Mẹ tôi ba năm trước đã thành tâm hướng Phật, từ đó không đụng đến mặn cá. Lần này mẹ sang Singapore thăm tôi, chỉ thấy lượng thức ăn hằng ngày của mẹ ít đến giật mình, khiến tôi lo lắng mẹ không đủ ăn no, từ đó lạiâm thầm lo ngại cho sức khỏe của mẹ. Theo lời mẹ kể, ăn ít để tịnh tâm, mới có thể kế thừa Phật pháp.
Mẹ bảo tôi, Phật dạy rằng mọi ham muốn chính là cội nguồn của tội lỗi, ăn quá no, hoặc sống quá hưởng lạc, thì sẽ mất đi ý nghĩa của việc khổ tu, rất khó đắc đạo thành chánh quả. Tôi hỏi: "Mẹ ơi, thế nào là chánh quả trong lòng mẹ? Đắc đạo thành tiên? Tọa hóa thành đan? Tự đặt mình vào vạc lớn để phơi khô, giữ gìn nhục thân mấy trăm năm? Hay là đặt lên lửa nướng để thu được xá lợi tử? Tinh thần của Phật là gì? Rốt cuộc là một người đắc đạo, hay là phổ độ chúng sinh? Nếu mẹ cứ mãi u mê theo đuổi việc tu thành chánh quả cho riêng mình, thì đó chẳng qua chỉ là Tiểu thừa Phật pháp, chỉ có việc truyền rộng giáo lý, mới là thấu hiểu tinh tủy. Mẹ à, chi bằng đừng để nhục thân chịu đói, tiêu diệt cái thân xác chỉ là nơi ký sinh của tinh thần này đi thì hơn."
Mẹ coi thường những lời phàm phu tục tử của tôi, chẳng thèm để ý, tiếp tục tu hành.
Tôi nghĩ, nếu để tôi lựa chọn, giữa việc buông thả vui vẻ suốt năm mươi năm, hay là tu tâm dưỡng tính qua một trăm năm, tôi nhất định sẽ chọn sống vui vẻ năm mươi năm. Mẹ không màng tới, mẹ cho rằng tôi sở dĩ nói vậy là vì tôi còn trẻ, vẫn còn nửa quãng đường nữa mới đến tuổi năm mươi. Đợi đến khi tôi năm mươi tuổi, cũng sẽ bắt đầu tìm kiếm những loại thần dược cải lão hoàn đồng hoặc trường sinh bất lão trong thế gian. Tần Thủy Hoàng năm 20 tuổi, chắc chắn cũng không ngờ tới việc sẽ phái năm trăm đồng nam đồng nữ vượt biển xa xôi sang vùng Phù Tang để luyện đan dược trường sinh bất tử. Tất cả những gì mẹ đang làm, chẳng qua chỉ là đang giằng co với lũ quỷ dưới âm ti mà thôi.
Hỡi ôi, mẹ hồ đồ hãy nghe con nói đây:
Một quan niệm năm xưa, khi Phật giáo mới truyền vào Trung Quốc vào thời nhà Hán, mọi người đều chú trọng việc tự tu hành, các phái chính của Phật giáo Ấn Độ cũng là tự tu hành, thời đó xuất hiện rất nhiều tăng nhân khổ hạnh, những vị tăng nhân ấy thường một mình trốn trong rừng sâu không ăn không uống, thậm chí tự đày đọa thể xác, họ cho rằng thể xác chịu đựng sự hành hạ càng đau đớn, cơ hội đắc đạo thành chánh quả càng lớn. Đến thời nhà Đường, vị Đường Huyền Tựu nổi tiếng mà cứ hay bị yêu tinh thèm thuồng ngày nào, lại rất không hài lòng với việc Tiểu thừa Phật pháp cứ mãi theo đuổi việc tự tu hành này, cảm thấy giáo lý chân chính của Phật pháp phải là Đại thừa Phật pháp của Đồ Ma Tổ Sư, tu vi tu là tu cho người trong thiên hạ chứ không phải cho cá nhân đơn lẻ. Thế nên ngài không quản đường sá vạn dặm, chuyên tâm sang Ấn Độ thỉnh kinh, mang những Phật pháp liên quan về.
Đại thừa giảng về phổ độ chúng sinh, đợi đến khi mỗi người trên thế gian đều tu thành chánh quả, bản thân mới thành Phật, thông qua việc cứu rỗi người khác, khuyên bảo người khác hướng Phật, làm việc thiện, chúng sinh đắc đạo, thì gà chó cũng bay lên trời, bản thân mới thực sự nhập đạo. Một câu nói của Địa Tạng Bồ Tát: "Ta không xuống địa ngục thì ai xuống địa ngục?" Ý ngài là ngài không lên thiên đường, đợi đến khi tất cả quỷ trong địa ngục đều lên thiên đường rồi ngài mới lên, chính là mang ý nghĩa này.
Đại thừa Phật pháp khi đến Trung Quốc, đã va chạm với triết học Lão Trang, tạo ra những tia lửa sáng chói, hình thành nên Phật giáo mang phong cách Trung Quốc đậm chất Trung Hoa, từ đó đi sâu vào lòng người, ai ai cũng có thể dễ dàng tu hành, không chú trọng hình thức, mà chú trọng sự ngộ đạo, thế nên mới có câu nói "buông dao đồ tể, thành Phật lập địa", đắc đạo không phân trước sau, mà quan trọng ở nhân duyên với Phật, chỉ một chữ "Duyên" mơ hồ không rõ ấy, đã trao cho vô số bách tính niềm tin tu hành. Phật pháp mang tính bình dân, bước vào muôn nhà. Những vị hòa thượng được thế gian tôn sùng, như Tế Công chẳng hạn, chính là điển hình. "Rượu thịt qua ruột, Phật tổ ngự trong lòng". Mấu chốt của Phật pháp nằm ở chữ "Ngộ". Ngộ ra là thành Phật.
Năm xưa, yêu tăng Hành Sâm mê hoặc Thuận Trị xuất gia cửa Phật, sư tổ của hắn là Ngọc Lâm Tú đã nói một đoạn thế này: "Hòa thượng phổ độ chúng sinh, sư bảo người đời đều đạt quả lành, tiêu tai giải nạn cho họ, cầu nguyện bình an. Tuyệt đối không phải bảo họ đến để làm hòa thượng. Giả sử thiên hạ đều thành hòa thượng, thì ai sẽ cúng dường hòa thượng? Cửa Phật nghiêm cấm chuyện cưới hỏi, giả sử người thiên hạ đều thành hòa thượng, thì lại do ai sinh ra và nuôi dưỡng hòa thượng đây?"
Mẹ ơi, tu hành là tu cái tâm chứ không phải tu cái xác! Phật tổ đã ngự trong lồng ngực mẹ rồi, thì những món cá thịt gia cầm kia làm sao có thể cản trở lòng thành kính của mẹ?
Tôi cười cợt mẹ, đã không ăn sinh mạng, vậy há chẳng phải trứng cũng là sinh mạng sao? Cớ sao lại ăn? Mẹ vậy mà lại ra vẻ nghiêm túc nói: "Trứng gà, phải xem là trứng đã thụ tinh hay trứng chưa thụ tinh, nếu đã thụ tinh rồi, thì là trứng mặn, bằng không thì là trứng chay." Lúc ấy tôi mới hiểu ra, thứ mẹ tu, chẳng qua chỉ là Phật pháp ngăn cản sự hạnh phúc, vứt bỏ mọi niềm vui là đắc đạo. Những thứ mẹ không ăn, chỉ là những quả trứng từng hạnh phúc mà thôi.