Đời Thường Công Việc

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1. Khởi Đầu Đời Tôi

❊ ❊ ❊

Nếu không có cuộc hoảng loạn năm 1857 và thời kỳ suy thoái kéo dài sau đó, tôi hẳn đã được sinh ra tại hạt Taylor, bang Iowa. Đó là những gì cha mẹ tôi đã lên kế hoạch. Tuy nhiên, trên thực tế, tôi lại chào đời trong một ngôi nhà gỗ ở hạt Erie, bang Pennsylvania, vào ngày 5 tháng 11 năm 1857. Đó là tổ ấm của ông ngoại tôi, Walter Raleigh McCullough, một người khai hoang thế hệ đầu. Chưa từng có ngôi nhà nào tôi từng sống để lại trong tôi những ký ức ngọt ngào hơn thế. Đó là một ngôi nhà kiểu Cape Cod cao một tầng rưỡi, được dựng bằng nhữngh thanh gỗ đẽo vừa vặn, sàn lát ván sồi khít nhau, tường cót ép, tầng trên làm hoàn chỉnh, và có một lò sưởi lớn ở phòng khách. Xung quanh là các dãy nhà phụ rộng rãi bằng gỗ để phục vụ cho bao hoạt động của một trang trại vẫn đang hoạt động tốt vào thời của tôi. Điều tôi nhớ nhất là căn phòng chứa sữa lớn và mát mẻ với hàng tá mâm sữa đầy ắp trên giá, chiếc thau gỗ khổng lồ vun đầy bơ vàng chuẩn bị cho vào thùng phuy, những giỏ trứng xếp cao, và những con gia cầm đã làm thịt béo múp sẵn sàng mang ra chợ.

Giống như tất cả các cặp vợ chồng trẻ có dòng dõi và kinh nghiệm khai hoang đang phải tự bươn chải, cha mẹ tôi khao khát có đất đai. Có đất của riêng mình, kết hợp với thu nhập từ nghề dạy học của cha và nghề thợ mộc của ông, đồng nghĩa với sự đảm bảo cho tương lai. Đó là con đường đã được kiểm chứng của những người Mỹ tiên phong.

Sau bao chuyến khảo sát khắp vùng tây bắc bang Pennsylvania nơi gia đình đôi bên đã định cư, họ quyết định rằng miền Tây mang đến nhiều cơ hội hơn. Thế là vào mùa xuân năm 1857, một năm sau ngày cưới, cha tôi – tên là Franklin Sumner Tarbell – lên đường tìm mua đất trang trại. Trong túi ông chẳng có là bao, và một trăm năm mươi dặm cuối cùng của cuộc tìm kiếm ấy phải đi bộ. Ông mới nhiệt huyết làm sao với mảnh đất cuối cùng đã tag cất công giành được! Những bức thư của ông kể về vòm trời lộng lẫy bao trùm lên đó, về tầm nhìn khoáng đạt trải dài trên thảo nguyên, về những loài hoa và loài chim kỳ diệu, về dòng xe ngựa mui bạt nối đuôi nhau đi ngang qua đường chân trời mỗi ngày – những người di cư hướng về California, Pikes Peak, Kansas, Nebraska; và ông nhận ra một số trong số họ chính là những người từng định cư ở Iowa trước kia, đang rời bỏ chính cái tiểu bang mà thoạt nhìn đối với ông chẳng khác nào cửa địa đàng.

Ông hân hoan bắt tay vào việc khai phá đất đai, dựng nhà cho mẹ, làm việc trong xưởng cưa để trả tiền gỗ. Ông tự mình làm tất cả, từ việc đóng khung cửa sổ cho đến cửa ra vào. Tôi biết ông đã làm thế nào – huýt sáo từ sáng đến tối, sự tinh nghịch và dịu dàng đuổi bắt nhau trong đôi mắt xanh biếc mỗi khi ông nghĩ đến việc mẹ tôi sắp đến, nghĩ về tương lai chung của hai người.

Kế hoạch họ vạch ra là mẹ sẽ đi về miền Tây cùng đồ đạc trong nhà vào tháng Tám. Tiền nong đã được sắp xếp ổn thỏa, họ nghĩ vậy; nhưng trước khi kịp rút tiền khỏi ngân hàng thì cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ, và mọi ngân hàng quận ở Pennsylvania đều đóng cửa. Chẳng còn lấy một đồng ở bất cứ đâu, mẹ tôi không còn cách nào khác là phải ở lại chỗ cũ trong lúc cha chật vật kiếm tiền bằng nghề dạy học và làm mộc để lo chi phí đón chúng tôi vào Nam. Thế nhưng cơn hoảng loạn ấy cũng lan đến Iowa, làm cạn kiệt nguồn tiền tệ tại đây. Mọi người phải sống bằng hình thức hàng đổi hàng, cha tôi thông báo thế. Quả là một quãng thời gian chờ đợi đầy đau đớn đối với họ, nhất là khi nó diễn ra sau sáu năm đính hôn mà tuần nào cả hai cũng thấy dài đằng đẵng!

Mùa thu và mùa đông năm 1857, mùa xuân và mùa hạ năm 1858 cứ thế trôi qua. Vẫn chẳng có đồng nào, rồi đến mùa thu năm 1858, cha lại lên đường vừa dạy học vừa kiếm đường đến với chúng tôi. Trước khi tìm được một ngôi trường, ông đã đi bộ một trăm tám mươi dặm – đi cho đến khi giày dép và quần áo rách rưới tả tơi. Đúng như lời ông từng viết là sẽ “tiều tụy và khánh kiệt”, cuối cùng vào mùa xuân năm 1859, khi tôi được một tuổi rưỡi, ông đã tìm được đường quay về với mẹ tôi – người vẫn đang sống trong ngôi nhà gỗ ở hạt Erie.

Theo biên niên sử gia đình, tôi đã tỏ ra vô cùng bực bội trước sự thân mật giữa người đàn ông lạ mặt ấy và mẹ tôi – người vốn dĩ trước nay là độc quyền của riêng tôi. Câu chuyện kể rằng, tôi ôm chầm lấy mẹ và khóc thét lên: “Đi đi, người đàn ông xấu xa.”

Esther Ann McCullough Tarbell và Ida Minerva Tarbell, ngày 5 tháng 11 năm 1858

Vấn đề đối với cha lúc bấy giờ là phải kiếm tiền để đưa chúng tôi trở lại Iowa, còn mẹ thì tiếp tục sự kiên nhẫn chờ đợi. Trong suốt tá năm trước khi kết hôn, bà từng dạy học ở các trường làng tại hạt Erie, cũng như tại một trường tư thục của một người dì ở Poughkeepsie, New York. Bà là một giáo viên giỏi, nhưng tiếc thay bà đã có chồng! Vậy là bà phải ở lại với gia đình cho đến khi chồng chuẩn bị xong nhà cửa; bà tôi đã phán quyết như thế, với cái đầu đầy ắp những quy tắc nghiêm khắc và chuẩn mực nhất của New England nhằm rèn giũa các thiếu nữ trở thành quý cô. Con có thể sống trong nhà gỗ. Con sẽ được nhắc nhở một cách cao ngạo rằng rất nhiều “dòng dõi danh giá” từng làm điều đó trong lúc “khai phá xứ sở”, nhưng con “tuyệt đối không được quên mình là ai!” “Hãy nhớ rằng cha con là một người mang dòng họ McCullough thuộc một thị tộc Scotch cổ xưa và đáng tự hào, mẹ của cha là dòng họ Raleigh thuộc gia phả của Ngài Walter, còn mẹ là một người họ Seabury, cụ cố của mẹ là Giám mục Giám hội Phục hưng đầu tiên tại Hoa Kỳ, mẹ của mẹ là người họ Welles, và cha của bà từng ở trong bộ tham mưu của Washington.” Đó là bài kinh tụng mà cả bốn cô con gái của bà đều thuộc làu làu!

Một công việc đầy hứng khởi đang chờ đón cha. Trong khoảng sáu hoặc bảy năm trước khi kết hôn, khi ông tự túc kiếm tiền ăn học tại Học viện Jamestown, New York, ông thường dành những tháng hè để điều hành một đội gồm ba chiếc thuyền phẳng trở lên chở hàng hóa đi giao dịch tại các điểm buôn bán dọc theo sông Allegheny và sông Ohio – luôn đi xa về phía nam tới tận Louisville, đôi khi thậm chí ngược cả dòng Mississippi. “Thuyền trưởng Tarbell,” thủy thủ đoàn nhỏ bé và vui tính của ông thường gọi ông như vậy. Dòng sông chính là huyết mạch giao thông của cả một vùng đất lớn. Nơi dòng nước ấy chảy qua là chốn tụ hội của những người khai hoang và thương nhân, thầy giáo, nhà truyền giáo, nhà khoa học, nhà tiên tri, bên cạnh đủ mọi thành phần lang bợm, kẻ bịp bợm, kẻ đầu cơ, kẻ lừa đảo, và cả những tên cắt cổ. Những câu chuyện của cha về những gì mắt thấy tai nghe là một trong những niềm vui tuổi thơ tôi: một hạm đội tàu hơi nước bốc cháy ngút trời ở Pittsburgh, một vụ treo cổ, những nhà thờ ven sông cùng các mục và gánh hát rong, những đứa trẻ chưa từng biết đến tổ ấm nào khác ngoài chiếc thuyền, những thị trấn, thành phố, và điều mà ông yêu thích nhất trên đời – những đêm bồng bềnh trôi êm đềm trên dòng Ohio vĩ đại dưới ánh trăng. Chẳng có gì lạ khi sau những tháng ngày tàn nhẫn tự bươn chải để quay về với chúng tôi, ông đã chớp lấy cơ hội này một lần nữa để tiếp quản việc kinh doanh vận tải đường sông của người bạn ở Jamestown.

Chuyến đi diễn ra suôn sẻ, và vào cuối tháng Tám năm 1859, ông quay trở về mang theo tiền trong túi để đưa chúng tôi đến Iowa. Nhưng trên hành trình hướng về phía đông, đi đến đâu ông cũng bắt gặp bầu không khí sục sôi phấn khích. Một người đàn ông đã khoan một giếng dầu gần một khu khai thác gỗ ở tây bắc bang Pennsylvania – nơi được gọi là Titusville – khoan trúng dầu, và thứ nguyên liệu ấy phun lên thành từng dòng lớn. Cha tôi, giống như hầu hết những người từng xuôi ngược dòng Allegheny và Ohio những năm tháng đó, đã quá quen thuộc với dầu mỏ thô. Ông từng dùng nó để bôi trơn máy móc cọt kẹt và cả làm thuốc chữa bách bệnh, thứ dầu Seneca; dùng nó để chữa cảm lạnh, bệnh sốt rét cơn, và chứng yếu phổi đã đeo bám ông từ thuở thiếu thời. Ông cũng biết rằng có những người tin rằng nếu dầu mỏ trong lòng đất, theo cách gọi của họ, có thể được khai thác với trữ lượng đủ lớn, nó sẽ mang lại nguồn ánh sáng tốt hơn so với dầu than đá và dầu cá voi vốn đang được sử dụng phổ biến lúc bấy giờ. Giếng dầu gần Titusville cho năng suất từ hai mươi lăm đến một trăm thùng một ngày – chẳng ai biết chính xác là bao nhiêu – đã chứng minh rằng nếu những mạch hoặc hồ chứa khác có thể được khơi thông bằng việc khoan như vậy, thì sẽ có đủ dầu để thắp sáng cả thế giới.

Những lời đồn thổi vô cùng kích thích và ngày càng được thổi phồng qua mỗi lần kể lại. Càng đến gần hạt Erie, cái giếng dầu trông càng vĩ đại hơn. Trên đường đi, ông bắt gặp những người đi bộ lẫn cưỡi ngựa đang tấp nập kéo vào trong. Cần phải tìm hiểu rõ thực hư trước khi quay lại Iowa. Và ông đã tìm hiểu, không chỉ ở Titusville với giếng dầu đầu tiên của nó, mà còn xuôi theo dòng suối nơi giếng dầu đầu tiên tọa lạc và nơi các giếng khác đang được khoan. Người ta gọi đó là suối Oil Creek. Cha tự hỏi, điều gì sẽ xảy ra nếu họ tiếp tục khai thác được dầu? Họ sẽ chứa nó ở đâu? Họ sẽ cần đến những chiếc bể chứa, rất nhiều bể chứa. Ông tin rằng mình có thể đóng được một chiếc bể chứa được từ năm trăm thùng trở lên. Ông đã nói điều đó với chủ của một giếng dầu đang được khoan ở hạ lưu con suối gần cửa một nhánh sông gọi là Cherry Run. “Hãy cho tôi xem một bản mô hình không bị rò rỉ, tôi sẽ giao việc cho anh.” Ông không chớp mắt làm ngay mô hình và đã giành được hợp đồng.

Đây chính là cơ hội để gầy dựng sự nghiệp nếu dầu mỏ tiếp tục được tìm thấy, một cơ nghiệp có tiềm năng kiếm ra nhiều tiền hơn bất cứ thứ gì ông từng mơ ước. Hơn nữa, ông đã nắm rõ mọi yếu tố của ngành kinh doanh ấy, từng có kinh nghiệm xử lý chúng. Công việc đóng bể chứa đòi hỏi đến nghề tay phải của ông, đó là nghề thợ mộc. Iowa đành phải chờ vậy.

Đến mùa hè năm 1860, xưởng của ông đã đi vào hoạt động ở cửa sông Cherry Run, ngay cạnh giếng dầu mang lại cho ông đơn đặt hàng đầu tiên. Khi xưởng đã chạy ổn định, ông bắt đầu dựng ngôi nhà đầu tiên thuộc về riêng mẹ tôi – ngôi nhà mà với niềm tin vô bờ bạt và sự chịu đựng vô bờ bạt, bà đã mòn mỏi chờ đợi kể từ ngày cưới cách đó bốn năm rưỡi.

Vào tháng Mười năm 1860, cha đánh xe chở gia đình nhỏ vượt qua những ngọn đồi thuộc dãy Allegheny chừng bốn mươi dặm. Lúc này chúng tôi đã có hai đứa con, bởi vì vào tháng Bảy năm 1860, em trai tôi là William Walter Tarbell, được đặt tên theo hai người ông, đã chào đời. Ngay sát bên xưởng làm việc, cha đã dựng một căn lán nhỏ. Nơi đó có một phòng khách kèm theo một gian hốc tường, một phòng ngủ gia đình với những chiếc giường gấp dành cho chúng tôi, và một gian bếp. Một lối đi có mái che dẫn thẳng vào xưởng, nơi chẳng mấy chốc đã trở thành niềm vui lớn nhất cuộc đời tôi, bởi ở đó có những đống dạo gỗ thông thơm phức, dài và xoăn tít để tôi tha hồ lăn lộn, ngủ trưa, trang trí váy áo, và ngày này qua ngày khác mải miết lục lọi tìm kiếm những chiếc dằm xoăn nhất, dài nhất.

Thế nhưng những dăm bào ấy và niềm đam mê của tôi với chúng lại là câu chuyện của giai đoạn sau. Phản ứng đầu tiên của tôi trước khung cảnh mới lạ chính là sự ghét bỏ cay đắng. Nó kích động tôi nổi loạn – ký ức đầu tiên mà tôi chắc chắn mình còn nhớ về cuộc đời mình, sự khai sinh của những trải nghiệm có ý thức trong tôi. Cuộc nổi loạn ấy không xuất phát từ bản tính hư hỏng; trái lại, đó là một sự phản kháng tự nhiên và chính đáng trước việc cuộc sống cùng ngôi nhà quen thuộc mà tôi hằng yêu quý bỗng chốc bị tước đoạt mà không có lấy một lời giải thích, thay vào đó là một khung cảnh hoàn toàn xa lạ cùng những quy tắc mới mẻ mà tôi vô cùng căm ghét.

Cuộc sống của tôi trong ngôi nhà gỗ trước đây vốn tràn ngập những niềm vui thích. Nào gà tây, vịt, gà nhà, nào cừu, ngựa con, bê con, mèo con và cún con – chẳng bao giờ tôi thiếu bạn chơi đùa. Mùa hè có cây cối, rừng rược và hoa cỏ, mùa đông có lò sưởi bập bùng với ngô rang và kẹo đường phong, còn tôi là đứa cháu đích tôn duy nhất làm tâm điểm của tất cả. Thế nhưng tôi đã bước chân vào chốn nào thế này? Như mẹ tôi đã nhận ra, đây là một nơi đầy rẫy hiểm nguy, với dòng suối chảy xiết cuồn cuộn ngay bên vách nhà, những hố dầu khổng lồ ngoác miệng dưới lòng đất cách đó không xa, và cái giàn khoan sừng sững mời gọi trèo trèo leo leo đầy mạo hiểm ngay trước cửa. Thảo nào mà những lời rầy la, mắng mỏ và thỉnh thoảng cả những trận đòn roi cứ bám riết lấy từng bước chân tôi. Hơn thế nữa, tôi không còn là trung tâm của sự chú ý nữa: một đứa em bé bỏng đã choán hết vòng tay mẹ – vòng tay “của tôi”! Một người đàn ông hãy còn lạ lẫm cứ ra lệnh cho tôi và độc chiếm mẹ – người mẹ “của tôi”.

Tình cảnh ấy thật không tài nào chịu đựng nổi, thế nên vào một ngày tháng Mười một ngay sau sinh nhật lần thứ ba, tôi tuyên bố mình chuẩn bị bỏ nhà ra đi. “Trở về vớiBà ngoại đây.” “Được thôi,” mẹ tôi đáp. Tôi biết rõ con đường mà những người đàn ông thường đi mỗi khi rời khỏi xưởng, và tôi cứ thế bước theo, nhưng chẳng đi được bao xa. Vắt ngang qua thung lũng nơi gia đình tôi sinh sống là một con đê chắn đất. Trong con mắt non nớt của tôi, nó cao sừng sững như một ngọn núi, và càng đến gần trông nó lại càng cao hơn, cao hơn và đen ngòm hơn. Rồi đột nhiên khi đặt chân đến chân đê, tôi mới bàng hoàng nhận ra mình chưa bao giờ đặt chân sang phía bên kia, rằng tôi hoàn toàn không biết đường về nhà Bà ngoại. Tôi biết mình đã thua cuộc, bèn ngồi thụp xuống để suy ngẫm. Kể từ những năm tháng ấy cho đến tận bây giờ, chưa bao giờ trong đời đối mặt với thất bại hay nhận thức được rằng mình phải rút lui mà hình ảnh ấy lại phai mờ – hình ảnh một sinh linh nhỏ bé đứng trước ngọn núi đen kũm, một bóng hình nhỏ nhoi đầy luyến tiếc ngước nhìn căn lán leo lét ánh đèn bên cửa sổ trong màn đêm đang buông xuống.

Cuối cùng, tôi lủi thủi quay trở về nhà và ngồi bệt xuống bậc thềm. Phải một lúc lâu sau cửa mới mở và mẹ cất giọng ngạc nhiên:

“Ơ kìa, Ida! Mẹ cứ tưởng con đã đi về nhà Bà ngoại rồi chứ.”

“Con không biết đường,” tôi đáp lí nhí.

“Được rồi. Vào nhà ăn tối đi con.”

Sự kính trọng dành cho mẹ, sự khôn ngoan của bà trong việc đối phó với những tình huống ngặt nghèo, đã được nhen nhóm từ khoảnh khắc đó. Tôi không hề bị phạt; tôi không hề bị chế giễu; tôi được đón nhận. Nhiều năm sau, bà kể cho tôi nghe về khoảng thời gian đầy dằn vặt mà bà đã trải qua khi đứng nhìn tôi bước đi thật kiên quyết rồi lủi thủi quay về trong tủi hổ, bà đứng đó với những giọt nước mắt lăn dài trên má, nhưng vẫn dứt khoát rằng tôi phải tự học lấy bài học cho riêng mình. Đó là một bài học trí tuệ mà bà chưa bao giờ ngừng áp dụng. Mẹ luôn để tôi tự thực hiện những cuộc nổi loạn của mình, rồi muốn quay về lúc nào tùy ý và chẳng bao giờ gạn hỏi một lời.

Trong ba năm chúng tôi sống tại căn lán nhỏ vùng đất phẳng ấy, chỉ có thêm một sự kiện duy nhất mang lại cho tôi trải nghiệm tự soi rọi bản thân giống như vụ nổi loạn vừa rồi. Đó là lần thử nghiệm đầu tiên của tôi. Con lách suối chảy sát cạnh nhà rất xiết, ồn ào, và vào những mùa nước lớn thì vô cùng nguy hiểm đối với trẻ nhỏ. Đứng ngắm nó đầy mê hoặc, tôi nhận thấy có những vật nổi lề bềnh trên mặt nước, nhưng cũng có những vật chìm nghỉm xuống đáy. Điều đó khiến tôi tò mò không biết điều gì sẽ xảy ra nếu thả cậu em trai bé bỏng lúc bấy giờ vẫn còn mặc váy của tôi xuống dưới đó. Tôi buộc phải tìm cho ra câu trả lời. Có một chiếc cầu khỉ gần nhà, và vào một ngày nọ khi tưởng rằng chẳng ai để ý, tôi dắt thằng bé ra đó và thả tõm nó xuống dòng nước. Những chiếc váy nhỏ xíu của nó xòe ra và giữ cho nó nổi lề bềnh. May sao đúng lúc ấy tiếng gào khóc của thằng bé đã thu hút sự chú ý của một người thợ gần đó, và nó đã được cứu vớt kịp thời. Chắc là tôi đã bị đòn roi; nhưng tôi chẳng còn chút ký ức nào về trận đòn ấy, thứ duy nhất đọng lại trong tôi chỉ là sự bình yên của nỗi tò mò đã được thỏa mãn khi chắc chắn rằng em trai mình thuộc về nhóm những vật có thể nổi trên mặt nước.

Những gì tôi thực sự nhớ về những ngày thơ ấu ấy chỉ xoay quanh những khám phá mang tính cá nhân, những phát hiện về bản chất con người mình và vạn vật xung quanh đã khơi dậy lòng hiếu kỳ. Cho dù một trải nghiệm thời thơ khắc sâu vào trí nhớ hay tôi chỉ biết về nó qua những câu chuyện được kể đi kể lại, tôi luôn dùng bài kiểm tra này để phân định: nếu tôi thực sự ghi nhớ, sự việc ấy sẽ hiện lên trong một bối cảnh cụ thể – một khung cảnh có phông nền, lối ra vào và các đạo cụ. Tôi biết chắc mình nhớ vụ nổi loạn và thất bại bởi vì tôi luôn nhìn thấy nó như một vở kịch trên sân khấu, với từng chi tiết, từng câu thoại đều rõ mồn một.

Còn về những biến động đầy hệ trọng, kỳ quái và thường đẫm bi kịch đang diễn ra xung quanh, tôi chẳng nhớ gì sất; thế nhưng chính sự bất định và hiểm nguy của chúng lại là một phần cơm ăn áo mặc hằng ngày của gia đình.

Liệu có thực sự có dầu mỏ trong lòng đất với trữ lượng đủ lớn để biện minh cho những nỗ lực phi thường đang được đổ ra để tìm kiếm nó hay không – chẳng ai có thể biết chắc. Nếu không, thì cái xưởng và căn lán chẳng khác nào một sự mất trắng hoàn toàn – thêm một quãng đường trì hoãn dài dằng dặc trên hành trình đến với Iowa. Suốt mùa đông năm 1860 và 1861 ấy, cha tôi liên tục tự vấn câu hỏi đó; nhưng rồi năm 1861 câu trả lời đã đến khi khắp dọc theo dòng suối Oil Creek lần lượt xuất hiện những giếng dầu phun trào, những giếng cho năng suất từ ba trăm đến ba nghìn thùng một ngày – người ta gọi chúng là những “giếng phun”, những “cơn lốc dầu”, những “vòi rồng” bởi những cột chất lỏng khổng lồ bắn thẳng lên không trung từ một đến hai trăm thước, rồi rơi lả tả thành thứ sương mù xanh đen nhờ nhờ trùm lên toàn bộ cảnh vật xung quanh.

Nó cũng vô cùng chết chóc và hiểm nguy, như Vùng Dầu Mỏ từng đau đớn nhận ra qua một thảm họa xảy ra ngay trước thềm tổ ấm Cherry Run của chúng tôi. Đó là chập tối ngày 17 tháng 4 năm 1861. Tin tức về thất bại tại đồn Sumter vừa truyền đến khu định cư, dẫu nơi đây vốn xa xôi cách trở với các tuyến đường sắt và điện tín, và tất cả nam giới trong thị trấn đã tụ tập ở chỗ này hay chỗ khác sau bữa tối để thảo luận về tình hình thời cuộc. Nó có nghĩa là gì? Tổng thống sẽ hành động ra sao? Cha tôi đang ngồi trên một chiếc thùng đựng bánh quy tại cửa hàng bách hóa tổng hợp duy nhất. Khi ông và các bạn bè đang trò chuyện, một người đàn ông hớt hải chạy vào báo tin rằng một mạch dầu mới vừa được khai thông tại một giếng nằm ở rìa thị trấn. Chủ nhân của nó, Henry Rouse, đang cho khoan sâu thêm; dầu đang phun trào qua cả giếng khoan. Tin lớn cho cộng đồng vẫn còn đang hoang mang về quy mô của mỏ dầu. Tin lớn đối với cha tôi. Nó đồng nghĩa với việc cần đến những chiếc bể chứa. Mọi người đồng loạt vùng chạy ra chỗ giếng dầu thì mặt đất bỗng rung chuyển bởi một tiếng nổ kinh hoàng. Một ngọn lửa bất cẩn đã bén vào đám khí gas lan tỏa từ dòng dầu phun trào cho đến khi bao trùm vạn vật ở khu vực lân cận. Trước khi cha tôi kịp đặt chân đến nơi, mười chín người đàn ông, trong đó có người bạn chủ giếng dầu Henry Rouse của ông, đã bị thiêu cháy đến chết. Chẳng ai biết có bao nhiêu kẻ đã may mắn thoát thân và trong tình trạng ra sao.

Đêm muộn hôm đó, khi cha mẹ tôi đang đau buồn, họ bỗng nghe thấy tiếng chân va vấp lộn xộn ngay ngoài cửa. Nhìn ra ngoài, họ chết sững trước một cảnh tượng hãi hùng: một con người bị bỏ quen và sưng phồng đến mức không còn nhận ra hình hài nhưng vẫn còn sống, vẫn đủ hơi thở để thưa tên tuổi – đó là một người bạn của họ. Mẹ tôi đã đưa anh ấy vào nhà – góc hốc tường lập tức biến thành một phòng khám bệnh. Suốt nhiều tuần liền bà tận tụy chăm sóc anh – sứ mệnh của người phụ nữ trong một cộng đồng khai hoang, một trọng trách mà bà hoan hỉ đón nhận như một phần bổn phận của mình. Nhờ sự chăm sóc tận tình của bà, người đàn ông ấy đã sống sót. Những di vật từ thảm kịch ấy đã gắn bó lâu dài với gia đình chúng tôi – những tấm chăn bông và đồ đạc mà mẹ từng khâu vá để mang sang Iowa nay bị vấy bẩn bởi dầu lanh, nhưng quá trân quý để có thể vứt bỏ.

Thế nhưng tất cả những điều ấy đối với tôi tựa như một câu chuyện đọc trong sách, một thứ trở nên da diết hơn theo năm tháng khi tôi đã có thể thấu cảm những tuần lễ dài đằng đẵng chăm sóc người đàn ông tàn tật ấy đã có ý nghĩa nhường nào đối với mẹ.

Việc làm ăn ngày càng phát đạt, xưởng mộc được mở rộng. Tôi chẳng nhớ mấy về những điều này, hay về những tiện nghi cuộc sống ngày một tăng lên, hay việc chuyển đến ngôi nhà mới trên sườn đồi nhìn xuống thị trấn lúc bấy giờ đã mang tên Rouseville. Thế nhưng sự thay đổi trong nhãn quan đối với thế giới xung quanh thì tôi nhớ rõ. Chúng tôi từng sống ngay rìa một mỏ dầu và một thị trấn dầu mỏ vô cùng náo nhiệt. Chưa từng có ngành công nghiệp nào của con người trong giai đoạn đầu lại tàn phá cảnh sắc, trật tự và sự thuần phong mỹ tục khủng khiếp như ngành khai thác dầu mỏ. Khắp xung quanh chúng tôi mọc lên chi chít những giếng khoan, những nhà máy động cơ lụp xụp và những bể chứa dầu; mặt đất xung quanh vằn vện và ẩm ướt bởi những thứ cặn bã thải ra từ các cỗ máy bơm liên tục kéo lên cát, sét và đá từ lòng đất sâu thẳm. Nếu tìm thấy dầu, nếu giếng phun trào, thì mọi thân cây, bụi cỏ, nhành lá ở vùng phụ cận đều bị trét một lớp mỡ đen sì rồi chết dần chết mòn. Nhựa đường và dầu mỏ vấy bẩn vạn vật. Còn nếu giếng khô cạn, thứ để lại chỉ là một giàn khoan ọp ẹp, những đống phế thải và những hố dầu nhớp nhúa, bởi chẳng ai thèm dọn dẹp vào những ngày tháng đó.

Thế nhưng chúng tôi đã rời khỏi tâm điểm hỗn độn ấy, chuyển lên sườn đồi và phóng tầm mắt nhìn xuống; còn với riêng tôi, tôi chẳng thèm nhìn xuống nữa, bởi đối diện chúng tôi là một sườn đồi dốc đến mức chưa từng bị khoan phá. Nơi đó được khoác lên tấm áo đẹp đẽ đổi thay theo mùa của cây cối và bụi rậm, những bông hoa trắng shadbush và phong đỏ, những dải nguyệt quế và đỗ quyên quấn quýt vào mùa xuân, muôn sắc xanh tươi mát suốt mùa hè, những sắc đỏ thẫm, vàng óng, nâu sẫm và nâu nhạt khi thu sang, cùng những tán cây khoác áo băng tuyết vào mùa đông. Che khuất cả những giàn khoan chính là những hàng cây. Sườn đồi phía trên nhà chúng tôi cùng những lối mòn uốn lượn quanh đó đã trở thành một sân chơi tuyệt diệu nơi tôi đắm chìm trong sự thích thú. Tôi không phải là người duy nhất rồi sẽ lãng quên vẻ xù xì của Thung lũng ấy để mãi ghi khắc trong tâm trí vẻ đẹp của những sườn đồi kia suốt cả cuộc đời. Nhiều năm sau, tôi có dịp làm quen khá rõ với một trong những nhân vật lớn trong lịch sử phát triển ngành dầu mỏ, Henry H. Rogers, lúc bấy giờ là người đứng đầu điều hành Công ty Standard Oil. Khi ôn lại những ngày tháng sơ khai của ngành công nghiệp này, chúng tôi phát hiện ra rằng đúng vào khoảnh khắc tôi bắt đầu chạy nhảy trên những ngọn đồi ở Rouseville, ông cũng đang vận hành một nhà máy lọc dầu nhỏ bên con lách và sống trên một sườn đồi ngay phía dưới nhà chúng tôi, chỉ cách nhau bởi một khe núi hẹp với hai bên bờ là lối mòn. “Đi dọc theo lối mòn đó,” ông Rogers kể lại cho tôi nghe, “tôi thường mang đồ giặt đi vào mỗi sáng thứ Hai, rồi đến lấy về vào tối thứ Sáu. Chắc là anh đã từng nhìn thấy em mải miết hái hoa ở phía bên kia khe núi. Nơi đó mới đẹp làm sao! Chưa bao giờ anh cảm thấy hạnh phúc hơn thế.” Hồi ức ấy của Henry H. Rogers chỉ là một trong số vài lý do khiến tôi hết lòng quý mến một gã “cướp biển” khét tiếng chưa từng giương cờ nào lừng lẫy hơn trên Phố Wall.

Chẳng bao lâu sau khi chúng tôi chuyển đến ngôi nhà trên đồi, vùng đất dầu mỏ – lúc ấy đang chịu cảnh suy thoái – bỗng sục sôi trước tin tức một giếng dầu cực lớn vừa được khai thác tại Pithole, một vùng đất biệt lập mà những cự binh trong ngành trước nay chưa từng mảy may đếm xỉa tới. Tin tức chấn động ấy châm ngòi cho một cuộc tranh giành điên cuồng. Một dòng người ô hợp gồm đủ thành phần có tiền lẫn không tiền, có liêm sỉ hay không, đổ xô đi tìm kiếm các hợp đồng cho thuê đất, việc làm, cơ hội phiêu lưu, sự kích thích và cả những mánh khóe lừa đảo; họ đi bộ hoặc cưỡi ngựa ngược qua Thung lũng Cherry Run ngay trong tầm mắt nhìn thẳng từ nhà chúng tôi.

Cha tôi là một trong những người đầu tiên chớp lấy cơ hội từ phát hiện tại Pithole, ông dựng các xưởng làm bể chứa tại đó và phất lên như diều gặp gió trong suốt khoảng thời gian ngắn ngủi mà mỏ dầu này còn hoạt động. Thị trấn này đã “sụp đổ hoàn toàn” vào năm 1869. Ông thường phi ngựa qua lại giữa xưởng và nhà trên một con ngựa cái yên cương nhỏ nhắn mang tên Flora – một sinh vật tuyệt đẹp – và trong túi thường dắt theo những khoản tiền mặt đáng kể. Vùng đất ấy nhan nhản côn đồ, và những câu chuyện cướp bóc xảy ra như cơm bữa. Những hôm ông về quá muộn, mẹ lại bồn chồn đi lại trong nhà, hai tay xoắn xuýt vào nhau. Những đêm đó tôi chẳng thể nào chợp mắt cho đến khi cha trở về, không phải vì tôi lo lắng thay cho mẹ mà vì sự kích thích và vẻ kỳ bí của nó. Trong tâm trí tôi hằn in một bức tượng đài kịch tính về ông, hệt như một Paul Revere phi nước đại dọc theo con đường hoang vắng, tay lơi dây cương trên cổ chú ngựa Flora, tay lăm lăm khẩu súng lục. Thế nhưng ông vẫn luôn trở về nhà, luôn mang theo số tiền kiếm được – thứ mà ông phải cất giấu trong chiếc két sắt nhỏ xíu ở văn phòng phụ liền kề ngôi nhà cho đến khi có dịp mang ra Oil City để gửi ngân hàng.

Cuộc sống của tôi ngày càng trở nên nhạy bén hơn về mặt nhận thức kể từ khi bỏ lại vùng đất trũng phía sau, những trải nghiệm cũng sâu sắc hơn. Đây chính là lần đầu tiên tôi nếm trải mùi vị của bi kịch. Đó là mùa xuân năm 1865. Cha đang bước lên sườn đồi, mẹ con tôi đang đứng ngóng ông. Thường ngày ông vẫn sải bước nhanh nhẹn, đầu ngẩng cao, nhưng hôm nay bước chân ông bỗng chậm chạp, đầu cúi gằm. Mẹ hớt hải chạy ra đón và kêu lên: “Frank, Frank, chuyện gì thế anh?” Tôi không nghe thấy câu trả lời; nhưng tôi sẽ mãi khắc ghi hình ảnh mẹ xoay người trước những lời nói ấy, vùi khuôn mặt vào tạp dũ và lao vào phòng nức nở như thể trái tim đang tan nát. Và rồi ngôi nhà đóng sập cửa lại, khăn tang được treo lên mọi cánh cửa, và tôi được bảo rằng Tổng thống Lincoln đã qua đời.

Kể từ khoảnh khắc đó, cái tên ấy đồng nghĩa với bi kịch và sự bí ẩn. Tại sao lại có nỗi đau lớn đến thế vì một người mà chúng tôi chưa từng gặp mặt, một người chẳng dính dáng gì đến thế giới của chúng tôi – thế giới của riêng tôi? Phải chăng có thứ gì đó nằm ngoài vòng tròn những ngọn đồi nơi tôi đang sinh sống lại có liên quan đến tôi? Tại sao, và bằng cách nào mà cái thế giới xa lạ đầy bí ẩn ấy lại liên quan đến tôi?

Chẳng mấy chốc tôi đã nhận ra rằng bi kịch không chỉ xuất phát từ một cõi xa xôi bí ẩn nào đó. Cả một chuỗi tai họa liên tiếp mới có thể dạy cho những người đàn ông và phụ nữ đang gầy dựng ngành công nghiệp mới này thấu hiểu cái rủi ro thường trực mà họ phải đối mặt khi xử lý dầu thô lẫn dầu tinh luyện. Tai họa ấy đã giáng xuống ngay trước thềm nhà chúng tôi, khi một người phụ nữ hàng xóm vội vã nhóm lửa nấu ăn đã vô tình đổ dầu trực tiếp lên đống củi mà không kiểm tra kỹ xem trong lò còn than hồng hay không. Một vụ nổ khủng khiếp đã xảy ra khiến bà và hai người hàng xóm chạy đến ứng cứu bị thiêu cháy đen thui. Tôi nghe những lời thì thầm đầy kinh hãi vang lên xung quanh. Việc người lớn nhất quyết không chịu kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra càng khơi dậy một sự tò mò khủng khiếp. Tôi láng giáng nghe ngóng được rằng các thi thể đang được quàn tại một ngôi nhà gần đó, và khi không có ai chú ý, tôi đã lén lút lẻn vào để ngắm nhìn họ. Những đêm sau đó là chuỗi ngày mất ngủ liên miên đối với tôi.

Cuối cùng, bóng tối của tử thần cũng bước chân vào chính tổ ấm của chúng tôi. Có một người con thứ tư đã chào đời trong ngôi nhà trên sườn đồi ấy – chúng tôi vẫn thường gọi cậu bé là “bé Frankie” – đôi mắt xanh biếc giống hệt cha, đứa trẻ rạng rỡ nhất trong số anh chị em chúng tôi. Suốt nhiều tuần trong một mùa nọ, thằng bé nằm lì trên phòng khách chiến đấu giành giật sự sống – mắc bệnh sốt đỏ, một căn bệnh mà các bà mẹ thời đó còn kinh hãi hơn cả bệnh đậu mùa. Ngày qua ngày, tôi đứng bất lực và đau đớn ngoài cánh cửa nơi bé Frankie đang nằm gào thét chống cự lại vị bác sĩ. Cho đến tận ngày nay, tôi vẫn nhớ như in những vệt trắng hằn sâu trên các khớp ngón tay mình kéo dài bao lâu sau khi cơn giằng xé đằng sau cánh cửa đóng kín ấy lắng xuống và đôi bàn tay đang siết chặt của tôi mới chịu buông lỏng.

Bé Frankie đã qua đời, trở thành một huyền thoại đầy xót xa và yêu thương trong gia đình. Cô em gái nhỏ của tôi – người từng trải qua cuộc chiến cam go và chiến thắng căn bệnh quái ác ấy – đã thổ lộ với tôi rằng con bé chẳng thể tài nào hiểu nổi vì sao cha mẹ lại khóc mỗi khi nhắc đến Frankie.

“Nếu họ muốn gặp em ấy,” con bé ngây ngô nghĩ, “sao họ không bắc một chiếc thang từ đỉnh đồi vút lên tận bầu trời thiên đường để trèo lên nhỉ? Nếu Frankie ở đó, Chúa chắc chắn sẽ cho họ gặp mặt.”

Tôi từng nói rằng ký ức đầu tiên của tôi về Tổng thống Lincoln chính là ấn tượng sâu sắc từ thảm kịch cái chết của ông. Sự thật ấy không phải vì gia đình chúng tôi thiếu thốn tài liệu đọc về ông. Cha tôi là một người ủng hộ nhiệt thành đảng Cộng hòa. Ngay từ năm ’56, ông từng viết trong chuyến đi xuôi sông rằng: “Hoan hô Frémont và Dayton.” Ngay khi có trong tay số tiền dư dả hơn nhu cầu thiết yếu của gia đình, ông đã đặt mua các ấn phẩm Harper’s Weekly, Harper’s Monthly, tờ New York Tribune, và bắt đầu mua sách. Trong số đó, tôi chỉ nhớ rõ tờ Weekly và tờ Monthly. Hai chị em chúng tôi thường nằmài hàng giờ liền úp sấp trên sàn, gót chân chổng ngược lên trời, lật giở những trang báo kịch tính về thời kỳ Nội chiến; thế nhưng chẳng có chữ nào lọt vào mắt tôi – chẳng có gì liên quan đến tôi cả. Phải đến tận bây giờ, khi lục lại những xấp báo cũ ấy, tôi mới nhận ra tiếng thì thầm của một thứ gì đó từng rất quen thuộc.

Còn về tạp chí Monthly, tôi lưu giữ nhiều ký ức rõ ràng hơn. Chính trên những trang báo này, tôi bắt đầu chập chững đọc sách một cách tự do. Tôi đã có biết bao buổi “dã ngoại” một mình cùng cuốn Monthly dưới tán bụi gai trên sườn đồi phía trên suối Oil Creek, cạnh bên là một chiếc giỏ đựng đồ ăn trưa. Cho đến nay trong kho chứa của gia đình vẫn còn lưu giữ những số báo Harper’s Monthly vương vãi vết bánh chanh dây do tôi lỡ ăn uống bất cẩn khi quá mải mê chìm đắm vào cốt truyện. Tại đây, tôi đã đọc những tác phẩm đầu đời của Dickens, của Thackeray, của Marian Evans – bút danh mà George Eliot từng sử dụng. Cuốn tiểu thuyết Wilkie Collins đầu tiên của tôi cũng đến từ tờ Weekly. Toàn những kiệt tác văn chương – và mãi tận sau này tôi mới vỡ lẽ ra rằng chúng đều là sách lậu. Người bạn Viola Roseboro của tôi kể lại rằng vào thời gian ấy, cô bé cũng đang đọc những ấn phẩm bìa mềm in lậu các tác phẩm của Dickens do Harper phát hành. Phải mãi về sau này chúng mới đến tay tôi.

Tuy nhiên, không phải mọi thứ tôi đọc lúc bấy giờ đều mang tính chính thống đáng kính. Tôi lén lút ngấu nghiến một tờ báo bị cấm tiệt trong gia đình – tờ Police Gazette – thứ tài sản thuộc về những người đàn ông trong nhà, bởi chúng tôi lúc nào cũng có những người đàn ông ra vào, những người mang các mức độ chấp nhận khác nhau đối với mẹ, nhưng tất cả đều cần thiết cho công việc kinh doanh của cha. Công việc làm ăn ngày càng phát triển; điều đó đồng nghĩa với việc cần đến nhân viên kế toán, các quản đốc và thợ thuyền. Ở một cộng đồng khai hoang như của chúng tôi, việc tìm kiếm chỗ ở thoải mái cho những người đàn ông độc thân là vô cùng khó khăn. Cha mẹ tôi, đều lớn lên ở miền quê, coi việc nuôi ăn ở cho nhân viên là chuyện hiển nhiên. Thế nên, phù hợp với trải nghiệm quá khứ cũng như yêu cầu thực tế, gia đình chúng tôi được sắp xếp để lo liệu cho một số lượng nhất định những người gắn kết với công việc của cha. Để làm chỗ ngủ, một khu nhà tập thể đã được dựng lên trên sườn đồi; còn vào hai buổi sáng tối, họ tề tựu bên mâm cơm gia đình. Việc phải dung chứa những người đàn ông mà cung cách sinh hoạt thường khiến bà hết sức gai mắt là một cực hình đối với mẹ; nhưng dẫu sao bà cũng từng là một giáo viên tiểu học, và bà áp dụng triệt để những nguyên tắc kỷ luật của mình. Bà tuyệt đối không cho phép có chuyện chửi thề, say xỉn, cộc cằn, và chắc chắn bà không bao giờ chấp nhận sự hiện diện của tờ Police Gazette trong nhà. Thế nhưng đám đàn ông vẫn cứ tàng trữ nó, và thỉnh thoảng khi hai chị em tôi đùa nghịch quanh khu nhà tập thể, tôi dễ dàng chộp lấy một cuốn rồi chuồn ra một góc khuất, nơi tôi cùng cô bạn thân thiết nhất ngắm nhìn những bức hình thô tục trên đó mà chẳng mảy mai cảm thấy ngượng ngùng hay biết điều gì là sai trái. Nếu chúng thực sự đồi trụy thì quả thật chúng tôi chẳng bao giờ nhận thức được điều đó. Phảng phất đâu đó là sự phóng túng ngông nghênh của những người phụ nữ và vẻ bạt mạng bặm trợn của đàn ông – chúng tôi đinh ninh rằng chúng thật xấu xa, nhưng cũng vì thế mà lại càng thêm phần cuốn hút.

Một trong những lý do khiến tờ Police Gazette mê hoặc tôi là vì nó khắc họa một kiểu đời sống mà tôi thừa biết đang nở rộ tại một khu định cư lân cận – nơi cha tôi có những xưởng làm việc do một người quản đốc điều hành, người mà chị gái ông vốn là bạn thâm giao của gia đình, và tôi thường xuyên được phép đến thăm. Khu định cư ấy, Petroleum Center, bằng một sự đồng thuận ngầm nào đó đã trở thành “vũng lầy tội lỗi” của suối Oil Creek.

Sự bùng nổ của dầu mỏ, sự xác tín ngày càng lớn rằng đó là mốc khởi đầu của một kỷ nguyên công nghiệp mới, cùng dòng tiền đổ cuồn cuộn vào Vùng Dầu Mỏ đã nhanh chóng thu hút một làn sóng xâm lăng gồm đủ hạng người tìm kiếm vận may. Đây là một mỏ vàng mới béo bở cho đám bịp bợm, lừa đảo, những kẻ khai thác đủ mọi hình thức đồi trụy. Chẳng mấy chốc chúng đã dựng lên các cơ sở kinh doanh ở mọi khu định cư và, xin được ca ngợi tinh thần thượng võ của những người đàn ông ở Vùng Dầu Mỏ, chúng thường bị tống cổ ra ngoài bởi những đội tự vệ tự phát.

Tại Rouseville, một chiếc “thuyền vui vẻ” xuôi dòng suối lên đến nơi vào mùa đông đầu tiên ấy và thả neo gần xưởng của cha tôi đã bị cắt đứt dây neo vào giữa đêm ngay sau khi cập bến. Những vị khách trên thuyền bỗng ngơ ngác nhận ra mình đang lênh đênh trôi dạt xuống dòng sông Allegheny vào sáng hôm sau và buộc phải lội bộ quay về. Kể từ dạo đó, tệ nạn công khai đã phải e dè trốn chạy khỏi thị trấn. Thế nhưng khi dòng tiền tuôn trào từ lòng đất tại Petroleum Center, sự phấn khích đã lấn át mọi ý nghĩ về trật tự và đạo đức. Trước khi kịp nhận ra, thị trấn đã ngập ngụa trong đủ mọi hình thức trụy lạc và tội ác. Vào thời điểm tôi được phép đến thăm những người bạn ở đó, tôi chỉ dám liếc ngang liếc dọc qua khóe mắt khi bước đi đầy vẻ đoan trang dọc con phố ngập tràn quán rượu, vũ trường và nhà chứa; và tôi đã ghi nhận vô số điều kỳ quái. Ngôi nhà nơi tôi ghé thăm nằm trên một triền đồi nhìn xuống một trong những tụ điểm vũ trường khét tiếng nhất Vùng Dầu Mỏ – quán của Gus Reil. Đã không ít lần tôi rời khỏi giường vào ban đêm để ngắm nhìn tòa nhà thấp và dài ấy, nơi phát ra những tràng cười lớn, những bài ca tục tĩu, tiếng hò hét và chửi rủa. Về sau, nỗi sợ hãi càng bủa vây sự hấp dẫn kỳ lạ của quán Gus Reil, khi một cậu thiếu niên ở Rouseville bị bắn chết tại đó vào một đêm nọ.

Nếu như Petroleum Center mang lại cho tôi cơ hội nuôi dưỡng lòng tò mò về những khía cạnh trong thế giới mà lẽ ra tôi không được phép biết đến, thì tình cờ nó cũng trở thành chiếc cầu nối gián tiếp đánh thức niềm đam mê của tôi đối với những vì tinh tú – một trong những niềm say mê đẹp đẽ nhất thời niên thiếu. Cha tôi đã chứng kiến sự tàn lụi nhanh chóng của những chiếc bể chứa dầu bằng gỗ, sự lên ngôi của các bể chứa bằng sắt, và đã dùng nguồn vốn của mình để trở thành một nhà sản xuất dầu mỏ. Một trong những khoản đầu tư đầu tiên của ông là một trang trại dầu mỏ nằm trên những ngọn đồi phía trên thị trấn tội lỗi từng khơi gợi sự tò mò tột độ của tôi. Đối tác làm ăn của ông trong canh bạc này, ông M. E. Hess, cùng gia đình sinh sống ngay tại trang trại ấy. Gia đình ông có một cô con gái trạc tuổi tôi và mang cùng tên với tôi – Ida. Chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè và thường xuyên qua lại thăm viếng nhau mỗi khi có cơ hội. Cơ hội của tôi đến rất thường xuyên khi ông Hess cưỡi ngựa cùng một người bạn vượt đồi đến Rouseville để bàn công chuyện với cha, ông sẽ để người bạn đó đi trước và đón tôi quay về cùng, thường là vào ban đêm. Ông sở hữu một cặp ngựa cưỡi tuyệt hảo mang tên “High Fly” và “Shoo Fly”. Trải nghiệm tập cưỡi ngựa đầu tiên của tôi chính là lẽo đẽo bám theo sau lưng ông trên chú ngựa “Shoo Fly” vượt qua những ngọn đồi trong màn đêm buông xuống.

Ông Hess là một con người vô cùng khác biệt, học thức cao và ẩn chứa một tâm hồn thơ ca. Trên suốt chặng đường cưỡi ngựa, thỉnh thoảng ông lại dừng chân để gọi tên từng vì sao, vẽ nên các chòm sao trên bầu trời và ngâm nga những huyền thoại. Nhận thức đầu tiên của tôi về không gian vũ trụ, về vẻ đẹp của nó, và về một thứ gì đó vượt lên trên cả vẻ đẹp thông thường, đã nảy nở từ dạo ấy.

Quả là một sự cân bằng tuyệt vời để đối trọng lại những gì tôi đang thu gom từ thị trấn nằm dưới chân đồi và chứng kiến qua những trang báo Police Gazette vốn phản ánh quá sinh động các hoạt động nơi đó.

Thế nhưng vẫn còn những lực lượng điều chỉnh khác đang tác động lên tôi. Những người đàn ông đứng ra thành lập ủy ban tự vệ nhằm biến Rouseville thành một chốn khó khăn cho tệ nạn mại dâm thương mại (và cha tôi là một trong số đó) đã sớm bắt tay vào việc thiết lập các thiết chế văn minh – đầu tiên là một nhà thờ.

Những người đàn ông và phụ nữ đứng ra xây dựng và bảo trợ nhà thờ này đã quyết định rằng nó phải thuộc giáo phái chiếm số đông nhất trong cộng đồng. Tín đồ Giám lý áp đảo về mặt con người, thế nên cha mẹ tôi vốn theo phong tục Trưởng lão đã chuyển sang và gắn bó luôn với giáo phái Giám lý. Sự ủng hộ của họ vô cùng tích cực. Chúng tôi không chỉ đến nhà thờ; chúng tôi còn ở lại tham gia các buổi sinh hoạt lớp; chúng tôi đến trường Chúa nhật, nơi cả cha và mẹ đều đứng lớp; chúng tôi đến buổi cầu nguyện tối thứ Tư – hay là tối thứ Năm nhỉ? Và mỗi khi có đợt truyền đạo phục hưng, chúng tôi có mặt vào mọi buổi tối. Vào năm lớp mười hay lớp mười một, tôi đã “bước lên phía trước” không phải vì cảm giác tội lỗi cắn rứt mà bởi vì tất cả mọi người đều làm thế. Cảm giác tội lỗi chỉ thực sự ập đến với tôi sau khi mọi chuyện đã kết thúc và tôi được cuộn mình trên giường ngủ vào ban đêm. Khi quỳ gối ở hàng ghế dành cho người sám hối, tôi đã vô cùng bận tâm nhận thức rằng dải rủ bằng lụa màu đỏ thẫm buông thõng từ chiếc mũ của mình trông thật lộng lẫy làm sao trên chiếc áo khoác màu kem. Sự nhận thức về thói đạo đức giả đó đã cứa nát trái tim tôi. Lúc bấy giờ tôi mới thực sự ý thức được mình là một kẻ tội đồ, và sự thanh thỉnh mà tôi tìm kiếm qua lời cầu nguyện là hoàn toàn thành kính. Tôi chưa bao giờ thú tội cả. Nó không giống như thứ tội lỗi mà những người cải đạo khác thường bàn tán. Thế nhưng nó đã khơi dậy khả năng tự quan sát bản thân trong tôi; tôi nhận ra rằng thường thì khi mình đang thốt ra những lời lẽ lịch sự hay chuẩn mực thì trong đầu lại đang suy nghĩ hoàn toàn khác biệt. Suốt một thời gian dài, điều đó khiến tôi vô cùng bứt rứt khi nghĩ rằng chỉ có một mình tôi mang trong mình một dòng sông tư tưởng ngầm chảy khuất lấp. Về sau, tôi bắt đầu hoài nghi rằng những người khác cũng như vậy, rằng luôn luôn tồn tại một dòng suối suy nghĩ không thành lời chảy bên dưới lớp suy nghĩ được thốt ra ngoài. Điều đó khiến tôi trở nên dè chừng trước những người lạ mặt.

Một khía cạnh trong cuộc đời tôi giờ đây khiến tôi vô cùng xúc động mỗi khi hoài niệm, đó là nỗ lực bền bỉ của cha mẹ nhằm mang lại cho tôi những thứ được gọi là đặc quyền, dùng nguồn thu nhập ngày càng tăng để đánh thức và vun đắp trong tôi gu thẩm mỹ đối với những điều mà họ từng bị tước đoạt. Họ muốn ngôi nhà ngập tràn âm thanh tiếng đàn, và tài sản lớn nhất của chúng tôi trở thành một chiếc đàn piano vuông Bradbury lộng lẫy – một nhạc cụ thực sự cao cấp – mang âm sắc ngọt ngào và trầm ấm bậc nhất mà tôi từng được nghe ở một cây đàn piano.

Một giáo viên dạy nhạc xuất hiện trong cộng đồng và tôi lập tức bị tống vào các bài tập luyện năm ngón, bị bắt phải gắn bó với chúng cùng tất cả những gì đi kèm trong suốt nhiều năm trời; thế nhưng tôi chẳng tìm thấy niềm vui nào trong những việc mình đang làm. Rất có thể với những người giáo viên khác thay vì những người sẵn có lúc bấy giờ, một suối nguồn nào đó trong tôi đã có thể được chạm đến, bởi dẫu không được đào tạo bài bản nhưng tôi không phải là không có một sự cảm thụ âm nhạc nhất định.

Tuy nhiên, tôi cũng đã nắm vững kỹ thuật chơi piano đủ để sau này trở thành một trong những gương mặt biểu diễn thường trực trong các buổi sinh hoạt buổi sáng tại ngôi trường trung học mà chúng tôi chuẩn bị chuyển đến – Titusville, Pennsylvania. Tôi chẳng nhớ chút gì về điều này cho đến khi hai người bạn cũ ở Titusville, những bạn học cũ thời phổ thông, kể cho tôi nghe rằng tôi là một trong ba hoặc bốn học sinh chuyên đàn piano cho các buổi lễ buổi sáng, rằng thỉnh thoảng tôi còn biểu diễn những khúc nhạc tủ của mình, và có lần tôi từng là diễn viên trong một vở kịch mà họ nhắc lại với vẻ vô cùng thích thú. Họ kể tôi đang chơi một bản song tấu cùng một bạn cùng lớp. Hoặc là chúng tôi đã lạc mất nhịp hoặc không thống nhất được về tiết tấu – thế là dừng bặt lại, tranh cãi ngã ngũ rồi mới bắt đầu lại từ đầu, và lần này thì hoàn toàn suôn sẻ không còn tranh chấp; thế nhưng tôi chỉ có được ký ức qua lời kể của người khác về đóng góp của mình cho đời sống âm nhạc của trường trung học Titusville.

Tôi nhớ những nỗ lực của cha mẹ trong việc dẫn dắt tôi khám phá thế giới bên ngoài một cách rõ ràng hơn rất nhiều so với những cố gắng khơi gợi niềm đam mê sách vở và âm nhạc. Có những chuyến đi chơi ngắn, một lần đi xa tới tận Cleveland – cả gia đình cùng đi – sự kinh ngạc trước “khách sạn hạng sang”, trước những chiếc mũ và áo khoác mới cùng những vòng tay ôm đầy đồ chơi. Có những mùa hè ở trang trại, chỉ cách đó ba mươi dặm. Điều được nhớ nhất và tận hưởng nhiều nhất chính là những chuyến dã ngoại cả ngày trời. Chẳng ai có thể thấu hiểu đời sống xã hội của đại đa số người dân Mỹ vào cuối thế kỷ XIX nếu không nắm bắt được sức hút mạnh mẽ của những buổi dã ngoại đối với họ. Gia đình Tarbell coi trọng chuyện dã ngoại đến mức sắm sửa riêng một bộ trang thiết bị gồm những chiếc giỏ đi chợ chắc chắn, cốc và đĩa thiếc, dao nĩa bằng thép, thìa thiếc, khăn ăn cũ (vào thời đó khăn ăn giấy là một thứ chưa từng nghe thấy). Thực đơn thì cố định y như bữa tiệc Lễ Tạ ơn: chả bê, lưỡi bò nguội, trứng luộc chín kỹ – “mỗi người hai quả” – bánh mỳ bơ béo ngậy, đào ngâm gia vị, mứt thạch, dưa chuột muối, dưa góp thập cẩm, bánh quy ngọt, bánh rán (chúng tôi gọi là bánh rán rán), và một loại bánh ngọt đặc biệt của gia đình. Và bạn sẽ ăn cho đến khi nào căng bụng mới thôi.

Những chuyến dã ngoại hoành tráng nhất của chúng tôi vào những ngày đó là đến hồ Chautauqua, một vùng nước duyên dáng cách nhà chỉ chừng năm mươi dặm. Gần đầu nguồn hồ là một thị trấn cũ của hạt Chautauqua, Mayville; còn ở hạ lưu là Jamestown, nơi cha từng theo học tại Học viện trong vài năm, và từ đó trong các kỳ nghỉ ông đã khởi hành những chuyến đi hàng năm xuôi dòng Ohio. Mang theo những giỏ thức ăn trưa nặng trĩu, chúng tôi bắt chuyến tàu sớm đến Mayville, đổi sang một chiếc tàu hơi nước màu trắng nhỏ ở đó: lượn zíc-zắc suốt chiều dài hồ, khoảng hai mươi dặm, dừng chân ở hết điểm này đến điểm khác. Chúng tôi ăn trưa dọc đường, và đến Jamestown thì lên phố để uống một chai nước ngọt “pop”. Và rồi là hành trình chậm chạp quay về nhà, nơi chúng tôi đặt chân đến khi trời đã tối mịt, kiệt sức vì quá phấn khích.

Cách Mayville chừng ba hoặc bốn dặm về phía tây hồ nhô ra một mũi đất nhiều cây cối – Fair Point – nơi vào thời đó thường diễn ra các buổi cắm trại tôn giáo của giáo hội Giám lý; và chúng tôi đôi khi dừng chân ở đó cả ngày. Chúng tôi chẳng bao giờ thích nơi này bằng việc đi Jamestown; cha cũng vậy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.