“Thạch Môn oán” là tiêu đề tôi chọn hàng đầu cho bài viết này, nhưng ngẫm lại một chút, tôi liền nhận ra những người nông dân ở thôn Thạch Môn dù phải chịu đựng rất nhiều nỗi thống khổ không đáng phải chịu, nhưng rốt cuộc họ từng oán hận ai chứ? Năm tháng phôi pha? Gió lốc cuồng nộ? Lũ lụt bạo tàn? Không hề, hoàn toàn không có. Sau đó, tôi lại muốn đổi tiêu đề thành “Thạch Môn công tội”, nghĩ ngợi rồi lại thôi, bởi vì bây giờ không phải lúc bàn chuyện công tội, lịch sử từ lâu đã đưa ra đáp án công bằng. Vậy, mục đích tôi viết bài tản văn này rốt cuộc là gì? Cho người ta biết một bài học thê thảm ư? Có lẽ vậy. Tôi vẫn luôn lạc quan cho rằng, chỉ cần nhân loại vẫn còn dũng khí lấy lương tri làm lá cờ cho mình, thì mọi thứ vẫn còn kịp, bài học và sự sám hối vẫn còn kịp. Thậm chí tôi sẵn sàng tin rằng: Bài học đã được ghi nhớ, sự sám hối đã bắt đầu từ lâu. Đã thế, vậy hãy gác lại chuyện thị phi và công tội, hãy dẹp bỏ phẫn nộ và oán khí đi, hãy bình tâm tĩnh khí bàn về lịch sử thôn Thạch Môn, nhân tiện nói cho mọi người biết rằng: Chúng ta có lẽ vẫn còn cứu được, môi trường sinh sống có lẽ vẫn còn cứu được.
Đất lành, đất lành, họa đồ khó tả xiết
Chẳng ai có thể sao chép lại bức tranh tươi đẹp đó nữa, nhưng nó lại khắc sâu trong tim người Thạch Môn, người già kể cho trẻ nhỏ, thầy cô kể cho học sinh, đời này qua đời khác, lớp người này qua lớp người khác.
Năm 1924, trên bãi cỏ Thạch Môn yên ả xuất hiện nhóm di dân từ phương xa đến đầu tiên. Họ kinh ngạc trước phong cảnh nơi đây: Sắc xanh vô tận, sóng gợn tận chân trời. Người đi trong đám cỏ cao ngập gối tựa như đi trong ruộng lúa chín vàng, những bông cỏ trĩu nặng quất vào hai bên chân, tiếng xào xạc vang lên cứ như sóng nước đang cuồn cuộn trào dâng; phía sau để lại những rãnh sâu hoắm, chớp mắt lại bị sóng cỏ san lấp. Chăn đồng thả trâu dê ra sườn cỏ, hát khúc sơn ca, say sưa tìm kiếm niềm vui hoang dã: Bắt những con ve sào đang phập phồng đôi cánh cất tiếng hót vui vẻ khắp nơi, hái tứ biện mai màu xanh, thạch hoa màu trắng, thủy tinh tinh màu đỏ, cùng với hoa lưỡi hái, hoa kèn, hoa chuông, hoa bốn mắt, hoa trăm ngày bại mà tụi trẻ đặt tên theo hình dáng màu sắc; hoặc đi tìm trái dại để ăn, có táo dại, mơ chua, hoa thanh, quả óc chó, táo cát, dâu tằm; ăn đến no căng cả bụng, rồi lại đi đuổi theo những loài chim chóc trước nay chưa từng bị quấy rầy, ví như chim phượng hoàng ngực đỏ, chim cánh xanh thích mổ đất, chim đầu đen vằn trắng ven tường, chiền chiện tiếng hót như còi, chim phỉ thuỷ lưng xanh ngực trắng, lại còn sơn ca đồng cỏ, nhạn cát, cu gáy, gà đá, bồ câu rừng, chim cuốc cùng đủ loại diều hâu chao lượn sà xuống săn mồi thường thấy. Quả thực là một thế giới hoa cỏ, thiên đường của loài chim chóc, một nơi khiến người ta say đắm quên cả lối về. Lũ trẻ chăn trâu chơi đùa cả ngày, đến khi ráng chiều giục giã quay về, chúng mới phát hiện trâu dê của mình đã biến đi đâu mất. Chúng vừa chạy vừa gọi, làm hoảng sợ bầy hoẵng, chồn hoang, linh dương, lửng và cả những con linh miêu, marmot đã quen với sự cô tịch ẩn nấp trong đám cỏ, thế nhưng trâu dê của chúng từ lâu đã ăn no căng bụng, từng con một lười biếng nằm im lìm trong đám cỏ rậm che khuất tầm mắt để ngủ gật.
Thôn Thạch Môn, nằm dưới chân núi Thủy Hiên, Não Đầu, hương Ba Yến, phía đông Thanh Hải. Nơi đây là thượng nguồn của sông Hoàng Thủy - chi lưu lớn nhất ở thượng nguồn Hoàng Hà, là ranh giới giữa văn hóa nông nghiệp và văn hóa du mục miền Tây Trung Quốc, là cánh tay của Nhật Nguyệt Sơn - phân thủy lĩnh của triều đại nhà Đường và thổ phán vương triều từ hơn một ngàn năm trước. Hai khe núi lớn tối sẫm sâu thẳm tạo thành một vùng đất xanh tươi nhấp nhô, ở khe trên có một cặp vách đá suýt khép lại giữa không trung, trông tựa như chiếc cổng vòm bằng đá, ở khe dưới nằm ngang một hòn đá xanh khổng lồ, tựa như bậc cửa cao, đây chính là nguồn gốc của cái tên “Thạch Môn”. Trên sườn âm của hai khe núi, tầng tầng lớp lớp cây liễu đỏ, liễu gai, hoàng thích, hắc thích, lãng ma, hoa dại mọc dày đặc không lọt gió, đi dạo lắng nghe, tiếng nước ngầm len lỏi qua khe đá, róc rách mơ hồ có thể nhận biết. Tận cùng khe núi, sườn đồi xanh thoai thoải xuôi theo thế núi, suối trong tuôn chảy khắp nơi, khe suối róc rách. Non xanh, nước biếc, gió sạch, khí trời sảng khoái, phong cảnh miền Tây độc nhất vô nhị này lại có một vẻ diễm lệ lay động lòng người riêng.
Thế nhưng, có sức cáu dẫn nhất vẫn là dải đất màu mỡ rộng lớn gần thôn, đó mới thực sự là điền thổ trù phú, từ nam chí bắc, từ tây sang đông, hoàn toàn không tìm thấy một hòn đá núi trơ trọi nào. Năm xưa lão nông Viên Sinh Toàn cất nhà cần dùng một hòn đá kê cột, nào ngờ đi khắp núi non chẳng tìm đâu ra, đành phải dắt lừa đến tận não khe Thạch Môn để gùi về. Những di dân từ phương xa đến đã khai hoang trên dải đất màu mỡ này hơn một trăm thửa ruộng với tổng diện tích hơn ngàn mẫu, bắt đầu cuộc sống an cư lạc nghiệp. Mặc dù họ hoàn toàn chẳng hề nghe nói đến cái gọi là “cân bằng sinh thái”, nhưng họ đều dùng dải cỏ ngăn cách hơn một trăm thửa ruộng này lại với nhau, và đặt cho nó một danh từ cụ thể: Một ruộng một gian. Những “gian cỏ” này có thửa nhỏ bằng ruộng, thông thường đều lớn hơn ruộng gấp nhiều lần; dùng cỏ nuôi dưỡng đất, dùng cỏ chăn thả, giữ gìn đất đai nước nôi, vừa làm nông vừa chăn nuôi, sự khoa học trong việc sử dụng đất khiến người ta phải thán phục. Cuộc cải cách ruộng đất năm 1949 đã phân phối lại đất nông nghiệp, tuy là trả ruộng về cho dân, nhà nhà làm ăn riêng lẻ, nhưng cũng không phá vỡ cục diện đất đai “một ruộng một gian”, cho đến trước khi giương cao “Ba lá cờ đỏ”, hơn ngàn mẫu đất này vẫn luôn đảm bảo cho bốn năm mươi hộ, hơn hai trăm nhân khẩu no đủ; cho dù không tưới nước, không bón phân, sản lượng đơn vị thấp nhất của chúng cũng có thể giữ vững bốn trăm cân, trong đó một số ít thửa ruộng từng xuất hiện kỳ tích năng suất đơn vị “ruộng ba mươi phân tám chín trăm cân lương thực”. Thế nên, mỹ danh thôn Thạch Môn là “kho lương thực” của huyện Hoàng Nguyên đã lan truyền xa gần. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, Lưu Tiến Tài tốn sáu mươi đồng mua một cây tam huyền, lại kiếm thêm một cây bản hồ, đều đính túi thơm ngũ sắc, hễ có thời gian rảnh rỗi là lại gảy hoặc kéo, để âm thanh hạnh phúc du dương bay lượn trong từng ngóc ngách khe đồi của thôn Thạch Môn. Năm 1958, đại nhảy tiến cùng tình thế công xã hóa bức người, khi những nơi khác xuất hiện “bí thư đào mặt”, “huyện lệnh quét tủ” vì nông dân không có lương thực để nộp (để hoàn thành con số lương thực trưng thu báo cáo khống, bí thư huyện ủy và huyện lệnh dẫn người đi lục soát lương thực từng nhà từng hộ, thậm chí không tiếc dùng chổi quét sạch tủ đựng bột mì trong nhà nông dân, nông dân liền gọi họ là “bí thư đào mặt” và “huyện lệnh quét tủ”), thôn Thạch Môn vẫn nhà nhà có dự trữ, đội đội có lương dư, mặc dù người đứng đầu công xã đã dặn dò nông dân khi nộp lương thực phải “chừa lại đường lui”, nhưng người Thạch Môn vì để bày tỏ “giác ngộ cộng sản” của mình, vẫn nộp ra hơn ba mươi vạn cân lúa mì. Những kẻ giỏi quan sát sắc mặt ném đá giấu tay để thể hiện sự “bám sát” ấy liền vì công xã Ba Yến có “kho lương thực” như Thạch Môn mà đổi tên cho nó — “Công xã Ba Yến” biến thành “Công xã Phật Hải”, nghĩa là đại dương sôi sục. (Nhưng nông dân không thích cái tên “Phật Hải”, tự ý đổi “Phật Hải” thành “Phật Hải”, nghĩa là đại dương Phật giáo. Họ ngoan cố gọi tiếp, cuối cùng ngay cả chính phủ cũng đành phải thừa nhận. Thế nên, khi tôi lần đầu tiên đến huyện Hoàng Nguyên, nhìn thấy trên văn bản đỏ của chính quyền huyện rành rành là “hương Phật Hải”. Lần thứ hai đến huyện Hoàng Nguyên, cái tên ấy lại khôi phục thành “hương Ba Yến” thuở ban đầu.)
Chim cuốc ơi, hồn về chốn cũ, tiếng vẫn còn
Một đêm cuối thu năm 1958, gió lạnh gào thét, tuyết rơi trắng xóa, bao trùm cả thôn làng và mặt đất. Viên Ngọc Tú đứng trên nền tuyết, giơ chiếc cuốc nặng trịch nện xuống. Thế nhưng mảnh đất mọc đầy cỏ dại ấy tựa như căng một mặt trống, “bộp” một tiếng, chiếc cuốc lại bị bật ngược trở lại. Cô thử cuốc thêm vài nhát nữa, rồi ngã nhúm đầu xuống hố tuyết. Cô khóc, cất tiếng kêu to: “Ông trời ơi, ông trời ơi, thế này phải làm sao đây?” Cô bị cán bộ ép từ trong nhà ra, bởi vì cô chưa hoàn thành nhiệm vụ khai hoang ban ngày. Giữa những tiếng khóc lóc kêu gào, lột da róc thịt bị bức bách ấy, đất canh tác của thôn Thạch Môn từ hơn ngàn mẫu đã “nhảy vọt” lên hơn hai ngàn hai trăm mẫu, đừng nói là những “gian cỏ” có độ dốc thoải không còn tồn tại nữa, ngay cả những “gian cỏ” có độ dốc trên bốn mươi độ cũng không thoát khỏi kiếp nạn. Tiếp theo đó, khẩu hiệu “Ngàn cân lương, vạn cân phân” lại ép nông dân buộc phải đốt một lượng lớn tro cỏ, ngoài việc tiêu diệt sạch sẽ những gian cỏ vốn có còn hơn không ấy ra, ngay cả các bụi cây rậm rạp trong khe Thạch Môn cũng bị quét sạch không còn một mảnh. Những năm sau đó, hành động “phóng hỏa đốt hoang, tích phân tăng lương” ở thôn Thạch Môn hầu như đã trở thành chuyện cơm bữa. Đến thời kỳ Đại cách mạng văn hóa, thôn Thạch Môn lại trở thành “chiến trường” đại tu “ruộng bậc thang kiểu Đại Trại”, hành động phá hoại thảm thực vật lại một lần nữa dấy lên cao trào, những người nông dân bị ép đến đường cùng vì để dựng lên những thửa ruộng bậc thang tăm tắp và bón đủ lượng tro phân “lương thực chính trị” cho những thửa ruộng ấy, thậm chí đến cả rễ cây dưới lòng đất cũng bị đào lên để đốt, cho đến khi toàn bộ hương núi Thạch Môn một cây không thấy, một cọng chẳng còn, trơ trụi không một ngọn cỏ, một giọt nước không chảy.
Nhiều người cho rằng, phá hoại cân bằng sinh thái, tất sẽ phải trải qua một thời gian dài đằng đẵng. Quả báo xấu xa của nó chỉ có thể hiển hiện ở tương lai xa xôi, không thể nào là báo ứng nhãn tiền được. Thế nhưng, thôn Thạch Môn từ năm 1958 bắt đầu hành vi ngu muội nhổ sạch thảm thực vật tươi tốt, phát triển đến mức trở thành vùng đất cằn cỗi “kéo da dê dính không nổi cọng cỏ”, cũng chỉ vỏn vẹn trong vòng hai mươi năm ngắn ngủi, trong đó mấy lần “đại biện” có tính tàn phá lớn cộng lại cũng chỉ có vỏn vẹn mười năm ngắn ngủi, mà sự trừng phạt của đại tự nhiên không chỉ “báo ứng nhãn tiền”, mà còn là mười năm tám năm là báo, cách năm hoặc ngay năm đó là báo, thậm chí là báo ứng ngay tức khắc. Thiên khiển nhanh chóng đến mức khiến người ta giật mình kinh hãi.
Từng có thời, nơi đây là chốn linh sơn phúc địa “gió thổi cỏ cú hiện trâu dê”, nào ngờ hai mươi năm sau lại trở thành Luân Đài thời Hán Vũ “tháng chín gió đêm gầm, một dòng đá vụn to bằng đấu”. Nhìn từ bờ thửa ruộng thời cải đất, đất mặt dày hai ba thước ở sườn dương hướng gió đã bay mất tăm tích, ở sườn âm khuất gió và vùng bãi, nơi đất dày cũng chỉ sâu bằng một lưỡi cày, hơn nữa đại đa số đất canh tác cát đất lẫn lộn. Có người vừa mới san phẳng một khoảnh sân rộng gần hai phân, thế nhưng lớp đất mặt mà anh ta cẩn thận vun vén gom lại được lại chỉ có chừng ba thước khối. Cây trồng còi cọc bén rễ trong lớp đất mỏng manh nghèo nàn nhường ấy, cọng lúa non nào không sợ hạn, phiến lá nào không mong mưa? Thế nhưng khi thực sự ứng nghiệm ông trời mà đổ xuống một trận mưa lớn, thì lại trên lớp đất mặt nhợt nhạt khô khốc tuôn ra hàng vạn rãnh nhỏ ngoằn ngoèo tựa như vết nước mắt, càng khiến cho mặt đất thêm chằng chịt vết nhăn, vẻ tiêu điều tăng vọt. Đầu thập niên năm mươi thế kỷ trước, từng có một trận lũ núi tràn ngập thôn Thạch Môn, thế nhưng dòng nước ấy trong vắt, lại hiền hòa, không hề gây ra thảm họa hủy hoại ruộng nhà lớn lao gì. Trong khoảng thời gian từ năm 1962 đến năm 1979 cũng từng có năm lần lũ núi tràn ngập thôn Thạch Môn, lần đó thì hoàn toàn khác hẳn: Nước đen từ núi Thủy Hiên thác đổ ào ào xuống, dọc theo khe Thạch Môn gầm thét tuôn đi, vùng đất màu mỡ mất đi sự che chở của thảm cỏ bị lột đi từng lớp từng lớp, như đá lở núi trâu lăn, dòng bùn cuồn cuộn cuồn cuộn chảy qua lòng máng. Dải đất màu mỡ phẳng lì mà năm xưa đến một hòn đá kê cột cũng chẳng tìm nổi, sau mấy bận dòng nước càn quét qua, đá lớn bằng cái đầu, bằng cái chậu, bằng con dê chỗ nào cũng có, bờ thửa nào cũng có, đường đi nào cũng có; ở những nơi thổ nhưỡng xói mòn nghiêm trọng, thậm chí còn xuất hiện nham thắc lởm chởm nặng tới mấy chục tấn nằm ngang ngửa. Khe ngòi chằng chịt, trước mắt xơ xác tiêu điều, non cùng nước cạn, tối tăm ảm đạm thê lương.
Từng có thời, nông dân nơi đây dựa vào mảnh đất được chia trong cuộc cải cách ruộng đất mà ngẩng cao đầu, nhà nhà dư lương thực, người người không lo đói. Nào ngờ họ giao đất cho công xã nhân dân trải qua mấy chục năm cuộc sống tập thể, đến khi trả lại cho họ, lại biến thành một bãi cát kiềm trồng lúa không sai quả, trồng cỏ cỏ không tươi. Nói theo lời của lão nông Viên Sinh Toàn chính là: “Đổ dầu vào cũng chẳng mọc nổi hoa màu nữa.” Thôn Thạch Môn năm 1958 vốn từng giành được tiếng tăm lẫy lừng nhờ nộp nhiều lương thực, sang đến năm sau đã bị đẩy vào ngưỡng cửa “đội thiếu lương thực” và trở thành cái cớ để lịch sử chế nhạo. Năng suất đơn vị lương thực từ bốn trăm cân tụt xuống ba trăm cân, hai trăm cân, hơn một trăm cân, cuối cùng trở thành chừng ba mươi cân; lương thực nộp cho nhà nước cũng từ hơn ba mươi vạn cân năm 1958 biến thành mấy vạn cân, hơn vạn cân, cho đến cuối cùng ngay cả nhiệm vụ bốn ngàn một trăm cân cũng năm này qua tháng nọ không hoàn thành nổi. Năm nào cũng đến huyện đến công xã (sau này là hương) đòi lương thực, đòi cứu tế, đã trở thành chuyện khiến cán bộ đau đầu nhất. Nhà nhà gánh nợ, người người thiếu tiền, rất nhiều nông dân không còn cách nào sinh sống, đành bỏ lại mảnh quê hương khó lòng dứt bỏ này để đi nơi xa nương nhờ người thân bạn bè; những người ở lại cũng đều khắp nơi dò hỏi tin tức, nghe ngóng bốn phương, sẵn sàng cao bay xa chạy bất cứ lúc nào.
Từng có thời, nước sông và nước đầm ở đây dùng không bao giờ hết, cho dù là ba tháng mùa đông nơi khác thiếu nước và hai tháng năm sáu “hạn thắt cổ”, nước đọng trong năm giếng nước vẫn đều ở mức trên hai mét, giải quyết nước sinh hoạt cho người và gia súc dư dả. Mà nay dòng sông đã biến mất, nước đầm đã cạn khô, ba trăm sáu mươi lăm ngày trong năm đều phải trông chờ vào nước giếng để sinh sống, thế nhưng năm giếng cổ ngày trước, đã có ba giếng trở thành giếng khô, hai giếng còn lại mỗi đêm chỉ có thể rỉ ra mười mấy gánh nước; nhà nhà tranh nước, hộ nhà xếp hàng, đôi khi gặp dịp lễ tết, múc nước không lên, có người dứt khoát thả con xuống giếng dùng gáo để múc nước. Vì chuyện này, nhà nước từng đầu tư bốn vạn tệ lắp đặt đường ống, mưu sự dẫn nước suối núi về, nhưng do nguồn nước không đủ v.v., đường ống dài hai cây số còn chưa đưa vào sử dụng đã phải bỏ phế. Sau đó, nhà nước lại đầu tư hai mươi chín vạn tệ, dẫn nước từ cách sáu cây số để giải quyết khó khăn về nước uống cho các thôn Thạch Môn v.v., nhưng cũng chỉ có thể xoa dịu cơn khát hạn, vẫn hoàn toàn không thể thỏa mãn nước uống cho người và gia súc, chứ đừng nói đến chuyện tưới tiêu cho ruộng đất nông nghiệp. Tiêu tiền là tiền của nhà nước, làm việc là việc của nhân dân, đương nhiên là chuyện không có gì phải bàn cãi. Thế nhưng số tiền này vốn dĩ là không cần phải tiêu mà.
Đâu mất rồi, những con chim cuốc khiến người ta hoài niệm? Từng có thời, chỉ cần ngươi cất tiếng hót líu lo, sương giá rét mướt liền không dám sà xuống lăng nhục hoa màu. Mà nay, tiếng hót của ngươi đã biến mất, sương thu liền đến sớm, sương xuân lại nấn ná chẳng chịu đi. Cả các ngươi nữa, những người bạn của chim cuốc — chim phượng hoàng ngực đỏ, chim cánh xanh thích mổ đất, chim đầu đen vằn trắng ven tường, chiền chiện tiếng hót như còi, chim phỉ thuỷ lưng xanh ngực trắng, lại còn sơn ca đồng cỏ, nhạn cát, cu gáy, gà đá, bồ câu rừng, dã cưu, các ngươi đều đi đâu cả rồi? Là một đi không trở lại sao? Lẽ nào thực sự một đi không trở lại rồi ư? Về đi thôi, về đi thôi…
Đàn đứt tiếng khàn, nào ai thấu nỗi bi thương của Thạch Môn?
Núi tái nhợt, đất tái nhợt, người tái nhợt; sinh thái mất đi sự cân bằng, cuộc sống mất đi sự cân bằng, ngay cả lòng người cũng mất đi sự cân bằng.
Vẫn bắt đầu từ bà chủ nhà của chúng tôi đi, cô ấy là hộ trung bình khá trong thôn, có tính đại diện nhất định. Sở dĩ cán bộ thôn bố trí chúng tôi ở nhà cô ấy, chỉ vì người đàn ông của cô ấy đi nơi khác kiếm tiền “trả nợ”, trong nhà có thể dọn ra một chiếc kang đất trải thảm nỉ cùng một tấm ga trải giường cũ một nửa, hai chiếc chăn bông sạch sẽ mới tám phần. Thế nhưng chúng tôi lập tức biết được rằng, chiếc chăn bông, ga trải giường và thảm nỉ đó toàn là những món đồ cũ mà người mẹ vừa mới qua đời không lâu ở hương Kim Thán, huyện Hải Yến lân cận vì thương xót cô ấy, đã giấu giếm các chị em khác lén lút mang tặng cho cô ấy. Cậu con trai lớn của cô ấy tên là Lưu Văn Trân, đã mười bảy tuổi rồi, năm năm tuổi mắt trái bị bệnh, vì không có “tiền nhàn rỗi”, cho đến nay chưa từng được chữa trị lấy một lần, suýt chút nữa đã thành bán manh. Thế nhưng cậu bé vô cùng hiểu chuyện, ngày ngày gánh nước, vác phân, lót chuồng trại, chưa từng hỏi mẹ khi nào mới đưa mình đi chữa bệnh. Đôi khi rảnh rỗi, cậu sẽ chằm chằm nhìn vào bức ảnh Chủ tịch Mao ở chính giữa nhà chính, đăm đăm nhìn hồi lâu, cho đến khi Chủ tịch Mao cuối cùng mờ đi, mờ mịt đi, cậu mới quay người rời đi, ngẩn ngơ đứng ngây ra suy nghĩ vẩn vơ. Cô con gái thứ hai của cô ấy vừa mới đính hôn mới mười ngày, thế nhưng sính lễ “tiền sính” một trăm năm mươi đồng đã sớm vì trả nợ mà không còn một xu dính túi, bộ quần áo ngoài chuẩn bị mặc lúc kết hôn cũng đã mặc trên người cô ấy không thay ra nổi, bởi vì bộ quần áo cũ của cô ấy đã được cắt sửa thành quần áo mùa đông cho em gái rồi.
Còn nhớ vị Lưu Tiến Tài từng vừa kéo bản hồ vừa gảy tam huyền ấy chứ? Ông chính là chồng của bà chủ nhà, người đàn ông đi nơi xa kiếm tiền ấy. Chúng tôi nhìn thấy, cây đàn tam huyền vốn dĩ đã cũ kỹ ấy vẫn treo ở nơi từng treo năm nào, dây tơ chùng xuống, mặc cho mạng nhện bám bụi phong kín, uổng công làm vật trang trí che khuất lỗ hổng trên tường trong phòng, khiến người ta chạnh lòng thương cảm. Mà cây đàn bản hồ từng mang lại niềm vui sống cho ông ấy ngày nào, lại được dùng làm khoản bồi thường cho một cặp kính trị giá không nổi mấy đồng — ngày hôm đó gió lốc nổi lớn, suýt chút nữa thổi bay cả mặt trời bên chân trời, ông ấy mượn một cặp kính để chắn gió, không cẩn thận bị gió thổi rớt xuống đất làm vỡ gọng kính. Trong những năm tháng “một đồng tiền lớn, làm khó hảo hán” ấy, vị nam tử hán cao bảy thước từng bỏ ra sáu mươi đồng mua nhạc cụ này, biết đi đâu tìm mấy đồng tiền ấy đây?
Mầm độc khó sống, lửa cô đơn khó bén. Cảnh ngộ nhà bà chủ nhà quả thực bi thảm, thế nhưng những người đàn ông độc thân từ ba mươi tuổi trở lên xếp thành hàng thành dãy ở thôn Thạch Môn, có ai là không sống trong nỗi bi thương chồng chất bi thương. Họ đều là những tay sai cừ khôi trong nhà nông, thế nhưng lại chẳng tài nào tìm được đối tượng. Viên Minh Thiên Hạ Đệ Sư, bố anh ta liên tục mười bốn năm nhờ người mai mối hỏi vợ cho anh ta, cô gái này nối tiếp cô gái khác hết người này đến người khác, cuối cùng vẫn là kẻ độc thân “ra cửa một ổ khóa, vào cửa một đốm lửa”. Lần đó bố anh ta đi Kim Thán, bố mẹ nhà gái đã đồng ý, nói, vậy thì hãy xem qua tướng mạo của tiểu tử trước đã, chỉ cần không có tật bệnh gì là có thể định đứt. Lão nông mừng rỡ khôn nguôi, nào ngờ người ta thăm dò được tình hình của thôn Thạch Môn liền lập tức nuốt lời, lúc tiểu tử đến xem mặt thậm chí còn không cho bước chân vào cửa. Không cưới được vợ, đành phải bỏ lại cha mẹ già của mình, đi đến ngoài hương ngoài huyện làm “con rể ở rể”, những nam thanh niên như vậy chỉ tính riêng chúng tôi biết được đã có mười bảy người. Còn về các cô gái thôn Thạch Môn, đại đa số đều dưới nguyên tắc “chỉ cần địa phương tốt, tiền sính có thể ít” mà chảy máu chất xám ra ngoài; trong đó có tám cô gái làm “vật trao đổi” trong “cuộc hôn nhân đổi cửa”, đổi về vợ cho anh trai hoặc em trai mình. Cuộc hôn nhân thiếu vắng tình yêu này đương nhiên không phải là nguyện vọng của các tiểu tử và cô gái, họ há lại không có sự khát khao và mơ ước về tình yêu ư? Thế nhưng trước sự nghèo đói khắc nghiệt, tình yêu của họ chỉ có thể tìm kiếm sự bù đắp trong những năm tháng đằng đẵng sau hôn nhân, mà còn chẳng biết có tìm được hay không nữa. Thảo nào thanh niên thôn Thạch Môn không còn giống như trước kia gặp trưởng bối xuống ngựa gặp người già đứng dậy nữa, bởi vì họ cho rằng, thế hệ cha chú vốn dĩ chẳng hề để lại cho họ thứ gì đáng để trân trọng cả. Thế hệ cha chú cảm thấy oan ức: Cảnh tượng hoang tàn của thôn Thạch Môn sao có thể đổ tội lên đầu họ chứ? Thế nhưng họ lại không nói nên lời hoặc không dám nói rốt cuộc nên đổ tội lên đầu ai, đành phải như kẻ chịu tội thay mà bày tỏ sự áy náy rõ hoặc không rõ trước mặt các thế hệ con cháu.
“Cành tàn cành tàn, sao chẳng về nhà?” Có người đàn ông của một hộ nông dân vì những khoản nợ tư của dì, của cậu và tiền điện thiếu nợ, tiền học thiếu nợ v.v. bức bách phải đi nơi khác bán sức lao động, lần đầu tiên gửi tiền trả nợ về, người chủ nhà đang mắc bệnh lao phổi và bệnh tim xoay xở gom góp mười lăm đồng, không đi bệnh viện chữa bệnh cho mình, cũng không nỡ mua cho con một cây bút chì và cục tẩy dư dả, lại dùng cái giá cao ngất ngưởng một đồng rưỡi mua mười con gà con ấp điện, tính toán sau này làm thế nào để trở thành hộ trọng điểm chăn nuôi gà. Tâm ý hướng về cuộc sống tương lai được chuẩn bị chu đáo nhường này nghe chừng khiến người ta chua xót, thế nhưng từ sự tính toán của cô ấy, chúng tôi vẫn nhìn thấy một ý chí sinh tồn quật cường thuộc về con người vẫn đang âm ỉ cháy trong trái tim của những con người khốn khổ cho đến chết không nguôi. Mẹ của Mã Sinh Anh ở ngoại hương bị ốm, cô ấy đến bệnh viện thăm hỏi, nhìn thấy trên tủ đầu giường chiếc lọ đựng đồ hộp do người khác tặng có một nhãn hiệu rất đẹp, cô ấy sợ người khác cướp mất liền vội vàng nhẹ nhàng xé lấy, nhét vào trong ngực áo. Cô ấy mang nó về nhà mình, dán lên chỗ dễ thấy nhất trên vách tường kang, dùng những quả cam vàng óng ánh trong tranh ấy để điểm tô cho cuộc sống xám xịt của gia đình mình.
Ở thôn Thạch Môn, chúng tôi còn nhìn thấy, trên tủ đựng bột mì, trên bàn đơn của nhà nhà đều xếp ngay ngắn một hàng dài những chiếc chai thủy tinh nhặt được, họ ngày ngày phủi bụi, năm năm cọ rửa, cố gắng giữ cho nhãn hiệu còn nguyên vẹn; trong những ngôi nhà thấp và tối, những chiếc chai thủy tinh ấy tạo thành một vòng cung rực rỡ muôn màu muôn vẻ, nhấp nháy trong ánh ban ngày không rõ và trong đêm tối còn mờ mịt hơn. Ngoài chai thủy tinh ra, trên tường của rất nhiều nhà đều ít nhiều dán những bài tập vẽ của học sinh tiểu học, chẳng biết là ý của phụ huynh hay sự bố trí của thầy cô, những bài tập vẽ này đều vẽ hoa cỏ cây xanh, núi xanh nước biếc, dường như đang thê thảm nói cho mọi người biết rằng: Những thứ thực sự đã mất đi rồi, chúng ta chỉ có thể vẽ một vài thứ giả để an ủi bản thân mà thôi. Cả những bồn hoa được vây quanh bằng đá giữa sân viện, những chiếc đệm ngồi được chắp vá bằng đủ màu vải vụn, những bức tranh dán vĩ nhân tuy đã cũ nhưng có thể che khuất vết bẩn trên bức tường chính của gian nhà chính, những họa tiết đủ kiểu được cắt gấp bằng giấy bạc vỏ thuốc lá của các cô gái dán trên cửa sổ, đều nói cho chúng tôi biết một sự thật rằng: Ở thôn Thạch Môn, phong cảnh tự nhiên tươi đẹp tuy đã vĩnh viễn vĩnh viễn trôi đi mất, thế nhưng niềm khát khao cái đẹp, sự chờ mong cuộc sống của con người vẫn chưa hề mai mọt. Niềm khát khao cái đẹp không chịu mai mọt đương nhiên cũng chính là niềm khát khao đối với lương tri của nhân loại, tuy chỉ có một chút xíu đáng thương cỏn con không đáng kể, nhưng chúng ta vẫn có lý do để coi nó là ngọn lửa của tâm hồn. Đến bao giờ, ngọn lửa của lương tri mới có thể đốt lên nhiệt huyết lớn lao nhất đối với môi trường sinh sống, thảm thực vật tự nhiên đây? Lẽ nào chỉ đành đợi đến khi sự phá hoại đã xảy ra tự nhiên hoàn toàn tàn lụi sinh thái hoàn toàn mất cân bằng rồi mới tính sao?
Lúc từ biệt thôn Thạch Môn, mùa thu đang phai dần khỏi sườn đồi trụi lủi, bãi hoang cằn cỗi, khoảnh sân không lúa mì, lại một mùa đông dài đằng đẵng khó khăn nữa sắp đến rồi. Chúng tôi lặng lẽ xuyên qua cánh đồng không một sắc xanh dòng sông không một giọt nước, chỉ có thể trầm ngâm nói một câu trong lòng: Hỡi con người, hãy ghi nhớ nỗi bi thương của những con người Thạch Môn này đi, bởi vì ngày hôm nay của thôn Thạch Môn cũng chính là ngày hôm nay của rất nhiều nơi, hoặc ngày mai.
Chúng ta có lẽ vẫn còn cứu được, môi trường sinh sống có lẽ vẫn còn cứu được.