Chính Ngọ Cố Sự 2: Nơi Này Không Nên Ở Lâu

Lượt đọc: 136 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

Lần này tôi có thời gian ở lại nhà bố mẹ nhiều hơn hai ngày, tôi nghĩ mình nên dành chút thời gian ở bên ngoại, bầu bạn và trò chuyện với bà. Tôi cùng mẹ ngồi xuống trò chuyện với bà, tôi thường xuyên phải nhờ mẹ nói to lại mấy câu tiếng quê ngọng ngịu của mình thì ngoại mới nghe hiểu được.

Thần sắc của ngoại lại bắt đầu thẫn thờ. Bà bảo mẹ: "Tao phải về đây, ở đây lâu lắm rồi đấy." Bà chỉ tay về phía nhà cậu. Biết là ngoại lại lẫn rồi, mẹ dùng giọng điệu hơi nũng nịu nói lớn: "Mẹ đến hồi nào chứ? Mới đến hôm qua mà."

"Mới đến hôm qua cơ à," ngoại nhẹ nhàng lặp lại, gật gật đầu, nhưng không bận tâm đến nữa, tự lẩm bẩm, "Thế thì tao cũng phải về thôi. Tối hôm qua nằm mơ, Diêm Vương gia bảo, tao phải về rồi, ổng bảo sẽ không làm khó tao đâu, vì tao làm rất nhiều việc tốt... Tao chết, tụi mày không cần khóc, chỉ cần gọi tao mấy tiếng là được, gọi nhiều quá sẽ gọi tao về mất."

"Mẹ xem kìa, lại nói nhảm rồi." Mẹ quay sang nói với tôi. Tôi im lặng. Trong lòng xẹt qua một nỗi buồn, nhưng không mãnh liệt lắm.

Hôm đó ngoại lại đề nghị được ngủ chung giường với tôi. Bà dùng giọng điệu gần như van nài, bảo rằng bà ngủ rất ngoan, sẽ không làm phiền tôi đâu, cũng không chiếm nhiều chỗ lắm đâu. Tim tôi như bị điện giật vậy. Thật ra tôi đã hạ quyết tâm vào đêm trước khi rời đi sẽ ngủ cùng bà, cho dù tôi có trằn trọc thế nào đi nữa.

***

Năm ba tuổi, tôi được gửi nuôi ở nhà ông bà ngoại. Bố tôi tốt nghiệp cấp ba đúng vào thời kỳ ba năm thiên tai, dù thành tích thi đại học của ông rất tốt — theo lời ông tự nói thì vào Thanh Hoa cũng không thành vấn đề, nhưng ông đã chọn đi bộ đội, bởi vì ở trong quân đội mới có thể giải quyết được vấn đề ăn uống. Ông lần lượt phục vụ ở những nơi khác nhau, cuối cùng được điều động về Bộ hậu cần Hạm đội Đông Hải Thượng Hải, mẹ dẫn chị gái lớn hơn tôi năm tuổi đến Thượng Hải đoàn tụ với bố trước; còn tôi vì quá nhỏ nên bị bỏ lại quê nhà, lúc ấy, ông nội bà nội của tôi đã qua đời.

Nhà ông bà ngoại nằm sâu trong một ngọn núi. Tôi vẫn luôn không biết ngọn núi đó tên là gì, hơn nữa hình như cũng chẳng màng đến tên của nó. Sau này tôi từng hỏi người nhà, họ cũng không nói lên được đầu đuôi thế nào. Đó là một dãy núi kéo dài bất tận, đường đèo uốn lượn dốc đứng, thường có những đoạn hiểm trở đến mức khiến người ta nín thở. Dọc đường sẽ đi qua hồ chứa nước Nam Sơn, phong cảnh vô cùng tươi đẹp. Nhà của ngoại nằm ở một ngôi làng nhỏ trong ngọn núi sâu này, tên là thôn Thạch Đầu Lĩnh.

Ngôi làng ấy vô cùng nhỏ, nhỏ đến mức đại khái chỉ có chưa đầy 10 hộ nhân khẩu. Nó nằm trong một thung lũng núi rộng mở, nhìn từ cửa sổ nhà ngoại ra, có thể thấy những ngọn núi đằng xa và ruộng bậc thang. Ngay sát dưới chân làng có một cái ao, là nơi cả làng vo gạo, giặt quần áo, rửa bô, thậm chí là nơi bơi lội vào mùa hè. Hồi nhỏ một trong những việc tôi thích làm là ngắm hoàng hôn, tôi sẽ áp người vào cửa sổ phòng cậu út thẫn thờ nhìn mặt trời lặn dần từng chút một ở ngọn núi phía xa, cho đến khi biến mất hoàn toàn — trời bỗng chốc tối sầm lại, khói bếp bay lên.

Ký ức tuổi thơ của tôi bắt đầu từ thôn Thạch Đầu Lĩnh. Lúc đó, dì tư, dì út vẫn chưa xuất giá, cậu cũng chưa có đối tượng. Trong nhà chỉ có mình tôi là cháu ngoại, tự nhiên là ngủ chung với ông bà ngoại. Ấn tượng trong trí nhớ là phòng của ông bà ngoại tối đen như mực, hình như không có cửa sổ. Có một tối nọ, bả vai tôi ngứa ngứa, liền ở trong chăn ra lệnh cho ông ngoại, nhưng ông gãi không đúng chỗ, tôi bất mãn la lên rằng: "Giác Giác Lĩnh kìa, Giác Giác Lĩnh kìa!"

Giác Giác Lĩnh là tên của một dãy núi nhỏ cách nhà ngoại không xa — hình như cũng không phải tên chính thức, chỉ là một cái tên thông tục. Từ trạm xe đi về hướng nhà ngoại, trèo lên cái sống núi đó, là có thể nhìn thấy từ xa ngôi nhà của ngoại rồi. Đường lên dốc xuống dốc đều vô cùng dốc đứng. Tôi nhớ sau này lớn lên về quê thăm người nhà, có một lần là chị tôi chở tôi xuống dốc, tôi sợ đến mức hồn vía lên mây, tim lập tức nhảy dựng lên cổ, suồng sục như muốn tách lìa khỏi thể xác. Tính cách của tôi và chị tôi là hai thái cực: gan của chị ấy to tày trời, còn gan của tôi thì tí xíu.

Tôi không biết tại sao lại thốt ra cái tên gọi "Giác Giác Lĩnh" ấy, có lẽ là độ cong ở bả vai đã khiến tôi liên tưởng đến nó. Tóm lại, rất nhiều người trong thôn đều biết chuyện tôi sai khiến ông ngoại gãi "Giác Giác Lĩnh". Sau này mỗi lần về quê, các bậc trưởng bối trong làng kiểu gì cũng chê cười sự ngang ngược vô lý của tôi hồi nhỏ ở nhà ông bà ngoại.

Lúc đó tôi quả thật có chút ngang ngược vô lý. Tôi cực kỳ bám ngoại, tôi yêu cầu bà làm bất cứ việc gì cũng phải dẫn theo tôi: đi đồng áng làm việc phải dẫn theo tôi, gánh nước giếng phải dẫn theo tôi, ra ngoài mua đồ phải dẫn theo tôi... Có một hôm ngoại không đánh thức tôi dậy vào giờ ngủ trưa, lén đi mua gạo ở một cái xã phía trên. Lúc tỉnh dậy biết chuyện, tôi nổi giận đùng đùng, bắt bà phải dẫn tôi đi mua lại một lần nữa. Ngoại bị quấn lấy hết cách, đành phải tay không dẫn tôi đi lại một lượt, tôi lúc này mới mãn nguyện.

Sau này tôi thường tự trách bản thân hồi nhỏ quá mức vô lý với ngoại. Không biết đó là biểu hiện của việc thiếu cảm giác an toàn, hay là càng là người thân thiết thì càng đưa ra những yêu cầu vô lý?

Lúc tôi sinh ra thì Cách mạng Văn hóa còn hai năm nữa mới kết thúc, nhưng tôi không có bất kỳ ký ức nào về thời đại đó. Khi ấy toàn bộ Trung Quốc đều nghèo đói, nông thôn lại càng nghèo hơn. Thế nhưng ký ức tuổi thơ của tôi lại không có quá nhiều sự đói kém. Ngoại thường xuyên có thể lấy từ đồng ruộng mang về nhà những thứ để ăn: khoai lang, đậu phộng, bắp, củ cải, đủ cả, còn có đủ loại rau củ. Ngoại còn tự nuôi gà nuôi vịt. Ông ngoại là thợ mộc, việc đồng áng hầu như do một mình ngoại làm. Ngoại lúc ấy tràn đầy năng lượng. Tôi nhớ có một lần tôi đeo chiếc giỏ trúc nhỏ theo ngoại đi hái chè, các thành viên khác trong đội sản xuất đều khen tôi hái giỏi, ngoại rất vui, cũng khen tôi trước mặt người khác, thật ra là tôi hái mò hái mẫm ở đó thôi, nhưng sự hư vinh nho nhỏ của tôi đã được thỏa mãn rất lớn.

Năm sáu tuổi, tôi trở về Thượng Hải bên bố mẹ để đi học. Có một khoảng thời gian rất dài tôi không thể thích ứng, ngày nào cũng nhớ ông bà ngoại và thôn Thạch Đầu Lĩnh. Có lẽ là sự thay đổi môi trường quá lớn từ nông thôn lên thành phố lớn, có lẽ sự vắng mặt của bố mẹ trong thời gian thơ ấu, tôi bỗng chốc trở nên hướng nội, nhạy cảm, cô độc, tự ti, mối quan hệ với bố mẹ cũng không tốt. Mỗi khi cảm thấy bản thân bị lạnh nhạt, bị tổn thương, buồn bã tự thương thân trách phận, tôi lại cầm bút viết thư cho ông bà ngoại. Những bức thư này đều không được gửi đi. Ngoại cũng không biết chữ.

Tôi luôn mong ngóng được nghỉ học, bởi vì cứ được nghỉ là lại có thể về nhà ngoại. Lúc đó từ Thượng Hải đi thôn Thạch Đầu Lĩnh, phải đi tàu hỏa ghế cứng hơn tám tiếng đồng hồ, sau đó đổi sang xe khách đường dài, giữa chừng lại còn phải đổi xe lần nữa, tốnmất gần như là một ngày trời. Xe khách thời đó trên nóc có một cái giá để hành lý, hành lý đều đặt ở trên đó, dùng dây thừng buộc lại, sau khi lái vào trạm xe, có người đứng lên bục cao ném từng kiện hành lý xuống. Tôi thích chuyến hành trình về quê ấy đến mức, có một dạo lý tưởng của tôi là làm nhân viên trên tàu hỏa, vì thế tôi còn dán một huy hiệu đường phố bằng đất sét ném vào trong sổ nhật ký.

Cho đến tận lúc học cấp ba, chỉ cần không có ngoài ý muốn, hầu như kỳ nghỉ nào tôi cũng về nhà ngoại. Tết đến lại càng là lịch trình không thể lay chuyển. Tôi thích bầu không khí ăn Tết ở quê. Lúc đó mùa đông thường xuyên có tuyết rơi dày đặc. Đại gia đình ba thế hệ hơn chục nhân khẩu tụ tập lại với nhau cực kỳ náo nhiệt. Ngoại sẽ chuẩn bị tiền mừng tuổi hoàn toàn mới cho chúng tôi là thế hệ nhỏ tuổi. Tôi nhớ những năm đầu là mấy cào, sau đó điều kiện kinh tế khá hơn thì thành mấy đồng. Sáng mùng một tết ngủ dậy, bên ngoài là một cõi tuyết trắng xóa, ngoại đã chuẩn bị sẵn nước ngọt ngâm bằng táo tàu và đường trắng, mang ý nghĩa cát tường.

***

Có một năm mùa hè, vẫn là lúc học tiểu học, tôi nghỉ hè ở nhà ngoại. Ấn tượng trong trí nhớ mùa hè năm đó có chút yên tĩnh, các em họ đều không về. Cậu đã kết hôn sinh con, hương khói nhà họ Ngô có người nối dõi. Cậu nối nghiệp cha, theo ông ngoại học nghề mộc, mở một xưởng nhỏ ở ngoài thôn. Cậu là người duy nhất trong sáu người con của ngoại tự do yêu đương rồi kết hôn. Mợ đến từ một ngôi làng khác không xa lắm. Mợ và cậu quen nhau nhờ dì út. Dì út là người đọc nhiều sách nhất, cũng là người thích đọc sách nhất trong số các chị em, từ nhỏ chữ viết đã rất đẹp, tính tình khá kiêu ngạo, nhưng số phận bất hạnh, sau khi tốt nghiệp cấp ba thì vào làm việc tại một nhà máy biển hiệu ở địa phương, mợ là đồng nghiệp của dì.

Tôi nhớ lúc tôi vẫn còn ở nhà ngoại, cậu và mợ đã yêu nhau rồi. Ấn tượng là mợ từng đến nhà ngoại mấy bận. Tôi không có ấn tượng đặc biệt gì về mợ, chỉ nhớ mợ hình như tết một bím tóc lớn. Ngoại không thích người con dâu tương lai này lắm, hình như chê mợ quá tinh ranh ghê gớm, sợ con trai chất phác thật thà chịu thiệt. Nhưng cậu không nghe lời ngoại, dù cho cũng từng làm âmt ĩ đòi chia tay, nhưng sau đó lại hòa giải, kết hôn, rất nhanh sinh được một đứa con trai.

Mùa hè năm đó, tôi học tiểu học nghỉ hè ở nhà ngoại. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ngoại và mợ cãi nhau trước mặt tôi, cãi rất dữ dội. Tôi không nhớ họ tranh cãi vì điều gì, chỉ nhớ bức ảnh khắc sâu trong tâm trí tôi: họ đứng đối mặt nhau ở gian chính (gian nhà có giếng trời), ngoại mặc áo vải vạt chéo màu xanh lam, một bên tay vẫn đang làm việc, một bên nói với giọng điệu vô cùng nghiêm khắc; còn mợ thì một bên tay kẹp đứa con trai mới hơn một tuổi, người nhoài về phía trước, tay kia quơ quơ trong không trung, kịch liệt đáp trả. Họ mắng chửi lẫn nhau, nước bọt bay lất phất trong ánh nắng mùa hè chiếu vào. Tôi đứng một bên, ngơ ngác không biết phải làm sao, trong lòng vô cùng sợ hãi. Nhiều năm sau, mỗi khi hồi tưởng lại khung cảnh này, tôi giống như đang xem một bộ phim câm, không nghe thấy tiếng của họ, chỉ nhìn thấy đôi môi đang mấp máy nhanh chóng và cánh tay quơ quơ dưới ánh nắng rực rỡ cùng nước bọt văng tứ tung. Mà tôi lại là khán giả duy nhất.

Từ đó về sau, mặc cho thời gian trôi đi, tôi đối với mợ ít nhiều gì cũng có sự cách biệt về mặt tâm lý. Ngoại không nghi ngờ gì nữa cũng là người có tính cách mạnh mẽ. Nghe mẹ kể, lúc đó trong nhà cãi nhau dữ dội đến mức ông ngoại hiền lành muốn dọn ra ngoài để tìm chút thanh tịnh, nhưng bị ngoại kiên quyết ngăn cản. Ngoại nói, tại sao phải nhường cô ta? Cậu cũng hiền lành không kém, kẹt ở giữa thường là lực bất tòng tâm, chẳng làm được gì. Ngày nay, ngoại tuổi cao sức yếu cũng đành phải dựa vào sự chăm sóc của con dâu, nhưng ở giữa vẫn cách một lớp gì đó.

Ngoại khi ấy vẫn cường tráng khỏe mạnh, mặc dù đã hơn năm mươi tuổi, nhưng việc đồng áng, lo toan trong ngoài đều dựa vào một mình bà. "Cái gì tao cũng trồng được, củ cải làm ra to thế này này." Trong cuộc trò chuyện vào đầu năm nay, bà vừa dùng tay ra hiệu vừa nói. Bà bảo ông ngoại luôn giao tiền cho bà. Bà nói với mẹ: "Ổng đối xử với tao rất tốt, tao liền thấy rất bình thản, rất thỏa mãn. Ổng có cái gì ăn cũng mang về cho tao. Tao quản lý gia đình, quản lý gia đình thật tốt. Bố con đưa tiền cho tao, tao biết nên mua những thứ gì, tao mỗi ngày đều nghĩ xem tiêu số tiền ít ỏi này như thế nào. Tao biết nên mua loại bánh ngọt nào cho con cháu. Bố con không hiểu mấy thứ này."

Ông ngoại là một người hiền lành, hướng nội, ít nói, buổi tối khi có hứng thú thì ông thích một mình uống một chén hoàng tửu. Ông hút thuốc rất nặng, thế nên thường xuyên ho. Ông chỉ thỉnh thoảng giúp ngoại làm chút việc đồng áng vào mùa vụ bận rộn. Phần lớn thời gian, ông bào gỗ ở gian chính, dùng mực hộp để kẻ đường, hoặc là cứ ngồi ở đó hút thuốc. Thân hình gầy gò của ông vì những trận ho dữ dội mà càng thêm mỏng manh. Ông ngoại không phải là người dễ dàng bày tỏ cảm xúc của mình, giống như hầu hết những người đàn ông ở nông thôn, ông cũng trọng nam khinh nữ, nhưng ông đối với tôi rất tốt.

Hồi học cấp trung học cơ sở, có một lần về quê, chúng tôi làm khách ở nhà dì út. Dì út trước đó ra ngoài làm thuê từng ở nhà chúng tôi, bố mẹ tôi đã giúp dì tìm một công việc lễ tân ở nhà khách trong quân đội. Tôi thường cảm thán sự tài cao phận thấp và sự bất công trong ngận ngộ cuộc đời của dì, nhưng bản thân dì út hình như đã không còn kháng cự số phận nữa. Dì qua tuổi ba mươi vẫn chưa tìm đối tượng — dì đối với người ta vẫn đưa ra yêu cầu cao. Sau đó dưới mọi áp lực và sự mai mối của người nhà, dì chọn một người nông dân thật thà chất phác. Dì dượng đến từ thị trấn của bố tôi, ngoài làm ruộng ra, dượng còn đạp xích lô chở khách kiếm thêm chút đỉnh, nhưng kiếm được rất ít. Tôi nghĩ rốt cuộc dì út đã quyết định thỏa hiệp với số phận. Dì đi theo dì dượng về thị trấn, bắt đầu làm việc đồng áng. Thu nhập ít ỏi đến đáng thương. Họ sinh được một cặp song sinh long phượng, áp lực kinh tế càng thêm nặng nề. Chúng tôi thường muốn giúp đỡ dì một chút về mặt tài chính, nhưng dì luôn từ chối, và sẽ tìm mọi cách để trả lại. Sau khi các con đậu đại học, người dì có lòng tự tôn cao, từ chối sự trợ giúp cuối cùng cũng mở lời với họ hàng, dì nói số tiền này sau này sẽ từ từ trả lại.

Lần về quê đó, đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong ký ức của tôi. Tôi nhớ mình đứng bên trong ngạch cửa nhà dì út, ngoại đứng bên ngoài ngạch cửa, bên cạnh còn có dì út và mẹ. Ngoại có vẻ đứng ngồi không yên. Bà nói, bà vừa từ miếu về, bà đi xin một quẻ cho ông ngoại, bói một quẻ, bảo là nếu có thể vượt qua cái cửa ải cuối năm nay, thì tạm thời sẽ không có chuyện gì nữa. Tôi vô cùng chấn động. Tôi vậy mà không hề biết tình trạng sức khỏe của ông ngoại đã lâm vào bờ vực cái chết, tôi bị bao trùm bởi sự hoảng sợ vì người thân sắp rời đi và sự bất định của sinh mạng, bỗng nhiên bắt đầu sợ hãi sự xuất hiện của dịp cuối năm.

Ông ngoại đã vượt qua cái cửa ải cuối năm đó, chúng tôi đều thở phào nhẹ nhõm, ngoại lại càng thành tâm niệm Phật hơn — bà là người duy nhất tin Phật trong cả gia đình.

Thế nhưng, ông ngoại rốt cuộc cũng không trụ lại được bao lâu. Một ngày vào tháng 4 năm 1990, tôi học lớp mười, quê nhà bỗng gọi điện tới nói ông ngoại sắp không qua khỏi rồi. Bố mẹ lập tức quay về. Ba ngày sau, ông ngoại ra đi. Mẹ sau đó kể với chúng tôi, trước khi ông ngoại chết rất đau đớn, khắp người ngứa ngáy dữ dội, đều gãi ra máu. Tôi nghe xong rất đau lòng, nhớ lại hồi nhỏ bắt ông ngoại gãi "Giác Giác Lĩnh" cho mình, ông luôn gãi không đúng chỗ, tôi liền làm càn.

Thế nhưng, chấn động do ông ngoại qua đời mang lại rất nhanh đã phai nhạt đi trong thế giới cách biệt với quê nhà. Kể từ khi học cấp ba, tôi rất ít khi về quê. Cuộc sống của tôi bị những thứ khác chiếm mất: ôn thi đại học, những phiền muộn khi trưởng thành, những hoang mang trong cuộc đời, những khao khát và mông lung về tương lai. Non nước tình người ở quê nhà hình như đều đang dần rời xa tôi. Cho đến khi lên Bắc Kinh học đại học, lại càng ít về nhà ngoại hơn.

Sau khi ông ngoại qua đời, Thạch Đầu Lĩnh chỉ còn lại một mình ngoại (gia đình cậu đã sang Hàng Châu phát triển vào cuối những năm 80), con cái bèn thường xuyên đón bà ra thành phố ở, sợ bà ở một mình không ai chăm sóc, lại cô đơn. Thế nhưng, ngoại đã quen với cuộc sống làm nông và ngôi nhà của chính mình, ra ngoài ở không bao lâu là lại muốn về, đặc biệt là tiết Thanh Minh, nhất định là phải về tảo mộ cho ông ngoại, nhân tiện đào măng xuân.

Lâu lắm sau đó, tôi đã đi làm, có một lần tôi quay lại Thạch Đầu Lĩnh, kinh ngạc phát hiện ngôi làng tràn ngập ký ức tuổi thơ này, đã gần như tiêu vong. Người già thì lần lượt qua đời, người trẻ thì đều đi làm thuê hết, chỉ còn lại hai nhân khẩu thường trú — đại biểu cút của tôi và vợ ông, tiếp tục duy trì cuộc sống làm nông. Ba người con của họ cũng đều ở ngoại tỉnh. (Bây giờ ngay cả hai vợ chồng họ cũng đã mua căn nhà mới có nhà vệ sinh và phòng bếp hiện đại ở thị trấn dưới chân núi, chỉ vào mùa hái chè mới về lại Thạch Đầu Lĩnh.) Ngoại một năm chỉ về ở vài tháng. Ngoại trừ nhà ngoại và nhà đại biểu cút, phần lớn những căn khác đều sụp đổ, cái ao bên dưới nước cũng gần như cạn khô. Chỉ là hơn hai mươi năm trôi qua, con người và vật chất đều đã xảy ra thay đổi rất lớn.

Ngoại ngày một lớn tuổi, nhưng năm tháng làm nông lâu năm khiến bà có cơ thể khỏe mạnh. Ngược lại lúc ở thành phố, bà rất không quen. Ở đó, bà không quen bất kỳ ai khác, lại thêm rào cản ngôn ngữ. Phần lớn thời gian bà chỉ có thể ngồi trong nhà, không có việc gì làm. Bà thường không ngồi yên được, muốn giúp dọn dẹp bát đũa sau bữa ăn, hoặc là giặt quần áo, nhưng luôn bị con cái ngăn cản.

Bảy tám năm trước, ngoại cuối cùng vì sức cùng lực kiệt không làm nổi việc đồng áng nữa, bị con cái thuyết phục hoàn toàn rời khỏi Thạch Đầu Lĩnh. Từ đó ngôi nhà cũ ở Thạch Đầu Lĩnh nhanh chóng suy tàn, đầu tiên là bếp nấu ăn đổ sụp, sau đó một nửa nhà bếp sụp đổ hoàn toàn. Ngoại biết thì rất sốt ruột, bảo cậu đi sửa. Nhưng người cậu lười biếng luôn kéo dài thời gian, bởi vì sửa xong cũng chẳng có ai ở, chẳng lẽ lại để một mình ngoại ở đó. Cho nên, cho đến tận ngày hôm nay, công việc tu sửa vẫn chưa được bắt đầu.

Hai năm nay, theo việc ngoại ngày càng nói nhiều những câu như "muốn đi rồi", chuyện sửa lại ngôi nhà cũ lại được nhắc tới một lần nữa. Ngoại muốn quay về ngôi nhà cũ để rời khỏi thế giới này, chỉ có cái nhà ở Thạch Đầu Lĩnh mới là ngôi nhà thực sự của bà, là ngôi nhà khiến nội tâm bà bình yên. Nhưng mỗi lần nhắc đến chuyện này với mẹ, mẹ cũng luôn nói là không thực tế. Không phải tu sửa khó, mà là dù có sửa xong thì cũng không thể có ai cùng ngoại quay về trải qua đoạn đường cuối cùng của sinh mạng. Nghe đến đây tôi cũng chỉ đành im lặng.

***

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.