Đời Thường Công Việc

Lượt đọc: 27 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kẻ Bới Rác Hay Sử Gia?

❊ ❊ ❊

Việc những chuyến viếng thăm của tôi tới số 26 phố Broadway bị đồn đại trong giới phê bình và những kẻ thù của Công ty Standard Oil — những người vẫn luôn tò mò không biết tạp chí McClure’s sắp sửa giở trò gì — là điều không thể tránh khỏi. Chẳng hiếm gì cảnh một kẻ đứng về phe độc lập vừa lắc đầu ra vẻ hiểu biết vừa cất lời: “Ôi, rồi họ sẽ xỏ mũi cô thôi. Trước khi mọi chuyện ngã ngũ, cô sẽ trở thành kẻ biện hộ cho họ cho mà xem.” Thật hoàn toàn vô ích khi tôi cứ khăng khăng rằng mình chẳng cố làm kẻ biện hộ cho ai cả, rằng tôi chỉ đang cố gắng cân nhắc lại những gì mình tìm được. Thế nhưng, có ít nhất hai nhân vật quan trọng mà tôi rất tha thiết muốn được nghe họ tự kể lại trải nghiệm của bản thân đã từ chối gặp mặt tôi. Về sau, tôi mới hay tin rằng Henry D. Lloyd, ngay sau khi biết chuyện tôi đang diện kiến ông H. H. Rogers, đã viết thư khuyên họ tốt hơn hết là đừng mở miệng, đừng cho tôi xem giấy tờ tài liệu gì sáu, bởi trước sau gì tôi cũng bị họ dắt mũi cho mà thôi.

Lúc bấy giờ, tôi vốn đã có dịp trò chuyện và nhận được sự giúp đỡ từ ông Lloyd, nhưng mối liên hệ giữa tôi với Rogers rõ ràng đã khiến ông ấy chướng tai gai mắt một thời gian. Bài báo đầu tiên của tôi dường như đã giúp ông ấy trấn an phần nào, bởi ngay khi nó vừa được phát hành, ông đã viết thư cho tôi rằng: “Tôi đã đọc kỳ đầu tiên trong câu chuyện về Công ty Standard Oil với sự tò mò háo hức, tiếp đó là niềm hứng thú tột độ và cuối cùng là sự thỏa mãn lớn lao.” Dường như ông đã sớm đoán định được đích đến của tôi.

Sự hoài nghi về mối quan hệ giữa tôi với tòa nhà số 26 phố Broadway đã khiến tôi bị cô lập ròng rã suốt hai năm trời với một trong những chiến sĩ phe độc lập kỳ cựu và thú vị nhất trong cuộc chiến kéo dài ba mươi năm ấy. Đó chính là Lewis Emery, Jr., một người mà tôi đã quen biết từ thủa niên thiếu. Ông lớn lên trong ngành dầu mỏ, sát cánh bên cạnh H. H. Rogers; ông từng là một nhà sản xuất, một nhà lọc dầu, đồng thời là một trong những trụ cột đắc lực trong việc gầy dựng nên Công ty Pure Oil — tập đoàn hợp nhất mà anh trai tôi đang cống hiến. Ngay từ những ngày đầu, ông Emery đã đơn độc cũng như liên kết, trên cả mặt trận chính trị lẫn tài chính, để chống lại những cao ngạo của Standard. Ông có một khiếu ngôn ngữ tuyệt vời — một vốn từ ngữ đầy miệt thị và châm biếm — và chẳng ngần ngại đem ra sử dụng. Ông là nhân vật quen mặt trong hầu hết mọi cuộc điều tra, mọi vụ kiện tụng, và là thành viên của mọi liên minh nhà sản xuất lẫn lọc dầu. Cứ nơi nào có ông xuất hiện, ở đó thế nào cũng có những màn đấu khẩu nảy lửa giữa ông và đại diện của phe bên kia. Đối tượng khiến ông căm phết nhất chính là John Archbold, phó chủ tịch của Công ty Standard Oil, một kẻ cũng phóng khoáng trong việc ném ra những lời buộc tội và miệt thị chẳng kém gì bản thân Lewis Emery.

“Anh là một kẻ nói dối,” hắn hét lên trong một buổi điều tra khi ông Emery đưa ra một cáo buộc có phần phóng đại.

Joseph H. Choate là luật sư của ông Archbold.

“Nào, nào, ông Archbold!” ông ấy cất lời. “Chúng ta sẽ đưa ông Emery lên bồi thẩm đoàn và khép tội khai gian đối với ông ấy.”

Chẳng thèm đếm xỉa đến lời của ông Choate, ông Emery với tay qua bàn và nói lớn: “Này cậu thanh niên, nếu cái bàn này mà không quá rộng thì tôi đã vặn mũi cậu vì câu nói đó rồi đấy.”

Những màn chạm trán kiểu ấy diễn ra như cơm bữa.

Henry Rogers, người thực lòng quý mến Lewis Emery, luôn tìm cách xoa dịu ông. “Anh không thể dừng chuyện này lại được sao, Lew?” có lần ông đã nói. “Hãy về chung một thuyền với chúng tôi, mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn cho anh. Đơn độc chiến đấu chẳng mang lại hy vọng gì cho anh đâu, nhưng đi với chúng tôi thì chắc chắn trăm phần trăm.”

Ông Emery, người đã kể lại cho tôi nghe về lời đề nghị này, nói rằng: “Henry, tôi không thể làm thế dẫu có muốn đi chăng nữa. Lũ ở Vùng Dầu mỏ sẽ lôi tôi ra xử lynch ngay nếu tôi dám phản bội họ.”

Họ sẽ chẳng lôi ông ra xử lynch đâu, nhưng họ sẽ làm một điều tồi tệ hơn nhiều đối với một kẻ có tính khí như ông — một con người có niềm đam mê mãnh liệt với sự tự do hành động dù khôn ngoan hay dại dột — đó là họ sẽ tẩy chay ông.

Hậu quả bi thảm nhất mà tôi từng chứng kiến thời thiếu nữ của cái gọi là “quy hàng Standard” chính là sự tẩy chay phần nào dành cho kẻ phản bội. Khi những người bạn cũ của một người cố tình bước sang phía bên kia đường để khỏi phải chạm mặt anh ta, khi chẳng còn ai dừng lại bên góc phố để trò chuyện phiếm về những gì đang diễn ra, thì hiếm có kẻ nào lại trơ tráo đến mức không cảm thấy đau khổ. Nó còn tồi tệ hơn cả việc bị xử lynch. Trên thực tế, theo những gì tôi biết, Vùng Dầu mỏ chưa từng xử lynch bất kỳ ai, dù họ có đôi khi đập phá tài sản và ít nhất một lần từng treo cổ hình nộm của chính ông Rockefeller.

Đến thời điểm này, Lewis Emery đã tự mình chiến đấu để giành lấy một vị thế vững chắc trong thế giới dầu mỏ; thế nhưng cho đến tận cùng, ông vẫn luôn tự hào vì mình là một nạn nhân. Khi cuối cùng ông chịu trò chuyện với tôi sau khi hay tin từ ông Lloyd rằng lệnh cấm vận chống lại tôi đã được gỡ bỏ, ông đã nói với vẻ mà tôi thấy là vô cùng thỏa mãn: “Tôi đã bị tra tấn. Tôi là một kẻ mang thương tích vì bọn chúng, và tôi căm thù chúng.”

Bất chấp điều đó, ông vẫn tận hưởng cuộc sống một cách trọn vẹn. Ông là một người giàu có, và ông biết cách tận dụng tối đa khối tài sản của mình. Ông chưa bao giờ để đồng tiền bóp nghẹt đi cá tính bản thân. Sự thành công trong việc giữ vững bản ngã ấy hoàn toàn trái ngược với phần lớn những ông trùm dầu mỏ thành đạt thời bấy giờ mà tôi từng biết. Đa số bọn họ, dù thuộc phe độc lập hay phe Standard, đều tự khoác lên mình một lớp vỏ bọc, thay đổi những thói quen đến mức đánh mất đi phần lớn bản chất tự nhiên vốn có. Họ hiếm khi tham gia vào chính trị hay các phong trào xã hội; họ luôn giữ mình ở mức chuẩn mực trong mọi chuyện; họ chỉ rót vốn vào những dự án nắm chắc phần thắng. Người ta luôn biết tìm họ ở đâu. Nhưng Lewis Emery, Jr. thì không như vậy. Ông vẫn tiếp tục mặc những bộ quần áo một cách tự nhiên, tiếp tục đi theo con đường kỳ quặc của riêng mình. Ông dấn thân vào các phong trào chính trị, dù khôn ngoan hay dại dột, và ông chẳng bao giờ đánh mất tinh thần dấn thân của một người tiên phong. Khi đã qua tuổi bảy mươi, như một cú tung hoành cuối đời, ông nhận khai thác một mỏ vàng ở Peru — một mỏ vàng mà người ta chỉ có thể tiếp cận bằng cách trèo đèo lội suối, băng qua những lối mòn hiểm trở được đục đẽo trực tiếp vào vách đá, vượt qua những chiếc cầu dây vắt vẻo — những lối đi chỉ dành cho những nhà leo núi gan dạ nhất. Thế mà khi đã gần tám mươi tuổi, ông vẫn xông xáo leo lên trèo xuống những ngọn núi ấy, thúc con la của mình lướt qua những chiếc cầu trong khi những kẻ trẻ tuổi hơn phải dắt la và lủi thủi bò trườn.

Mức độ mà ông đã hòa giải với tôi sau hai năm bị tẩy chay được minh chứng bằng lời mời thường niên của ông, rủ tôi cùng tham gia chuyến đi Peru với đoàn của ông. Và tôi đã đi, đã kể câu chuyện về mỏ vàng của ông theo đúng ý muốn của ông, nếu như không có những bức ảnh mà ông gửi cho tôi — những bức ảnh chụp những chiếc cầu dây chông chênh không có tay vịn lơ lửng giữa các vách núi, cách những dòng suối đá chảy xiết hàng trăm thước bên dưới. Tôi vốn không chịu được độ cao, thế nên đành gác lại thứ mà tôi chắc chắn là một trong những cuộc phiêu lưu thú vị nhất đời mình.

Không ít những trải nghiệm cá nhân trong quá trình thu thập tài liệu đã để lại cho tôi những ấn tượng buồn bã, có lẽ khi nhìn lại chúng còn u sầu hơn nhiều so với khoảnh khắc diễn ra. Chúng là một phần trong công việc hằng ngày, đôi khi là những phần vô cùng kịch tính. Có lần tôi đã dành ra hai tiếng đồng hồ để nghiên cứu về ông John D. Rockefeller. Khi công việc dần tiến triển, tôi càng lúc càng nhận rõ hơn rằng Công ty Standard Oil chính là đứa con tinh thần do một tay ông tạo dựng. Emerson từng nói: “Một tổ chức chính là cái bóng được kéo dài của một con người.” Tôi thấy điều đó hoàn toàn chính xác.

Mọi người trong văn phòng quan tâm đến công việc này bắt đầu nói rằng: “Sau khi cuốn sách hoàn thành, cô phải viết một bài phác họa chân dung về ông Rockefeller mới được.” Tôi không mấy mặn mà với ý tưởng đó. Bài viết sẽ phải được thực hiện dựa trên các tài liệu y như những cuốn sách vậy; nghĩa là, tôi không có chút hứng thú nào trong việc sử dụng những lời đồn thổi kỳ quặc đến với tôi từ nhiều nguồn khác nhau. Nếu đã viết, tôi chỉ muốn dùng những gì mình cảm thấy có bằng chứng xác thực, chỉ những thứ có thể giúp giải thích cho cuộc đời công chúng của con người quyền lực, kiên nhẫn, kín kẽ, tính toán với một thứ thiên bẩm vô cùng kỳ lạ và đặc thù này.

“Ít nhất cô cũng phải nhìn thấy mặt ông Rockefeller chứ,” các đồng nghiệp của tôi nài nỉ. “Nhưng bằng cách nào đây?” Bản thân ông Rogers từng gợi ý để tôi gặp ông ta. Tôi đã đồng ý. Tôi đã quay lại với gợi ý đó mấy lần, nhưng cuối cùng đành hiểu ra rằng điều đó là bất khả thi. Tôi đã gạch tên ông ta khỏi danh sách của mình. Và chính John Siddall là người đã nhúng tay vào việc này.

“Cô nhất định phải gặp ông ta,” đó là phán quyết của Siddall.

Việc sắp xếp cuộc gặp ấy gần như trở thành một nỗi ám ảnh đối với anh ấy. Và rồi, một cơ hội mà anh ấy cho là do ơn trên ban phở đã xuất hiện. Người ta thông báo rằng vào một ngày Chủ nhật nọ của tháng 10 năm 1903, trước khi rời Cleveland — nơi ông trải qua mùa hè — để trở về tư gia ở New York, ông Rockefeller sẽ nói lời tạm biệt bằng một bài phát biểu ngắn trước lớp học Trường Chúa nhật của nhà thờ nhà ông — một buổi họp mặt thường kỳ, theo như người ta gọi. Ngay khi biết tin này, Siddall liền nài nỉ tôi lên đường ngay lập tức. “Chúng ta có thể tới trường Chúa nhật; chúng ta có thể nán lại dự lễ nhà thờ. Tôi sẽ lo cho chúng ta có được những chỗ ngồi mà từ đó có thể nhìn rõ nhân vật ấy từ mọi góc độ. Cô sẽ được tận mắt chứng kiến ông ta hành động.”

Dĩ nhiên là tôi đi, dẫu trong lòng cũng cảm thấy có chút áy náy. Rõ ràng là ông ta không hề muốn bị người ta dòm ngó. Làm vậy chẳng khác nào đánh úp ông ta cả.

Kế hoạch của Siddall diễn ra hoàn hảo đến từng chi tiết, suôn sẻ từ đầu chí cuối đến mức anh ấy dường như chực tung tóe vì phấn khích trong suốt hai tiếng đồng hồ chúng tôi ở trong nhà thờ.

Chúng tôi đã đến từ sớm sơm vào căn phòng học Trường Chúa nhật — nơi buổi họp mặt sẽ diễn ra — một căn phòng ảm đạm dán thứ giấy dán tường màu xanh lá đậm mang phong cách man rợ với những họa tiết vàng chóe, những ô cửa sổ kính màu rẻ tiền, cùng các thiết bị đèn gas kỳ cục. Tất nhiên là nó tiện nghi, nhưng lại xấu xí một cách ngu ngốc. Chúng tôi đang ngồi ngoan ngoãn ở một góc thì tôi chợt nhận ra một bóng dáng nổi bật đang đứng ở ngưỡng cửa. Khuôn mặt ấy mang vẻ già nua khủng khiếp — người đàn ông già nhất mà tôi từng thấy, tôi thầm nghĩ, nhưng sao mà quyền lực đến thế! Đúng lúc đó, Siddall huých mạnh vào sườn tôi và xì xào: “Hắn kìa.”

Cảm giác về quyền lực ấy càng trở nên sâu sắc hơn khi ông Rockefeller cởi áo khoác và mũ ra, đội một chiếc mũ sọ nhỏ, rồi chọn một chỗ ngồi bao quát toàn bộ căn phòng với tấm lưng tựa vào tường. Chính phần đầu mới là thứ thu hút toàn bộ sự chú ý. Nó rất lớn, bề ngang từ trước ra sau rất rộng, vầng trán cao và rộng, những cục u lớn ở phía sau mang tai, không phải một mái đầu bóng bẩy mà trông ẩm ướt. Làn da tươi tắn hệt như của bất kỳ người đàn ông khỏe mạnh nào quanh chúng tôi. Chiếc mũi mỏng và sắc nhọn trông như một chiếc gai. Chẳng hề có môi; cái miệng trông cứ như thể toàn bộ hàm răng đang bị nghiến chặt lại. Những nếp nhăn sâu hoắm chạy dọc hai bên khóe miệng từ sống mũi xuống. Có những bọng mỡ dưới đôi mắt nhỏ không rõ tròng với những nếp gấp hằn lên xung quanh.

Sự kinh ngạc trước chiếc đầu ấy nhanh chóng chuyển thành sự kinh ngạc trước vẻ bứt rứt của người đàn ông. Đôi mắt ông ta không bao giờ chịu yên mà láo liên từ gương mặt này sang gương mặt khác, thậm chí còn liếc dọc theo góc tường nơi đám đông đang ngồi san sát.

Khi ông đứng lên phát biểu, ấn tượng về quyền lực mà cái nhìn đầu tiên mang lại càng lớn hơn, còn ấn tượng về tuổi tác thì biến mất. Tôi cứ đinh ninh sẽ nghe thấy một giọng nói run rẩy, nhưng giọng nói ấy thậm chí chẳng có vẻ gì là già nua, dẫu có hơi mệt mỏi và mỏng mảnh đi một chút. Nó rất rành mạch và cực kỳ chân thành. Ông ta thực sự nghĩ những gì mình đang nói. Ông đang đứng trên sân nhà mình và nói về cổ tức, những cổ tức của sự công chính. “Nếu các bạn muốn lấy ra một cái gì đó,” ông nói, nắm chặt bàn tay của cánh tay phải đang vươn ra, “thì các bạn phải bỏ vào một cái gì đó” — nhấn mạnh cụm từ “bỏ vào một cái gì đó” bằng ngón trỏ dài đang duỗi thẳng.

Bài phát biểu kết thúc, chúng tôi lủi nhanh lên lầu để kiếm một chỗ ngồi thật đẹp trên ban công, nơi chúng tôi có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ hàng ghế mà chúng tôi thừa biết là của gia đình Rockefeller.

Ông Rockefeller bước vào khu khán phòng của nhà thờ ngay khi giờ học Trường Chúa nhật vừa kết thúc. Ông ngồi hơi khom lưng trên chiếc ghế của mình, bứt rứt đến đáng thương, đầu liên tục quay sang phía xa bên phải hoặc bên trái, đôi mắt dò dẫm trên những khuôn mặt hầu như đều đang hướng về phía ông. Rõ ràng là ông, chứ không phải mục sư, mới là tâm điểm khiến cả giáo đoàn ấy xoay vần. Có lẽ ông quen thuộc với hầu như mọi người trong giáo đoàn; nhưng thỉnh thoảng ông vẫn dừng lại lâu hơn trên một gương mặt nào đó, đăm đăm quan sát hệt như đang muốn dò xét xem thứ gì đang ẩn giấu đằng sau tâm trí kẻ đó. Ông liên tục ngước nhìn lên ban công. Có phải ông đang nhìn Siddall và tôi không?

Buổi lễ kết thúc, ông hóa thành một vị thánh bảo trợ thân thiện của cả bầy chiên. Khi bước xuống lối đi giữa lúc mọi người đang lục tục ra về, ông bắt tay với bất kỳ ai dừng lại, miệng nói: “Một bài giảng hay.” “Bác sĩ đã ban cho chúng ta một bài giảng hay.” “Đó là một bài giảng rất hay phải không nào?”

Quãng thời gian hai tiếng đồng hồ nghiên cứu về ông Rockefeller đã khơi dậy trong tôi một cảm xúc mà tôi không hề lường trước, và thời gian chỉ càng làm nó thêm khắc sâu. Tôi thấy thương hại ông ta. Tôi chẳng biết thứ đồng hành nào lại khủng khiếp bằng sự sợ hãi. Ông Rockefeller, dẫu cho quyền lực hữu ý hằn in trên khuôn mặt, giọng nói và vóc dáng ấy, vẫn đang sợ hãi — tôi tự nhủ — sợ chính những kẻ đồng loại của mình. Người bạn của tôi, Lewis Emery, Jr., dù tự hào vì là một nạn nhân, lại vô cùng tự do và hạnh phúc. Chẳng có số vàng nào trên thế giới này đủ sức cám dỗ ông đánh đổi tình yêu dành cho sự thách thức lấy một thứ quyền lực đi kèm với cái đầu đầy bất an như trên đôi vai của ông Rockefeller.

Nỗi bất hạnh trong tôi càng nhân lên theo từng tháng trôi qua cùng với vô số những câu chuyện khiếu nại đổ về từ tứ phương tám hướng. Tôi biến việc tự mình tìm hiểu tận gốc mọi chuyện thành một thói quen, trong khả năng có thể; và trong khi tôi thường tìm thấy những lý do xác đáng cho các lời phàn nàn ấy, thì cũng không ít lần tôi vạch ra được những động cơ cơ bản đằng sau chúng — sự hoài nghi, cơn thèm khát tiếng tăm, tống tiền, và lòng thù hận.

Lời phàn nàn bất hạnh nhất và kỳ quặc nhất trong số đó lại đến với tôi từ chính con người mà ngó lên tận cùng thế giới tôi cũng chẳng bao giờ ngờ tới để tìm kiếm thông tin — Frank Rockefeller — em ruột của John D. Rockefeller.

Frank Rockefeller đã đánh động tôi theo một con đường vòng vèo rằng ông đang nắm giữ các tài liệu về một vụ việc mà ông nghĩ cần phải được công khai, và rằng nếu tôi chịu bí mật đến gặp ông tại văn phòng ở Cleveland, ông sẽ giao chúng cho tôi. Tôi vốn biết rằng giữa hai anh em họ từng có một trận cãi vã nảy lửa vì tranh chấp tài sản. Vụ việc từng gây xôn xao dư luận vào thời điểm đó — năm 1893 — đã phải đưa ra tòa án, gây ra biết bao rạn nứt cay đắng ngay trong nội bộ gia đình; thế nhưng vì đó là chuyện gia đình nên tôi vốn không muốn nhúng tay vào. Vậy mà giờ đây, nó lại được bày biện ngay trên bàn làm việc của tôi.

Thế là tôi lên đường đến Cleveland, nơi John Siddall có một cơ hội tuyệt vời để sắm vai thám tử mà anh vô cùng thích thú, với nhiệm vụ làm sao đưa được tôi vào văn phòng của ông Rockefeller mà không để bất cứ ai hoài nghi về thân phận thật. Và anh đã thành công.

Tôi bắt gặp một ông Rockefeller đang trong trạng thái kích động và đầy thù hằn. Ông ta cáo buộc anh trai mình đã cướp đoạt (đó là từ ông ta dùng) toàn bộ số cổ phần đáng kể của ông ta và người cộng sự James Corrigan tại Công ty Standard Oil. Sự thật trần trụi là Frank Rockefeller và James Corrigan từng có cổ phần trong những hoạt động đầu của Standard Oil tại Cleveland và mỗi người lúc bấy giờ đã tích lũy được một khối lượng cổ phiếu đáng kể. Về sau, họ phát triển một mảng kinh doanh vận tải trên Ngũ Đại Hồ, cùng các lò luyện sắt thép ở Cleveland. Vào thập niên tám mươi, họ từng vay tiền của John D. Rockefeller, thế chấp bằng số cổ phiếu Standard Oil mà họ đang nắm giữ. Rồi cuộc hoảng loạn năm 93 ập đến, và họ không thể xoay xở kịp để trả nợ. Giữa lúc họ đang cùng đường khốn đốn ấy, John Rockefeller đã siết nợ, thâu tóm toàn bộ số cổ phiếu của họ, mà theo lời họ cáo buộc thì chẳng cho họ lấy một khoảng thời gian để xoay xở, dẫu họ vô cùng chắc chắn rằng chỉ một thời gian ngắn nữa thôi, nhờ vào công việc làm ăn khấm khá mà họ khẳng định đã gầy dựng nên, họ sẽ có khả năng thanh toán khoản nợ cho ông ta. Những thành công trong tương lai đã chứng minh rằng họ hoàn toàn có thể làm được điều đó.

Tôi có thể thấu hiểu góc nhìn của John Rockefeller khi trò chuyện với người em trai Frank của ông ta. Frank Rockefeller là một thương gia phóng khoáng, hào hiệp — hứng thú với cuộc chơi hơn là số tiền kiếm được. Ông yêu những con ngựa đẹp — hình như ông còn gây giống chúng ở một nông trại ngoài Kansas; ông thích sự vui vẻ, thích tiêu xài phóng khoáng. Dưới góc nhìn của người anh John, ông không phải là một kẻ an toàn để trao tay tiền bạc. Ông chẳng tôn sùng nó; ông phung phí nó vào những mục đích vô bổ mà người anh trai không hề chấp thuận. Thế nên, đối với John Rockefeller, việc siết nợ chính người em ruột thịt và người bạn thuở hàn vi James Corrigan của mình lại giống như một thứ nghĩa vụ phải làm đối với sự linh thiêng của đồng tiền. Ông hoàn toàn tuân thủ các khuôn khổ pháp lý và cả cái mà tôi đoán là ông gọi là quyền lợi đạo đức của mình.

Nhưng giao dịch đó đã để lại trong tâm can Frank Rockefeller một sự cay đắng có lẽ là một trong những điều tồi tệ nhất mà tôi từng chứng kiến. “Tôi đã bốc các con tôi ra khỏi khu mộ gia đình nhà Rockefeller rồi. [Hoặc là “sẽ bốc lên” — giờ thì tôi không nhớ chính xác là câu nào nữa.] Chúng sẽ không đời nào được nằm chung một chỗ với John D. Rockefeller đâu.”

Những tài liệu trong vụ việc này, mà sau đó tôi đã đem ra phân tích để viết bài phác họa chân dung mà chúng tôi đã thống nhất, là một ví dụ điển hình về thứ mà người ta thường gọi là “các phương pháp của Standard Oil” cũng như những tác động mà chúng có thể gây ra đối với tâm hồn và trái tim của các nạn nhân.

Càng đào sâu vào đề tài của mình, tôi càng cảm thấy căm ghét nó hơn. Tôi có cảm giác chẳng có thành tựu nào trên đời này có thể biện minh cho những thủ đoạn đó. Tôi khao khát chấm dứt công việc của mình biết bao, không muốn phải nghe ngóng thêm bất cứ điều gì về nó nữa. Không nghi ngờ gì nữa, một phần sự ghê tởm trong tôi bắt nguồn từ một bộ óc đã kiệt quệ. Công việc này hóa ra lại kéo dài và nhọc nhằn hơn nhiều so với những gì tôi có thể lường trước.

Kế hoạch mà tôi từng mang đến gặp ông McClure vào mùa thu năm 1890, thứ mà chúng tôi đã cùng bàn thảo ở Salsomaggiore, Ý — tôi vẫn còn giữ những ghi chép về cuộc nói chuyện đó trên một mẩu giấy vàng của khách sạn Hôtel des Thermes — vốn chỉ yêu cầu ba bài báo, dài khoảng hai mươi lăm nghìn từ. Thế nhưng trước khi chúng tôi thực sự bắt đầu ấn bản, ông Phillips và ông McClure đã quyết định rằng chúng ta có thể mạo hiểm tăng lên thành sáu bài. Chúng tôi đã hoàn thành sáu bài đó, rồi xê-ri lại được kéo dài thành mười hai. Cho đến khi kết thúc, chúng tôi có tới mười chín bài báo, và khi mười chín bài đó đã trút khỏi đôi tay tôi, tôi chẳng mong cầu gì trên đời này ngoài việc gom chúng lại thành một cuốn sách rồi trốn vào chốn an toàn của một thư viện — nơi tôi có thể nghiên cứu về những con người đã khuất từ lâu, và dẫu họ có làm những điều mà tôi không tài nào đồng thuận thì mọi chuyện cũng chỉ diễn ra giữa tôi và những trang sách. Sẽ chẳng còn những sinh linh cào xé tâm can ấy xuất hiện trước mặt tôi, không còn giằng xé tôi giữa sự khinh miệt và lòng trắc ẩn, giữa sự ngưỡng mộ và cơn thịnh nộ, không còn làm tôi bối rối bởi thứ quyền lực vô ích và lệch lạc của họ hay thứ sự yếu đuối vô ích và lệch lạc chẳng kém. Tôi sẵn sàng nghiên cứu con người trong thư viện chứ không muốn dính dáng gì nữa, ít nhất là trong một thời gian, với những kẻ bằng xương bằng thịt, tôi đã nghĩ thế.

Cuốn sách được xuất bản vào mùa thu năm 1904 — gồm hai tập dày cộm với phần phụ lục đầy ắp những tài liệu mà tôi cho là thiết yếu. Tôi tò mò muốn biết Standard Oil sẽ đón nhận nó ra sao. Tôi đã được rỉ tai nhiều lần rằng họ đang chuẩn bị một bài phản pháo để vùi dập tôi; nhưng nếu chuyện đó thực sự đang diễn ra thì tôi đoán là không có sự đồng thuận của ông Rockefeller. Người ta đồn rằng khi một người bạn chung nói với ông ta rằng các bài báo đó cần phải được đáp trả, ông Rockefeller đã đáp rằng: “Không một lời. Không một lời nào về cái ả lầm đường lạc lối đó cả.” Còn với một người khác khi hỏi ông về những cáo buộc của tôi, ông được cho là đã trả lời rằng: “Tất cả đều không có căn cứ. Ý nghĩ cho rằng Standard ép buộc bất kỳ ai phải bán nhà máy lọc dầu của họ là điều nực cười. Các nhà máy lọc dầu tự nguyện muốn bán cho chúng tôi đấy chứ, và chẳng có ai từng bán hoặc làm việc cùng chúng tôi mà không kiếm được tiền, hay lại không cảm thấy vui vì đã làm thế.

Tôi từng nghĩ đến chuyện đáp trả các bài báo của McClure, nhưng anh biết đấy, nguyên tắc của Standard từ trước đến nay vẫn là giữ im lặng trước mọi đả kích và để hành động của họ tự lên tiếng.”

Trong vụ việc về cuốn sách của Lloyd, họ cũng từng giữ im lặng, nhưng chỉ vì ông Rockefeller đã không thể thực hiện nổi các kế hoạch phản pháo của mình. Những gì ông ta đề xuất là lập một hội đồng gồm những vị linh mục xuất sắc nhất thời bấy giờ để xem xét các luận điểm và cáo buộc của ông Lloyd. Một số vị linh mục được mời đã từ chối trừ phi có thêm một số lượng đáng kể các nhà kinh tế học tham gia hội đồng đó. Dường như ông Rockefeller thấy không thuận đường để làm thế, thế là kế hoạch đành bỏ ngỏ. Theo những gì tôi biết, cuốn sách của ông Lloyd chưa bao giờ bị Công ty Standard Oil đáp trả.

Thế nhưng tôi lại rất muốn nhận được một lời đáp trả từ chính ông Rockefeller. Thứ tôi nhận được chẳng hề trực diện và cũng chẳng hề nghiêm túc theo quan điểm của tôi. Nó bao gồm việc phân phát nặc danh rộng rãi và có lẽ tốn kém không ít những bình luận chỉ trích khác nhau. Mở đầu trong số đó là một bài điểm sách xuất hiện trên tờ Nation chẳng lâu sau khi cuốn sách được phát hành. Tác giả bài viết — mà sau này tôi biết là một trong những biên tập viên của tờ Nation — đã nhạo báng ý tưởng cho rằng có bất cứ điều gì bất thường trong các thủ đoạn cạnh tranh mà tôi gọi là phi pháp và vô đạo đức. “Chúng là một phần tất yếu của cạnh tranh,” hắn ta nói. “Các thủ đoạn đó thật đáng ghê tởm là sự thật, bản thân cạnh tranh vốn dĩ đã đáng ghê tởm rồi.”

Liệu nó có nhất thiết phải đáng ghê tởm hay không?

Tôi không nghĩ vậy. Những thủ đoạn mà tôi tin là mình đã chứng minh được, tôi vẫn tiếp tục cho là nguy hiểm đối với sự ổn định kinh tế hơn là việc đưa chúng ra ánh sáng, dẫu cho tôi có phơi bày chúng theo cái cách kích động và phi lý mà bài điểm sách đã quy chụp. Dưới góc nhìn của tôi, cuộc chiến đó thực chất là cuộc đối đầu giữa Chủ nghĩa Machiavelli trong thương mại và Bộ Quy chuẩn Cơ Đốc giáo.

Điểm nhấn quan trọng nhất trong số các câu trả lời gián tiếp ấy là một cuốn sách rất có giá trị của Gilbert Holland Montague. Nó tách bạch kinh doanh và đạo đức theo một cách chắc chắn là đã đem lại sự thoải mái lớn lao cho tòa nhà số 26 phố Broadway.

Ngay khi vừa xuất bản, cuốn sách của ông Montague không hẳn đã trở thành một tác phẩm bán chạy nhất nhưng chắc chắn là một ấn phẩm được luân chuyển mạnh mẽ nhất — các thư viện, mục sư, giáo viên, những công dân nổi tiếng trên khắp đất nước đều nhận được những bản sao đi kèm với lời đề tặng từ nhà xuất bản. Rất nhiều cuốn trong số đó đã được gửi ngược lại cho tôi kèm theo những bức thư đầy bực dọc. “Chúng tôi đã mua sách từ nhà xuất bản này suốt nhiều năm trời,” một vị thủ thư nổi tiếng viết, “và chưa bao giờ có chuyện một cuốn sách lại được gửi kèm với lời đề tặng như vậy. Tôi nghe nói các thư viện trên khắp cả nước đều đang nhận được chúng. Lẽ nào đây là một hình thức quảng cáo, hay có khi nào chính Công ty Standard Oil mới là kẻ đang chi tiền cho chiến dịch phân phối rộng khắp này?”

Phán quyết chung của dư luận dường như nghiêng về vế sau.

Một thời gian sau, từ chỗ cái anh chàng thú vị Elbert Hubbard thuộc tiệm Roycroft ở East Aurora, New York, xuất hiện một bài tiểu luận ca ngợi những thành tựu vĩ đại xuất phát từ việc tập trung hóa ngành công nghiệp nằm trong tay họ.

Tôi được các nguồn tin đáng tin cậy cho biết rằng đã có tới năm triệu bản được đặt in dưới dạng sách mỏng bởi Công ty Standard Oil và được phân phối bởi chính ông Hubbard. Chúng được gửi đến các giáo viên trường học, nhà báo, các bậc giảng sư và những kẻ “dẫn dắt dư luận” từ Đại Tây Dương cho đến Thái Bình Dương. Trong rất nhiều trường hợp, chúng vừa mới được gửi đến tay người nhận thì đã lập tức được chuyển tiếp đến chỗ tôi kèm theo những lời bình luận tức giận hoặc đồng tình. Suốt hai năm trời, những món quà sinh nhật và Giáng sinh gửi đến tôi thế nào cũng có sự góp mặt của một trong số các tài liệu này, đi kèm với lời chúc nhã ý từ một thành viên hay trêu chọc nào đó trong nhóm McClure.

Tôi từng hy vọng rằng cuốn sách sẽ được đón nhận như một công trình nghiên cứu lịch sử chính thống, nhưng trớ trêu thay, tôi lại thấy mình bị xếp vào một trường phái hoàn toàn mới — trường phái vạch trần (muckraker). Theodore Roosevelt, khi ấy là Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, bắt đầu cảm thấy bất an trước tác động của làn sóng phê bình và điều tra ngày càng gia tăng từ báo chí định kỳ nhắm vào các tệ nạn trong kinh doanh và chính trị. Ông lo sợ rằng chúng đang làm trầm trọng thêm ngọn lửa cách mạng vốn không hề nhỏ đang sục sôi ngoài kia, đẩy con người ta lao vào chủ nghĩa xã hội. Phải làm một điều gì đó thôi, và trong một bài phát biểu dữ dội mang đậm phong cách cá nhân, ông đã cáo buộc trường phái này chỉ nhắm vào những thứ “đê tiện và đồi trụy”. Các thành viên của nó chẳng khác nào gã nhân vật trong tác phẩm “Tiến trình của người hành hương” của John Bunyan, với đôi mắt dán chặt xuống mặt đất, cứ cặm cụi bới móc “những cọng rơm, những nhánh cây nhỏ và bụi bẩn trên sàn nhà”. Họ là những kẻ bới rác. Công chúng bảo thủ đã hân hoan vớ lấy cái tên đó.

Dĩ nhiên là Roosevelt đã đọc lệch ý của Bunyan. Người mà vị Thông dịch viên kêu gọi người hành hương chú ý tới thực chất đang vơ vét những thứ tài liệu của cải mà vị Thông dịch viên đã dùng từ khinh miệt để gọi là “rơm”, “cành cây” và “bụi bẩn”. Vị tổng thống sẽ đến gần hơn với ý nghĩa của Bunyan nếu ông gọi những kẻ tội đồ giàu có thời bấy giờ — những kẻ mà trong nỗ lực giữ gìn sự cân bằng chính trị, ông gọi là “những tên tội phạm giàu sụ” — thành “những kẻ bới rác giàu sụ” và gán từ “tội phạm” cho đám nhà văn ồn ào và ngoan cố đã khiến ông phiền lòng nhường ấy.

Tôi từng tranh cãi với ông Roosevelt rằng chúng tôi ở McClure’s chỉ quan tâm đến sự thật, chứ không hề có ý định kích động nổi dậy. “Tôi không phản đối sự thật,” ông hét lên, “nhưng cô và Baker” — vào thời điểm đó Baker đang thực hiện một chuỗi bài viết rất có giá trị về những chiêu trò thao túng của các công ty đường sắt — “nhưng cô và Baker không thực tế chút nào.”

Vào thời điểm đó, tôi có cảm giác ông Roosevelt mang nặng tâm lý thường thấy của những kẻ cầm quyền trên vũ đài chính trị rằng việc chấn chỉnh xã hội phải được để mặc cho họ làm, kèm theo một chút bực bội khi thấy một ngành nghề nằm ngoài lĩnh vực của mình lại dám nẫng tay trên chiến tích của ông ta.

Việc bị xếp loại là kẻ bới rác — điều mà tôi chẳng hề thích thú gì — càng củng cố thêm quyết tâm của tôi trong việc dứt khoát chấm dứt một lần và mãi mãi với đề tài đã mang lại cho tôi danh xưng này. Thế nhưng thời cuộc lại mạnh mẽ hơn tôi tưởng. Toàn bộ thành phần cải cách cấp tiến, trong đó tôi có rất nhiều bạn bè, đang khẩn khoản nài nỉ tôi gia nhập phong trào của họ. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng hầu hết bọn họ đều chỉ muốn những bài đả kích. Họ chẳng mấy mặn mà với những kết luận cân bằng. Lúc bấy giờ, tôi đã đinh ninh rằng về lâu về dài, cái công chúng mà họ đang cố gắng kích động rồi cũng sẽ mệt mỏi với những lời miệt thị, rằng nếu bạn muốn đạt được những kết quả lâu dài thì lý trí phải được thuyết phục.

Một trong những phong trào sục sôi nhất vào thời điểm đó là nỗ lực thuyết phục công chúng khước từ mọi khoản quyên góp xuất phát từ những khối tài sản mà người ta thừa biết là có dính líu đến những thủ đoạn bất hợp pháp và bất công. “Đừng đụng đến đồng tiền nhơ bẩn,” những người đàn ông gào thét từ trên bục giảng đường cho đến các diễn đàn, trong đó có một nhân vật xuất sắc như Tiến sĩ Washington Gladden. Khối tài sản của nhà Rockefeller trở thành tâm điểm chỉ trích bởi vào khoảng thời gian này, ông Rockefeller đã có những khoản đóng góp lớn bất thường cho các trường đại học, nhà thờ và các quỹ từ thiện chung. “Hắn làm thế,” những kẻ chỉ trích gào lên, “là để bịt miệng dư luận.” Không ít lần có người nói với tôi rằng: “Cô đã mở toang chiếc ví của nhà Rockefeller rồi đấy.” Nhưng tôi thừa biết, và thậm chí còn viết ra báo dẫu có làm phật lòng những người bạn trong phong trào, rằng cáo buộc ấy đối với ông Rockefeller là một sự bất công. Chẳng cần đến những lời chỉ trích của công chúng thì ví của ông ta mới mở ra. Kể từ thời niên thiếu, ông đã là một người đều đặn quyên góp tương ứng với thu nhập của mình — 10 phần trăm dâng hiến cho Chúa — và suốt những năm tháng khốn đốn đầu đời khi ông đang chật vật tự khẳng định mình là một kẻ kiếm tiền, ông chưa từng lơ l là việc dâng hiến cho Chúa đúng tỷ lệ đã định. Khi khối tài sản lớn dần lên, các khoản quyên góp của ông cũng theo đó mà phình to. Ông không chỉ cho đi mà còn đảm bảo rằng số tiền đó được chi tiêu một cách khôn ngoan; đồng thời ông còn huấn luyện các con mình, đặc biệt là người con trai sẽ kế quản gia sản của ông, cách thực hiện những việc thiện nguyện công khai một cách khôn ngoan nhất mà chúng ta từng có. Nghĩa là, chẳng cần đến một làn sóng phẫn nộ của công chúng như đã bùng lên vào những năm đầu thế kỷ này nhắm vào các thủ đoạn của Công ty Standard Oil để ép buộc ông Rockefeller phải chia sẻ khối tài sản của mình. Ông vốn dĩ đã chia sẻ nó rồi. Trên thực tế, trong mười lăm năm trước năm 1904, ông đã quyên góp cho quỹ này hay quỹ khác khoảng ba mươi lăm triệu đô la.

Nếu các khoản quyên góp của ông vào thời điểm này lớn hơn bao giờ hết, thì việc kiếm tiền của ông cũng vĩ đại hơn. Nếu chúng có phần phô trương hơn trước, thì có lẽ là bởi ông nghĩ đã đến lúc cần thu hút sự chú ý của công luận vào những gì họ đang nhận được từ khối tài sản của Standard Oil. Dù thế nào đi nữa, đối với tôi, việc nhấn mạnh một điểm rằng chẳng cần đến một cuộc nổi dậy của công chúng chống lại các phương pháp của ông ta mới ép được ông phải chia sẻ lợi nhuận là hoàn toàn công tâm.

Tôi không tài nào rũ bỏ được những cuộc tranh cãi, dù tôi đã cố gắng hết sức. Tôi cũng chẳng thể trốn chạy khỏi những dòng thời sự — những sự kiện cứ thế đẩy tôi đi ngược lại mong muốn của bản thân, buộc tôi phải tiếp tục quan sát và tường thuật. Cuốn sách của tôi vừa mới xuất bản thì người ta đã nhận thấy rõ rằng vùng dầu mỏ mà nó vừa bao quát — nơi từng bị xem là vùng dầu mỏ quan trọng duy nhất của nước Mỹ trong suốt một thời gian dài — chẳng mấy chốc sẽ bị soán ngôi bởi những mỏ dầu ở miền Tây Nam. Bang đầu tiên buộc cả nước phải thừa nhận sự thay đổi đó chính là Kansas, nơi vào mùa xuân năm 1905 bỗng dưng bùng nổ một phong trào sục sôi vừa bất ngờ đối với phần lớn các nhà quan sát, lại vừa thú vị đối với những ai am hiểu lịch sử dầu mỏ. Kansas, chúng tôi — những kẻ dạn dày kinh nghiệm — tự nhủ, đang tái hiện lại những gì mà Oil Creek từng làm được vào năm 1872. Nơi đó đang nổi dậy. Cơ sự nào lại ra nông nỗi ấy?

Trong một khoảng thời gian, những kẻ “thợ săn dầu lụi” (wildcatter) có hoặc không có tiền đã đi khắp bang để dò la tìm dầu. Ban đầu, họ chỉ thu về một sản lượng khiêm tốn như một phần thưởng khích lệ, thế nhưng vào năm 1904, dầu bỗng trào tuôn với trữ lượng khổng lồ. Ngay lập tức, Kansas phát cuồng vì dầu mỏ, hầu như mọi nông dân trong bang đều mơ về những giỏ khoan tuôn trào dòng đen. Ngay khi Kansas được chứng minh là một vùng mỏ béo bở, Standard liền nhảy vào tiếp quản. Họ thuê mướn, khoan giặt, và quan trọng nhất là họ đan cài chằng chịt khắp bang hệ thống đường ống dẫn dầu của mình. Ngay khi đất đai của một người nông dân được xác nhận có dầu, đội ngũ nhân viên đường ống đã có mặt ở đó để chăm chút nó theo giá thị trường. Thế nhưng họ không chỉ bắt đầu khai thác và xử lý một cách khoa học, hiệu quả, mà một cách khoa học và hiệu quả không kém, họ bắt đầu tống khứ toàn bộ đám tép riu từng đảm nhận việc lọc dầu và tiếp thị trong những ngày đầu của các mỏ nhỏ. Họ tuyên bố sẽ thu mua toàn bộ lượng dầu mà Kansas có thể sản xuất, nhưng theo điều kiện của riêng họ: họ không chấp nhận bất kỳ sự nhúng tay nào khác.

Ngay khi điều này phơi bày rõ ràng tại Kansas, cả bang liền vùng lên chống đối. Đảng Dân túy, kẻ suốt sáu năm qua buộc phải ngậm bồ hòn làm ngọt trong xó tối, nay bước ra cất lời phơi ph bày với tất cả sự cuồng nhiệt thuở nào để chống lại độc quyền. Các câu lạc bộ phụ nữ hưởng ứng, các đảng phái chính trị hưởng ứng. Một chương trình hành động ra đời, với cốt lõi là Kansas sẽ tự lo lấy nguồn dầu mỏ của chính mình. Những dự luật được đưa ra trước cơ quan lập pháp nhằm kiểm soát giá cước đường sắt, giá cước đường ống, và thị trường cạnh tranh. Làm thỏa lòng phe Dân túy và khiến phe bảo thủ phải kinh hoàng, một dự luật lập nhà máy lọc dầu cấp bang đã được chính ngài thống đốc đệ trình. Kansas từng có một nhà máy gai dầu trong nhà tù tiểu bang hoạt động không đến nỗi nào. Tại sao nhà tù lại không thể vận hành cả một nhà máy lọc dầu cơ chứ? Cơ quan lập pháp đồng ý tiến hành.

Sự phấn khích ngày càng dâng cao và thu hút sự chú ý của cả nước đến mức văn phòng kết luận rằng tôi phải xách va-li lên đường tận mục sở thị xem rốt cuộc chuyện quái gì đang xảy ra ngoài đó. Tôi không mặn mà gì cho lắm với chuyến đi, không chỉ vì khát khao rứt bỏ khỏi đề tài này mà còn bởi cõi lòng tôi đang trĩu nặng những nỗi đau mất mát cá nhân nên chẳng còn chút nhiệt huyết nào cho bất kỳ nhiệm vụ gì. Vào mùa xuân năm 1905, cha tôi đã qua đời sau một cơn bạo bệnh kéo dài âm ỉ. Đối với tôi, ông luôn là hiện thân của tất cả những gì được gói gọn trong từ “thân yêu”. Khiêm nhường, hài hước, chăm chỉ, thân thiện, trung thành với những gì ông tâm niệm là đúng đắn, ông yêu thương gia đình, bè bạn cùng nhà thờ, và chỉ mong được phụng sự họ. Các đối tác kinh doanh kính trọng ông như một người đàn ông danh dự và một quý ông thực thụ.

Sự ra đi của cha từng có lúc phủ bóng tối lên thế giới của tôi. Về sau, tôi bắt đầu nhận ra rằng sự thân thương của ông sẽ mãi ở lại như một phần vĩnh cửu trong cuộc đời tôi. Thế nhưng vào năm 1905, thứ cảm giác về sự đồng hành bền bỉ ấy chỉ từ từ nhô lên khỏi vùng biển đen ngòm của sự mất mát. Thế nên tôi đã mang một cõi lòng nặng trĩu lên đường để mục kích những gì đang diễn ra ở Kansas.

Đầu tiên, tôi muốn tận mắt kiểm chứng xem những vùng mỏ mà tôi hằng nghe đồn đại có thực sự giàu có như quảng cáo hay không; thế nên tôi đã dành khoảng mười ngày lái xe vòng quanh vùng đông nam Kansas và đông bắc Oklahoma — nơi lúc bấy giờ đang nổi lên với những hứa hẹn về các mỏ dầu khổng lồ. Đó có lẽ là một trong những chuyến hành trình kích thích nhất mà tôi từng thực hiện. Chính trong một chuyến đi như thế, tôi đã được diện kiến trận bão bụi đầu tiên trong đời. Ngồi trên chiếc xe ngựa hai bánh phía sau hai con ngựa đầy sung sức băng qua một vùng thảo nguyên gần như hoang vu không một bóng người, người bạn đồng hành của tôi chợt ngoái lại nhìn ra sau. “Ôi chao mẹ ơi!” anh ta hét lên. “Trùm kín đầu lại đi.” Tôi quay đầu nhìn ra và thấy bầu chân trời từ đường chân dốc cho đến đỉnh đầu đã bị bao phủ bởi những đám mây đen cuồn cuộn. Đó không phải là khói lửa. Vậy rốt cuộc là thứ gì? “Bão bụi đấy,” người bạn đồng hành của tôi gào lên.

Nhanh nhẹn và thạo việc, anh ta chuẩn bị sẵn sàng để ứng phó. Anh nới lỏng dây cương của đàn ngựa, và những con vật đầy sung sức — rõ ràng thừa biết chúng sắp phải đối mặt với thứ gì — liền cúi đầu thấp nhất có thể và rướn sát vào nhau. Chúng tôi quấn kín người hết mức có thể và, hệt như bầy ngựa, ôm chặt lấy nhau. Cơn bão diễn ra không lâu, nhưng sức tàn phá của nó thì vô cùng khủng khiếp trong suốt thời gian hoành hành. Không khí đặc quánh, bạn chẳng thể nào thở nổi. Thế nhưng nó cũng qua đi, và tôi được lệnh rũ người cho sạch bụi. Tôi nhận ra mình gần như bị chôn vùi trong một lớp bụi đen mịn màng, nó bám đặc quanh những trục bánh chiếc xe ngựa của chúng tôi. Phải mất mười ngày tôi mới gột sạch được lớp bụi đó, bởi cũng phải mười ngày sau tôi mới có được một bồn tắm thực thụ. Lớp bụi đã biến nguồn nước nguyên thủy thành một thứ chất lỏng sền sệt bùn đất chẳng tài nào uống nổi và hoàn toàn vô vọng cho việc tẩy rửa.

Điều kỳ diệu là những sự bất tiện thực tế ấy chẳng mảy may ăn thua gì vào thời điểm đó. Tôi đã hòa mình vào một đoàn người háo hức, quyết tâm và hân hoan gồm toàn những gã thợ săn dầu lụi và đám thương gia môi giới, những gã trai trẻ đang tìm kiếm cơ hội cho riêng mình hoặc lần đầu nếm trải phiêu lưu, tận hưởng nó một cách trọn vẹn.

Chưa từng có một thứ gì vĩ đại như vùng mỏ Kansas và Lãnh thổ Indian này từng được biết đến. Mọi giỏ khoan đều là những vòi phun trào, mọi khu định cư đều hóa thành thành phố. Đi đến đâu người ta cũng buôn bán đất nền đô thị và cổ phiếu của các công ty dầu mỏ. Một trong những kế hoạch bán cổ phiếu vô trách nhiệm nhất mà tôi từng biết đã diễn ra trong chính những chuyến đi này. Hai cậu thiếu niên với khuôn mặt lo âu đang rảo bước khắp các tay thợ dầu kỳ cựu để nài nỉ xin nhượng lại quyền khai thác dầu, tốt nhất là những miếng đất đã được chứng minh là có giỏ khoan trúng dầu. Cả hai cậu vốn đến đây chỉ để ngoạn cảnh và rồi bị cuốn vào cơn lốc cuồng nhiệt của vùng đất này. Ai nấy cũng đều có mưu chước để làm giàu cho bản thân và bạn bè. Tại sao họ lại không thể chứ? Và phần lớn chỉ vì trò đùa cợt, họ đã gửi đi một bức thư hoa hòe hoa sói chào mời cổ phiếu trong một mỏ dầu huyền thoại nào đó. Bức thư đã bay đến tay hàng tá những kẻ ngây thơ ở miền Đông, và để đáp lại, các giáo viên trường học, mục sư cùng những người phụ nữ có chút ít tiền hoặc chẳng có xu dính túi đã ùn ùn gửi tiền mua cổ phần.

Nếu chỉ có lèo tèo vài người mua thì họ còn có thể hoàn tiền lại, đằng này khi tôi gặp họ, họ đang cầm trên tay cả một vali đầy ắp những séc và lệnh chuyển tiền mà trong tay lại chẳng có lấy một tấc đất nào được thuê mướn, và giữa cơn bão sốt đất ấy thì chẳng đời nào kiếm đâu ra nổi một mảnh đất trống. Họ kết luận rằng hoặc là phải kiếm cho ra một hợp đồng thuê đất, hoặc là xách khăn gói vào nhà tù ngồi. Thế nên họ mới hoảng loạn, mới phải đi nài nỉ thảm hại những kẻ từng trải cứu vớt họ khỏi cái hoàn cảnh ngặt nghèo do sự vô trách nhiệm của chính mình gây ra.

Chẳng mất bao lâu để tôi nhận ra rằng mình đang bị xem trọng hơn mức một nhà báo bình thường. Những kẻ bảo thủ ủng hộ Standard Oil coi tôi như một gián điệp và chẳng hiếm lần lên án tôi là kẻ thù của xã hội. Những nhà làm dầu độc lập và các biên tập viên cấp tiên phong — chiếm đa số — lại gọi tôi là nhà tiên tri. Điều đó đẩy tôi vào những tình huống dở khóc dở cười mà tôi hoàn toàn không đủ khả năng để đóng tròn vai. Một người phụ nữ tuổi đôi mươi, tươi tắn, tràn đầy nhiệt huyết, chỉ hứng thú với những gì đang diễn ra xung quanh, hẳn sẽ đắm chìm trong trải nghiệm đó. Đằng này tôi — năm mươi tuổi, kiệt quệ, chỉ mong được yên thân để thu thập những thông tin đáng tin cậy cho các bài viết của mình — lại bị lôi xềnh xệch lên tuyến đầu như một vị tông đồ.

Những thứ buồn cười nhất chính là những màn chào đón. Buồn cười nhất trong số đó diễn ra tại thị trấn Tulsa lúc bấy giờ còn rất mới mẻ ở Oklahoma. Tôi đến nơi vào lúc đêm muộn giữa cái nơi trông hệt như một vùng đất vô chủ, và sau bao phen trầy trật cũng tìm được một phòng trọ trong một nhà trọ thô kệch nhỏ bé — nơi mà thoạt nhìn mọi thứ đáng ngờ đến mức tôi phải đẩy ngay chiếc tủ hồ sơ chắn ngang cánh cửa chẳng có nổi một cái ổ khóa. Giờ thì tôi dám chắc là mình ở đó an toàn chẳng khác nào nằm trên chiếc giường ở nhà.

Dĩ nhiên là tôi đã ký tên vào sổ khách sạn, và sáng hôm sau khi tôi vừa ăn xong bữa sáng, biên tập viên của tờ báo địa phương đã ghé qua đón tôi sang văn phòng của anh ta — một cấu trúc giống cái chuồng ngựa nằm ngay bên cạnh — để thực hiện một cuộc phỏng vấn. Gần như ngay lập tức, một chàng trai khôi ngô mặc quần ống lửng và đi đôi bốt cao buộc dây vội vã bước vào.

“Tôi nghĩ mình phải báo cho cô biết điều này, thưa cô Tarbell,” cậu ta nói với một nụ cười toe toét, “rằng cô sắp được thưởng thức một màn biểu diễn serenata đấy.”

“Serenata ư,” tôi nói, “cậu có ý gì cơ chứ?”

“Chà,” cậu ta nói, “đám người khai phá Tulsa vừa thực hiện một chuyến du khảo đến các thành phố phía bắc. Chuyến tàu đặc biệt của họ vừa mới cập bến; họ muốn tìm thứ gì đó để ăn mừng, và khi hay tin cô đang có mặt trong thị trấn, họ quyết định cử ban nhạc đến chào đón cô. Họ muốn nghe một bài phát biểu.”

Tôi chưa từng đọc một bài phát biểu ứng khẩu nào trong đời. Ý nghĩ đó khiến tôi hoảng sợ tột độ. “Cậu phải tìm cách kéo tôi ra khỏi chuyện này mới được,” tôi nài nỉ người đưa tin dũng cảm nhưng đang tỏ ra vô cùng thích thú của mình.

“Không,” cậu ta nói, “chẳng có đường nào trốn thoát đâu. Họ đến kìa.”

Và họ đã đến thật — một ban nhạc gồm ba mươi hoặc bốn mươi thành viên, trong đó có một vài nhạc công là những thổ dân da đỏ lực lưỡng.

Tôi buộc phải đối mặt với nó, và có lẽ duy nhất một lần trong đời, tôi lóe lên một ý tưởng tuyệt vời. “Đi mua giùm tôi hai hộp xì-gà loại ngon nhất có bán trong thị trấn này.” Và tôi dúi thẳng tờ tiền vào tay cậu ta. “Đi nhanh lên.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.