang về Paris lại còn nan giải hơn nhiều. Tôi từng có những suy nghĩ kỳ quặc về những thứ mình có thể cần mang theo làm hành lý, và trong trang bị của tôi có một đôi túi đôi gắn yên ngựa to tướng; tôi đã nhét vào đó những đôi bốt cao cổ, chăn dày, áo len, quần tất len và vớ len — chỉ để phòng hờ. Dồn hết đống ấy vào một bên túi, tôi nhét chiếc jambon vào bên túi còn lại. Trong suốt chuyến hành trình dài đằng đẵng và mệt mỏi bằng tàu hỏa từ Bordeaux về Paris, tôi bị nhồi nhét giữa một nhóm các bạn trẻ người Quaker tử tế và nghiêm túc đang trên đường sang giúp đỡ một dự án tái thiết, và món hành lý khủng khiếp kia đã nhảyồmmổm khỏi giá đỡ rồi suýt nện vỡ sọ một người bạn đồng hành của tôi. Tôi không sao nhớ hết mọi cuộc phiêu lưu của chiếc đùi lợn muối ấy, chỉ biết rằng chưa bao giờ tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn thế khi đặt nó dưới chân người bạn cũ của mình.
“Trời đất ơi, cái gì thế này?” bà thốt lên (hoặc đại loại như vậy).
Và Seignobos liền nói: “Ồ, lại là mấy người Mỹ này.”
Chẳng mất bao lâu khi đặt chân đến Paris, tôi đã cảm nhận sâu sắc rằng rất nhiều người Pháp đang thốt lên câu: “Ồ, mấy người Mỹ này!” Chúng tôi dường như tràn ngập khắp nơi, ngốn ngấu mọi thứ. Ít ra thì điều đó cũng đúng tại khu vực mà, theo lời giục giã của hai người bạn tôi là Auguste Jaccaci và William Allen White, tôi đã đến trọ — khách sạn Hôtel de Vouillemont nằm ngay gần Quảng trường Concorde.
Đi bộ xuống phố Rue de Rivoli để đến Trụ sở Hội Chữ Thập Đỏ cũng chẳng khác nào rảo bước trên những con đường ở Washington quanh khu vực các cơ quan chính phủ đang tất bật với các công việc thời chiến. Mọi gương mặt quen thuộc dường như đều đã được chuyển đến Paris, và quả thực là rất nhiều người trong số họ đã có mặt ở đây. Hòa lẫn với họ là các sĩ quan và binh lính đang nghỉ phép, nhiều người trong số đó đang tuyệt vọng tìm cách vùi lấp những ký ức kinh hoàng vào bất kỳ hình thức giải trí nào mang lại sự quên lãng, nhưng phần lớn vẫn mải miết ngắm cảnh và mua quà mang về nhà. Tôi nhận ra nhiệm vụ thú vị nhất mà bộ đồng phục Chữ Thập Đỏ mang lại cho mình ở Paris là khi được những anh lính nhà binh vạm vỡ cất lời chào hỏi. “Này cô, cô giúp tôi tìm món gì đó mang về cho mẹ tôi — hoặc bạn gái tôi — được không?” Trước khi chúng tôi mua sắm xong xuôi, tôi đã tường tận gia cảnh của họ nhưng chẳng hề nghe một lời nào về chiến tranh — chuyện đó đã chấm dứt rồi. Họ muốn quên nó đi và trở về nhà. Họ tỏ ra bực bội trước sự chậm trễ.
“Chúng ta đã trả xong món nợ cho Lafayette rồi. Giờ thì còn nợ quỷ xứ nào nữa đây?” Đây là dòng chữ tôi từng nhìn thấy trên một chiếc xe tải chạy ngang qua Quảng trường Concorde. Người ta bảo rằng nó đã bị một viên sĩ quan bất bình xé bỏ và bị cấm sử dụng trong tương lai. Nhưng theo những gì tôi thấy và nghe được, nó đã diễn tả đúng đắn ý kiến của những người lính nhà binh hơn bất cứ thứ gì khác.
Không chỉ những khung cảnh nơi khu phố của tôi mà cả điều kiện sinh sống ở đây cũng đập tan mọi quan niệm vốn có của tôi về sự kham khổ. Tôi từng chuẩn bị tâm lý để gặm bánh quy cứng, nhưng một khi đã đến Vouillemont, tôi nhận ra rằng nếu chịu khó đi chợ và tự mang chiến lợi phẩm về, tôi có thể bù đắp cho những bữa ăn thiếu cân bằng ấy bằng bất cứ thứ gì mình muốn. Giá cả quả thực rất đắt đỏ — mười sáu xu một quả trứng — hai đến bốn đô la một pa-ao bơ — một đô la rưỡi cho một hũ mật ong nhỏ. Nhiều mặt hàng phụ trội có thể mua được với giá rẻ hơn tại Phân phối xá của quân đội Mỹ. William Allen White thường mua ở đó những quả mận khô mà dường như anh ta dùng làm món ăn chính hằng ngày, nhưng việc đi chợ lại mang đến cho tôi cơ hội tuyệt vời để tìm hiểu xem những chủ tiệm lanh lợi người Paris đang nghĩ gì và nói gì. Tôi thăm dò ý kiến đó mỗi ngày cho đến khi nó bị dập tắt bởi niềm tin đang lan truyền khắp thị trấn rằng nước Mỹ không còn hoàn toàn đồng cảm với người Pháp nữa, rằng nước Mỹ sẽ không nhúng tay ép nước Đức phải trả sáu mươi lăm tỉ đô la mà người dân nơi đây cho rằng họ xứng đáng nhận được.
Ảnh của Christian Duvivier

Trụ sở Hội Chữ Thập Đỏ, Paris, Pháp, 1919
Những người Mỹ sinh sống quanh Quảng trường Concorde đảm bảo với tôi rằng Paris chẳng hề thay đổi; có lẽ là không thay đổi đối với họ, nhưng khi tôi đi sâu vào những người bạn cũ người Pháp của mình — hầu hết những người đã kiên cường trụ lại qua suốt cuộc chiến tranh — những đổi thay liền đập thẳng vào mắt tôi. Tôi vội vã tìm về khu phố cũ của mình ở Tả ngạn sông Seine. Những khoảng trống lớn quanh đền Panthéon và trên đại lộ Boulevard Saint-Michel chạy dọc theo công viên Luxembourg đã kể lại câu chuyện về những gì khu phố này từng phải hứng chịu. Tiệm sữa nơi ngày trước tôi từng mua trứng, sữa và phô mai nay đã biến mất, khoảng không gian đó được ván gỗ che chắn cẩn thận. Tôi dò hỏi hàng xóm về người phụ nữ vui tính mà tôi từng rất quý mến. Họ bảo bà đã qua đời cùng với tòa nhà đó rồi.
Có những sự xập xệ nhỏ nhặt tại những căn hộ từng được chăm chút kỹ lưỡng của bạn bè tôi, chúng tác động đến tôi vượt xa tầm quan trọng thực tế của chúng. Cánh cửa dẫn vào phòng ngủ của Madame Marillier không tài nào khép lại được.
“Bạn biết đấy, ở Paris này chẳng có thứ gì được sửa sang lại trong suốt ba năm qua cả,” người bạn của tôi giải thích.
Đó hoàn toàn là sự thật: không có gì được sơn sửa, không có gì được tu bổ, rất ít thứ được thay thế. Thợ thủ công và tiểu thương đều đang ở ngoài chiến hào hoặc đã nằm dưới nấm mồ. Rất nhiều người mà bạn từng quen biết, những con người từng phục vụ bạn hoặc từng là chiến hữu của bạn, nay đã vĩnh viễn nằm dưới đất sâu. Madame Marillier, khi chỉ tay vào một danh sách dài dằng dặc những cái tên trên bàn làm việc trong phòng khách của bà, đã nói: “Hãy nhìn xem, đây là những người đã chết của chúng tôi. Hãy đọc đi. Bạn sẽ nhớ ra vài cái tên trong số đó.” Và quả thực tôi đã nhận ra, đó là những người mà tôi từng quen biết từ hai mươi lăm năm trước, và từng say sưa lắng nghe những lời đàm đạo uyên bác của họ trong các bữa tối ngày Thứ Tư tại nhà bà.
Họ không thể nào đưa những người đã khuất trở về; nhưng sau tất cả mọi kinh hoàng ấy, cuộc sống vẫn phải tiếp diễn, và họ đang dũng cảm làm hết sức mình để khôi phục lại phần nào diện mạo của nó trước thời kỳ chiến tranh.
Một điều mà họ đang trông mong chính là sự trở lại của những bảo vật belles choses thân thương về với tổ ấm và các bảo tàng của họ. Khi tôi đi ăn tối với những người quen người Pháp từng sở hữu những món đồ tuyệt đẹp — thường là những bức tranh được liệt kê vào danh mục bảo vật quốc gia — những chiếc khung trống hoác cứ trân trân nhìn tôi từ trên tường. Các bức tranh sơn dầu đã bị cắt ra và gửi đến một nơi an toàn, thường là đâu đó ở miền Nam; nhưng chẳng bao lâu nữa họ sẽ lấy lại được chúng, và điều đó sẽ phần nào an ủi họ.
Không chỉ riêng ở Paris mà bất cứ nơi nào bị đe dọa xâm lược, người ta cũng ngay lập tức nỗ lực tẩu tản những báu vật được nâng niu nhất ra khỏi tầm nguy hiểm. Tại Amiens, họ kể rằng người ta đã “gửi đi” bức tượng nổi tiếng L’Ange pleurant (Thiên thần khóc). Nó đã được đưa trở lại khi tôi có mặt ở đó vào tháng Ba, và người dân từ khắp các thị trấn lân cận đang đổ xô đến để chiêm ngưỡng, để trầm trồ và rơi lệ trước bức tượng.
Tôi đặc biệt quan tâm đến số phận của “thiếu nữ Lille” — bức tượng bán thân bằng sáp tuyệt mỹ mà một số người cho là do Leonardo da Vinci thực hiện; và khi chọn Lille làm điểm dừng chân trong vài ngày, tôi lập tức đi dò hỏi thông tin. Phòng trưng bày đã đóng cửa, nhưng người ta vừa nhận được rất nhiều thùng tranh ảnh mà quân Đức đã vội vã tẩu tán trong lúc rút lui nhưng bị chặn lại. Giới chức trách không hề ngần ngại cho phép một nhà báo được chứng nhận tận mắt chứng kiến những gì đã xảy ra, và tôi đã được cho phép vào thăm phòng trưng bày. Những chiếc thùng vẫn nằm đó áp sát vào tường, chưa hề được mở nắp, và trên mỗi thùng đều in rõ tên bức tranh cùng viện bảo tàng của Đức mà nó được phân bổ — một bằng chứng hùng hồn về hiệu suất đáng kinh ngạc mà quân Đức đã thực hiện trong công cuộc hôi của của chúng.
“Chà, kìa,” tôi thốt lên khi đi một vòng, “kia chính là ‘thiếu nữ Lille’ rồi!”
Người quản viện nháy mắt với tôi. “Cô nghĩ vậy thật sao?” ông nói. “Đó là những gì Hoàng đế Đức đã nghĩ khi ông ta đi qua bảo tàng này. Đó chỉ là một bản sao thôi. Thiếu nữ của chúng ta đang ở một nơi an toàn và cô ấy sẽ ở đó cho đến khi tôi chắc chắn rằng ‘bọn chúng’ không quay lại nữa.” (“Bọn chúng” là cụm từ mà tôi nghe thấy mọi người áp dụng một cách phổ biến để chỉ quân Đức ở các vùng bị tàn phá.)
Đi đến đâu tôi cũng bắt gặp niềm vui sướng tương tự trước sự an toàn và trở về của những báu vật belles choses ấy. Tôi nghĩ mình chưa từng hòa mình vào một tập thể nào mà lòng biết ơn hòa lẫn với nỗi buồn sâu sắc đến thế, khi người bạn của tôi là Auguste Jaccaci — người đã ở lại Paris suốt những năm chiến tranh để đứng đầu công tác từ thiện tuyệt đẹp dành cho trẻ em Bỉ và Pháp bị thất lạc hoặc mồ côi vì chiến tranh — ngỏ ý mời tôi đi cùng đến buổi lễ khai mạc một căn phòng tại bảo tàng Louvre, căn phòng vốn dĩ bị đóng cửa suốt những tháng ngày đen tối. Đó là một trong những phòng trưng bày nhỏ hơn, nhưng người ta đã tập hợp lại ở đó những tài sản mới, những món đồ được mua trong thời chiến, những hiện vật do người ta để lại qua di chúc, cùng một bộ sưu tập những tác phẩm tinh túy nhất. Chúng được chào đón bởi những nhà phê bình nghệ thuật hàng đầu của thành phố: các giám đốc của bảo tàng Louvre và Luxembourg, một vài nghệ sĩ, và một số quý bà quyền quý. Ai nấy đều mặc đồ đen và rảo bước với sự trân trọng lặng lẽ nhưng đầy cảm động, dường như họ vẫn khó có thể tin rằng mình lại được tự do tận hưởng cái đẹp một lần nữa. Cảm giác ấy giống như được trở về nhà sau đám tang dài đằng đẵng của một người thân yêu trong gia đình.
Tuy nhiên, tôi lại bận tâm nhiều hơn đến điều kiện sinh hoạt hằng ngày của những người dân thường, đặc biệt là ở vùng lãnh thổ vừa mới bị chiếm đóng. Đối với tôi, đó mới là nơi Hội Chữ Thập Đỏ có thể phát huy sự trợ giúp thiết thực nhất. Chỉ cần đảo mắt quan sát đôi chút là đủ thấy bất cứ thứ gì chúng ta cung cấp cũng đều hữu dụng, dù là đối với những người đã bị kẹt lại và sinh sống qua suốt mùa chiến tranh, hay đối với những người giờ đây đang lũ lượt kéo trở về, phần lớn là bất chấp sự phản đối của chính quyền.
Tôi chưa từng tưởng tượng rằng một trận oanh tạc có thể tước đoạt sạch trơ khỏi một cộng đồng, một vùng nông thôn, mọi tiện nghi nhỏ nhặt của cuộc sống. Tại Lens — từng là một thị trấn sản xuất và khai mỏ lớn, nay chỉ còn là một đống gạch vụn đỏ rực, hầu như chẳng còn bức tường nào đứng vững — tôi đi vòng quanh tìm kiếm những dấu hiệu của sự sống, bởi người ta nói với tôi rằng có một vài người đã vượt qua cơn ác mộng này và hiện đang sống ẩn dật dưới lòng đất. Bắt gặp một lối đi có vẻ như dẫn qua một đống đổ nát, tôi lần theo nó vào một cái lỗ hổng; và ở đó, trong phần sót lại của một tầng hầm, một người phụ nữ đang ngồi vá may. Có một đống lửa đang cháy trên lò sưởi. Bà đứng dậy chào đón tôi — một đứa trẻ chạy vụt ra, một cô bé đầu tóc bù xù, bẩn thỉu và rách rưới. “Xin cô thứ lỗi cho bộ dạng của chúng tôi nhé. Chúng tôi đã ở đây nhiều tháng trời rồi. Chúng tôi chẳng có nổi một chiếc lược. Không ghim băng, chẳng có gì cả. Nhưng chúng tôi rất vui vì bọn chúng đã cuốn xéo đi rồi.”
Thỉnh thoảng tôi lại bắt gặp những nhóm nhỏ đã tìm được nơi trú ẩn trong chiến hào của kẻ địch suốt những năm chiến tranh. Tại một thị trấn nhỏ phía đông nam Laon, thuộc vùng bị chiếm đóng từ đầu cuộc chiến và giữ vững cho đến tận cuộc rút lui cuối cùng, tôi bắt gặp nửa tá trẻ em lớn lên trong chiến hào. Một cặp nữ tu người Pháp đã quay trở lại vùng đất này và đang cố gắng dạy dỗ chúng thành những con người văn minh. “Cô không thể tưởng tượng nổi đâu,” các sơ bảo tôi, “việc dạy chúng biết dùng khăn tay khó khăn đến nhường nào.” Đó là lời phân trần cho những chiếc mũi cứ sụt sịt không dứt. Thế nhưng, dẫu mù tịt về mọi cung cách văn minh, đám trẻ này lại có một sức khỏe đáng kinh ngạc. Chúng đã ăn thứ lương thực của kẻ xâm lược, và sống trong lòng đất chẳng khác gì những chú thú con. Dù chẳng biết gì về sách vở, chúng lại rành mạch mọi thứ về chiến tranh: súng ống, trận địa, đạn pháo, quân phục. Riêng về quân phục, chúng có những quan điểm rất quả quyết. Chúng chưa từng nhìn thấy bộ đồng phục Chữ Thập Đỏ nào trước đó, và chúng thẳng thừng chê bai: “pas chic” — mà tôi đoán ý chúng là “vụng về, kệch cỡm”. Và tôi đành phải thú nhận rằng bộ của tôi trông cũng thế thật.
Trên hành trình đi đây đi đó, tôi cứ tự hỏi mãi làm sao mà mọi chiếc ghim, mọi cây kim, mọi cuộn chỉ, mọi chiếc lược lại có thể biến sạch đi đâu mất. Những vật dụng lớn thì còn có thể hiểu được, đằng này lại là những thứ nhỏ nhặt ấy! Sự tĩnh mịch của những vùng đất bị tàn phá thậm chí còn gây khó hiểu hơn cả sự cạn kiệt đó. Tôi đã lái xe đến biên giới Bỉ vài lần, và phải mất một thời gian dài tôi mới nhận ra tại sao nơi đây lại tĩnh lặng đến vậy. Cuối cùng tôi chợt nghĩ ra rằng mình chẳng hề nhìn thấy hay nghe thấy bất kỳ sinh sự sống nào, không một con mèo, con chó hay con gà nào cả. Tất cả những sinh vật ấy đã biến mất hoàn toàn. Và khi chúng bắt đầu được mang trở lại, niềm vui sướng hân hoan cũng hệt như lúc những bảo vật belles choses được đưa về thành phố. Có lẽ con người ta lại có thể sống tiếp được rồi.
Tại Vic-sur-Aisne, nơi Ủy ban Nước Mỹ vì Vùng đất bị tàn phá của Pháp đang thực hiện công việc thiết thực tuyệt vời của mình, một trong rất nhiều, rất nhiều việc họ đang làm là cố gắng tái tạo đàn gia cầm. Con gái của một gia đình danh giá ở New York đang đặt một chiếc lò ấp trứng ngay trong phòng ngủ của cô, nơi cô bảo với tôi rằng chẳng bao lâu nữa cô hy vọng sẽ có được một bầy gà con. Vào ngày tôi ghé thăm nơi đó, một con gà mái được nhập khẩu đã đẻ được một quả trứng. Đó là một sự kiện lớn trong cả vùng. Hôm ấy, tôi đã nhìn thấy những người phụ nữ nông dân lau dòng nước mắt khi họ ngắm nhìn con gà mái ấy cùng quả trứng của nó. Họ sẽ lại được sống.
Tôi cũng chia sẻ cảm xúc này sau đó, khi mùa xuân bắt đầu về, và trong lúc đi qua những bãi chiến trường ngổn ngang, tôi nhìn thấy những đóa hoa anh thảo. Một ngày nọ, tôi nghe thấy tiếng chim chiền chiện hót vang, hót hoài cho đến khi nó bay vút lên bầu trời xanh thẳm rồi rà xuống đất như một hòn đá rơi. Nó tựa như một tiếng nói hứa hẹn từ thiên đàng.
Thứ cứu vớt lý trí của con người giữa chốn hoang tàn đổ nát vô bờ bến này — vốn trọn vẹn và khó tin đến mức kinh hoàng — chính là cách thức tiến hành khôi phục đầy trí tuệ và năng nổ. Các tuyến xa lộ từ Paris đi Lille và kéo dài đến Brussels đã được khai thông. Chúng đi qua những thị trấn tan hoang như Albert, Arras, Béthune, Lens, Armentières. Tôi đã có thể — và thực tế là đã — đi lại một cách thoải mái đến Ypres, Cambrai, Saint-Quentin, Laon, Rheims — tới tất cả những điểm quan trọng ở đông bắc nước Pháp và dọc theo dải biên giới. Chỉ khi nào bạn dám làm trái mệnh lệnh và thám hiểm những vùng lãnh thổ chưa được khai thông thì bạn mới gặp rắc rối mà thôi. Tôi từng thử rẽ vào Sườn núi Messines và kết quả là sụp xuống một cái hố đạn pháo. Phải nhờ đến hai mươi chàng trai người An Nam nhỏ thó — được tài xế người lính nhà binh của tôi tìm thấy đang làm công việc dọn dẹp cách đó chừng một dặm — mới có thể cẩu chiếc xe của chúng tôi lên và khiêng nó đi một phần tư dặm đến một nơi tương đối an toàn. Những lời mắng mỏ giận dữ của một sĩ quan Anh — vì người Anh chịu trách nhiệm quản lý khu vực đó — vẫn còn văng vẳng bên tai tôi.
Cảnh tượng khích lệ lòng người nhất chính là quá trình chuộc lại chậm chạp và đều đặn mảnh đất bị tàn phế ấy. Theo quy tắc, công việc dọn dẹp lớp tàn tích chiến tranh đầu tiên được giao cho tù binh Đức và binh lính từ các thuộc địa của Pháp. Đó là một bãi rác kinh hoàng gồm xe tăng bỏ hoang, pháo binh, súng ống, đạn dược, lựu đạn cầm tay — thật không may, không phải quả nào cũng là đạn lép, như những tai nạn xảy ra hằng ngày đã chứng minh. Sau khi dọn sạch đống đổ nát là đến nhiệm vụ nặng nề là san bằng mặt đất. Nơi đây thường bị cày xới sâu hoắm, chẳng hạn như khu vực Chemin des Dames, nơi lớp nền đá vôi trắng cứng nhắc bị văng lên nằm vương vãi trên bề mặt — trong khi đất cát thực sự nằm sâu tít bên dưới. Sau công đoạn san lấp là máy kéo cày xới đất đai, và cuối cùng là gieo hạt. Dọc theo các tuyến xa lộ nằm ngoài hầu hết các thị trấn lớn bị tàn phá mà tôi nhìn thấy giữa Paris và Lille là những đoạn ngắn đang ở giai đoạn này hay giai đoạn khác của quá trình chuộc lại đầy ngăn nắp ấy.
Người Pháp, người Anh và người Mỹ đều góp sức vào công cuộc tái thiết. Nhưng tôi cảm thấy điều thực sự quan trọng chính là công việc của người Pháp: thứ nhất, đó là việc của họ; thứ hai, họ hiểu rõ người dân của mình — họ biết mình có thể và không thể kỳ vọng điều gì ở họ. Họ thành công nhất trong việc thúc đẩy các cá nhân làm những việc mà họ vẫn luôn làm theo cách mà họ vẫn luôn làm. Các nhân viên người Mỹ, dù tuyệt vời đến đâu đi nữa, lại muốn cải cách lối sống của người Pháp. Họ rất cuồng chuyện vệ sinh và rèm cửa chintz; trong khi những người đàn ông Pháp lại cuồng máy kéo cộng đồng; còn phụ nữ Pháp thì cuồng máy khâu cộng đồng.
Sau khi nhìn thấy một nhóm phụ nữ Pháp nhỏ bé được tập hợp bởi một nữ công tước năng nổ trong một cánh của lâu đài đã bị tàn phá của bà, đang cặm cụi may lại những bộ quần áo cũ cho đám tị nạn rách rưới — những người thực sự chẳng có lấy một món đồ mới nào trong suốt nhiều năm trời — tôi nghĩ mình đã hiểu được Hội Chữ Thập Đỏ có thể làm gì tốt nhất cho các vùng đất bị tàn phá.
Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, Hội Chữ Thập Đỏ đang nắm giữ hàng triệu bộ quần áo, là thành quả của hàng ngàn nhóm may vá và đan lát nhỏ lẻ rải rác từ đại dương này sang đại dương khác và từ vùng Ngũ Đại Hồ cho đến Vịnh Mexico. Vô số áo sơ mi, quần lót, đồ ngủ, khăn choàng cổ, áo len đã chất đống trong các nhà kho — nơi lớn nhất mà tôi từng thấy là ở Lille. Lời kêu gọi của tôi là: “Hãy bàn giao chúng cho các hội nhóm may vá của Pháp đang mọc lên nhanh chóng như nấm và nếu có thể, hãy gửi kèm theo cả máy khâu nữa. Các vị có thể chắc chắn rằng những bộ đồ ngủ Kalamazoo, những chiếc áo sơ mi Topeka, áo len của bất kỳ ai, đều sẽ được sửa lại vừa vặn cho trẻ em, đàn ông và phụ nữ — những người hiện tại không có nổi một chiếc áo sơ mi tử tế để mặc trên lưng, hay một chiếc quần lót lành lặn để che chân.” Một đợt phân phát rời rạc đã bắt đầu được tiến hành, nhưng tôi muốn nó phải diễn ra trên diện rộng và có hệ thống. Thật là an ủi khi tìm thấy ít nhất một việc, dẫu hiển nhiên nhưng tôi cảm thấy mình có thể nhiệt tình hậu thuẫn.
Sự trợ giúp thiết thực càng đáng giá hơn biết bao khi được áp dụng một cách đầy khôn ngoan và hữu ích. Những người hiếm hoi quay trở lại các thị trấn mà họ từng bị đuổi đi thường cho thấy sự tháo vát và lòng dũng cảm đáng kinh ngạc. Họ muốn xây dựng lại nhà cửa, dựng lại cửa hàng của mình; thế nhưng khi đặt chân đến thị trấn nơi họ từng sinh sống, họ thường chẳng tài nào tìm ra nổi mảnh đất mà họ hằng đinh ninh là của mình. Tại Cantigny, một đống đổ nát phẳng lì hoàn toàn vào ngày tôi ghé qua, một cặp vợ chồng người Pháp đã xuất hiện và lặng lẽ đi quanh tìm cách xác định vị trí ngôi nhà cũ của họ. Cuối cùng họ đành bỏ đi trong sự bất đồng không biết con đường của họ ngày trước nằm ở đâu.
Tại Péronne, tôi trò chuyện với một người thợ mộc đã dựng lại được cửa hàng của mình. Anh ta kể rằng mình đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm lại địa điểm cũ, nhưng anh nghĩ mình đang đứng đúng chỗ — ít nhất là chính quyền đã bảo anh có thể định cư ở đó. Bằng cách giật lấy những giàn giáo từ các ngôi nhà ngổn ngang và mang những tấm tôn lượn sóng từ các chiến hào gần đó về, anh đã tự dựng cho mình một mái che chống thấm nước, bố trí một chiếc bàn làm việc và bắt đầu kiếm được chút ít tiền bằng cách giúp chính quyền dọn dẹp đây đó. Một công việc mang tính xây dựng mà anh đã nhận làm là cứu hộ những cánh cửa. Chỗ này anh tìm thấy một khung cửa chắc chắn, chỗ kia là một tấm ván; và bằng cách ghép chúng lại với nhau, anh đã tạo ra được một nguồn hàng. Anh chắc chắn rằng chẳng bao lâu nữa mình sẽ có khách hàng tới mua.
Tất cả những điều đó đã tiếp thêm can đảm cho tôi hệt như đóa hoa anh thảo đầu tiên, tiếng chim chiền chiện đầu tiên từng làm. Vẫn luôn tồn tại một sức sống bất khuất nào đó trong con người cũng như trong tự nhiên, một thứ khiến họ sinh sôi và vươn lên.
Thủ đô Paris và Hội nghị Hòa bình đã thử thách niềm tin của tôi một cách gay gắt hơn nhiều so với những vùng đất bị tàn phá. Người anh trai của tôi ở tận nước Mỹ đã viết thư cho tôi rằng công việc mà Hội nghị tự đặt lên vai họ lớn lao chẳng khác nào việc tạo ra thế giới. Con người ta không đủ tầm vóc cho việc đó, và người ta không khỏi kinh hoàng khi thấy họ lại cảm thấy mình xứng tầm đến thế — hoặc nếu không phải vậy, thì họ lại sẵn sàng tạo ra ấn tượng rằng mình xứng tầm.
Điều khiến tôi sợ hãi là có quá nhiều con người tơi tả lại chấp nhận cái ý niệm ấy về những gì Hội nghị có thể và sẽ làm. Từ khắp nơi trên toàn cầu, họ mang theo những nỗi oan khiên, hy vọng và nhu cầu của mình đến đây để mong được thỏa mãn. Nhiều người trong số họ còn mang theo cả những ý tưởng về việc thiết lập và vận hành một thế giới mới — những ý tưởng mà họ cảm thấy mang phẩm chất truyền cảm hứng. Trong tâm trí của mỗi thỉnh cầu viên ấy, sự thành công của Hội nghị sẽ phụ thuộc vào việc họ có đạt được thứ mình đang theo đuổi hay không.
Thế nhưng ngay từ bước khởi đầu, họ đã bị cản trở bởi thất bại trong việc tiếp cận nhân vật duy nhất mà họ tin rằng không chỉ có thiện chí mà còn có cả quyền lực để giải quyết những oan khiên và hy vọng của họ — đó chính là Đấng Mê-si của Hội nghị, Woodrow Wilson.
Trong bộ máy phức tạp và bao trùm của Hội nghị luôn có một ai đó túc trực để lắng nghe, sàng lọc và báo cáo vụ việc của họ; thế nhưng hết lần này đến lần khác, họ chẳng thể nắm bắt được chuyện gì đang xảy ra với hồ sơ của mình. Việc khăng khăng đòi một câu trả lời, đòi biết rõ tiến triển ra sao thường chỉ dẫn đến việc đóng sập những cánh cửa vốn từng chào đón họ ban đầu. Tôi cảm nhận sâu sắc điều này qua trường hợp của những người Armenia. Sự quan tâm của tôi đối với họ được khơi nguồn bởi một phái đoàn tại khách sạn Hôtel de Vouillemont. Trong số đó có một người phụ nữ sở hữu một trong những gương mặt đẹp đẽ và bi thương nhất mà tôi từng ngắm nhìn. Chẳng mất bao lâu, người phụ nữ này đã bày tỏ câu chuyện của mình trước mặt tôi bằng một thứ tiếng Anh lưu loát, bởi cô đã thụ hưởng mọi lợi thế từ nền giáo dục châu Âu. Cô cùng các đồng bào của mình đều từng gánh chịu những tội ác tàn bốc và tàn nhẫn đã làm tê liệt cả đất nước họ. Giờ đây, hy vọng của họ là nước Mỹ sẽ đứng ra nhận ủy trị cho Armenia. Trước khi tôi kịp nhận ra thì bản thân mình đã trở thành một người nhiệt thành ủng hộ giải pháp cho vấn đề của họ. Tôi tin chắc rằng, nếu chúng ta gia nhập Hội Quốc Liên, tôi hẳn đã cảm thấy mình có nghĩa vụ phải làm việc vì sứ mệnh ủy trị cho Armenia.
Điều buồn bã nhất là được chứng kiến sự sụp đổ dần dần những niềm hy vọng của họ, là biết rằng ngày đó đã đến khi mà dù ban đầu có được tiếp đón thế nào đi chăng nữa, họ cũng chẳng thể nào lọt vào tai được những yếu nhân hay chuyên gia nữa rồi. Người ta đồn rằng Balfour từng quát lên với một phụ tá khi ông ném xấp tài liệu ghi nhớ của người Armenia vào góc phòng: “Đừng mang cho tôi bất kỳ thứ nào thế này nữa tại Hội nghị này. Tôi đã biết tất cả những gì mình cần biết về cái cớ này rồi, và tôi sẽ không thèm đọc thêm bất kỳ bản ghi nhớ nào nữa đâu.”
Điều tương tự cũng đang diễn ra ở hết phái đoàn này đến phái đoàn khác, và khi niềm hy vọng lụi tàn trong lòng các thỉnh cầu viên thì sự oán giận liền thế chỗ. Chẳng mấy chốc, rất nhiều kẻ thất vọng đã gia nhập vào số lượng không hề nhỏ những kẻ từ thuở ban đầu đã kéo đến Paris, theo như tôi thấy, cốt để làm mọi cách phá hoại Hội nghị cho bằng được. Đến từ khắp mọi quốc gia là những đối thủ chính trị của các đại biểu được chọn và của những giải pháp dàn xếp mà họ đang mưu cầu; chẳng có quốc gia nào lại sản sinh ra nhiều kẻ như vậy bằng nước Mỹ, và chắc chắn chẳng có quốc gia nào lại có lắm kẻ dùng những lời đàm tiếu ác ý làm thứ vũ khí chủ lực như thế.
Những kẻ bất mãn chính trị này chẳng có việc gì làm ngoài việc tán gẫu, và chúng làm điều đó bất cứ khi nào tìm được một kẻ chịu lắng nghe — trong các quán cà phê, ở góc phố, bên những bàn ăn tối của người Pháp — những bàn ăn tối ngày càng trở nên lạnh nhạt khi bắt đầu râm ran tin đồn rằng mức độ trừng phạt toàn diện mà họ đòi hỏi sẽ không được giáng xuống đầu nước Đức. Những nhóm người này dĩ nhiên đã thu nạp cả những con người ngơ ngác đang không nhận được câu trả lời cho những lời khẩn cầu của mình, những kẻ cứ bị khất lần khất lữa từ ngày này qua ngày khác. Thật dễ dàng để thuyết phục họ rằng Hội nghị Hòa bình là một thất bại.
Điều khiến tôi giật mình khi những ngày tháng trôi qua chính là sự lụi tàn của ý chí hướng tới hòa bình — thứ vốn từng rất mạnh mẽ, thậm chí được mặc nhiên công nhận ngay từ vạch xuất phát. Thù hận đang dần thay thế nó. Hết lần này đến lần khác trong những ngày ấy, tôi lại nhớ về một ngôi đền từng thấy ở vùng Brittany mang tên “Đức Mẹ của những Mối Thù” — một trong những ngôi đền chân thực và thẳng thắn nơi các hình tượng mang tính biểu tượng khắc họa những con quỷ hành hạ con người và ngăn cản cuộc sống hòa bình. Ngôi đền đó cứ ám ảnh trong những giấc mơ của tôi khi sự hỗn loạn và cay đắng dường như ngày càng thêm chồng chất.
Những kẻ cách mạng xã hội tại Hội nghị Hòa bình chưa bao giờ đẩy mạnh đến mức dựng lên các chiến lũy như tôi từng chứng kiến họ làm ở Paris hai mươi lăm năm trước; thế nhưng họ đã làm cho ngày 1 tháng 5 trở nên náo động và gây bất tiện cho không ít người muốn làm tròn bổn phận giữ cho thế giới vận hành một cách ngăn nắp — bổn phận tẻ nhạt hằng ngày là giao sữa, chăm sóc người bệnh, giữ cho mọi thứ sạch sẽ. Họ đe dọa sẽ gây ra thảm họa tàn khốc nếu không được phép tụ tập và làm cản trở giao thông tại một số khu vực trung tâm, đến mức Chính phủ — vốn thường ngu ngốc trong những vấn đề như vậy — đã dập tắt tham vọng của họ triệt để đến mức tất nhiên là họ lại tụm năm tụm ba tại những nơi bị cấm đó và cố hết sức để gây ra đổ máu.
Tôi nhớ đến một cô nàng trẻ tuổi cho rằng thời cơ đã điểm và quyết tâm đứng vào trung tâm của chốn tàn sát. Cô ta ra khỏi nhà từ sáng sớm, leo lên bậc thềm nhà thờ Madeleine và ngồi lỳ ở đó suốt cả ngày trong trạng thái nhiệt huyết chân thành, thuần khiết, sẵn sàng hy sinh cả bản thân lẫn bất kỳ ai lọt vào tầm mắt. Thế nhưng chẳng có cuộc giao tranh thực sự nào xảy ra cả — chỉ có vài vụ ẩu đả nhỏ nhặt đầy nản lòng, kèm theo những mưu toan làm màu mang tính kịch nghệ để kiếm chác từ đó, cùng vài sinh mạng xấu số tội nghiệp — những kẻ vô tích sự có người phụ thuộc đang tranh thủ ngày nghỉ và tò mò hóng hớt.
Đó là một ngày tuyệt vời đối với những người lính nhà binh Mỹ. Họ đã nhận được lệnh phải ở yên trong nhà, giao nộp vũ khí, và không làm bất cứ điều gì có thể chuốc lấy thảm họa. Câu trả lời của họ cũng hệt như những kẻ cách mạng tự phong kia, khi họ tràn ra bằng hàng trăm người trên các đài kỷ niệm và khẩu pháo ở Quảng trường Concorde. Chẳng có một đài kỷ niệm hay một điểm cao nào quanh Quảng trường đó mà con người có thể trèo lên lại không bị chiếm lĩnh bởi những thanh niên này. Nếu sắp có một cuộc cách mạng nổ ra, họ nhất định phải có mặt ở đó để tận mắt chứng kiến nó bùng nổ.
Thứ góp phần hơn bất cứ điều gì khác, theo tôi nhận thấy vào thời điểm đó, vào bầu không khí ngờ vực và náo động quanh Hội nghị Hòa bình chính là việc nó cung cấp cho những kẻ đứng xem (bao gồm cả giới báo chí) quá ít thông tin thực tế để mà nhai đi nhuyễn lại. Các đại biểu và các ủy ban ngồi sau những cánh cửa đóng kín, chỉ lên tiếng khi đã đạt được kết quả hoặc một văn bản được thông qua. Công chúng muốn được ngồi trên khán đài để nghe các cuộc thảo luận dẫn đến kết quả và văn bản — và vì bị hắt hủi — họ bắt đầu suy đoán, đàm tiếu, tin vào điều tồi tệ nhất, rồi loan truyền những tin đồn sai lệch và mang tính phá hoại.
Họ trút sự bực bội của mình bằng cách nhào nặn nên một con quái vật bốn đầu — gồm Wilson, Clemenceau, Lloyd George và Orlando — đang răm rắp chuẩn bị ép buộc thế giới bước vào một lứa liên minh và cam kết bất chính mới, đồng thời từ chối công lý đối với đông đảo các dân tộc và phong trào nhỏ bé, yếu thế. Họ đã chuẩn bị sẵn tinh thần từ trước để hoài nghi bất cứ điều gì mà Hội nghị làm ra.
Giữa bộn bề hỗn loạn và nản lòng ấy, điểm hữu hình duy nhất mà tôi tìm thấy chính là Hội nghị Lao động Quốc tế. Vào đầu thế kỷ này, một trong những niềm hy vọng của những người theo chủ nghĩa hòa bình như Tiến sĩ Jordan, Jane Addams và các cộng sự của họ chính là Hiệp hội Quốc tế vì Luật pháp Lao động, được tổ chức vào năm 1900. Nó được duy trì mà không nhận được nhiều sự giúp đỡ từ chính giới lao động cho đến khi chiến tranh bùng nổ; và khi đó, giai cấp lao động đã cất lên những đòi hỏi mạnh mẽ về hành động quốc tế. Nỗ lực này càng làm sâu sắc thêm bầu không khí “Mỹ hóa” tại Quảng trường Concorde và phố Rue de Rivoli từng gây ấn tượng mạnh với tôi ngay khi mới đặt chân đến nơi. Rất nhiều người đàn ông và phụ nữ mà tôi từng quen biết khi còn làm biên phòng và các công việc khác liên quan đến quan hệ lao động đã xuất hiện trở lại. Cảm giác thật ấm cúng như ở nhà khi nhìn thấy ông Gompers đang hùng hục sải bước dọc phố Rue de Rivoli và tình cờ chạm mặt Mary Anderson cùng Rose Schneiderman trong khu vườn Tuileries.
Tôi đã vô cùng may mắn khi ngay từ đầu đã gặp được Tiến sĩ James T. Shotwell, người đứng đầu tích cực của ủy ban lao động thuộc phái đoàn Mỹ. Trí tuệ và sự kiên nhẫn của Tiến sĩ Shotwell đã hỗ trợ tối đa, theo tôi luôn cảm nhận là như vậy, trong việc giúp bản thỏa thuận cuối cùng được thông qua vào đầu tháng Tư trong một phiên họp toàn thể. Chắc chắn là nhờ những lời giải thích hào phóng của ông mà tôi mới có thể theo dõi được những gì đang diễn ra.
Cùng lúc đó, tôi cũng tìm thấy niềm thỏa mãn khi biết rằng những người bạn cũ người Pháp cũng đang quan tâm và tích cực tham gia vào nỗ lực này — quan trọng nhất trong số đó là Albert Thomas, người ngay từ đầu đã là một trong những sức sống cốt lõi của Hội nghị. Kế đến là người bạn cũ Seignobos của tôi cũng đang hăng hái tham gia. Trong tác phẩm “Tại Hội nghị Hòa bình Paris”, Shotwell đã mô tả ông là “một ông già nhỏ thó, nói nhanh và huyên náo, vô cùng mãn nguyện với công việc lao động của chúng ta, thứ mà ông dường như đánh giá cao hơn cả chúng ta nữa.” Quả thực Seignobos rất coi trọng nó, và đặt nhiều kỳ vọng vào tương lai của nó. Tôi nghi ngờ rằng ông ấy cũng cảm thấy mừng rỡ khi tìm thấy được một thứ gì đó trong các cuộc đàm phán hòa bình phức tạp mà ông có thể tự tay nắm bắt và thấu suốt.
Một trong những trải nghiệm bất ngờ nhất đối với tôi trong những ngày tháng ấy chính là sự hồi sinh của những câu chuyện quá khứ trong cuộc đời mình. Những người bạn mà tôi từng quen biết rất rõ ở Paris vào những năm thập niên chín mươi, những ai may mắn thoát chết hoặc không bị tàn phế, cứ liên tục xuất hiện ở những vị trí quan trọng. Có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong số đó là người Anh Wickham Steed, hiện là chủ bút tờ London Times, một nhân vật có tầm vóc sánh ngang các đại sứ, nhưng vẫn đủ nhã nhặn để lưu tâm đến những người bạn cũ ở khu Latin Quarter.
Một người bạn thân thiết khác của tôi trong thời kỳ đó là Charles Borgeaud, người đã từ Geneva lên mang theo bản kế hoạch của Thụy Sĩ về một liên bang các quốc gia — một văn bản vững chắc và xuất sắc, mà tôi đoán rằng nó đã được cất nhét vào kho lưu trữ cùng với vô số bản kế hoạch từng ngập tràn Hội nghị trong những ngày đó. Tôi đã vô cùng phấn khích khi nhìn thấy xung quanh mình biết bao khuôn mặt quen thuộc và bạn bè cũ đến mức tôi đã thử quy tụ họ lại trong một bữa trưa hôm nọ — Seignobos, Madame Marillier, Steed, Louis Lapique, tất cả những ai tôi có thể tóm được. Kết quả mang lại cho tôi một cảm giác u sầu về những gì mà hai mươi lăm năm có thể tàn phá, đặc biệt là khoảng thời gian hai mươi lăm năm kết thúc bằng một thảm kịch kinh hoàng mà tất cả họ vừa trải qua, đủ để mài mòn đi sắc bén của những tình bạn từng một thời sâu đậm.
Một sự hồi sinh thỏa mãn hơn về những mối thâm giao cũ kỹ đã đến từ cuộc gặp gỡ với vô số bạn bè nghề nghiệp cũ đang đảm nhiệm vị trí này hay vị trí khác. Nơi đây có William Allen White và Auguste Jaccaci; nơi đây có Ray Stannard Baker, người đứng đầu phái đoàn báo chí Mỹ, một trong số ít người Mỹ có lối đi dễ dàng tiếp cận tận Tổng thống, đang điều hành cương vị khó khăn của mình với sự phán đoán tinh tế và một sự công bằng tuyệt đối đủ để bịt miệng những nhà báo hách dịch và mang tư duy chính trị thực dụng nhất.
“Làm sao anh có thể bắt nạt một kẻ thẳng thắn như Ray Baker được cơ chứ?” một nhà báo đang khao khát đặc quyền đã lẩm bẩm đầy chán nản trong tầm nghe của tôi vào một ngày nọ.
Có những giờ phút nơi đây mang lại cảm giác hệt như một buổi tụ họp tại văn phòng của tờ American Magazine cũ kỹ, thật tự nhiên và thân mật biết bao.
Thế nhưng những giờ phút như thế lại chẳng lấy gì làm nhiều. Công việc của tôi là phải cống hiến ít nhất một bài báo mỗi tháng cho tờ Red Cross Magazine và theo dõi tiến trình của những nỗ lực nhằm đạt được một nền hòa bình bao gồm cả việc thành lập một liên đoàn các quốc gia. Có những ngày tôi cảm thấy mọi thứ sao mà hỗn độn khó hiểu, chẳng khác nào một trại tâm thần; nhưng thực tế là, khi những ngày tháng trôi qua, tôi đã trở nên mãn nguyện khi nghiên cứu các thông cáo báo chí, theo dõi các cuộc họp báo, đọc các tờ báo Anh và Pháp đáng tin cậy cùng những bản tóm tắt hằng ngày về những gì báo chí Hoa Kỳ đang bàn tán (được dán tại khu vực báo chí của chúng tôi), rằng một kế hoạch thiết thực cho sự hợp tác quốc tế đang dần thành hình và ngày càng có nhiều đại biểu của ba mươi mốt quốc gia góp mặt đồng thuận với nó. Việc đạt được một thứ gì đó mà tất cả bọn họ đều chịu ký tên đối với tôi chính là nghệ thuật kiến tạo chính sách ở cấp độ cao nhất. Bởi vì mỗi quốc gia trong số đó đều mang những vấn đề riêng — chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo — cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng trước khi các đại diện của họ dám đặt bút ký. Ba mươi mốt sắc thái con người ở hậu phương đã tề tựu bên chiếc bàn hội nghị đó, và tất cả bọn họ đều cần phải được lắng nghe. Xét đến cùng, chính sự thất bại trong việc kiên nhẫn lắng nghe những phản đối chính trị xuất phát từ nước Mỹ và cố gắng đối thoại một cách cởi mở mới là thứ đã giữ chân chúng ta ở lại ngoài nỗ lực chung lớn lao và vững chắc nhất mà thế giới từng chứng kiến nhằm chấm dứt chiến tranh. Bởi đó chính là những gì tôi tin tưởng về Hiến ước của Hội Quốc Liên khi nghe bản thảo cuối cùng được đọc to và thông qua tại Phiên họp Toàn thể của Hội nghị vào ngày 28 tháng 4.
Thế nhưng chẳng ai có thể nghiên cứu buổi họp mặt thực sự trang nghiêm đang thông qua Hiến ước ấy mà lại không nhận ra những mối đe dọa đối với tương lai của nó ẩn giấu ngay trong cấu trúc của nó. Chúng nằm ở sự chắc chắn của một số ít người rằng vấn đề đã được giải quyết — sẽ không còn những cuộc chiến tranh nào nữa. Tổng thống Wilson, nhân vật cao quý và lỗi lạc nhất trong số tất cả, dường như cũng tin là như vậy. Thế nhưng vẫn có những con người đặt bút ký tên mà không hề tin tưởng, những kẻ vừa ký vừa cười nhạo; và còn nguy hiểm hơn nữa là những kẻ đần độn chấp nhận nó mà chẳng hề hiểu rõ ý nghĩa là gì. Clemenceau từng nói với người dân của ông về ý nghĩa của Hiến ước ấy — rằng đó là “sự hy sinh”, sự hy sinh cho tất cả mọi người; ông là người duy nhất tại Hội nghị Hòa bình mà tôi nghe thấy dùng từ đó, và dẫu vậy, chìa khóa cho nền hòa bình thế giới chính là sự hy sinh, sự hy sinh của kẻ mạnh để đáp ứng những nhu cầu và thôi thúc của kẻ yếu. Nếu Hội Quốc Liên, dưới sự dẫn dắt của các quốc gia hùng mạnh và thỏa mãn như bấy nay, đã dám đối mặt với sự thật đó ngay từ vạch xuất phát, thì rất có thể giờ đây chúng ta đã không phải chứng kiến những nước đặt bút ký lại khơi mào chiến tranh để thỏa mãn nhu cầu và tham vọng của họ.
Những hoài nghi ấy đè nặng lên tâm trí tôi khi tôi rời khỏi Phiên họp Toàn thể. Nhưng giữa đám đông những người Mỹ đang hân hoan chứng kiến thế giới được tái tạo vào ngày hôm đó, tôi chẳng có chút mong muốn nào để cất lên những lời hoài nghi ấy. Chỉ có đúng một người bạn duy nhất mà tôi có thể thổ lộ những nỗi sợ hãi của mình — đó chính là Auguste Jaccaci, một kẻ đa nghi đa sầu nhưng lại mang một niềm tin sâu sắc vào một vài thứ nào đó (tôi chưa bao giờ hoàn toàn hiểu rõ đó là gì): tôi nghĩ đó là cái đẹp và một vị thần linh dẫn dắt. Đêm sau lễ ký kết Hiến ước, Jac và tôi đã ngồi lặng đi rất lâu trong bầu u ám bên tách cà phê và ly rượu nhỏ petit verre, bởi chẳng ai trong chúng tôi có thể tin rằng việc ký vào một tờ giấy — dù có bao nhiêu quốc gia tham gia đi nữa — tự thân nó có thể mang lại ngay lập tức một nền hòa bình cho thế giới.
Dẫu vậy, tôi vẫn đặt trọn trái tim mình vào nỗ lực ấy. Tự nhủ với bản thân, công việc của tôi bây giờ với tư cách là một nhà báo và một diễn giả chính là giải thích ý định của Hiến ước, những gì nó đặt ra để thực hiện, đồng thời đưa ra cảnh báo rằng nó phải được cho thêm thời gian để tự cứu rỗi lấy chính mình.
Trước khi rời nước Mỹ để đến với Hội nghị Hòa bình, tôi đã ký một hợp đồng đi lưu diễn trong mười tuần của mùa hè năm 1919 trên một hệ thống diễn thuyết Chautauqua ở vùng Tây Bắc. Lúc này, tôi đã đạt được thỏa thuận với các nhà tài trợ rằng tôi sẽ được phép nói về những gì mình đã thấy và nghe được tại Hội nghị Hòa bình. Tôi vội vã trở về nhà để thực hiện hợp đồng đó. Và vừa mới đặt chân lên bờ là tôi đã nhận ra ngay chiến dịch tấn công chính trị nhằm vào Hiến ước gay gắt đến nhường nào. Liệu khán giả ở vùng Tây Bắc có chịu lắng nghe những lời biện hộ cho nó hay không?
Tuy nhiên, tôi không để nỗi lo lắng ấy xâm nhập vào các bài diễn thuyết của mình. Thực ra, bản chất tôi vốn chẳng biết lo âu là gì một khi đã lên đường, bởi tôi nhanh chóng phát hiện ra rằng mình đang thực hiện chuyến đi có lẽ là thú vị nhất trong cuộc đời. Và quả thực mọi chuyện đúng là như vậy. Đất nước này vô cùng kích thích và mang một sự đa dạng bất tận. Tôi gia nhập một đoàn lưu diễn đã hoạt động được mười tuần ở miền bắc Utah. Chúng tôi đi dọc theo Hồ Great Salt và di chuyển từ khu định cư của người Mặc Môn này sang khu định cư khác. Giờ đây nghĩ lại, tôi thấy buồn cười khi nhớ về sự ngạc nhiên của mình lúc phát hiện ra rằng người Mặc Môn cũng giống hệt những người ngoại giáo khác, rằng tôi ngay lập tức có thiện cảm với họ chẳng khác nào đối với các giáo phái tôn giáo khác ở quê nhà. Quả thật, nỗ lực cải đạo của các tài xế taxi, nhân viên khách sạn, nhân viên khuân vác khi họ bắt gặp tôi rảnh rỗi lảng vảng quanh đó lúc đầu có chút hơi bối rối, nhưng chẳng mấy chốc tôi bắt đầu thấy quen và tìm thấy sự thú vị trong các luận điểm của họ.
Sau Utah là vùng đất dung nham ở miền nam Idaho dọc theo sông Snake. Chúng tôi trèo qua những dãy núi để sang Oregon, xuôi dòng sông Columbia, hướng ra biển, rồi ngược dọc bờ biển lên Portland, Tacoma, Seattle. Chúng tôi đặt chân đến vùng táo Yakima và những cánh đồng dâu ở Puyallup, rồi đi đâu cũng gặp những vườn anh đào, những trái anh đào đẹp đẽ mà tôi chưa từng tưởng tượng nổi.
Trong suốt một tuần, chúng tôi du ngoạn quanh Vịnh Vancouver trên những con tàu hơi nước nhỏ sơ khai. Chúng tôi dựng lều trong những thị trấn khai thác gỗ mọc trên những chiếc cọc chống, băng qua những ngọn núi bị lửa tàn phá để đến với vùng Coeur d’Alene ở miền bắc Idaho, nơi người ta vẫn còn nghe văng vẳng những âm hưởng từ các cuộc đấu tranh lao động từng làm chúng tôi chấn động trên các trang báo McClure’s và American. Rồi đến Montana — bạt ngàn những cao nguyên và đồng bằng, không khí đặc quánh khói bay, mặt đất lấm tấm tro tàn, bởi những ngọn núi đang bốc cháy.
Vùng đất tráng lệ và đa dạng này luôn đi kèm với những câu chuyện nhân sinh đầy cuốn hút và phong phú. Mỗi thị trấn mới đặt chân đến lại hé lộ những mảnh đời bi hài kịch khác nhau. Những con người nơi đây là những người tiên phong, hoặc là thế hệ hậu duệ của những người tiên phong đời đầu. Họ tường tận mọi hiểm nguy, gian khổ, thất bại và cả những chiến công của hành trình khai hoang mở cõi. Câu chuyện của họ xoay quanh những gì chính họ hoặc cha ông họ từng sống và chứng kiến. Dù thế nào đi nữa, niềm hy vọng trong họ vẫn bất diệt. Thị trấn nào chúng tôi đặt chân đến cũng là nơi tuyệt vời nhất ở vùng Tây Bắc, tuyệt vời nhất ngay cả khi bạn biết rõ rằng sự dịch chuyển của thương mại và công nghiệp đang bứng đứt cả gốc rễ của nó.
Đây chính là quê hương của Borah, thế nhưng suốt mười tuần lễ đó, khi trò chuyện về Hội Quốc Liên, tôi chưa bao giờ nhận được từ giới báo chí hay bất kỳ cá nhân nào bất cứ điều gì ngoài một sự lắng nghe đầy tôn trọng. Tôi là người đầu tiên đặt chân đến vùng lãnh thổ của họ từ Hội nghị Hòa bình, và họ muốn lắng nghe tất cả những gì tôi có thể mang lại. Họ sẽ tự mình đánh giá lấy mọi chuyện.
Khi những ngày tháng trôi qua, tôi cảm nhận được một sự hoang mang ngày càng lớn đối với chiến dịch chống lại Hội Quốc Liên. Những con người này đã lắng nghe suốt bao nhiêu năm trời từ những nhân vật mà họ kính trọng về việc kêu gọi một hình thức liên minh quốc tế nhằm chống lại chiến tranh. Họ từng nghe Tiến sĩ Jordan và Jane Addams rao giảng về một hội đồng quốc gia nhằm ngăn chặn chiến tranh, từng nghe Tổng thống Taft biện hộ cho một liên đoàn nhằm duy trì hòa bình. Ở rất nhiều thị trấn, từng có cả những chi hội của các tổ chức này.
Trong đoàn lưu diễn của chúng tôi có một người giám thị luôn nhắc nhở tôi mỗi khi chúng tôi gặp nhau rằng từ tận những năm 1890, ông đã dành hầu như toàn bộ gia sản của mình để đi khắp vùng Tây Bắc rao giảng về một liên đoàn các quốc gia. Ông bảo rằng ông cảm thấy khó chịu làm sao khi tôi lại được trả tiền để đi nói về những điều mà hai mươi lăm năm trước ông từng đi nói miễn phí, hoàn toàn vì tình yêu đối với lý tưởng. Và quả thật điều đó cũng chẳng có gì lạ!
Với một nền tảng như vậy, có gì lạ đâu khi rất nhiều người ở vùng Tây Bắc cảm thấy khó hiểu trước việc Quốc hội Hoa Kỳ dường như ngày càng quyết tâm ngăn cản chúng ta tham gia vào nỗ lực đầu tiên này của thế giới văn minh nhằm tìm kiếm những giải pháp thay thế cho chiến tranh trong các cuộc tranh chấp quốc tế?
Đi tìm những lý do cho sự khước từ ấy, tôi cảm thấy điều có trọng lượng nhất đối với người dân chính là sự bảo đảm mà nước Pháp đang yêu cầu từ Anh và Mỹ để đến cứu viện trong trường hợp bị Đức tấn công vô cớ, nghĩa là một sự đảm bảo sẽ tiếp tục có hiệu lực cho đến khi Hội Quốc Liên chính thức đi vào hoạt động.
Tôi nhận ra hầu hết mọi người đều phản đối điều này. Họ không muốn đánh đổi rủi ro để phải đi giải cứu nước Pháp một lần nữa. Riêng tôi thì ủng hộ việc cấp sự bảo đảm đó một cách có điều kiện và trong một khoảng thời gian giới hạn. Tôi tin rằng một sự đảm bảo như vậy sẽ trấn an được điều mà tôi cảm nhận là một trong những mối nguy hiểm thực sự của tình trạng hậu chiến, đó là sự cận kề trạng thái cuồng loạn của nước Pháp. Người Mỹ, những người tự hào về vai trò hào hiệp của mình trong việc cứu nước Pháp khỏi điều mà họ nhìn nhận là sự tiêu diệt đã được tính toán kỹ lưỡng, đã nói rằng: “Cớ sao lại phải cuồng loạn lên như thế? Chiến tranh đã kết thúc rồi. Các quốc gia sẽ cùng nhau duy trì hòa bình. Vùng đất bị tàn phá sẽ được khôi phục bằng tiền của nước Đức. Hãy quên nó đi.”
Làm sao nước Mỹ có thể thấu hiểu được những năm tháng kinh hoàng mà nước Pháp vừa phải gánh chịu, sự tàn phá của bao thế kỷ lao động đầy yêu thương, sự xóa sổ của ba triệu rưỡi thanh niên ưu tú nhất của họ? Và nghiêm trọng hơn hết thảy có lẽ là, làm sao nước Mỹ có thể nhận thức được điều mà nước Pháp nhận thức vô cùng rõ ràng, rằng Đại chiến thế giới chẳng qua chỉ là biểu hiện mới nhất của sự quyết tâm kéo dài suốt nhiều thế kỷ của Trung Âu nhằm vươn ra biển lớn? Họ buộc phải có một lối ra đại dương ngay cả khi điều đó chỉ có thể đạt được bằng cách giẫm lên cái xác lạnh ngắt của nước Pháp.
Tôi đã dành vài giờ ở Châlons-sur-Marne ngay trước khi trở về. Chẳng có ai ở thị trấn đó sống động trong tâm trí tôi bằng Attila. Mười lăm thế kỷ trước, hắn từng dẫn dắt các lực lượng Trung Âu tiến sâu đến thế rồi bị chặn lại; nhưng Trung Âu đã quay trở lại hết lần này đến lần khác, bị thúc đẩy bởi khát vọng hướng ra biển lớn. Hết lần này đến lần khác, nước Pháp đã tự cứu lấy chính mình, nhưng giờ đây họ biết rằng họ không bao giờ có thể làm được điều đó nếu thiếu đi sự giúp đỡ của những ai tin rằng nền văn hóa của họ là một trong những tài sản vĩ đại của trái đất này. Họ bắt buộc phải có những sự đảm bảo. Nhưng làm thế nào nước Mỹ có thể hiểu được rằng hàng thế kỷ kinh nghiệm đang nằm sau nỗi sợ hãi của nước Pháp cơ chứ? Họ chưa từng đối mặt với Attila tại Châlons-sur-Marne — còn tôi thì có.
Tất cả những điều đó đã được tôi bàn luận chi tiết ở mức độ này hay mức độ khác cho đến giữa mùa hè, khi đôi môi tôi bị chặn lại trong hai tuần lễ bởi William Jennings Bryan. Ông Bryan trong suốt nhiều năm trời từng là ngôi sao sáng nhất trên diễn đàn Chautauqua. Ban quản lý đoàn lưu diễn rất thích mời ông xuất hiện bất cứ khoảng thời gian nào ông có thể sắp xếp và họ có thể chi trả. Điều đó đồng nghĩa với việc các nghệ sĩ biểu diễn thường xuyên hoặc phải nhường bước hoặc phải chia sẻ thời gian của mình. Buổi tối là khung giờ thích hợp nhất đối với ông Bryan, bởi chỉ khi đó đàn ông mới có thể tham dự. Lúc đó tôi biểu diễn vào buổi tối. “Hãy cắt giảm thời gian của cô xuống còn bốn mươi phút, và lên sân khấu sớm hơn nửa tiếng,” đó là những chỉ thị dành cho tôi. Dĩ nhiên là tôi tuân thủ.
Lúc này, ông Bryan đang trình bày một bài diễn thuyết kéo dài hai tiếng đồng hồ về những gì ông cho là nền tảng chính trị Dân chủ lý tưởng vào thời điểm đó. Trong các cương lĩnh của mình, ông bao gồm cả việc gia nhập Hội Quốc Liên nhưng đồng thời bác bỏ các khoản bảo đảm dành cho nước Pháp. Ngay trong lần xuất hiện chung đầu tiên, ông đã đứng lên lên án các khoản bảo đảm chỉ một tiếng đồng hồ sau khi tôi vừa thiết tha biện hộ cho chúng. Khi được thông báo về sự xung đột quan điểm đó, ông lập tức tìm gặp tôi, và thực chất là bảo rằng tôi không được phép trình bày những quan điểm trái ngược với ông trên một sân khấu mà ông đang diễn thuyết. Ông hoàn toàn không cố gắng gây ảnh hưởng đến ý kiến của tôi, mà chỉ muốn bóp nghẹt nó đi. Tôi khăng khăng rằng việc để khán giả được lắng nghe từ cả hai phía là một điều tốt. “Khán giả đến đây để nghe tôi nói,” ông Bryan nói; “điều quan trọng là họ phải biết quan điểm của tôi.” Ông không muốn họ bị bối rối như cách họ có thể gặp phải, theo lời ông, nếu tôi mở màn buổi tối bằng cách phô bày quan điểm của mình.
Dĩ nhiên là ông Bryan không nói thẳng rằng: “Cô chẳng có chút trọng lượng chính trị nào cả, còn tôi thì có rất nhiều,” nhưng đó chính là ý ông muốn nói. Điều đó hoàn toàn đúng sự thật, và tôi đã phải nhún nhường trước những đòi hỏi của chính trị vào thời điểm đó, nhưng chỉ là nhất thời mà thôi. Hai tuần trôi qua, tôi lại bắt đầu bàn về các khoản bảo đảm với sự quan tâm lớn hơn từ phía khán giả chính bởi những gì ông Bryan đã nói và ngoài ra, tôi nghi ngờ rằng, cả sự đồng thuận ít ỏi hơn.
Đến thời điểm chuyến lưu diễn kết thúc, tình hình của Hội Quốc Liên tại Quốc hội đang vô cùng tồi tệ. Một cuộc chiến phe phái cay đắng đã bùng nổ và Woodrow Wilson với bản tính bướng bỉnh kiểu Scotland lại càng trở nên cố chấp hơn vì bệnh tật, nhất định không chịu nhúc nhích dù chỉ một inch. Thật là một cảnh tượng phát nôn khi phải chứng kiến điều đó. Sự an ủi duy nhất là phần còn lại của thế giới vẫn khao khát hòa bình đủ để chấp nhận hy sinh và gánh chịu những rủi ro mà một Hội Quốc Liên chắc chắn đòi hỏi.
Kẻ thù của Wilson hả hê vui mừng: ông đã bị đánh bại, bị tước đoạt vinh quang; thế giới sẽ quên béng ông đi, thực chất là đang quên ông rồi đấy thôi. Hóa ra họ đã lầm.
Trong những tháng ngày nối tiếp sự sụp đổ hoàn toàn của Hội Quốc Liên xét trên phương diện Hoa Kỳ, tôi có mặt ở Washington rất thường xuyên; và chẳng có gì tôi từng chứng kiến lại mang tính xúc động hơn những lời tri ân tĩnh lặng và liên tục của người dân dành cho Woodrow Wilson. Vào những dịp lễ tết và Chủ nhật, các nhóm người vẫn luôn tụ tập trước nhà ông, kiên nhẫn ngóng chờ để được nhìn thấy bóng dáng ông thoáng hiện. Cứ hễ ông bước vào một rạp chiếu phim là toàn thể khán giả lại đứng dậy tung hô chào mừng, trong khi dòng người vẫn kiên nhẫn đứng đợi ngoài trời mưa lạnh để ngóng chờ ông bước ra — để hoan hô ông khi ông lướt qua.
Vào ngày 11 tháng 11 năm 1921, thi hài của người Lính Vô danh nước Mỹ được rước từ Tòa nhà Quốc hội — nơi quàn linh cữu — đến ngôi mộ của anh tại Arlington — một buổi lễ hoàn hảo theo đúng nghĩa của nó. Đi theo sau linh cữu là tất cả những gì vĩ đại nhất về mặt chính quyền của chúng ta vào thời điểm đó: Tổng thống Harding cùng Nội bộ Nội các của ông, Tối cao Pháp viện, Hạ viện, Thượng viện, các sĩ quan Lục quân và Hải quân, cùng Thống chế Foch — khách mời danh dự của chúng ta. Cuối cùng, theo sau tất cả những bậc vĩ đại ấy nhưng lại chẳng thuộc về họ, là một chiếc xe ngựa. Khi những hàng người chen chúc đứng hai bên đường — nơi đoàn diễu hành vừa đi qua trong sự tĩnh lặng tuyệt đối — nhìn thấy những nhân vật ngồi trong xe, chính là Woodrow Wilson và phu nhân, một tiếng khóc nghẹn ngào đầy tình yêu thương và lòng biết ơn bỗng bật thốt lên, và tiếng khóc ấy cứ dõi theo chiếc xe ngựa đó cho đến tận ngưỡng cửa ngôi nhà của họ. Sự việc cứ thế tiếp diễn cho đến tận lúc ông qua đời. Ông chính là con người mà họ mãi mãi chẳng thể nào quên.
Họ sẽ không bao giờ quên ông trong tương lai. Ông là vị lãnh đạo đầu tiên trong lịch sử xã hội dám đối xử với giấc mơ ngàn đời về một thế giới hòa bình như một điều gì đó vượt lên trên những mơ mộng viển vông, là người đầu tiên sẵn sàng đánh cược tất cả để quy tụ các quốc gia trên thế giới lại với nhau trong nỗ lực hiện thực hóa “nền hòa bình công bằng và bền vững giữa chúng ta với mọi quốc gia” mà Abraham Lincoln từng thiết tha kêu gọi.
Tại Paris vào năm 1919, Woodrow Wilson đã thực sự thuyết phục được các nhà lãnh đạo của phần lớn các quốc gia trên trái đất giúp ông xây dựng và thiết lập một cỗ máy cho một nền hòa bình như thế. Lời phàn nàn thường thấy là nó đã không làm được tất cả những gì nó đặt ra. Thế nhưng làm sao bất kỳ ai am hiểu về những nỗ lực trong quá khứ của nhân loại nhằm tạo ra cỗ máy phục vụ cho việc cải thiện cuộc sống lại có thể cho rằng đây — nỗ lực quốc tế đầy tham vọng nhất từng được thực hiện — ngay từ vạch xuất phát có thể vận hành trơn tru không chút ma sát hay hỏng hóc, và sẽ không bao giờ cần phải đại tu, thậm chí là xây dựng lại cơ chứ?
Điều đó vốn không nằm trong bản chất tự nhiên của sự vật. Hội Quốc Liên đã tồn tại được mười tám năm nay rồi. Những điểm yếu của nó đã bộc lộ dần theo năm tháng trải nghiệm, và tính hữu ích của nó cũng thế. Những đóng góp của nó cho thế giới là vô số kể dẫu không phô trương hào nhoáng. Nếu những thất bại của nó có phần ồn ào đi chăng nữa, thì chúng cũng chẳng hề phá hủy được cấu trúc ấy; ngược lại, chúng còn minh chứng rõ ràng cho một số điểm mà tại đó nó buộc phải được tái thiết lại.
Thế giới sẽ không bao giờ quên con người đã đứng đầu trong nỗ lực nhằm đạt được nền hòa bình trường tồn ấy. Đó là những gì tôi từng nói trong những ngày tháng cay đắng đó và vẫn luôn nói trong tất cả những ngày tháng u sầu kể từ đó đến nay.