Chính Ngọ Cố Sự 2: Nơi Này Không Nên Ở Lâu

Lượt đọc: 136 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Nghe Cui Jian giống như được giương một chiếc ô, mở tung cả thế giới của tôi ra.

Tháng 7 năm 2008, Uống Hạo, một thanh niên Bắc Kinh đến Thượng Hải. Cậu ấy đến Thượng Hải có hai việc: đánh nhau, nhân tiện xem buổi hòa nhạc của Ma Nham Tam Kiệt.

Cậu ấy hẹn người ta đánh nhau ở Thượng Hải qua một nhóm QQ chuyên đánh nhau đường phố kiểu giống như trong "Câu lạc bộ chiến đấu". Gặp mặt xong, Uống Hạo phát hiện đối phương là một tên béo cao hơn hai mét. Vừa nhìn thấy Uống Hạo, tên béo liền khiêu khích: "Mày ở Bắc Kinh à? Đồ ngọt ở Bắc Kinh tụi mày dở tệ." Uống Hạo lập tức nổi giận, chuẩn bị lao vào chiến. Kết quả là tên béo tỏ vẻ khinh khỉnh, không thèm đánh với cậu ấy, bởi vì Uống Hạo chỉ cao hơn một mét sáu, không cùng hạng cân. Cuối cùng họ đi ăn một bữa rồi giải tán, trận đấu đành phải bỏ dở trong tiếc nuối.

Sau đó cậu ấy đi xem buổi hòa nhạc của Ma Nham Tam Kiệt. Tôi cũng đi. Hồi học cấp ba, tôi hay la cà các diễn đàn nhạc rock và rất nhiều nhóm QQ kỳ quặc, và quen Uống Hạo trong một nhóm như thế. Hôm đó là lần đầu tiên chúng tôi gặp mặt. Uống Hạo hớt tóc đầu đinh, đi dép lê và mặc một chiếc quần sọt rộng in hình Che Guevara màu đen. Sau này cậu ấy trở thành tay trống của ban nhạc chúng tôi.

Tháng 9 năm đó, tôi đến Bắc Kinh học đại học, lại gặp lại Uống Hạo. Hồi đó tôi vẫn còn khá ngốc nghếch, thấy cậu ấy phì phèo hút thuốc trong khuôn viên trường bèn nhắc nhở đừng làm vậy, "ảnh hưởng không tốt".

Một ngày nọ vào năm 2010, Uống Hạo gửi tới một tin nhắn: "Lập một ban nhạc đi, tên ban nhạc cứ gọi là Há Mồm Chờ Sung Rụng đi." Tôi, Uống Hạo và Mạch Tử Ca thế là cùng nhau thành lập ban nhạc "Há Mồm Chờ Sung Rụng". Uống Hạo còn nói, ban nhạc này lúc đi lưu diễn bán nghệ phải mang theo rượu Nhị Quá Đầu và một chiếc xe kéo tay.

Vì mọi người chưa từng đến Thanh Hải Hồ nên đã chọn Thanh Hải Hồ làm điểm đến. Chúng tôi đến xưởng xe ba bánh Songlong ở Diệc Trang, ngoại ô Bắc Kinh, tốn hơn 1000 tệ để đặt làm riêng một chiếc xe ba bánh có hàn mái che. Lại đến tiệm sửa xe ở một ngôi làng khác, tốn hơn 1000 tệ để lắp thêm mô-tơ cho chiếc xe ba bánh. Sau đó Uống Hạo đạp xe về nhà, rảnh rỗi là lại lượn lờ chiếc xe ba bánh tơi tả quanh khu chung cư cao cấp nhà cậu ấy, gọi là "luyện tay lái"!

Chúng tôi cứ thế trải qua suốt mùa đông rồi lại suốt mùa xuân, cuối cùng quyết định lên đường vào mùa hè năm 2011. Ngày 8 tháng 7, tôi và Uống Hạo điều khiển xe ba bánh chính thức xuất phát, Mạch Tử Ca sẽ hội ngộ với chúng tôi ở nửa chặng đường. Một người bạn khác của chúng tôi là Tiểu Nhật Á (lưu ý của biên tập viên: vâng, cậu ấy tự gọi mình là "Tiểu Nhật Á"!) đạp xe đồng hành cùng chúng tôi, cậu ấy muốn quay một bộ phim tài liệu cho chúng tôi.

Hai

Ngay ngày đầu tiên lên đường xe đã hỏng.

Lúc đó Uống Hạo lái xe, mới lên đường nên khá thận trọng, từng chiếc xe tải chở hàng gầm rú phóng vụt qua bên cạnh. Dù đi chậm nhưng chúng tôi rất vững vàng, chiếc xe ba bánh trông có vẻ tình trạng khá tốt. Nhưng chẳng mấy chốc chúng tôi đã gặp một đoạn dốc dài đặc biệt. Uống Hạo muốn phanh lại nhưng phát hiện không thể phanh nổi, chiếc xe lao vun vút cắm đầu xuống dốc. Chúng tôi gào thét: "Ái ái ái!", "Cẩn thận! Giữ chắc vào!", "A a a!" Lúc ấy thực sự rất hoảng loạn, nhưng lại có chút gì đó cố ý. Chiếc xe lộc cộc lao thẳng xuống một bãi sình lầy bên dưới, xóc nảy dữ dội rồi cuối cùng cũng dừng lại.

Chúng tôi hoàn hồn, đều xuống xe và bảo nhau: "Hút điếu thuốc, hút điếu thuốc cho lại hồn." Lúc này chúng tôi mới đến hồ Quan Thính, vừa bước vào địa phận Hà Bắc.

Tối hôm đó, chúng tôi tìm một bãi bùn khô trên bãi bồi ven hồ để cắm trại. Cảnh sắc bên hồ vô cùng đẹp, xung quanh là núi non, mặt nước bị gió thổi gợn sóng lăn tăn, cực kỳ khoáng đạt. Chúng tôi dùng trực tiếp nước hồ để rửa tay rửa mặt, nhặt củi khô rồi dùng một chút xăng để nhóm lửa, nấu ít mì ăn. Hôm nay khá mệt, mặt trời chưa lặn chúng tôi đã nghỉ ngơi. Sáng hôm sau, tôi bị ánh nắng làm cho tỉnh giấc, toàn thân khó chịu hệt như tối hôm trước bị ai đó nện cho một trận. Trên mặt bám đầy bụi và cỏ, lại có cả côn trùng bò lổm ngổm.

Lại lên đường, chúng tôi đi qua những đồi hoa oải hương xinh đẹp và trang trại rượu vang, lên một cây cầu vượt, rồi vành bánh xe bị nổ tung. Chiếc xe mất kiểm soát trượt lệch sang một bên, phát ra tiếng kêu chói tai, cuối cùng đâm sầm vào thanh lan can bên cầu. Tôi xuống xe nhìn lại, vành bánh xe đã móp méo thành hình trái tim.

Chiếc xe ba bánh tơi tả sau đó hầu như ngày nào cũng hỏng vặt một chút. Dọc đường, chúng tôi giao lưu với vô số tiểu vương, đại thúc ở các tiệm sửa xe, và bản thân cũng trở thành những bậc thầy sửa xe.

Khi xuất phát, chúng tôi chỉ mang theo một tấm bản đồ cũ, đây là bản đồ từ những năm 90, rất nhiều con đường từ lâu đã bị đổi tuyến, thậm chí có cả phân vùng hành chính cũng thay đổi, chúng tôi đã bị nó hại cho khốn đốn không biết bao nhiêu lần. Ngoài ra, thứ duy nhất có thể dựa vào là chiếc điện thoại Nokia 6120C của tôi, chiếc điện thoại này thậm chí còn không phải là điện thoại thông minh, bản đồ bên trong cũng cực kỳ tệ hại, vô cùng khó sử dụng.

Trên đoạn đường rời Hà Bắc tiến vào Sơn Tây, chúng tôi đi nhầm một đoạn đường rất dài, đến một thị trấn nhỏ chẳng biết tên là gì. Đây chỉ là một thị trấn có độc một con đường cái quan, một đoạn đường nhựa khá hẹp, dọc theo con đường là vài ngôi nhà và ruộng đồng. Buổi tối chúng tôi ngủ ở sân khấu hát lớn bên đường, trên mái che còn có cả chim và dơi. Sáng tỉnh dậy, xung quanh vây kín một vòng các cụ ông cụ bà, họ cứ thế nhìn chúng tôi, không nói năng gì, nghiên cứu hồi lâu rồi cất giọng hỏi: "Làm gì đấy?"

Ngày 11, chúng tôi đến huyện Đại Đồng, vừa bước vào địa phận Sơn Tây thì không khí lập tức trở nên tồi tệ. Xe chở than rõ ràng nhiều lên. Con đường nhuộm một màu đen sì, bụi mù mịt. Uống Hạo đeo mặt nạ suốt dọc đường, còn tôi thì đeo kính bảo hộ cùng một chiếc mặt nạ phòng độc chẳng có tích sự gì.

Ở Sơn Tây có câu truyền miệng: "Tả Vân nghèo, Hữu Ngọc giàu", nguyên nhân chỉ đơn giản là một nơi có mỏ than còn nơi kia thì không. Sự khác biệt quả thực rất rõ ràng, Tả Vân đâu đâu cũng rách nát tơi tả, là một huyện thành thụt lùi mất 20 năm, chúng tôi đến Tả Vân trước, bán nghệ ở đó chỉ kiếm được đúng 10 tệ. Suốt dọc đường đi qua Sơn Tây toàn là những thôn trấn nhỏ vừa nghèo vừa tẻ nhạt, người địa phương từ bé đến lớn chưa từng thấy ai đi bán nghệ. Họ nhìn trang phục lem luốc tóc tai bù xù của chúng tôi nhưng lại đeo kính cận, vừa hoang dã vừa thư sinh, ai nấy đều vô cùng tò mò. Chúng tôi liên tục bị hiểu lầm là thợ vá lốp lưu động, hoặc là gánh hàng rong bán giày, bán cần câu. Giải thích với họ thế nào là bán nghệ, chi bằng cứ ôm đàn ca một khúc còn dễ hiểu hơn nhiều.

Đến Hữu Ngọc thì trời đã chập tối tầm năm sáu giờ, bầu trời xám xịt, những tiếng sấm bắt đầu vang lên. Chúng tôi vội vàng tìm một quảng trường nhỏ, bày nhạc cụ, cắm dây, chỉnh âm, nhanh chóng bắt đầu cất tiếng hát. Toàn bộ người dân ở quảng trường đều vây lại xem. Đằng xa đã lóe chớp nhưng chúng tôi vẫn không chịu dừng lại, cho đến khi những hạt mưa rơi xuống, mới vội vàng thu dọn đồ đạc chạy vào dưới mái hiên trú mưa. Một đám trẻ con rảnh rỗi chẳng có việc gì làm đã bám theo sau đít chúng tôi từ lúc mới vào huyện thành, lúc này cũng nhao nhao chạy theo tránh mưa.

Tôi nhìn ánh đèn đường l mờ trên đường, màu ánh sáng gần như y hệt với quê nhà của tôi, tôi chợt nhớ đến hồi nhỏ mình cũng lang thang khắp nơi như đám trẻ con này, cho đến khi mẹ tôi gọi về nhà ăn cơm. Chúng tôi cùng nhau ngắm mưa, còn chia cả thuốc lá cho lũ trẻ hút.

Tối hôm đó để sạc bình ắc-quy cho loa, chúng tôi đành phải cắt cử một người vào nhà trọ nhỏ nghỉ lại. Sau màn mặc cả bất thành, nhà trọ đòi thu 25 tệ. Nhưng đến ngày hôm sau lúc thanh toán tiền, bà chủ quán hình như nhận ra chúng tôi là những kẻ bán nghệ ngày hôm qua, bèn thối lại thêm hai tệ coi như tiền thưởng bán nghệ.

Rời khỏi Hữu Ngọc, chúng tôi dừng chân nghỉ ngơi tại một trạm xăng nhỏ trong núi. Hai người dân bản địa ngồi xuống bên cạnh trò chuyện với chúng tôi. Đột nhiên, hai người họ đứng phắt dậy chạy mỗi người một ngả. Chúng tôi đang ngẩn ngơ, ngẩng đầu lên thì thấy một chiếc xe cứu hỏa từ ngọn núi phía trước lao vút qua mặt, tiện đà chồm qua một vũng nước lớn, nước bùn bắn thẳng "ào" một phát lên người chúng tôi. Tức đến mức chúng tôi đuổi theo sau xe mắng xối xả.

Ngày 13 tháng 7, cuối cùng chúng tôi cũng đến trấn Phượng Hoàng Thành. Chưa vào đến thành chúng tôi đã bị chấn động mạnh. Cổng thành nằm ngay chính giữa một vòng thành cao lớn vô cùng, trông rất bề thế.

Bước vào bên trong lại là một khung cảnh hoàn toàn khác. Toàn bộ trấn nhỏ không hề bóng dáng thanh niên, chỉ có người già và trẻ nhỏ. Trong trấn có những cây hòe lớn, các bà cụ trùm khăn đội đầu đang ngồi xổm hút thuốc dưới gốc cây. Ở đây không có bệnh viện, không có trường học, cũng chẳng có tiệm sửa xe, chỉ có một vài ngôi nhà nhỏ mới xây, trông giống hệt nhau, vuông vức thấp tè xếp hàng ngay ngắn, hệt nhưanh trại quân đội. Nơi này là một ngôi làng tái định cư cho người dân bị tai biến địa chất, chính phủ đã rót rất nhiều tiền để phát triển du lịch, xây mới một ngôi đền Phật giáo khá hùng vĩ trên đỉnh núi, chúng tôi đến xem thì đền còn chưa xây xong, trên đó trống trơn chẳng có cái quái gì cả. Nhìn xuống từ đỉnh núi, dưới mặt đất quảng trường lại còn vẽ một hình ngũ hoàn Olympic khổng lồ.

Chiều tà, chúng tôi leo lên đỉnh ngôi đền, ráng chiều đỏ rực bên chân trời đẹp tuyệt mỹ. Các sư thầy trong đền bắt đầu đánh chuông niệm kinh, đây có lẽ là âm thanh duy nhất của cả trấn nhỏ. Đêm xuống, chúng tôi trèo lên tường thành ngủ. Trấn nhỏ này cứ đến giờ là cắt điện, tầm 9 giờ tối, toàn bộ đèn đóm trong trấn vụt tắt tối thui.

Ba

Chẳng bao lâu sau khi rời khỏi trấn Phượng Hoàng Thành, Mạch Tử Ca đã tới.

Quen biết Mạch Tử Ca cũng là tại buổi hòa nhạc của Ma Nham Tam Kiệt hôm đó. Ngày hôm ấy tôi và Uống Hạo gặp nhau, trò chuyện ở cổng lớn sân vận động Thượng Hải. Có một kẻ lững thững đi tới, nhìn qua cứ như kẻ thọt. Cậu ta đeo một chiếc ba lô in dòng chữ "Vì nhân dân phục vụ", mặc chiếc áo thun in hình Che Guevara. Tên này đi đến chỉ vào chiếc quần sọt Che Guevara của Uống Hạo rồi nói: "Cái quần này của cậu được đấy, có thể tặng cho tôi không, như vậy tôi có thể mặc cả bộ Che Guevara rồi." Uống Hạo rất điềm tĩnh đáp rằng không được, bởi vì bên trong cậu ta không mặc quần lót — cậu ta thực sự không mặc.

Người này chính là Mạch Tử Ca. Ba chúng tôi bằng tuổi nhau, nhưng Mạch Tử Ca đã nghỉ học từ lâu. Lần này, cậu ấy xuất phát từ Hàng Châu muộn hơn chúng tôi mấy ngày, chúng tôi hội ngộ ở kỳ Chuẩn Cách Lễ.

Ra khỏi kỳ Chuẩn Cách Lễ, chiếc xe ba bánh chạy trên quốc lộ ròng rã suốt bốn ngày liền. Hơn 100 cây số đường liên tiếp đều đang thi công sửa chữa, những chiếc xe đi ngang qua toàn là xe tải chở nguyên liệu. Có những đoạn đường nhựa bị đào bới nham nhở thủng lỗ chỗ, vàng khè một màu đất. Chúng tôi vừa đi vừa bắt đầu đổ mưa, quần áo ai nấy đều đen sì.

Những thôn trấn đi qua mấy ngày nay đều rất nghèo, nước vô cùng khan hiếm. Tiểu Nhật Á có lần đi xin nước dân làng, người ta chỉ cho nửa bát. Trong cái thời tiết ấy, con người ta mỗi ngày đổ rất nhiều mồ hôi, người dân địa phương uống trà gạch mặn, đoán là để bổ sung muối khoáng.

Chúng tôi bắt gặp những cụ ông cụ bà chặn đường cướp của trên đường. Ông lão đặt vài viên đá và cành cây giữa lòng đường, bà lão khiêng một chiếc ghế đẩu nhỏ ngồi lù lù ở đó. Mỗi chiếc xe tải đi qua đều buộc phải dừng lại nộp "phí qua đường", tài xế xe tải cũng không dám dây dưa với họ, ngoan ngoãn nộp mười mấy hai mươi tệ, còn phải tự mình dọn chướng ngại vật đi.

Phanh của chiếc xe ba bánh có vấn đề suốt dọc đường, chúng tôi đành phải dừng lại ở một tiệm sửa xe để tu sửa. Xe phải thay lò xo, lại có thêm hai linh kiện cần phải gia công lại, chúng tôi đợi trong tiệm mấy tiếng đồng hồ, liền bắt chuyện với anh thợ sửa xe trẻ tuổi. Cậu thanh niên trạc tuổi chúng tôi, sắp sửa kết hôn, cậu ta dựng một ngôi nhà nhỏ xấu xí đối diện tiệm sửa xe để làm phòng tân hôn. Đó là một căn nhà thô mới xây, giống như hai chiếc hộp giấy chồng lên nhau, bên trong trống hoác, chỉ toàn tường bê tông xi măng. Cậu thanh niên bảo rằng tối nay chúng tôi có thể ngủ ở căn nhà mới của cậu ta.

trời sắp tối, bạn bè của cậu ta tới rủ đi ăn cơm. Mọi người đều xúm vào giúp một tay, phụ chúng tôi nâng chiếc xe lên để lắp phụ tùng. Sửa xe xong, cậu thanh niên không lấy tiền, còn tặng chúng tôi một chiếc gương chiếu hậu, bảo chúng tôi lắp nó lên xe. Cả đám đều thấy hơi ngại ngùng. Họ còn nói: "Các cậu là những vị khách từ phương xa đến."

Thế rồi tất cả nhồi nhét vào chiếc xe Santana cũ kỹ của họ để đến quán ăn trong huyện. Ban đầu chúng tôi định mời họ một bữa để tỏ lòng cảm ơn, đến quán ăn móc túi ra mới phát hiện trong người chỉ có 80 tệ, đoán chừng là không đủ tiền mời rồi. Trong quán ăn có một chiếc bàn tròn lớn, chúng tôi quây quần ngồi xung quanh bàn. Họ cũng ngồi xuống, nhưng đột nhiên lại trở nên hơi kỳ lạ, họ ngồi dịch sang một phía khác, cách chúng tôi chừng một hai chiếc ghế, ngồi xuống xong thì ai nấy tự buôn chuyện riêng, không thèm đếm xỉa gì đến chúng tôi, qua rất lâu cũng không gọi món. Chúng tôi thấy hơi ngượng ngùng, cảm nhận được thực ra họ không muốn ngồi chung một bàn với chúng tôi, chúng tôi đoán chắc là họ không đủ tiền thết đãi, lại thấy người đông quá, để chúng tôi mời thì cũng ngại, thế là dứt khoát gọi sang một bàn khác.

Chúng tôi cứ thế chia thành hai bàn ăn cơm, ăn xong họ lại chở chúng tôi về.

Suốt dọc đường chúng tôi toàn giao du với người lạ, tình huống thường rất vi diệu.

Lại có một lần, lúc nghỉ ngơi chúng tôi gặp mấy thanh niên. Trò chuyện được hai câu, họ liền khuân ra hai thùng bia cùng chúng tôi chém gió. Chúng tôi vừa uống bia vừa ôm đàn hát hò, vô cùng vui vẻ. Có một cậu thanh niên uống say bí tỉ, còn muốn tặng tiền và máy nghe nhạc MP3 cho chúng tôi, tất nhiên là chúng tôi không nhận rồi. Thế mà hôm sau lúc tạm biệt họ, đám thanh niên lại trở nên vô cùng xa cách, ánh mắt lảng tránh, tựa như không hề quen biết chúng tôi, bầu không khí vô cùng ngượng ngùng.

Chiếc xe vẫn cứ liên tục hỏng hóc. Lại hỏng ở giữa đoạn đường "trước không thấy thôn sau không thấy xóm", chúng tôi đành phải xuống đẩy xe đi bộ. Người đông quá xe chở không nổi, sau khi luân phiên đẩy xe vượt qua mấy đoạn dốc, ai nấy mệt lử cả người, thế là quyết định chia nhau ra đi. Tiểu Nhật Á đạp xe, Mạch Tử Ca đi nhờ xe. Tôi vẫy xin quá giang một chiếc xe tải lớn đi ngang qua, quay đầu hét lớn với Uống Hạo đang lái xe: "Hẹn gặp trên đỉnh núi!"

Trên đỉnh núi có thể nhìn thấy rất nhiều ngọn đồi tròn trịa, trên đỉnh có những cột sắt lớn, đó là trạm phát sóng. Chiếc xe ba bánh nhỏ xíu của Uống Hạo, từ đỉnh núi phía xa lao thẳng xuống, rồi lại ì ạch bò lên ngọn dốc tiếp theo, mỗi lúc một lớn dần.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.