Đời Thường Công Việc

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7: Một Cuốn Sách Đầu Tay – Về Một Đề Tài Chẳng Có Gì Chắc Chắn Trong Suốt Một Năm

❊ ❊ ❊

Bây giờ khi tờ McClure’s đã thực sự đi vào hoạt động, tôi cảm thấy những gì mình có thể làm cho họ cùng hai hoặc ba bài báo mà tôi đã thuyết phục được Scribner’s nhận đăng sẽ đủ trang trải cuộc sống. Tôi có thể gác lại mọi thứ khác và dành phần lớn thời gian cho công việc thực sự của mình—một công trình nghiên cứu về cuộc đời của Madame Roland. Hình ảnh bà chưa từng phai nhạt trong tâm trí tôi. Ngay sau khi đến nơi, thật vui mừng khôn xiết khi tôi nhận ra những bước đi bộ hằng ngày của mình đến Thư viện Quốc gia—nơi tôi dành phần lớn thời gian—lại có thể đi qua chính khu phố nơi cha bà từng hành nghề thợ kim hoàn, đi ngang qua ngôi nhà nơi bà chào đời, nhà thờ nơi bà rước lễ lần đầu, nhà giam nơi bà trải qua những ngày cuối đời, và dọc theo tuyến đường bà đã đi đến đoạn đầu đài.

“Thật là may mắn, thật là may mắn làm sao,” tôi thường tự nhủ, “khi tôi được bước đi trên chính những con đường mà bà từng đi!” Thật kinh ngạc biết bao khi mọi thứ ít thay đổi đến thế. Ngôi nhà nơi Madame Roland ra đời vẫn đứng đó ở mũi phía tây của đảo Île de la Cité, nhìn xuống bức tượng Henri IV và dòng sông Seine tấp nập, còn bên phải là cầu Pont-Neuf—vào thời của bà chính là trái tim của Paris và đối với tôi vẫn là một trong những góc quyến rũ nhất của thành phố này.

Khi hình bóng bà dần hiện rõ trong tâm trí, một điều quan trọng hơn bắt đầu hình thành—một điều trước đây đối với tôi chỉ vỏn vẹn là những con số ngày tháng và sự kiện khô khan. Tôi bắt đầu nhận thấy cuộc cách mạng đã diễn ra từ trước khi bà ra đời; tôi thấy nó trỗi dậy xung quanh bà, cuốn hút bà vào vòng xoáy, lợi dụng bà khi nó cho rằng mọi việc đã tiến đủ xa và cần phải kìm hãm sự quá khích, rồi nhẫn tâm hất hủi, cướp đi sinh mạng của bà khi nó tiếp tục tiến đến cùng tận theo bản chất vốn có của nó, để rồi cuối cùng kiệt sức ngã gục vào tay một tên độc tài nắm trong tay gươm giáo.

Những vết sẹo vật chất của chuỗi dài bạo lực ấy có thể được nhìn thấy trên những con đường đi bộ hằng ngày của tôi hoặc được nghiên cứu tại Bảo tàng Carnavalet, nơi Paris lưu giữ các tài liệu và thánh tích của những gì thành phố đã tàn phá cũng như những gì đã đạt được. Nhưng bên cạnh những vết sẹo từ thời Madame Roland còn có những vết sẹo khác kéo dài qua nhiều thế kỷ—những vết sẹo từ các cuộc bạo động cách mạng có cùng bản chất, hầu như không thể phân biệt được với thời kỳ mà tôi đang cố gắng tái hiện. Càng hiểu biết nhiều về những vụ nổ trời giáng ấy, chúng ta càng thấy chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Bạn không thể đóng khung Cuộc cách mạng của Madame Roland như tôi từng lầm tưởng. Thứ mà tôi gọi là Cách mạng Pháp thực ra chỉ là một tập dữ dội bất thường trong cuộc đấu tranh suốt đời của Paris nhằm bảo vệ vị thế của một cá thể tự do, không làm nô lệ cho bất kỳ ai hay nhóm người nào. Cách mạng luôn là phương sách cuối cùng để thành phố này khẳng định chính mình, để ép các vị vua phải tuân lệnh, sẵn sàng dung thứ khi họ ban ơn phước, làm đẹp và bảo vệ thành phố, nhưng sẵn sàng lật đổ khi họòi hỏi quá nhiều tiền bạc cho công việc họ làm.

Dấu vết hiện diện khắp nơi trong thành phố. Làm sao tôi có thể hiểu được Madame Roland nếu tôi chưa hiểu thấu đáo thứ sức mạnh nguyên thủy trong nhiều thế kỷ qua đã càn quét Paris qua những cơn cuồng phong lớn nhỏ? Liệu những kẻ tìm cách khơi mào thứ sức mạnh ấy có tưởng rằng chính họ tạo ra nó, hay có thể kiểm soát được nó một khi nó đã sổng chuồng? Liệu Madame Roland—với niềm tin sắt đá vào khả năng hành động như Đấng Quan Phòng, với sự thẳng thắn khi tuyên bố rằng không có vai trò nào ngoài vai trò của Đấng Quan Phòng xứng tầm với năng lực của bà—có phải chỉ là một công cụ và là nạn nhân của cách mạng hay không?

Nó vẫn luôn hoạt động và đến nay vẫn vậy. Tôi phải tìm hiểu về nó, và vào thời điểm đó, dường như tôi sắp có một cơ hội tuyệt vời để quan sát sự hồi sinh của một cuộc cách mạng—với quy mô ra sao thì không ai có thể đoán trước.

Vụ bê bối Panama đã khiến tất cả những người Pháp có lòng tự trọng cảm thấy ghê tởm. “Phải chăng nền Cộng hòa sắp sụp đổ?” họ tự hỏi. Không gì khích lệ tinh thần những kẻ theo đuổi các lý tưởng tiêu vong, những nhóm chính trị thất thế, những kẻ tôn thờ các thứ thuốc tiên trị bách bệnh—và đặc biệt là tầng lớp có tư tưởng cấp tiến—hơn một vụ bê bối chính trị rùm beng. Vụ Panama đã đẩy tất cả các đảng phái ở Pháp vào hành động: từ phái Bourbon và Bonapartist, những kẻ bảo thủ cực đoan, cho đến đủ mọi thành phần xã hội chủ nghĩa, và đặc biệt là những kẻ vô chính phủ.

Có bốn nhóm vô chính phủ, và không một nhóm nào chịu dung chứa hay hợp tác với những nhóm còn lại. Chính nhóm Độc lập là những kẻ đã ra tay hành động lúc bấy giờ. Các thành viên của nhóm này hoạt động đơn độc, không để cho bất kỳ đồng đảng nào biết đến ý đồ của mình. Một nhánh của hội này tồn tại ở Hoa Kỳ, và chính một trong số đó, Alexander Berkman, đã mưu sát Henry Frick tại Pittsburgh vào chính năm 1892 này. Kẻ thuộc phái Độc lập hành động đầu tiên tại Paris tên là Jules Ravachol, một người khoảng ba mươi ba tuổi, làm nghề thợ nhuộm, có gương mặt kiên nghị nhưng không mang nét hung ác của tội phạm. Đó là những gì tôi nghĩ khi một thời gian ngắn sau đó, tôi lấy được bức ảnh và các số đo của y từ Cục Nhận dạng Hình sự để dùng cho Tạp chí McClure’s.

Ravachol bắt đầu bằng việc cho nổ tung nhiều ngôi nhà khác nhau. Hành động ấy vang lên như tiếng chuông báo động. Khắp nơi trên nước Pháp, những vụ tấn công tương tự liên tiếp xảy ra và kéo dài ngắt quãng trong hai năm hoặc hơn—với đỉnh điểm là quả bom được ném vào Hạ viện vào tháng 12 năm 1893 bởi một tên vô chính phủ khét tiếng tên là Auguste Vaillant. Một số nghị sĩ và khoảng tám mươi khán giả trên khán đài đã bị thương nặng. Đó là một vụ việc rùng rợn.

Những cuộc bạo động, những lời đồn thổi về bạo động cũng như sự tàn phá thực tế đã tác động xấu đến thần kinh của không ít người Pháp. Tiêu biểu như Alphonse Daudet.

Madame Daudet từng ngỏ ý kiếm giúp tôi một câu châm ngôn ngắn (pensée) cho bộ sưu tập mà tôi đang thực hiện cho Tạp chí McClure’s, đồng thời hẹn tôi đến lấy. Sau khi dùng trà, bà dẫn tôi vào thư viện để xem “Alphonse đang làm việc thế nào.” Đó là lần đầu tiên tôi diện kiến ông: một người đàn ông nhỏ thó, với mái tóc đen thẳng dựng đứng trông khá dữ tợn lúc bấy giờ, rõ ràng là do ông vừa dùng tay cào vào mái tóc. Gương mặt ông tái nhợt, đôi mắt đen láy và sáng rực một cách đáng kinh ngạc. Ông đã rụng mất hai hoặc ba chiếc răng, và những chiếc răng còn lại trông không mấy tốt đẹp. Ông đang vô cùng kích động. Ông nói rằng mình vẫn chưa viết xong câu châm ngôn, bởi ông vừa tiếp một vị khách là kẻ vô chính phủ. Người đầy tớ đã để cho một gã bước vào và đòi hai mươi franc để mua một xe tải thuốc nổ nhằm thổi bay Tòa thị chính (Hôtel de Ville). Ông càng nói lại càng trở nên cuồng nhiệt hơn.

“Thực tình tôi đã nghĩ gã sẽ giết tôi,” ông nói, “và tôi đã lôi khẩu súng lục này ra—thứ mà tôi luôn giữ trong ngăn kéo.” Rồi ông rút nó ra để khoe với tôi. “Thật là một câu chuyện hay ho,” ông nói, “nếu trong lúc hai cô đang trò chuyện rôm rả ngoài kia thì một thảm kịch lại diễn ra ngay trong này.”

Bản thân tôi cũng mang nỗi sợ hãi chung của thời cuộc, đến mức không chỉ một lần, khi nhìn thấy một người trên xe buýt cầm theo gói đồ, tôi lại hoảng sợ vì tưởng đó là bom và vội vã nhảy xuống xe; thế nhưng song hành với sự căng thẳng ấy, tôi vẫn luôn rình mò khắp nơi với hy vọng được chứng kiến một quả bom phát nổ. Tôi nghĩ đó là bổn phận làm báo của mình, nhưng chẳng bao giờ tôi nhìn thấy gì hơn ngoài những đống đổ nát do chúng gây ra. Dẫu vậy, tôi đã thực sự chứng kiến một cuộc cách mạng kha khá—một cuộc cách mạng mang đầy đủ những đặc điểm mà tôi từng phát hiện ra trong quá trình nghiên cứu về Cách mạng. Sự kiện ấy diễn ra vào tháng 7 năm 1893. Lần này là sự nổi dậy của giới trẻ, những sinh viên thuộc khu Phố Latinh và trường Mỹ thuật (Beaux Arts). Từ đầu đến cuối, cuộc nổi dậy diễn ra ngay trước cửa sổ phòng tôi.

Vũ hội Thường niên của trường Mỹ thuật vào mùa đông năm 1893 từng làm nước Pháp chấn động. Theo tôi nhớ, tiết mục gây phẫn nộ nhất là một nữ quý cô dạo bước trong bộ trang phục chẳng che đậy gì ngoài một chiếc màn chống muỗi. Cuối cùng, sự phẫn nộ ấy cũng leo thang đến Hạ viện, nơi một nghị sĩ tên là Berenger đã đứng ra giải quyết một cách nghiêm túc và đề xuất một đạo luật hạn chế, khiến các sinh viên vô cùng tức giận. Họ cho rằng đó là sự xâm phạm quyền tự do vui chơi giải trí của mình. Ngay lập tức, những cuộc tuần hành (monômes) kéo dài đầy màu sắc—những hàng dài nam sinh đi sát nhau, một tay đặt lên vai người đứng trước, tay kia nắm chặt tay người phía sau—đã rồng rắn kéo qua kéo lại trên các đại lộ, đặc biệt là quanh khu vực Luxembourg, cất cao giọng hô vang: “Đả đảo Berenger!” (“Conspuez Berenger!”), “Đả đảo Loze [Cảnh sát trưởng]!” (“Conspuez Loze!”), “Đả đảo lũ đạo đức giả!”

Cuộc biểu tình bắt đầu vào một ngày thứ Bảy, và đêm hôm đó, một đám đông lớn đã tụ tập tại một quán cà phê ngay khu vực gần nhà tôi. Nơi đây chật ních người cả bên trong lẫn bên ngoài, những thanh niên ngày càng trở nên náo loạn khi đêm dần buông. Cuối cùng, đám đông trở nên quá bất trị đến nỗi một đội cảnh sát kỵ binh phải xông vào giải tán. Một thứ âm thanh hỗn độn vang lên, và trong đám hỗn chiến ấy, ai đó đã ném một trong những chiếc hộp đựng diêm màu trắng nặng trịch thường được đặt trên bàn tại các nhà hàng ở khu Phố Latinh—một thứ vũ khí vô cùng nguy hiểm. Nó đập trúng một khán giả vô tội đến xem vui cười—một chàng trai trẻ đôi mươi từ bờ bên kia sông sang—và cướp đi sinh mạng của anh ta. Các sinh viên nổi giận lôi đình, và suốt đêm đó cùng toàn bộ ngày hôm sau, họ sục sạo khắp các con đường, bật gốc cây cối, lật đổ các ki-ốt báo chí, đập phá cửa kính.

Giới chủ tiệm ở Paris, với kinh nghiệm đúc kết từ hàng thế kỷ nổi dậy cách mạng, thừa biết khi nào nên đóng cửa lánh nạn; và trước tối thứ Hai, những tấm màn cửa bằng gỗ dày dặn mà họ dùng để bảo vệ mặt tiền đã được kéo lên kín mít, cửa hàng đóng chặt, và khu phố tràn ngập binh lính cùng cảnh sát cưỡi ngựa. Tuy nhiên, tâm điểm của sự náo loạn ngày hôm đó không phải là khu Phố Latinh mà là những con đường quanh Hạ viện, nơi một đoàn đông đảo các sinh viên giận dữ tiếp tục gây huyên náo. Đã có những tình huống hài hước xảy ra. Một nhóm lớn các nghị sĩ bước ra để quan sát cuộc biểu tình, và ngay lập tức, bầu trời vang lên tiếng lanh lảnh của hàng trăm đồng xu đồng cỡ lớn được ném xuống mặt đường cùng tiếng hô vang: “Panama, Panama.”

Người Dahomey vào thời đó là những đứa con cưng của Paris, một nét chấm phá đầy màu sắc cho dân cư nơi đây. Chẳng thể tìm đâu ra những sinh linh đẹp đẽ hơn thế. Tình cờ có một cỗ xe chở đầy người, cởi trần đến thắt lưng, định đi qua đám đông. Ngay lập tức, các sinh viên liền hò reo: “Berenger, Berenger, mang cho họ một chiếc lá sung đi, mang cho họ một chiếc lá sung đi.”

Đến thứ Ba, khu Phố Latinh bắt đầu mang vẻ u ám đáng sợ. Điều không thể tránh khỏi cuối cùng cũng đã xảy ra.

Một vụ bạo loạn quần chúng chẳng bao giờ nằm lâu dưới sự kiểm soát hoàn toàn của những kẻ khơi mào nó. Những kẻ chủ trương đủ mọi hệ thống và lý tưởng bắt đầu gia nhập, chiếm đoạt nó, nếu một trong số chúng có thể sản sinh ra một thủ lĩnh thực sự. Cuộc nổi dậy của sinh viên rất dễ biến thành một cuộc cướp phá của giới vô chính phủ, kèm theo sự hôi của và phóng hỏa từ những tên tội phạm chuyên nghiệp—những kẻ luôn chui rúc trong các xó xỉnh và chỉ chờ khi bạo loạn nổ ra là tung hoành. Khi làn sóng xâm chiếm khu Phố Latinh từ bên ngoài bắt đầu diễn ra theo đúng dự tính, sự tàn phá càng gia tăng. Các xe buýt bị chiếm đoạt và xếp chồng lên nhau tại các vị trí chiến lược để làm chiến lũy.

Nhưng những kẻ bạo loạn chưa từng thành công trong việc lập phòng tuyến cố thủ. Đều đặn và lặng lẽ, ngày cũng như đêm, các trung đội cảnh sát kỵ binh liên tục di chuyển dọc các đại lộ và tiến vào khu phố. Ban đầu, tôi cố gắng tiếp tục đi dạo theo lịch trình quen thuộc với hy vọng tìm hiểu thêm về kỹ thuật cách mạng, nhưng sau khi bị kẹt giữa đám đông đang bị kỵ binh lùa khỏi Quảng trường Sorbonne, nghe tiếng đạn réo vất vưởng trên đầu và phải cuống cuồng tìm nơi ẩn náu dưới mái vòm nhà thờ, tôi đành bằng lòng ở yên trong nhà. Dẫu vậy, sự kích thích ở đó cũng đã quá đủ rồi.

Con phố nhà chúng tôi vừa hẹp lại vừa dốc. Mỗi khi kỵ binh xông lên sạc, nó lại ken đặc những kẻ bạo loạn. Chuyển động diễn ra lặng lẽ đến kinh ngạc—không tiếng hò hét, không tiếng súng, âm thanh duy nhất là tiếng móng ngựa nện rầm rầm khi chúng dồn ép cả đám đông chạy phía trước.

Cuộc xâm nhập vào con phố của chúng tôi đã gây ra sự hoảng loạn cho những người nước ngoài sống trong tòa nhà. Có một cặp phụ nữ Mỹ trung niên ở tầng dưới nhà tôi sang đây để du ngoạn thế giới; nhưng họ không hề tính đến chuyện sẽ đụng độ một cuộc Cách mạng, và trong suốt ba bốn ngày cuộc cách mạng của chúng tôi diễn ra, họ cứ khóa chặt cửa phòng ngày lẫn đêm.

Người Ai Cập còn hoảng loạn hơn thế nhiều. Họ thì thầm những câu chuyện rùng rợn về những gì xảy ra trong các cuộc cách mạng, và có một đêm, khi đám cháy bùng lên ở khu vực gần nhà và lực lượng cứu hỏa ra quân, họ chắc mẩm rằng tất cả chúng ta đều sẽ bị thiêu sống. “Chúng ta tiêu rồi, ở tận tầng bốn thế này,” một người trong số họ kêu lên, “quá cao để mà thoát thân. Sáng ra là chúng ta chết sạch cả lũ.”

Một tuần là khoảng thời gian tối đa mà lũ sinh viên có thể trụ vững trong cái thời tiết oi bức ấy. Có quá nhiều kỵ binh, quá nhiều binh lính, một lực lượng cảnh sát quá mức cảnh giác, và bên cạnh đó là đám lưu manh, bọn vô chính phủ. Đó không còn là cuộc cách mạng của riêng họ nữa. Họ đầu hàng; và đến cuối tuần, những chiếc ki-ốt được dựng lại, cây cối được trồng mới, cửa sổ và cửa ra bình thường trở lại, tất cả chúng tôi lại tiếp tục nhịp sống bình yên vốn có.

Mọi chuyện đã qua, mọi thứ yên tĩnh trở lại, tuy nhiên đó vẫn là một cuộc tiểu cách mạng khá tuyệt vời khi nó còn diễn ra. Nào phải chăng nó cũng giống như trường hợp của Ravachol và Vaillant, một thứ triệu chứng—cái thứ triệu chứng mà qua đó sự bùng phát của cơn sốt cách mạng luôn tự báo hiệu? Liệu có những kẻ sẽ nâng niu những triệu chứng ấy cẩn thận như cách mà Madame Roland và bè bạn của bà từng nâng niu chúng vào thời của bà không? Nếu có, chắc chắn bạn sẽ lại nhận được một vụ nổ trời giáng. Và để làm gì chứ, tôi tự hỏi mình.

Madame Roland đã phải đoạn đầu đài vì bà không bằng lòng với một cuộc Cách mạng đầu tiên vốn đã mang lại cho đất nước một bản Hiến pháp. Bà muốn tống khứ Nhà vua, Hoàng hậu cùng toàn bộ tầng lớp quý tộc bằng mọi giá. Bà muốn một nước Cộng hòa. Bà đã mất đi cái đầu của mình vào tay những kẻ không thỏa mãn với việc loại bỏ Nhà vua và Hoàng hậu, những kẻ muốn triệt hạ cả bà lẫn vây cánh ngay khi họ bắt đầu lớn tiếng đòi trật tự. Nền Cộng hòa của bà đã sụp đổ dưới thời Napoleon Bonaparte. Thế rồi lại có sự quay trở lại của dòng họ Bourbon, rồi một nền Cộng hòa khác, rồi sự phục hồi của nhà Bonaparte và một lần nữa là nền Cộng hòa của bà. Nhưng liệu cái nền Cộng hòa nhũng nhiễu và thô tục mà tôi đang nghe kể ấy có khá hơn cái triều đình thối nát và bê bối mà bà từng căm ghét và góp phần lật đổ hay không? Liệu vụ chiếc vòng cổ kim cương có tồi tệ hơn vụ bê bối Panama không? Phải chăng ngục Bastille là một nhà tù rùng rợn hơn cái nơi mà người ta đang đày ải các tù nhân chính trị hiện nay—hòn đảo Devil’s Island chốn vùng nhiệt đới?

Tôi chẳng có được sự an ủi của một công thức chính trị cứng nhắc nào để kéo mình ra khỏi mớ bòng bong ấy. Thật quá dễ dàng để sắp xếp mọi thứ vào đúng trạm của nó khi bạn nắm trong tay công thức đó cùng với niềm tin và những khẩu ngôn của nó. Thế nhưng ở đây tôi lại đang gánh trên vai một nữ anh hùng mà các công thức, phương pháp cùng động cơ của bà đang khiến tôi hoài nghi, hệt như cách tôi đang hoài nghi các công thức, phương pháp và động cơ của nước Pháp đương thời.

Điều giữ chân tôi ở lại với công việc, ngăn tôi không vứt bỏ Madame Roland để lao đầu vào một cuộc nghiên cứu mù quáng về bản chất và cội nguồn của cách mạng, chính là vòng tròn tri thức rực rỡ và thân thiện mà hành trình tìm kiếm Madame Roland đã dẫn dắt tôi bước vào.

Trong số những cái tên mà tôi được khuyên nên đưa vào loạt bài viết về các nữ nhà văn ở Paris có A. Mary F. Robinson, một phụ nữ Anh thuộc trường phái Tiền-Raphaelite, một nữ thi sĩ tinh tế và tao nhã, người đã kết hôn với một trong những học giả xuất sắc của Pháp—James Darmesteter, một người gốc Do Thái bị tật nguyền. Chỉ cần nhìn vào gương mặt ông là đủ biết đây là một tâm hồn vĩ đại. Và điều khiến tôi vô cùng thích thú chính là cái thần thái trên gương mặt ấy, cái đầu nổi bật của ông đã xóa nhòa mọi cảm giác kệch cỡm về cuộc hôn nhân giữa một người phụ nữ mảnh mai, kiều diễm này với một người đàn ông ngoại tộc mang thân hình què quặt. Tôi chưa từng cảm thấy một sự lệch pha nào dù chỉ là một khoảnh khắc.

Khi Monsieur Darmesteter biết tôi đang theo đuổi đề tài Madame Roland, ông liền nhiệt tình giúp đỡ ngay lập tức. “Cô phải làm quen với Léon Marillier thuộc Trường Nghiên cứu Cao cấp (Ecole des Hautes Etudes). Cậu ấy là chắt năm đời của Madame Roland. Cậu ấy đang giữ những tài liệu chưa từng được công bố rộng rãi. Tôi sẽ viết cho cô một lá thư.” Quả nhiên ông đã làm thế, và bức thư đó đã mang lại cho tôi một lời mời ăn tối.

Bữa tối này chính là cánh cửa dẫn đến cả một thế giới xã hội và tri thức hoàn toàn mới. Nơi đây hiện lên hình ảnh một gia đình học giả Pháp theo kiểu tuyệt vời nhất: giản dị, chăm chỉ và vui tươi. Léon Marillier là một học giả xuất sắc và được kính trọng. Jeanne, vợ anh, là em gái của nhà thơ xứ Breton Anatole Le Braz, không chỉ là một người quản lý gia đình khéo léo mà—giống như vợ của nhiều học giả Pháp khác—còn là thư ký riêng, người đọc bản thảo, soát lỗi và cố vấn chung cho chồng. Bà có một sức hút đặc biệt đối với người dân Paris, bởi bà là một người phụ nữ xứ Breton yêu mến quê hương (pays) của mình và giữ gìn những đặc trưng ấy mà không hề mang tính chất cận thị hay quê mùa. Tại đây, tôi cũng tìm thấy—khi họ đang háo hức xem xét những tài liệu mà Léon Marillier bày ra sau bữa tối cho tôi nghiên cứu—một người sau này trở thành một người bạn vô cùng hữu ích và đáng mến: Charles Borgeaud, học giả xuất sắc người Thụy Sĩ, đồng thời là bạn của những người bạn tôi là vợ chồng Vincent hiện đã trở lại Đại học Johns Hopkins.

Nhưng câu chuyện chưa dừng lại ở đó. Mối liên hệ còn gần gũi hơn thế: mẹ của Léon Marillier, chính là chắt của Madame Roland, và họ nhanh chóng giới thiệu tôi với bà.

Lại một lần nữa tôi được mời đến ăn tối, và tại đây tôi khám phá ra một vòng tròn hoàn toàn khác biệt với bất cứ thứ gì tôi từng biết trước đây: một gia đình gồm những người đàn ông lỗi lạc do Madame Marillier chủ trì—một người phụ nữ vô cùng tao nhã, sở hữu trí tuệ tuyệt vời, đã được giải phóng và tôi luyện qua một cuộc đời đầy bi kịch, như sau này tôi sẽ được biết. Hơn bất kỳ người phụ nữ nào tôi từng gặp, Madame Marillier đã khắc sâu trong tâm trí và trái tim tôi hình ảnh hiện thân cho phẩm chất mà người Pháp vô cùng ca ngợi—lòng nhân hậu (bonté).

Thủ lĩnh của nhóm người đàn ông ấy là Charles Seignobos, một giáo sư lịch sử tại Sorbonne. Ông là một học giả uyên bác, người mang sự uyên bác của mình không phải như một thứ thành tích trang trí mà như một tiện ích xã hội. Seignobos là một người theo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa duy vật không quá giáo điều, một nghệ sĩ dương cầm cừ khôi, một bậc thầy trò chuyện kỳ tài, một nhân cách đáng yêu và sắc sảo. Xung quanh ông, vào mỗi tối thứ Tư hàng tuần, một nhóm các thanh niên—đều là những sinh viên nghiêm túc, có tư tưởng tự do và làm việc chăm chỉ—thường tụ họp ăn tối tại bàn ăn của Madame Marillier. Sau bữa tối, sáu hoặc tám vị khách quen khác của ngôi nhà chắc chắn sẽ ghé qua để uống cà phê và trò chuyện.

Trong số những vị khách quen thuộc ấy có Lucien Herr, người vào thời điểm đó đang tìm cách chuyển hóa sang chủ nghĩa xã hội hai nhân vật mà trong những năm sau đó đã đóng vai trò lớn nhất trong việc biến học thuyết này thành một yếu tố bất khả xâm phạm trong đời sống chính trị Pháp—Jean Jaurès và Léon Blum, cựu thủ tướng Pháp gần đây. Vào thời điểm ấy, Herr là thủ thư của trường Ecole Normale, đồng thời là tổng biên tập của tờ Revue de Paris. Ở cả hai cương vị, ông tiếp xúc với rất nhiều nhà văn và học giả trẻ đầy hoài bão. Khi một người trong số họ có tố chất của một nhà tư tưởng tự do, ông sẽ kèm cặp người đó tận tình như một nhà truyền giáo đang cứu rỗi một linh hồn. Ông cũng đang làm điều tương tự vào đầu những năm chín mươi với Jean Jaurès và Léon Blum.

Thỉnh thoảng, Lucien Herr lại đưa đến nhóm của Seignobos một trong những người mà ông đang tìm cách cảm hóa. Nếu Jaurès và Blum từng có mặt trong số đó, thì họ chẳng để lại chút ấn tượng đặc biệt nào trong tôi, dẫu tôi rất không muốn nghĩ như vậy. Họ đơn giản chỉ là vài thanh niên trẻ tuổi dưới cánh của Lucien.

Mặc dù Herr tin rằng nhà nước xã hội chủ nghĩa mà ông hằng theo đuổi sẽ và có thể xuất hiện thông qua một cuộc tiến hóa ôn hòa, nhưng điều tôi nhớ nhất về ông lại là sự dửng dưng đến rợn người trước cảnh đổ máu—thứ đã khiến tôi bị sốc tận tâm can. Đêm mà Vaillant ném quả bom xuống Hạ viện, nhóm chúng tôi đang ăn tối cùng Madame Marillier; Lucien đến muộn, điều không có gì lạ. Chúng tôi đã ăn được nửa bữa thì anh bước vào, mặt tái nhợt và đầy phấn khích. Tất cả chúng tôi quay người lại khi anh đứng đó kể cho nghe về việc mình có mặt ở Hạ viện khi quả bom được ném xuống, về vụ nổ giữa không trung, về những người bị thương nằm la liệt quanh anh. Anh chẳng thèm nhắc một lời về nỗi đau đớn, mà chỉ nói về ý nghĩa chính trị của hành động đó.

“Nhưng còn những người bị thương thì sao, hỡi Lucien?” Seignobos ngắt lời, bởi ông không thể chịu nổi ý nghĩ về nỗi đau xác thịt.

“Cela ne me fait rien [Điều đó chẳng hề hấn gì với tôi],” Lucien lạnh lùng đáp.

Sự phản đối bạo lực của anh xuất phát từ tư duy lý trí chứ không phải từ sự xúc động cảm tính như Seignobos.

Nhìn bề ngoài, chẳng có ai lạc lõng trong một nhóm như thế hơn tôi: một kẻ ngoại tộc ngọng ngịu, chỉ biết mở to mắt vàể tai, chẳng đóng góp gì ngoài sự hiện diện của bản thân; thế nhưng, chỉ sau vài tuần, “Mademoiselle Mees”—cách mà Seignobos gọi tôi—lại đường hoàng có một chỗ ngồi trong các bữa tối hàng tuần. Không còn nghi ngờ gì nữa, tình bạn nhanh chóng nảy nở giữa Madame Marillier và tôi, cùng với việc tôi chẳng màng gì ngoài việc ngồi lắng nghe, đã lý giải cho điều đó. Tôi có đủ kiên nhẫn để lắng nghe; chưa bao giờ tôi được nghe những cuộc trò chuyện như thế trên cõi đời này. Không có bất kỳ chủ đề nào trên trái đất này là xa lạ hay bị cấm đoán. Ý kiến được tự do tuôn trào như không khí, nhưng chúng phải chiến đấu để bảo vệ sự sống còn của chính mình. Hoàn toàn vắng bóng sự giả trói, và ngụy biện sẽ bị tống cổ ngay khi vừaúm định đứng lên. Việc họ chấp nhận tôi chính là bằng chứng đủ rõ cho thấy đây là một vòng tròn vô cùng thân thiện.

Sự thân thiện bắt đầu ngay từ cửa mỗi khi tôi bước đến vào tối thứ Tư. Seignobos luôn là người lao ra đón tôi, nắm lấy tay tôi, giúp tôi cởi áo khoác ngoài, nhảy nhót xung quanh và tuôn ra những câu hỏi tò mò, ngây thơ như một đứa trẻ về những việc tôi đã làm kể từ lần gặp trước. Khi cuộc trò chuyện bắt đầu, tôi sẽ bị quên bẵng đi trừ khi tình cờ ông nhớ ra. Khi ấy, ông sẽ chồm dậy, chạy tới và chất vấn: “Cô nghĩ sao về điều đó?” Nửa số thời gian tôi chẳng bận tâm đến những gì họ đang bàn luận mà lại mải mê ngắm nhìn những cá tính đầy sống động của họ. Họ có vẻ gắn kết một cách mãnh liệt với cuộc sống thực tại, nhưng phần lớn câu chuyện của họ lại dựa trên thứ gì đó không phải là cuộc sống—văn chương trừu tượng, uyên bác, và những suy đoán siêu hình. Tôi nhận ra điều này khi họ nói về nước Mỹ. Seignobos chỉ nhìn nhận nước Mỹ qua những gì ông đọc được trong sách vở. Đối với ông, nơi đây dường như không sản sinh ra được tầng lớp tinh hoa tri thức—thứ mà ông cảm thấy là chìa khóa cứu rỗi cho xã hội—một nhóm có khả năng suy nghĩ và hoạch định cho một thế giới gồm những kẻ kém cỏi hơn. Chính những kẻ kém cỏi mới là những kẻ đang ngoi lên vị trí hàng đầu ở Mỹ. Đối mặt với sự xuất chúng đến từ nước Mỹ, ông kiên quyết không tin đó là phẩm chất bản địa. Có một mùa hè, tôi giới thiệu với ông một người bạn của mình—một phụ nữ có trí tuệ và phong thái tuyệt mỹ.

“Cô ấy không phải người Mỹ chứ?” ông hỏi. “Họ không sản sinh ra nổi tuýp người đó ở Mỹ đâu. Cô ấy sinh ra ở đâu—học tập ở đâu chứ?”

“Ở Kansas,” tôi đáp. Ông bật ngửa khỏi chiếc ghế như một trái bóng.

“Không thể nào, không thể nào được. Kansas chỉ là một tiểu bang mới được khai hoang một nửa. Chỉ cần nhìn qua là biết đây là một tuýp người cực kỳ hiếm có mà cô vừa mang tới đây. Cô ta không bao giờ có thể xuất thân từ Kansas cả.”

Chưa bao giờ tôi thấy ông phẫn nộ hơn thế cho đến ngày có áp lực buộc ông phải nhận một vị trí tại Đại học Chicago với mức lương hậu hĩnh. Nhổm dậy, ông chạy vòng quanh phòng. “Chicago! Một kẻ có trí tuệ thì tìm thấy cái gì ở đó cơ chứ? Bạn không thể xây dựng một trung tâm tri thức bằng tiền bạc và tổ chức được. Đó là một quá trình sinh trưởng. Năm trăm năm nữa thì Chicago may ra mới phù hợp cho các học giả, chứ tuyệt đối không phải bây giờ.”

Ông không tin tưởng trí tuệ của nước Mỹ, nhưng còn hoài nghi nước Anh nhiều hơn thế. Người Mỹ vốn không ngu ngốc: nhưng người Anh thì có. Ông chẳng muốn dính dáng chút nào đến họ trong vòng tròn của mình. Tôi đã đâm sầm vào bức tường định kiến này khi xin phép được giới thiệu với ông một người bạn trẻ người Anh vô cùng xuất chúng—H. Wickham Steed.

Tôi chưa từng quen biết một thanh niên nào lại chắc chắn đến thế về những gì mình muốn làm trong đời, hay lại chuẩn bị cho điều đó một cách triệt để và logic hơn Steed. Tham vọng của anh là trở thành phóng viên thường trú nước ngoài cho tờ London Times. Anh thừa biết để làm được điều đó, bản thân buộc phải thông thạo ngôn ngữ, lịch sử, con người và chính trị của các quốc gia hàng đầu lục địa. Anh bắt đầu bằng việc dành khoảng hai năm ở Đức. Giờ đây, anh đang tự trau dồi ngôn ngữ, văn chương, chính trị và các nhà lãnh đạo Pháp. Tôi thấy Steed cực kỳ thú vị ở một chủ đề mà tôi biết rất ít, mặc dù chúng tôi cũng từng nghe những tiếng vang vọng của nó tại Hoa Kỳ—đó là triết học của Karl Marx. Steed rất am hiểu về tình trạng của nó tại Đức lúc bấy giờ, biết rõ các nhà lãnh đạo như Liebknecht và Engels. Anh tỏ ra ghen tị với mối quan hệ của tôi với nhóm người ở nhà Madame Marillier, ghen tị với bữa tối tối thứ Tư của tôi, và quả thực anh có mọi lý do để làm thế.

“Cô không thể giới thiệu tôi sao?” anh hỏi.

Tôi thừa biết họ bảo thủ thế nào về vòng tròn của mình, và cũng biết rõ họ coi người Anh là một giống loài ngu ngốc, cố chấp, chẳng muốn dính líu gì. Nhưng Steed hoàn toàn không phải kẻ ngốc. Hơn nữa, anh còn trẻ, và tôi có cảm giác chẳng có gì tốt đẹp hơn cho anh bằng việc tiếp xúc với những người bạn vô cùng minh triết này của tôi. Thế là, dẫu có chút lưỡng lự, tôi vẫn kể cho Seignobos nghe về anh và xin phép được dẫn anh theo.

“Không bao giờ! Người Anh vốn ngu ngốc.”

“Ông đã nhầm về Steed rồi,” tôi tranh luận. “Ông nên rộng lượng cho anh ấy một cơ hội.”

Sau vài bận tranh cãi, cuối cùng tôi cũng được phép giới thiệu người bảo hộ của mình. Đúng như dự đoán, họ nhào vào tấn công anh không thương tiếc. Thật tuyệt vời khi chứng kiến cách anh hiên ngang giữ vững lập trận, và đó cũng là một sự nhẹ nhõm lớn khi sau hơn một giờ đồng hồ bị tra tấn tinh thần, Seignobos bước đến góc phòng tôi và bằng giọng điệu ngạc nhiên lẫn thán phục, đã thốt lên: “Mademoiselle Mees, người Anh của cô đúng là có trí tuệ.”

Khi họ đã đi đến kết luận đó, họ chính thức thu nạp Steed, và từ đó trở đi anh luôn là một vị khách được chào đón. Suốt những năm tháng trong sự nghiệp lừng lẫy của anh với tư cách là phóng viên, và sau đó là biên tập viên phụ trách tin nước ngoài của tờ London Times trong suốt thời gian chiến tranh, mối quan hệ gắn bó với Seignobos vẫn tiếp tục duy trì. Trong cuốn hồi ký “Through Thirty Years” (Trải qua ba mươi năm), Steed đã kể lại lần đầu tiên anh được giới thiệu vào nhóm—một “kiểu thi tuyển đầu vào” đã thuyết phục các giám khảo rằng anh ít ngu ngốc hơn mức mà lẽ ra anh phải thế.

Đó chính là hội nhóm đã cưu mang sự quan tâm của tôi dành cho Madame Roland. Khi những tuần trôi qua, sự thân mật ngày càng sâu sắc thêm. Bất cứ điều gì họ nghĩ ra có thể giúp ích cho công việc của tôi, họ đều sẵn sàng gợi ý. Nhính nhờ sự giới thiệu của họ mà tôi được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất tại phòng thủ cả Thư viện Quốc gia để nghiên cứu bộ sưu tập khổng lồ các bản thảo về Roland vừa được biên mục. Thật vậy, tôi chính là người đầu tiên được phép làm việc với chúng tại Thư viện.

Vừa thú vị lại vừa quan trọng đối với dự án của tôi là lời mời mà Madame (Marillier) dành cho tôi vào mùa xuân năm 1893: cùng bà đi nghỉ hai tuần tại Le Clos, một điền trang ở vùng nông thôn đã thuộc về gia đình Roland ít nhất một trăm năm trước khi cuộc Cách mạng nổ ra. Sau cái chết của vợ chồng Monsieur và Madame Roland vào năm 1793, Le Clos đã được chuyển nhượng cho con gái họ. Giờ đây nó thuộc sở hữu của Madame Marillier, người trực tiếp quản lý điền trang và dành sự quan tâm đặc biệt cho sản phẩm chủ lực nơi đây—nho—được dùng để ủ thành rượu ngay tại chỗ.

Le Clos nằm ở vùng Beaujolais, cách thành phố Lyon khoảng ba mươi dặm về phía bắc và sát một ngôi làng nhỏ tên là Theizé. Nơi đây từng là chốn Madame Roland trải qua khoảng bốn năm trời khi chồng bà làm thanh tra các xưởng sản xuất tại Lyon. Madame Marillier cho biết lâu đài hầu như chẳng thay đổi gì nhiều. Các hoạt động vẫn diễn ra y hệt như một thế kỷ trước. Đây là một cơ hội hiếm có để tôi ngắm nhìn nữ anh hùng của mình dưới một vai trò hoàn hảo khác, bận rộn với những công việc thường nhật chứ không chỉ là học giả, kẻ tầm sư học đạo, nhà ngoại giao chính trị hay Đấng Quan Phòng của một Quốc gia. Tôi rất cần phải nhìn thấy bà trong một môi trường tự nhiên và thiết thực hơn, bởi bản thân tôi lúc bấy giờ đang bắt đầu hoài nghi về bà.

Chuyến đi đến Le Clos cùng Madame Marillier vào tháng Năm thực sự là một cuộc phiêu lưu cho cả hai chúng tôi. Tôi đã không hề nhận ra bà đã mạo hiểm vị thế của mình trong chính gia đình đến mức nào khi đồng hành cùng một người ngoại quốc theo Tin Lành, cho đến tận ngày chúng tôi dừng chân tham quan Dijon. Bà đã rời đi trong một giờ đồng hồ để thăm một người dì lớn tuổi và quyền lực. “Ta không dám đưa cháu đi cùng,” bà nói, “dì ta sẽ từ mặt ta mất nếu bà biết ta đang du lịch cùng một kẻ dị giáo.”

Để đến được Le Clos, chúng tôi rời tàu hỏa tại Villefranche và trèo lên một cỗ xe ngựa suốt hơn một tiếng đồng hồ, liên tục leo qua những ngọn đồi, băng qua các thung lũng—một vùng cao nguyên rộng lớn, được chia cắt thành những dải đất canh tác mang nhiều màu sắc giống như dải ruy băng, điểm xuyết những ngôi nhà vững chãi làm bằng đá xỉn màu đặc trưng của vùng, rợp bóng những hàng cây cổ thụ, các vườn nho và vườn cây ăn trái. Theizé, ngôi làng nhỏ bé mà chúng tôi tìm kiếm, tọa lạc ở vị trí cao. Chúng tôi đánh xe luồn qua những bức tường làng, rẽ vào một con hẻm nhỏ và dừng lại trước một cách cổng lớn nằm trên bức tường vàng. Phía sau nó chính là Le Clos—một lâu đài nhỏ màu trắng mang phong cách thời Louis XIV với những tháp canh ở góc và mái ngói đỏ, một khoảng sân ở một bên và một khu vườn ở bên kia. Từ khu vườn này, người ta có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn một bức tranh toàn cảnh tuyệt mỹ gồm những đồi, núi, thung lũng trải dài đến tận dãy Alps Thụy Sĩ ở phía đông. Vào những buổi tối trời trong, những đỉnh núi phủ tuyết trắng hiện lên rõ mồn một, và thỉnh thoảng, chỏm tròn của đỉnh Mont Blanc lại rực sáng trên đường chân trời tựa như một viên ngọc mắt mèo khổng lồ.

Bên trong lâu đài, hầu như không có sự thay đổi bề ngoài nào so với thời của Madame Roland. Vẫn là căn bếp tối tăm rộng lớn ấy, với sàn đá, lò sưởi khổng lồ (mặc dù bây giờ đã có thêm một chiếc lò sưởi nhỏ phụ trợ), và những chiếc xoong đồng sáng bóng treo trên tường. Vẫn là chiếc sàn lát gạch trong phòng chơi bi-a cùng chiếc bàn cổ kính, những khẩu súng và mũ mão của các thế hệ binh lính nối tiếp nhau trên tường. Nơi sáng sủa nhất trong nhà là phòng khách (salon), được bài trí bằng vải nhung màu vàng, treo đầy chân dung gia đình, có đàn piano và sách vở.

Tôi có một căn hộ riêng nhìn ra khu vườn và xa hơn là dãy núi: một phòng ngủ, phòng vệ sinh và phòng làm việc, mộc mạc y như một căn cell của nữ tu với sàn nhà không trải thảm, những bức tường không trang trí, nhưng lại có đầy đủ mọi tiện nghi cần thiết cùng một kho tàng sách vở—khoảng năm trăm cuốn hoặc hơn trong phòng làm việc của tôi, bao gồm cả một số bộ sách tuyệt mỹ. Trong số đó có bộ toàn tập Voltaire gồm bảy mươi cuốn. Hầu hết chúng đều mang niên đại thế kỷ XVIII, và một vài cuốn còn ghi rõ tên của chính ông Roland. Quả thực, ngôi nhà sở hữu một gia tài sách quý giá vô cùng phong phú. Trong thư viện của Madame Marillier có từ hai nghìn cuốn trở lên; nhưng đó chỉ là “những gì còn sót lại.” Từ di sản thừa kế của mình, bà đã tặng Léon Marillier những bộ sách đầu tiên hoàn chỉnh của Voltaire, Rousseau, Diderot; bà cũng sưu tầm một tủ sách khoa học cho Louis Lapique—một thành viên trong gia đình bà ở Paris, một tủ sách lịch sử khác cho Charles Seignobos, thế mà vẫn còn lại hàng trăm cuốn như thế này, và nhiều cuốn trong số đó khiến tôi có cơ sở để tin rằng chính tay Madame Roland đã từng lật giở. Chúng tôi lục lọi từng trang sách để tìm kiếm các ghi chú bên lề, sục sạo khắp các ngăn kéo của những chiếc bàn viết và tủ hồ sơ cũ để tìm tài liệu, và đã tìm thấy không ít mẩu giấy nhỏ quý giá như nước vào cối xay cho công việc của mình.

Sách vở chính là toàn bộ những tài sản nguyên bản hiếm hoi của Le Clos mà bọn Cách mạng thập niên 1790 vẫn chưa kịp tẩu tán. Bản thân lâu đài không bị tàn phá nặng nề, dẫu vẫn còn lưu lại vài vết sẹo nhỏ; nhưng ngoài sách vở ra, nó đã bị lột sạch toàn bộ đồ đạc nội thất. Thậm chí cho đến tận ngày nay, như Madame Marillier đã kể với tôi, chẳng có gì lạ khi người ta thắc mắc về nguồn gốc của một món đồ cổ thú vị nào đó trong một trang trại ở Beaujolais và nhận được câu trả lời: “Ồ, thứ đó được mang ra từ Le Clos từ một trăm năm trước rồi.”

Cuộc Cách mạng đã tước đoạt của Le Clos mọi tài sản và suýt nữa đã xóa sổ cả dòng họ. Nhưng nó không tài nào thuyết phục được toàn bộ người dân xứ Beaujolais về cái gọi là phúc lợi mà nó mang lại. Vẫn còn đó không ít tư tưởng chống cách mạng được công khai bày tỏ. Tôi được kể rằng bài quốc ca Marseillaise chưa từng bao giờ được tấu lên ở Theizé. Viên linh mục và hội đồng thành phố nhất quyết không cho phép điều đó, họ cũng cấm tiệt việc tổ chức kỷ niệm ngày 14 tháng Bảy. Trong thời gian tôi ở Le Clos, đã có một cuộc tranh cãi nảy lửa nổ ra tại một ngôi làng lân cận xung quanh việc chơi bài hát “Marseillaise”. Người trưởng ban nhạc đã từ chối điều khiển khi bài hát được yêu cầu. Vụ việc được đưa ra toàn ban nhạc và họ đã bỏ phiếu thuận. Ngay lập tức, người trưởng đoàn liền quăng chiếc gậy chỉ huy xuống và giận dỗi bỏ đi. Cuộc Cách mạng của Madame Roland rõ ràng vẫn chưa thực sự kết thúc.

Thế nhưng tôi chẳng bận tâm mấy đến những chuyện u ám ấy khi ở Le Clos. Chúng chẳng liên quan gì đến những năm tháng mà tôi cất công đến đây để hồi tưởng. Đó chỉ là những năm tháng tươi vui, hạnh phúc và tràn ngập ích lợi. Từ những bức thư của bà bày ra trước mắt, tôi biết rằng bà hoàn toàn có thể và đã thực hiện trọn vẹn vai trò của một vị Đấng Quan Phòng địa phương, biết cách điều chỉnh các hoạt động và cải cách sao cho phù hợp với những gì mà cử tri của bà thấu hiểu và sẵn sàng chấp nhận. Bà lấp đầy thời gian của mình y hệt như cách tôi nhìn thấy người bạn Madame Marillier của tôi đang làm: bận rộn từ sáng đến tối với các công việc của điền trang, thăm nom người dân, kê đơn thuốc cho cả người lẫn vật nuôi, cho rau củ và cây nho, thu xếp chuyện hôn nhân cho đôi trẻ này, giúp cho một người bệnh đỡ đau đớn hơn, chăm sóc đứa con trai bất trị của một người nông dân nào đó, trèo lên con dốc đứng để dự buổi lễ sớm nhằm làm gương tốt, tự nhiên và khôn ngoan gánh vác trách nhiệm đối với gia đình, điền trang và vùng nông thôn phụ thuộc—những điều mà người phụ nữ Pháp dường như luôn sẵn lòng đón nhận như sự đóng góp của mình cho đất nước. Chính điều đó đã biến họ thành những con người kiên định, khôn ngoan, xuất chúng, trở thành một nhân tố vững chắc đảm bảo cho sự ổn định kinh tế, xã hội và tôn giáo của nước Pháp.

Tôi chưa từng thấy điều gì mang lại cảm giác hữu ích hơn những việc mà Madame Marillier đang làm, và tôi hoàn toàn có cơ hội để phán đoán, bởi đi đâu bà cũng kéo tôi theo cùng. Tấm danh thiếp giới thiệu bất di bất dịch của bà khi đến gặp những kẻ vốn mang bản tính hoài nghi bẩm sinh về giá trị của bất kỳ ai không sinh ra và lớn lên ở Pháp luôn là: “Cô ấy đến từ chính quê hương của những gốc nho nhà các anh.” Thế là quá đủ với họ. Vườn nho của họ từng bị tàn phá nặng nề bởi những đợt dịch rệp rễ phylloxera hoành hành, và mãi cho đến khi các gốc nho giống Mỹ được du nhập vào thì các vườn nho mới hồi sinh trở lại. Giờ đây chúng đang phát triển rất tốt. Tôi lập tức được chào đón nồng nhiệt; họ đối xử với tôi như thể tôi là một ân nhân, mặc dù tôi nghi ngờ rằng có mấy ai trong số họ biết nước Mỹ nằm ở đâu. Hầu hết những người tôi trò chuyện cùng đều đặt nó ở đâu đó tận châu Phi. Châu Phi thì họ biết, ít nhất là qua tên gọi, bởi có rất nhiều người con của họ từng đến đó phục vụ trong quân ngũ. Một trong những điều khiến tôi ngạc nhiên nhất ở người Pháp, từ tầng lớp cao sang cho đến bình dân, chính là sự dửng dưng đến cùng cực của họ đối với địa lý phần còn lại của thế giới. Tại sao họ phải bận tâm đến phần còn lại của thế giới làm gì? Chỉ có duy nhất một mảnh đất mà họ cần phải biết: đó là nước Pháp, và họ phải hiểu rõ nó đến tận ngóc ngách cuối cùng. Ngay cả nhiều người có học thức mà tôi gặp cũng không phân biệt nổi Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Trong phòng khách của Madame Darmesteter, tôi từng gặp những trí thức tin sái cổ rằng mọi người Mỹ đều giắt vũ khí trong túi quần, và rằng thổ dân da đỏ vẫn đi lại nhông nhông trên đường phố Chicago. Khi tôi lên tiếng phản đối rằng mang theo súng lục là hành vi phạm pháp, và rằng những thổ dân duy nhất ở Chicago chỉ là những người được nhập khẩu sang giống như cách họ nhập khẩu người Dahomey, họ chỉ mỉm cười đầy vẻ hoài nghi.

Tôi rút ra kết luận rằng phần lớn bọn họ cóp nhặt những khái niệm về nước Mỹ từ các triển lãm trưng bày tại một phòng trưng bày công cộng nào đó trên Đại lộ Grand Boulevards. Ở đó, bạn chỉ cần trả một hoặc hai xu để được nhìn qua kính lập thể (stereoscope) những bức ảnh thú vị và thỉnh thoảng vô cùng đồi trụy. Tường nhà được trang trí bằng các tờ báo minh họa từ nhiều quốc gia khác nhau, và trong số đó luôn có sự hiện diện của các ấn bản tờ Police Gazette. Thực tế thì chính tại căn phòng triển lãm trên Đại lộ Grand Boulevard ở Paris này, tôi đã tận mắt nhìn thấy số báo Police Gazette đầu tiên kể từ những ngày tháng ở Rouseville hồi xưa, khi tôi và người bạn của mình từng chăm chú nghiên cứu thế giới ngầm qua những trang báo lén lút mang ra từ căn nhà lán của công nhân do cha tôi thuê.

Chuyến ghé thăm Le Clos với vô vàn ấn tượng đọng lại, cùng niềm xác tín rằng tôi đã thực sự nhìn thấy Madame Roland bằng xương bằng thịt trong những ngày tháng hạnh phúc nhất cũng như hữu ích nhất của bà, đã hoàn thành công đoạn nghiên cứu tài liệu nguồn cho cuốn tiểu thuyết về cuộc đời bà—công việc mà tôi vẫn luôn tranh thủ thực hiện bất cứ khi nào có thời gian trong suốt hai mươi tháng ở Paris. Nó bồi đắp thêm chiều sâu cho chân dung người phụ nữ ấy, làm dịu đi sự cay nghiệt mà tôi từng bắt đầu cảm thấy đối với bà; đồng thời nó cũng củng cố thêm mối nghi ngờ trong tôi rằng: trong khi một phụ nữ thường gặt hái thành công rực rỡ khi đóng vai trò Đấng Quan Phòng của một vùng nông thôn, thì bà ta cũng chẳng làm tốt hơn đàn ông khi ôm đồm chức năng đó cho cả một quốc gia.

Giờ đây tôi đã sẵn sàng để viết nên cuốn sách của mình. Tất nhiên, trong khi thực hiện công việc đó, tôi cũng phải loay hoay chống lại cảnh túng quẫn—và vào năm 1893 này, việc một nữ nhà báo lưu vong ở Paris kiếm được các đơn đặt hàng hay thù lao từ thị trường Mỹ đang hoảng loạn thực sự không phải chuyện dễ dàng. Cuộc đại suy thoái của thập niên 90, hiện đang bước sang năm thứ ba và vẫn còn năm năm nữa mới kết thúc, đang tàn phá mọi ngóc ngách. Thật khó lòng đòi được tiền công ngay cả khi các con nợ đã thừa nhận rằng bạn thực sự xứng đáng nhận được nó. Vào thời điểm đó, tôi phụ thuộc phần lớn vào tờ tạp chí mới thành lập: McClure’s. Nó bắt đầu ra mắt vào mùa hành năm 1893—một canh bạc mà chỉ những kẻ trẻ người non dạ và lạc quan đến độ vô vọng mới dám liều lĩnh làm. Đối với tôi, việc ông McClure và ông Phillips có thể trụ vững qua năm tháng kinh hoàng ấy mãi là một điều kỳ diệu; nhưng họ đã làm được, với một sự tháo vát, thậm chí là tinh thần vui tươi mà không ai ngoài những người tận mắt chứng kiến có thể trân trọng hết mức.

Tôi thừa biết rằng nếu tờ tạp chí sống sót, tôi sẽ nhận được toàn bộ số tiền do chính mồ hôi nước mắt mình làm ra, nhưng vào mùa hè năm 1893 thì họ chẳng có xu nào trong tay. Mọi chuyện đã đẩy tôi vào bước đường cùng—một thời điểm mà trong túi không còn nổi một xu dính túi và chẳng biết phải tâm sự cảnh ngộ khốn cùng này với ai. Chẳng vì vàng bạc châu báu trên đời mà tôi lại đi kể cho người Madame Marillier tận tụy nghe chuyện chiếc ví của mình trống rỗng; tôi đời nào dám tâm sự điều đó với Madame A; còn về phần những người Mỹ đang có mặt tại đây, tôi quyết tâm duy trì ấn tượng rằng mình vẫn đang tiến triển vô cùng tốt đẹp. Dù thế nào đi nữa, thông tin về việc vũng lầy mạo hiểm này đã đẩy tôi xuống tận đáy bùn lầy tuyệt đối không được phép lọt về đến Titusville hay Meadville, Pennsylvania.

Thế là vào một ngày hè ấm áp, tôi cầm chiếc áo khoác lông hải ly của mình lên—thực ra đây là một chiếc áo rất đẹp, hoàn toàn lạc lõng so với phần còn lại của tủ quần áo lúc bấy giờ vốn đã tơi tả đến mức đáng báo động—tôi ôm chiếc áo và rảo bước qua thị trấn để đến tiệm cầm đồ Mont de Piété. Họ đối xử với tôi rất lịch sự; nhưng ngặt nỗi tôi là người nước ngoài, chiếc áo khoác đó nhỡ đâu là đồ ăn cắp, mà khả năng cao là thế lắm. Tôi có giấy tờ tùy thân nào không, có thể cung cấp ai làm người bảo lãnh không? Chẳng có bóng ma nào ở thành phố này mà tôi muốn cho họ biết mình đang làm trò gì cả. Thế tôi có tài liệu nào để chứng minh danh tính hay không?

Có chứ, tôi đáp, tôi có chứ; và tôi sẽ mang chúng đến đây. Thế là tôi bỏ lại chiếc áo khoác và cắm cổ chạy thục mạng trở lại Tả ngạn để lấy giấy tờ tùy thân. Và chúng là cái gì chứ? Tôi có trong tay những thứ gì? Nào là những lá thư từ các nhà xuất bản của tôi; nào là cuốn sổ séc—đã cạn kiệt số dư nhưng dù sao vẫn là một cuốn sổ séc. Chẳng mảy may suy nghĩ rằng nó sẽ có tích sự gì đặc biệt, tôi tiện tay vớ luôn tấm bằng tốt nghiệp Đại học Allegheny của mình. Người thanh tra lướt qua mấy lá thư của các biên tập viên và phần cống cuống sổ séc một cách hững hờ, nhưng tấm bằng Đại học Allegheny lại gây ấn tượng mạnh với ông ta; và thế là, dựa vào chính tấm bằng tốt nghiệp Đại học Allegheny ấy, tôi đã vay được khoản tiền giúp mình vượt qua những tháng ngày đen tối của năm 1893, trong lúc ngóng chờ tấm séc từ một quê hương đang chìm trong cơn khủng hoảng đói kém tiền tệ trầm trọng nhất từ trước tới nay.

Mặc dù vẫn có những khoảnh khắc lo âu về tiền bạc, tôi lại được tự do viết lách cho cuốn sách của mình hơn bao giờ hết. Và tôi đã cắm cúi viết, cố gắng hết sức có thể trong suốt mùa hè nóng đến rực lửa ấy. Người bạn Madame Marillier của tôi đã đi Bretagne. Bà nài nỉ tôi đi cùng; nhưng tôi đã vung tay quá trán dùng sạch số tiền dành dụm cho kỳ nghỉ vào chuyến đi Le Clos—một chuyến đi mà tôi còn kéo dài sang tận Thụy Sĩ và chuỗi các thị trấn của Pháp nơi có những cảnh quan tuyệt đẹp mà tôi muốn tận mắt chiêm ngưỡng: Bourg, Mâcon, Cluny, Autun. Chẳng có gì tôi khao khát làm hơn ngoài việc hoàn tất tác phẩm và quay trở về nhà.

Nhưng việc hoàn thành nó chẳng hề dễ dàng chút nào. Tôi đã dấn thân vào công trình nghiên cứu về người phụ nữ này nhằm mục đích làm sáng tỏ trong tâm trí mình về chất lượng cựu trào của những dịch vụ mà phụ nữ có thể và đã từng cống hiến trong đời sống công cộng, đặc biệt là trong những thời điểm khủng hoảng. Tôi từng hy vọng sẽ rút ra được một vài kết luận rõ ràng, có thể dõng dạc tuyên bố rằng: “Người phụ nữ tại thời điểm này sẽ là một lực lượng kiên định, trực giác và đáng tin cậy. Bà ấy sẽ không bao giờ nương theo những cách tiếp cận thuần túy cảm tính hay chính trị đối với các vấn đề xã hội lớn lao; bà hiểu quá rõ về con người. Công việc của bà từ xưa đến nay vẫn là đối phó với con người. Xây dựng gia đình chính là sứ mệnh của bà trong xã hội này. Bạn có thể tin tưởng giao phó cho bà việc chỉ ra ai là kẻ đáng tin, ai nên đi theo, ai nên loại bỏ. Những trực giác thiên bẩm của bà về con người được đúc kết từ hàng thế kỷ trực tiếp giao dịch tận tay với con người ngay từ thuở lọt lòng—đó là một trong những giá trị vĩ đại nhất của thế giới này. Và bà sẽ chẳng bao giờ đứng về phía bạo lực. Bà hiểu rằng các giải pháp chỉ có thể được giải quyết thông qua sự hợp tác kiên nhẫn, và sự hợp tác đó phải xuất phát từ lòng nhân ái. Bà thấu triệt hiểm họa của bạo lực trong một tập thể cũng như hiểm họa của sự ích kỷ. Bà là nạn nhân vĩ đại nhất thế giới từng gánh chịu từ những điều đó, và bà chịu đựng chúng cốt để bảo vệ thứ sứ mệnh thiêng liêng nhất của mình trên đời: mang nặng đẻ đau và nuôi dưỡng những đứa trẻ. Bà mang trong mình một trí tuệ vĩ đại không thốt nên lời sinh ra từ những trải nghiệm đau thương khắp chốn nhân gian. Đó chính là thứ mà phụ nữ sẽ trao tặng cho đời.”

Đó là điều tôi từng hy vọng sẽ tìm thấy nơi Madame Roland; nhưng cuối cùng tôi lại chạm trán một nữ chính trị gia mang phức cảm Đấng Quan Phòng. Tôi đồng thời cũng tìm thấy thứ mà bấy lâu nay tôi vẫn cố gạt bỏ đi giống như bản tính muôn thuở của phụ nữ: bằng chứng mới về cái quy luật tự nhiên vĩnh cửu và tất yếu rằng người phụ nữ luôn hậu thuẫn cho người đàn ông của mình. Madame Roland từng là người theo phái Bảo hoàng, phái Cộng hòa, phái Cách mạng—tùy thuộc vào người đàn ông mà bà yêu thương. Bà đã phục vụ người đàn ông của mình với một niềm tin không gì lay chuyển, chẳng bao giờ chịu nhượng bộ hay hợp tác, đầy tính cố chấp và cứng nhắc.

Thế nhưng, liệu có người phụ nữ nào ở Mỹ đang khao khát quyền bầu cử như một liều thuốc tiên trị bách bệnh cho sự bất công và tham nhũng chịu lắng nghe một thông điệp như thế không? Đương nhiên, đó không phải là việc của tôi. Việc của tôi là làm sáng tỏ tâm trí chính mình. Cho đến nay, tôi chỉ chuốc lấy sự rối rắm thêm cho đầu óc, thậm chí còn tiêu diệt cả những niềm tin mà tôi từng gìn giữ. Chẳng hạn như niềm tin cổ xưa rằng bạn có thể dựa vào người phụ nữ để phản đối bạo lực. Người phụ nữ này hóa ra lại là một trong những nguồn lực kiên định nhất cổ suý cho bạo lực, sẵn sàng, thậm chí khao khát sử dụng cái thứ lực lượng cách mạng khủng khiếp và gieo rắc bao nỗi kinh hoàng cho tôi nhằm đạt được mục đích của mình, ngây thơ tin rằng bản thân và bè bạn đủ sức mạnh để kìm hãm nó khi không còn cần đến nữa.

Đòn giáng nặng nề nhất vào sự tự tin của tôi cho đến lúc này chính là việc đánh mất niềm tin vào cách mạng như một thứ vũ khí thiêng liêng. Kể từ sau lần tôi phát hiện ra thế giới này không được tạo dựng trong sáu ngày với mỗi ngày dài hai mươi bốn tiếng, chưa bao giờ tôi lại bị xáo trộn cả về mặt trí tuệ lẫn tinh thần đến thế. Tôi từng coi cách mạng là một công cụ cao cả và thiêng liêng, chuyên tiêu diệt cái ác và giải phóng con người để họ trở nên khôn ngoan, lương thiện và công chính. Giờ đây, dường như nó không phải là thứ con người lợi dụng, mà là thứ lợi dụng con người cho mục đích thần bí của riêng nó, để rồi bỏ lại sau lưng một tỷ lệ tương đương giữa cái thiện và cái ác hệt như lúc nó vừa khởi xướng.

Chưa bao giờ tôi nhận thức rõ sự dốt nát của mình về cuộc đời, con người và xã hội như vào mùa hè năm 1894, khi tôi thu gom bản thảo cuốn tiểu thuyết về cuộc đời Madame Roland để mang trở lại nước Mỹ, chuẩn bị cho khâu biên tập cuối cùng trong sự bình yên của ngôi nhà thân yêu.

Tất nhiên, tôi tự nhủ, tôi sẽ đi đến tận cùng của nó. Tôi sẽ đặt bút viết lại những gì mình đã khám phá ra một cách chân thực nhất có thể, dẫu cho tôi chẳng đạt được thứ mình từng nhắm tới. Và rồi câu hỏi đặt ra là: Liệu tôi có thể đạt được điều mình muốn tìm kiếm ban đầu không? Liệu người ta có thể tìm thấy nó không—câu trả lời đích thực cho thắc mắc của tôi về người phụ nữ trong xã hội, về cái vị trí hoặc điểm tựa nơi bà có thể phục vụ xã hội một cách tốt nhất? Liệu tôi có thể tìm ra lời giải cho một câu hỏi khác đã làm tôi thổn thức bấy lâu—bản chất của cách mạng là gì? Rõ ràng, tôi tự nhủ khi đóng gói chiếc va-li lần cuối để trở về Mỹ, mình mới chỉ bắt đầu; nhưng ít nhất tôi đã có một điểm khởi đầu hoàn toàn mới. Hãy vui lên, vạch ra một kế hoạch mới thôi. Và tôi đang vạch ra một kế hoạch mới. Tôi đã ấp ủ nó từ lâu rồi. Nó được vạch ra một cách vô cùng thực tế, chuyên nghiệp và xã hội với độ chính xác chẳng kém gì bản kế hoạch mà tôi từng mang theo khi đặt chân đến Paris vào năm 1891.

Đó là kế hoạch trở lại Paris của tôi.

Tôi sẽ về nhà, chỉnh đốn lại bản thảo của mình cho ra ngô ra khoai, tìm cách thuyết phục nhà Scribner’s rằng nó xứng đáng được xuất bản. Tôi sẽ dành một khoảng thời gian thật dài để thăm hỏi gia đình—điều duy nhất mà lúc này tôi cảm thấy vô cùng đáng giá trên đời. Tôi muốn tận mắt chứng kiến họ vẫn ở đó, ngôi nhà vẫn ở đó, chiếc ghế của cha tôi vẫn nằm bên chiếc bàn ở phòng khách dưới ngọn đèn đọc sách chạy bằng hơi gas, bữa tối Chủ nhật của gia đình vẫn vẹn nguyên như thuở nào. Tôi muốn nghe tiếng cha đọc lời cầu nguyện trước bữa ăn, muốn cùng ngồi với chị và mẹ ngoài hiên vào những buổi chiều râm mát. Tôi muốn gom nhặt tất cả những loài hoa dại quê nhà—thật kỳ lạ làm sao khi những đóa hoa lại chiếm một vị trí lớn lao đến thế trong những giấc mơ về mái ấm của tôi. Mẹ tôi là tuýp phụ nữ mà người ta thường bảo rằng “trồng cây gì cây ấy mọc.” Và bà vẫn luôn có hoa, bất kể mùa hè hay mùa đông. Một trong những nỗi thiếu thốn lớn nhất khi không có tiền ở Paris chính là việc tôi chẳng thể mua nổi hoa. Tôi đành phải tự an ủi bằng cách lang thang quanh các chợ hoa ở Quảng trường Notre Dame. Tôi nán lại ở đó gần như nhiều bằng lúc đứng tần ngần trước những sạp sách cũ dọc bờ sông Seine. Nhưng khi về nhà, tôi có thể hái bao nhiêu tùy thích.

Tôi sẽ trở lại nước Pháp theo những điều kiện hoàn toàn khác. Những nhà xuất bản thân thiết sẽ giao việc cho tôi. Tôi đã có sẵn trong đầu các ý tưởng về sách và bài báo mà tôi chắc chắn sẽ khiến nhà Scribner’s hứng thú, chẳng hạn như cuốn lịch sử về phụ nữ. Rồi còn tờ McClure’s đầy năng động, thân thiện, xông xáo và tuyệt vời này nữa. Có vô vàn thứ tôi có thể viết cho họ.

Tôi sẽ thuê một căn hộ ở khu Phố Latinh trên tầng cao để có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn những mái nhà và bầu trời xanh. Tôi sẽ mở một phòng trà salon giống như của Madame Marillier. Bà sẽ tìm giúp tôi một người giúp việc làm tất tần tật (bonne à tout faire), và tôi có thể mời mọi người đến ăn tối—Madame Marillier, Seignobos, và có lẽ cả Lucien Herr, Louis Lapique lẫn Charles Borgeaud cũng sẽ ghé qua. Mùa hè sẽ đưa những người bạn Mỹ trân quý của tôi vượt đại dương sang đây—vợ chồng Vincent, Emery, Hazen, và chị gái tôi chắc chắn cũng phải tham gia. Cuộc sống sẽ tràn đầy và viên mãn biết bao trong lúc tôi tiếp tục làm sáng tỏ tâm trí mình về phụ nữ và cách mạng, đồng thời tiếp tục hành trình tìm kiếm Chúa trời trong những thánh đường vĩ đại.

Mang theo hành lý đó cùng một cơn khát cháy bỏng được uống thật cạn ly nước ngọt ngào mang tên đời sống gia đình, vào tháng 6 năm 1894, tôi đã nói lời “Au revoir” (Hẹn gặp lại) với những người bạn của mình. Tôi cảm thấy chắc mẩm rằng đó chỉ là một lời Au revoir.

Hai tháng đầu tiên sau khi về đến Mỹ, tôi dành trọn vẹn ở nhà để tự thuyết phục bản thân rằng gia đình tôi, bất chấp những giông bão thử thách đã trải qua, vẫn nguyên vẹn những lề thói, sự tận tụy và triết lý sống ấy. Dù cuộc sống vật chất của cha mẹ tôi không dư dả như những năm tháng lao động miệt mài và hy sinh thầm lặng của họ xứng đáng được nhận, tôi vẫn nhận ra họ đang tận hưởng trải nghiệm quý giá nhất: minh chứng cho sự tiếp nối của dòng chảy cuộc đời. Anh trai tôi cùng người vợ tuyệt vời và các con của họ—hai gái một trai—sinh sống chỉ cách đó vài căn nhà, và các cháu nhỏ chạy qua lại giữa hai nhà chẳng khác nào một. Tôi nhận ra chúng mang lại một nguồn sức sống mới mẻ, liên tục cho gia đình và mọi hoạt động nơi đây. Cha tôi lại có được cái cớ chính đáng để đi xem xiếc—thứ mà việc chúng tôi lớn lên đã tước đi của ông: “Bọn trẻ muốn đi đấy mà.” Mẹ tôi cũng có được lý do vô cùng chính đáng để tổ chức những chuyến dã ngoại gia đình và tiệc mừng sinh nhật khiến bà mệt lử: “Bọn trẻ thích thế cơ mà.”

Đối với tôi, những đứa trẻ ấy thực sự là một trải nghiệm đầy thách thức. Ba năm trôi qua đã biến những đứa trẻ thành những nhà quan sát sắc sảo, và tôi nhận thấy chúng đang săm soi tôi theo cái cách tự nhiên, không chút giả tạo của trẻ thơ. Giữa lúc đang say sưa tuôn ra một trong những bài độc thoại kể chuyện lê thê mà tôi nghiện ngập khi ở bên những người thân thiết, tôi sẽ đột ngột khựng lại bởi ánh mắt lạnh lùng, vô cảm của các cô cháu gái hay cậu cháu trai. Chúng chẳng hề hay biết mình đang làm thế, nhưng tôi thừa biết chúng đang dò xét tầm vóc của tôi. Chúng không chỉ là niềm vui và sự hứng thú vô tận đối với tôi mà còn là một sự chấn chỉnh vô cùng lành mạnh, và điều đó vẫn tiếp tục duy trì cho đến tận ngày nay.

Nhưng trước khi tôi thực sự chắc chắn về vị thế của mình trong lòng lũ trẻ—dù đã hoàn toàn yên tâm về điều đó với những người lớn tuổi trong nhà—và ngay khi tôi vừa đặt những nét bút cuối cùng hoàn thiện cuốn Madame Roland, tôi đã bị bứt khỏi Titusville bởi một bức thư hỏa tốc từ ông McClure. Tôi phải lập tức đến New York và viết một cuốn tiểu thuyết về cuộc đời Napoleon Bonaparte.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.