1 Mọi thứ đều bắt nguồn từ sự hoài niệm
Mọi thứ đều bắt nguồn từ sự hoài niệm — đối với người cha, và cũng đối với loài chó Tạng Ngao.
Năm tôi bảy tuổi, cha từ thảo nguyên Ngọc Thụ thuộc Tam Giang Nguyên mang về cho tôi và anh trai một con chó Tạng Ngao con, bảo với chúng tôi rằng: "Tạng Ngao là bảo vật của người Tạng, việc gì cũng làm được, các con hãy nuôi nó lớn lên nhé."
Đáng tiếc là con Tạng Ngao con này rất lạnh lùng với hai anh em chúng tôi, mặc dù ngày nào hai anh em cũng cho nó ăn, nhưng nó chưa bao giờ chủ động đến gần chúng tôi, càng không có chuyện nịnh nọt vẫy đuôi về phía chúng tôi. Chúng tôi không thích nó, nửa tháng sau bèn dùng nó đổi lấy một con chó Bắc Kinh. Cha biết chuyện rất giận, nhưng cũng không bắt chúng tôi đổi lại. Hai hôm sau, con Tạng Ngao con liền tự chạy về. Cha rất vui, dạy chúng tôi rằng: "Ta sớm biết nó sẽ chạy về mà. Đây gọi là lòng trung thành, các con biết không?"
Nhưng chúng tôi vẫn không thích Tạng Ngao con, chẳng những không thèm đùa giỡn với nó, đến việc cho ăn cũng bữa đực bữa cái. Cha nói: "Các con trông hình như không phải con của ta, vậy mà lại không thích Tạng Ngao con, thế thì ta đành mang nó trở lại thảo nguyên vậy, nó ở đây cũng không quen, nhớ nhà đến mức mất cả tinh thần rồi." Cha trở lại thảo nguyên, đó là nơi làm việc của ông. Tạng Ngao con rời xa chúng tôi, chớp mắt đã mười bốn năm.
Mười bốn năm ấy, tôi đi bộ đội, xuất ngũ, học đại học, rồi trở thành phóng viên của tờ "Thanh Hải Nhật Báo". Lần đầu tiên xuống vùng mục đồng phỏng vấn, người cha đã từ Tam Giang Nguyên trở về Tây Ninh dặn rằng: "Đi mục khu phỏng vấn, thứ nhất phải vượt qua ải sinh hoạt, tức là phải ăn quen món tay cầm, tsamba, bánh sữa của người du mục; thứ hai phải vượt qua ải đi lại, tức là phải học cưỡi ngựa, nếu không con sẽ bước đi khó khăn; thứ ba phải vượt qua ải Tạng Ngao, con phải thích Tạng Ngao, đồng thời cũng phải khiến Tạng Ngao thích con, nếu không người du mục sẽ không tin tưởng con đâu. Ta khuyên con nên tìm Đán Chính Gia, bảo chú ấy dạy cho con." Tôi quen chú Đán Chính Gia, chú ấy là chủ nhà cho thuê trọ của cha, cha từng dẫn chú ấy đến nhà chúng tôi.
Tôi đã đi. Xuống xe, vừa đi vừa dò hỏi hướng về phía nhà pháo đài của chú Đán Chính Gia, từ xa đã nhìn thấy một con Tạng Ngao đen to lớn đang chạy về phía tôi, bốn móng đạp xuống mặt đất, tạo ra tiếng trống vang trời dậy đất. Phía sau con Hắc Ngao là sợi xích sắt dày nặng kéo lê lột thước, một đầu xích nối với một cái cọc gỗ, cọc gỗ tung lên rồi lại ném xuống đánh thình thịch. Từ trong nhà pháo đài chạy ra một người đàn ông lớn tuổi và một người phụ nữ lớn tuổi, nhìn thấy cảnh tượng trước mắt liền lớn tiếng hét lên: "Cừu Cách, Cừu Cách."
Con Hắc Ngao dường như không nghe thấy, càng hung h맹 hơn lao về phía tôi, càng lúc càng đến gần, chỉ còn cách chừng mười bước chân. Người đàn ông và người phụ nữ đuổi theo, nhưng họ cách con Hắc Ngao tới ba mươi bước chân, hoàn toàn không thể ngăn cản nó. Thấy tôi sắp bị nó vồ ngã xuống đất, người phụ nữ lớn tuổi thét lên một tiếng, mông đập bệt xuống đất, hai tay che kín mặt như không dám nhìn. Người đàn ông lớn tuổi quịch một tiếng quỳ xuống, hướng lên bầu trời gọi lớn: "Phật gia ơi Phật gia, Cừu Cách sắp cắn chết người rồi, mau bảo nó đừng, đừng..."
Tôi sợ đến mức không biết phải làm sao, cứ cứng đờ đứng đó, đến việc run lẩy bẩy cũng quên mất. Thế nhưng không ai ngờ rằng, chỉ cách tôi có hai bước chân, con Hắc Ngao bỗng nhiên dừng lại, mông ngồi phịch xuống, bất động nhìn tôi. Người đàn ông chạy tới, giật phắt lấy sợi xích sắt, lại bổ nhào xuống đất ôm chặt lấy cái đầu ngao to lớn. Tôi thở phào nhẹ nhõm, gọi một tiếng: "Chú Đán Chính Gia." Đán Chính Gia nhìn kỹ tôi, bỗng bừng tỉnh buông cái đầu ngao đang ôm chặt ra nói: "Hóa ra là cháu à, thảo nào Cừu Cách không cắn cháu."
Trên đường đi về nhà, Đán Chính Gia nói: "Cừu Cách nhận ra cháu đấy. Cháu chắc quên rồi nhỉ, nó từng đến nhà các cháu." Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu mới nói: "Nó chính là con Tạng Ngao nhỏ đó ạ? Đã mười bốn năm rồi, nó mà vẫn nhận ra cháu á?" Đán Chính Gia bảo: "Trí nhớ của nó tốt hơn con người, mười bốn năm thì thấm tháp gì? Chỉ cần nó chưa chết, thì sẽ nhận ra cháu. Cháu xem nó đã dùng sức nhiều thế nào, đến cái cọc gỗ đóng chặt xuống đất cũng nhổ lên được. Nếu nó không nhận ra cháu, đã chẳng dùng sức đến thế."
Tôi ở nhà chú Đán Chính Gia nửa tháng, học được cách cưỡi ngựa, nấu trà sữa, trộn tsamba, lại còn để con trai của Đán Chính Gia là Cường Ba dẫn tôi đi đây đi đó khắp nơi. Dĩ nhiên trong khoảng thời gian này, người tôi quan tâm nhất vẫn là con Hắc Ngao Cừu Cách. Nó là một con chó mà bạn chỉ cho ăn có một tháng nhưng mười bốn năm sau vẫn có thể nhận ra bạn, vẫn có thể coi bạn là người thân; là một con chó mà bạn làm chủ của nó chỉ một ngày, nó cũng sẽ ghi tược trong lòng cả đời. Chỉ riêng điểm này thôi cũng đủ để tôi kính trọng nó, đủ để tôi tự kiểm điểm lại chính mình: Chúng ta, loài người, có phải có quá nhiều kẻ "đứng núi này trông núi nọ", kẻ "hôm nay thế này mai thế khác", kẻ "lật lọng bất thường", kẻ "vừa giàu sang là đổi mặt", kẻ "trở mặt không nhận người quen"? Tôi lờ mờ nhớ lại dáng vẻ của Hắc Ngao Cừu Cách khi còn nhỏ: Trong nhà chúng tôi, sau khi hai anh em chúng tôi dùng một con chó Bắc Kinh để đổi nó lấy người khác, sau khi chúng tôi không thích nó, không thèm để ý đến nó, ngay cả việc cho ăn cũng bữa đực bữa cái, nó đã tủi thân biết nhường nào.
Cừu Cách — kẻ đã khơi gợi cho tôi tình yêu đối với loài Tạng Ngao, Cừu Cách oai phong lẫm liệt như sư tử đen, chẳng mấy chốc đã già và chết đi. Không lâu sau khi nó chết, tôi trở thành phóng viên thường trú tại Tam Giang Nguyên, trụ lại liền sáu năm. Sáu năm nay, cha và một con Tạng Ngao được ông mang từ Ngọc Thụ đi sống ở thành phố, còn tôi thì sống trên thảo nguyên cùng rất nhiều con Tạng Ngao trước đây chưa từng gặp mặt nhưng vừa nhìn đã vô cùng thân thiết với tôi — sau này tôi mới biết, đó là vì chúng là những con Tạng Ngao quen thuộc với cha, còn trên người tôi mang theo một cách kỳ diệu mùi hương của cha và một số thông tin khác.
Cha đã sống trên thảo nguyên tính ra gần hai mươi năm, từng làm phóng viên, mở trường học, làm văn học, cũng từng làm lãnh đạo. Trên thảo nguyên lưu truyền rất nhiều câu chuyện giữa ông và Tạng Ngao, giống như những gì tôi miêu tả trong tiểu thuyết, vừa huyền thoại lại vừa mê hoặc. Có thể nói cha là người Hán đầu tiên có hứng thú nồng nàn với Tạng Ngao, bất kể ông làm gì, ông luôn nuôi mấy con Tạng Ngao ở nơi ở của mình. Những con Tạng Ngao cha nuôi đều là chó mẹ có phẩm mạo ưu lương, chó mẹ cứ hết lứa này đến lứa khác sinh con, ông liên tục đem những chú chó con tặng cho những ai cần chúng và thích chúng. Cho nên những con Tạng Ngao quen biết ông, những con Tạng Ngao có quan hệ nuôi dưỡng với ông, có mặt khắp thảo nguyên Ngọc Thụ, thảo nguyên Nang Khiêm, thảo nguyên Khúc Ma Lai, thảo nguyên Tạp Đa của vùng Tam Giang Nguyên. Có một cán bộ người Tạng từng nói với tôi rằng, trong thời kỳ "Cách mạng Văn hóa", phe của họ từng muốn lôi kéo đấu tố cha, bàn bạc suốt bốn đêm mà không dám ra tay, chính là vì sợ Tạng Ngao của cha trả thù họ. Người đó nói: "Trên thảo nguyên đi đến đâu cũng gặp Tạng Ngao do cha anh nuôi, đề phòng thế nào cho xuể." Tôi thấy may mắn thay cho cha, cũng thấy may mắn thay cho chính mình, bởi vì chính những con Tạng Ngao có linh tính và oai phong này đã giúp tôi tìm ra cha, và cũng tìm ra chính mình — tôi có di truyền từ cha, thực ra tôi cũng giống y như cha vậy.
Đúng vậy, trong sáu năm thường trú tại Tam Giang Nguyên, dòng máu di truyền từ cha vẫn luôn phát huy tác dụng, khiến tôi không kìm được mà giống như ông, hòa nhập hoàn toàn bản thân vào thảo nguyên, hoàn toàn sống như một người du mục thực thụ. Tôi rất ít khi ở lại trấn Kết Củ — nơi đặt trụ sở của châu ủy, mà lao đầu vào vùng Tạp Đa, Khúc Ma Lai và vùng Nang Khiêm của người Khampas — những nơi vốn còn xa xôi hẻo lánh hơn đối với thị trấn. Có lúc tôi ở nhà chủ trọ từng ở của cha, có lúc ở trong lều của người du mục, có lúc ở trong tăng xá của tu viện, bởi vì ở những nơi này, ngày nào tôi cũng sẽ nhìn thấy loài Tạng Ngao ngày một thưa thớt, và đóng vai một người bạn trong cuộc sống của chúng. Tôi mặc áo choàng Tạng, cưỡi ngựa lớn, tham gia tất cả các hoạt động sản xuất chăn nuôi, tất cả các hoạt động lễ hội và tất cả các hoạt động Phật sự, hòa mình vào với người du mục, uống rượu, ăn thịt, chăn gia súc, cho chó ăn, bàn chuyện tào lao gia đình nhà người ta, giúp họ giải quyết mâu thuẫn mẹ chồng nàng dâu, xích mích hàng xóm. Phóng viên lúc bấy giờ, đặc biệt là những phóng viên sống ở vùng mục địa hẻo lánh như tôi, nhiệm vụ công việc rất nhẹ nhàng, một hai tháng viết một bài báo đã được coi là kính nghiệp rồi, tôi có thừa thời gian để quên mình đắm chìm trong mọi việc tôi muốn làm. Thường thì thế này: cưỡi ngựa, dắt theo Tạng Ngao của chủ nhà hoặc của tu viện, đi đến thảo nguyên xa xôi tận đẩu tận đâu, say mèm trong lều của người du mục. Lý tưởng của tôi lúc bấy giờ là: cưới một cô gái Tạng, giống như cha nuôi một bầy Tạng Ngao, mùa đông ăn thịt trong chuồng ấm mùa đông, mùa hạ chăn thả ở bãi mùa hạ, thỉnh thoảng lại dắt Tạng Ngao vào rừng sâu núi tuyết săn bắn, mạo hiểm gì đó. Tôi hình như vẫn luôn nỗ lực vì lý tưởng của mình, suýt thì quên mất bản thân mình là một phóng viên thường trú.
Có một lần ở Khúc Ma Lai uống quá chén rượu lúa mạch, say khướt lả, nửa đêm dậy đi vệ sinh, gió lạnh thổi qua, liền nôn thốc nôn tháo. Con Tạng Ngao canh gác chạy theo, không nói hai lời, liền liếm sạch sành sanh những thứ tôi nôn ra. Kết quả là nó cũng say luôn, toàn thân mềm nhũn ngã gục bên cạnh tôi. Tôi và nó ôm chầm lấy nhau chìm vào giấc ngủ say trên bãi cỏ cạnh lều. Sáng hôm sau tôi mơ màng tỉnh dậy, sờ vào con Tạng Ngao rồi ngẫm nghĩ: Ai ở cạnh mình thế này, có phải là Đới Cát Đông Châu — chủ nhà này không? Sao trên người anh ta lại mọc lông thế này?
Chuyện này đã trở thành trò cười của tôi, được lan truyền rộng rãi trên thảo nguyên. Các cô gái nhìn thấy tôi là khúc khích cười, lũ trẻ nhìn thấy tôi thì hét lên: "Mọc lông rồi, mọc lông rồi." Khi giới thiệu tôi, họ không còn nói tôi là phóng viên nữa, mà bảo rằng: "Đây chính là cái người cùng say với Tạng Ngao rồi bảo Đới Cát Đông Châu mọc lông ấy." Người du mục mời tôi đến nhà họ làm khách, luôn miệng nói: "Đi nào, đi làm một chén với Tạng Ngao nhà tôi."
Tôi lúc bấy giờ hễ ai mời là đi. Có một năm nọ vào mùa hè, tôi đến nhà Ga Nhượng — một người mục dân ở hương Kết Long làm khách, chỉ ở lại có một tuần ngắn ngủi, thế mà con Hắc Ngao lớn nhà anh ta đã nảy sinh tình cảm sâu sắc với tôi, tình cảm sâu đến mức nếu một ngày không nhìn thấy mặt tôi, nó sẽ đi khắp thảo nguyên để tìm kiếm. Tôi đoán chừng, đó chắc chắn là một con Tạng Ngao từng được cha nuôi, và đã nhận thức được mối quan hệ giữa tôi với cha, nếu không thì đã chẳng quyến luyến tôi đến vậy. Mấy năm sau tôi muốn rời khỏi thảo nguyên, vừa hay xuất phát từ hương Kết Long. Con Hắc Ngao lớn nhìn thấy tôi thu dọn hành lý bước lên ô tô, biết đây là một cuộc chia tay lâu dài, liền lao vào cắn xé ô tô, răng cắn đến cả rớm máu. Trong nhận thức của nó, tôi là bất đắc dĩ mới phải rời xa nó, mà kẻ ép buộc tôi phải rời đi, chính là chiếc xe ô tô chết tiệt đã nhét tôi vào trong đó. Sau này tôi nghe người ta kể lại, sau khi tôi đi, con Hắc Ngao lớn suốt một tuần không ăn một hạt cơm không uống một ngụm nước, nằm bẹp trên đất như chết rồi, dường như toàn bộ tinh khí thần bao gồm cả ý niệm muốn sống tiếp đều đã bị tôi mang đi mất. Chủ nhân không còn cách nào khác, bèn giết một con cừu, lại giật lấy ít lông sói từ trên bộ da sói, dính lên con cừu chết rồi ném trước mặt nó, mắng mỏ giận dữ rằng: "Mày canh giữ đàn cừu kiểu gì thế? Cừu bị sói cắn chết mà mày chẳng thèm quản, thế thì tao nuôi mày để làm gì? Mày nhìn xem, nhìn xem, thấy lông sói chưa? Sói đâu rồi? Sao còn không mau đi tìm đi." Con Hắc Ngao lớn chịu kích thích mạnh mẽ, trên thảo nguyên sói đã vô cùng ít ỏi, nó đã cả năm trời không cắn sói rồi, không ngờ đúng vào lúc nó vì tổn thương tình cảm mà suy sụp ý chí thì sói lại nhân cơ hội đột nhập. Nó lập tức lảo đảo đứng dậy, ăn một chút, uống một chút, lên đường canh giữ đàn cừu đàn bò theo thiên chức vốn có của một con Tạng Ngao.
Đáng tiếc là, sau này tôi có quay lại hương Kết Long nhiều lần, nhưng không bao giờ còn gặp lại người mục dân Ga Nhượng và con Hắc Ngao lớn vẫn luôn sâu sắc vương vấn tôi nữa. Nghe nói họ đã chuyển đi nơi khác rồi, bởi vì thảo nguyên ở đây đã thoái hóa, bò cừu không còn đủ ăn nữa rồi.
2 Kết thúc đời sống thường trú
Rất không may là tôi đã kết thúc quãng đời thường trú ở Tam Giang Nguyên, trở về cái thành phố mà tôi chẳng mấy ưa thích. Trong những ngày tháng nhung nhớ thảo nguyên nhung nhớ Tạng Ngao, hễ có cơ hội là tôi lại quay về. Núi tuyết, thảo nguyên, tuấn mã, mục dân, Tạng Ngao, trà sữa, đối với tôi đó chính là sáu bảo vật của vùng Tây Tạng, tôi sẽ dựa dẫm vào chúng về mặt tinh thần suốt cả cuộc đời, đặc biệt là loài Tạng Ngao. Tôi thường nghĩ, tôi thích Tạng Ngao là vì cha, thế tại sao cha lại thích Tạng Ngao? Tôi từng hỏi cha, ông ngẫm nghĩ rồi đáp: "Tạng Ngao tốt lắm, không giống loài sói." Lúc bấy giờ chưa có khái niệm "văn hóa sói", nhưng cha lại có tầm nhìn đi trước thời đại khi suy ngẫm về loài sói, bởi vì trong lúc cha say mê Tạng Ngao, ông đã vô tình theo thói quen tư duy của người thảo nguyên mà coi loài sói là mặt đối lập của Tạng Ngao.
Có một lần tôi nhắc đến một bài báo với cha, bài báo ấy ví Tạng Ngao như sự tiến hóa của loài sói. Cha nghe xong vô cùng tức giận, suýt thì đập bàn đứng dậy. Ông nói: "Theo nó nói thế thì sói thành tổ tiên của Tạng Ngao rồi à, nhảm nhí, sói sao có thể so sánh với Tạng Ngao chứ? Ta sống trên thảo nguyên mấy chục năm, ta hiểu rõ loài sói." Thế là ông bắt đầu so sánh, bắt đầu đúc kết. Ông bảo, sói là loại bắt nạt kẻ yếu sợ kẻ mạnh, thấy kẻ yếu thì lao vào, thấy kẻ mạnh thì lùi bước, thường không xảy ra giao chiến với đối thủ có thực lực tương đương hoặc vượt trội hơn mình, còn Tạng Ngao thì khác, để bảo vệ chủ nhân và gia đình, đối thủ có cứng rắn đến đâu cũng dám liều mạng, dẫu có phải hy sinh bản thân. Sói cả đời tổn thương người khác, bất kể lý do tổn thương của nó có đường hoàng đến đâu, còn Tạng Ngao cả đời giúp đỡ người khác, mặc dù sự giúp đỡ của nó đôi khi mang tính hèn m hạ và tủi nhục. Cách làm nhất quán của sói là bảo toàn tính mạng, thấy chết không cứu, cách làm nhất quán của Tạng Ngao là thấy việc nghĩa hăng hái làm, xả thân cứu giúp. Sói là kẻ ích kỷ vụ lợi, Tạng Ngao là người đại công vô tư. Sói là tên trộm gian xảo, Tạng Ngao là công bộc quang minh chính đại. Sói từ đầu đến cuối chiến đấu vì bản thân mình, nhiều lắm là lo cho con cái, Tạng Ngao từ đầu đến cuối chiến đấu vì người khác — bạn bè, chủ nhân, hoặc tài sản của chủ nhân. Sói coi ăn uống là trời, cả đời chỉ sống vì thức ăn, Tạng Ngao coi đạo nghĩa là trời, cuộc chiến của chúng từ lâu đã vượt qua nhu cầu ăn uống tầm thường mà chỉ thể hiện sức mạnh ở tầng diện tinh thần — vì lòng trung thành, vì nghĩa khí và trách nhiệm thiêng liêng. Mục đích sinh tồn trước tiên của sói là bảo vệ bản thân, mục đích sinh tồn trước tiên của Tạng Ngao là bảo vệ người khác. Sự tồn tại của sói là sự tồn tại của mầm mống tranh chấp, khiến người ta sợ hãi, sự tồn tại của Tạng Ngao là sự tồn tại của hòa bình và yên bình, khiến người ta yên tâm. Sói hở ra là trở mặt, là phản bội tập thể và đồng bọn, cái gọi là "sói mặt trắng" chính là chỉ điều này, Tạng Ngao thì không, nó trọn đời đối xử đôn hậu với tất cả những ai từng đối xử thiện ý với mình.
Suy ngẫm của cha vẫn tiếp tục kéo dài, sau này ông lại nói với tôi rằng, ta hiểu rõ thảo nguyên lắm, người du mục trên thảo nguyên căm ghét nhất là loài sói, sói là loài vô đạo đức nhất, là kẻ thù của con người. Điều họ yêu quý nhất chính là Tạng Ngao, Tạng Ngao có đạo đức, là bạn đồng hành của con người. Cứ nói chuyện ăn uống đi, để tranh giành một miếng thịt, kẻ mạnh trong bầy sói sẽ không chút khách khí mà cắn bị thương kẻ yếu. Nếu khi tấn công mục tiêu, đối phương cắn chết đồng loại của chúng, điều chúng tranh nhau làm không phải là xông lên báo thù, mà là ăn thịt đồng loại, nhanh chóng lấp đầy cái bụng của mình, mặc dù việc ăn thịt thành công rồi, nhưng tiêu chuẩn đạo đức lại mất sạch sành sanh. Sói là loài động vật bầy đàn, đặc biệt là vào mùa đông, tuyết phủ kín núi, băng giá ngập trời, chúng sẽ kéo đàn kéo lũ đuổi theo cắn xé con mồi. Một khi con mồi đã sa lưới, kẻ được thỏa mãn đầu tiên là sói đầu đàn cùng vợ con của nó, tiếp theo là một số ít kẻ được sủng ái thân cận với sói đầu đàn, còn phần lớn những con sói mù quáng xông lên chém giết theo sói đầu đàn đôi khi đến chút máu thừa thịt vụn cũng chẳng nhận được. Trừ khi bầy sói giết được một con thú lớn, sói đầu đàn cùng vợ con và những kẻ sủng ái ăn không hết, mới chia cho những con sói khác một ít. Nói cách khác, tinh thần đồng đội của bầy sói vốn dĩ không phục vụ cho từng thành viên trong bầy, kết quả của hành động bầy đàn tuyệt đối không thể là ai ai cũng có lợi. Tạng Ngao thì khác, cách làm nhất quán của Tạng Ngao là: quên mình không sợ chết, hiên ngang lẫm liệt, nghĩ cho người trước nghĩ cho mình, chịu thương chịu khó. Vua ngao trong bầy ngao tuyệt đối không bao giờ chiếm đoạt thức ăn do kẻ khác vất vả kiếm được làm của riêng, nhiệm vụ đầu tiên của nó là bảo vệ mọi người, là dẫn dắt mọi người cùng sinh hoạt, cùng ăn thịt, cùng phục vụ cho loài người. Nói một cách tuyệt đối, trên thảo nguyên, ở chỗ những người mục dân, tiêu chuẩn của đạo đức chính là tiêu chuẩn của Tạng Ngao. Tình yêu sâu sắc của con người đối với Tạng Ngao thực ra chính là tình yêu đối với đạo đức. Ta vẫn giữ nguyên câu nói ấy, sự tương phản giữa sói và Tạng Ngao lớn như vậy, tuyệt đối không thể nào cùng chung gốc rễ. Con có thể thích sói, nhưng con tuyệt đối đừng gộp sói và Tạng Ngao làm một.
Từ những lời này của cha, tôi bỗng hiểu ra rằng, cha thích Tạng Ngao thực ra là thích cái tinh thần điềm đạm mạnh mẽ mà lại hào sảng nhân ái ấy, thích cái đức tính của Tạng Ngao mà ông đã đúc kết: chăn dắt tuấn mã bò cừu, tung hoành vạn dặm núi tuyết, xua đuổi chó sói hổ báo, gìn giữ giang sơn nhà cửa, nhạy bén phán đoán cát hung họa phúc, không chùn bước trước khó khăn gian khổ. Cha căm ghét sói, cũng là vì tinh thần loài sói mà ông nhìn thấy với mục tiêu "nuốt chửng" đối phương quá ư dã man tàn khốc. Ông vẫn luôn cho rằng, trong con người, tinh thần loài sói thì quá nhiều, mà tinh thần Tạng Ngao lại quá ít. Những cuộc vận động chính trị quá ư dồn dập trong cận đại Trung Quốc, đều là những lần bùng phát của "tinh thần sói", trong khi "tinh thần Tạng Ngao" trung thành ngay thẳng, thấy nghĩa dũng vi lại bị tổn thương hết lần này đến lần khác, bị bào mòn hết lần này đến lần khác trong những "cuộc vận động" liên tiếp không dứt. Cho nên khi đánh giá những kẻ thích trù dập người khác, kẻ tước đoạt quyền sinh tồn của người khác, kẻ đấu đá nội bộ, kẻ thâm độc quỷ quyệt, cha luôn nói: "Đó là một con sói." Mà trên một cuốn sổ tay nhỏ mang tên "Chuẩn mực đạo đức công dân", ông đã viết trang trọng mấy chữ "Tiêu chuẩn của Tạng Ngao". Cha dùng giọng điệu tổng kết lịch sử để nói với tôi rằng: "Chúng ta cần phải thong thả sống dưới sự đồng hành của Tạng Ngao, chứ không cần phải nơm nớp lo sợ trải qua ngày tháng trong một môi trường sói ngó hổ rình." Lời nói của ông khiến tôi nhớ lại cảnh tượng trong "Cách mạng Văn hóa" mà người khác vì sợ hãi Tạng Ngao của ông nên không dám lôi kéo đấu tố ông. Có lúc tôi nghĩ, may mắn là cha không bắt kịp cái thời đại phồn thịnh "văn hóa sói" của chúng ta hiện nay, nếu ông bắt kịp rồi, không biết sẽ có cảm tưởng thế nào.
Thực ra cảm tưởng của cha cũng không khó đoán, chắc chắn sẽ giống tôi, bởi vì tôi cũng không thích sói. Tôi cảm thấy phàm là những người thực sự thích Tạng Ngao, đều không thích sói. Hiện nay có người đề xướng học tập loài sói, còn nói tổ tiên chúng ta đều vì học được bản lĩnh của sói, mới có được chiến thắng và lãnh thổ của họ, điều này là phiến diện. Đã nói đến học tập, thì phải học tập tất cả các loài động vật, học sự dũng mãnh của hổ, học uy nghi của sư tử, học sự nhanh nhẹn của báo, học sức mạnh của bò, học lòng trung thành của chó, học khả năng sinh sản của cừu, tất nhiên cũng phải học một chút gì đó từ loài sói. Tổ tiên chúng ta bao gồm cả những dân tộc trên lưng ngựa, từng có sự sùng bái hổ, sùng bái sư tử, sùng bái báo, sùng bái ngựa, sùng bái bò, sùng bái cừu, sùng bái chó, sùng bái gấu, sùng bái đại bàng, sùng bái sếu, sùng bái voi, sùng bái lừa, sùng bái lạc đà, sùng bái chồn vàng v.v., tự nhiên cũng có sự sùng bái sói. Rất nhiều người không hiểu rõ tình hình, liền nói rằng tổ tiên chúng ta chỉ có sự sùng bái sói mà thôi. Thực ra chúng ta không cần thiết phải phóng đại vai trò và sức mạnh của "sùng bái sói", bởi vì cái thời đại "tính sói" chinh phục dã man với mục đích chiếm đoạt lãnh thổ, tranh giành thần dân, cướp đoạt tài sản ấy đã sớm qua đi rồi, những dân tộc từng sùng bái sói cũng đã sớm vứt bỏ cái sự sùng bái nguyên thủy thấp kém này từ lâu, hơn nữa là vì trong tinh thần của sói, ẩn chứa sự tàn khốc của cướp bóc và sự căng thẳng của sinh tồn, ẩn chứa hận thù và chiến tranh, bất công và ức hiếp, sự bành trướng ác tính của dục vọng cá nhân và sự phân hóa giàu nghèo, ẩn chứa sự phớt lờ hiện trạng sinh tồn của các nhóm yếu thế và sự nguy hiểm biến những điều phi lý thành hợp lý, ẩn chứa khuynh hướng tìm kiếm cái cớ cho việc mưu mô cướp đoạt, tổn công béo mình. Mặc dù có thể nói những hành vi bất hảo của sói bắt nguồn từ quy luật sinh tồn của nó, nhưng quy luật sinh tồn là đương nhiên tuyệt đối không thể thay đổi sự đánh giá đạo đức vốn cũng là đương nhiên của chúng ta, dẫu sao thì chúng ta cũng không phải là loài sói. Việc đề xướng tinh thần sói trong xã hội loài người, lại vừa hay cho thấy tiêu chuẩn đạo đức của chúng ta đang tụt giảm, tinh thần của chúng ta đang bị vật dục, tiền tài, quyền thế làm cho vấy bẩn. Một con người, một xã hội, điều nên hừng hực theo đuổi, vẫn nên là sự công bằng, đạo đức, hòa bình, hạnh phúc cũng như việc dùng sự vị tha và dũng cảm của "Tạng Ngao" để cứu vớt kẻ yếu, bình đẳng chia đều sự giàu có, tạo dựng sự hài hòa v.v., chứ không phải dùng sự ích kỷ và tham lam của "lòai sói" để khiến người nghèo càng thêm nghèo, người giàu càng thêm giàu. Một nhà doanh nghiệp, một thương nhân dĩ nhiên có thể coi "tinh thần sói" trong "sáp nhập", "thâu tóm", "mưu lợi" là biểu tượng của thành công, nhưng nếu đồng thời bạn lại là người thực hành "tinh thần Tạng Ngao", là một nhà từ thiện bảo vệ kẻ yếu kém, giúp đỡ người khác và cống hiến cho xã hội, thì đó không chỉ là thành công của doanh nghiệp, mà còn là thành công của nhân cách và hình tượng. Mà thành công của nhân cách và hình tượng, mới chính là một loại thành công ở cảnh giới cao.
Có một quan điểm thế tục thế này: Nếu bạn không làm một con sói, thì tất yếu sẽ là một con cừu bị sói ăn thịt. Khi tất cả mọi người đều không muốn làm cừu, thì sẽ luôn muốn biến bản thân thành sói. Điều tôi muốn nói là, trên thế giới này, những con người không muốn làm sói, chưa chắc đã là một con cừu bị ăn thịt bất cứ lúc nào; những con người không muốn làm cừu, cũng không nhất thiết phải làm một con sói ích kỷ hại người. Chúng ta vẫn còn con đường thứ ba để đi, đó chính là làm một con Tạng Ngao đường đường chính chính, nó có thể chế ngự sự hoành hành của loài sói, không để tính sói hoành hành ngang ngược, lại còn có thể bảo vệ những con cừu yếu đuối kia. Tóm lại, trên người Tạng Ngao có biết bao phẩm chất ưu tú mà xã hội loài người vô cùng cần đến lại vô cùng thiếu thốn, nó khiến chúng ta say đắm, khiến chúng ta cảm thấy dẫu sao thì chúng ta vẫn chưa đánh mất đi cột mốc của đạo đức và sức hút của nhân tính, dẫu sao thì loài người vẫn thừa nhận khí chất tinh thần bẩm sinh của Tạng Ngao để biến chúng thành bạn đồng hành vĩnh cửu của mình.
3 Chống đỡ cả cuộc đời của cha
Không sai, quả thực có một thứ "tinh thần Tạng Ngao" tồn tại một cách cực kỳ tốt đẹp, sự tồn tại ấy đã chống đỡ cả cuộc đời của cha, khiến ông trong những năm tháng tuổi già luôn chìm đắm trong sự hoài niệm thế này: Tạng Ngao quay trở lại cuộc sống của ông, hoặc ông quay trở lại cuộc sống của Tạng Ngao. Khi tôi biết được hoài niệm của cha chính là ý nghĩa sinh tồn của ông, tôi đồng thời cũng biết rằng, sẽ có một ngày tôi sẽ viết một cuốn sách về Tạng Ngao, nhân vật chính ở trong đó ngoài Tạng Ngao ra thì chính là "cha".
Tạng Ngao là giống chó cao nguyên tiến hóa từ loài chó săn cổ đại khổng lồ Himalaya cách đây hơn mười triệu năm, là hóa thạch sống cổ đại duy nhất trong thế giới loài chó chưa bị thời gian và môi trường làm thay đổi. Nó từng là mãnh thú tung hoành khắp chốn trên cao nguyên Thanh Tạng, cho đến hơn sáu nghìn năm trước, mới được con người thuần hóa, bắt đầu cuộc sống nương tựa lẫn nhau với con người. Là bạn của con người, Tạng Ngao nhận được rất nhiều danh hiệu xứng đáng, người xưa gọi nó là "Long cẩu", vua Càn Long gọi nó là "Cẩu trạng nguyên", người Tạng gọi nó là "Sengge" (sư tử), các nhà nghiên cứu Tạng Ngao gọi nó là "quốc bảo", là "Thần khuyển phương Đông", là "mãnh khuyển hiếm có trên thế giới", là "giống chó lớn hung dữ nhất, cổ xưa nhất, quý hiếm nhất được thế giới công nhận", là "tổ tiên của các loài mãnh khuyển trên thế giới". Năm 1240 sau Công nguyên, Thành Cát Tư Hãn sau khi chinh phục châu Âu, đã để lại một phần của quân đoàn mãnh khuyển từng theo chân ông chinh chiến Nam Bắc — hơn ba mươi nghìn con Tạng Ngao — lại châu Âu, những con Tạng Ngao Himalaya thuần chủng này đã lai giống và sinh sản trên một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn để tạo ra các giống chó công tác lớn nổi tiếng thế giới như chó Mastiff, chó Rottweiler, chó Đại Đan Đức, chó Saint Bernard Canada, chó Newfoundland Canada, chó Ngao Anh v.v.. Nghĩa là, tổ tiên của hầu hết tất cả các giống chó lớn hung dữ hiện còn tồn tại ở hai lục địa đại lục Á-Âu đều là Tạng Ngao. Năm 1275 sau Công nguyên, nhà thám hiểm người Ý Marco Polo đã miêu tả con Tạng Ngao mà ông nhìn thấy như sau: "Ở Tây Tây Tạng phát hiện ra một loài chó kỳ lạ chưa từng thấy, nó to lớn như lừa, tiếng sủa hung dữ vang dội như sư tử."
Cha chép những kiến thức rời rạc thu thập được về Tạng Ngao này vào một cuốn sổ, xem trăm lần không chán. Cùng được ghi chép trong cuốn sổ ấy, còn có một số truyền thuyết mà ông biết được, những truyền thuyết này cho chúng ta biết rằng, Tạng Ngao vẫn luôn có địa vị thần thánh trên cao nguyên Thanh Tạng. Mãnh thú thần dũng "Hưu Nghê" trong truyền thuyết cổ đại, chính là chỉ Tạng Ngao, cho nên Tạng Ngao còn gọi là Thương Nghê. Trong những câu chuyện truyền miệng về anh hùng Gesar của người Tạng, rất nhiều vị chiến thần mặc giáp mang gươm chính là Tạng Ngao. Đồng thời Tạng Ngao cũng là bạn đồng hành số một của Hộ pháp Kim Cương Cụ Lực, là biến thể của quỷ tốt đầu lâu lớn Bạch Phạm Thiên, là thần uy hổ của chúa tể ác thần Đại Tự Tại Thiên và nữ thần ác thần Uma, là vật cưỡi của nữ vương thế giới Bandallam và thần bão táp Kim Cương Khử Ma, là sơn thần của núi Y Lạp Đạt Trạch và núi Tươi Mộ Ni Nga, là vị thần bảo hộ của thảo nguyên Thông Thiên Hà. Mà Ngao Khuyển từng giúp Nhị Lang Thần dũng chiến Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngô Không, cũng là một con Tạng Ngao Himalaya vạm vỡ lực lưỡng.
Kiến thức và truyền thuyết về Tạng Ngao đã mang lại cho cha sự an ủi cực lớn, đặc biệt là sau khi con Tạng Ngao mà ông mang từ thảo nguyên Ngọc Thụ về nhà già chết đi, chúng liền trở thành con đường duy nhất để cha tiếp xúc với Tạng Ngao. Có dạo, cha rất vui mừng, bởi vì ông nhìn thấy từ trên báo giới những lời giới thiệu về khu tập kết Tạng Ngao và quảng cáo về cơ sở nhân giống Tạng Ngao, nhìn thấy tin tức về các cuộc thi bình chọn Tạng Ngao và triển lãm Tạng Ngao. Ông cắt dán chúng lại, còn dùng bút lông viết tám chữ "Nghìn vàng dễ kiếm, một ngao khó tìm" lên bìa của cuốn sổ cắt dán. Nhưng dần dần, ông lại trở nên nặng trĩu âu lo, luôn miệng nói: "Thế này e là không ổn đâu nhỉ? Sao thế này được chứ? Tạng Ngao suy cho cùng không phải là vật nuôi thú cưng." Bây giờ nghĩ lại, sự âu lo của cha không phải là không có lý. Tạng Ngao là một sự tồn tại có tố chất cao, là một hình thức mà dân tộc du mục mượn để giương cao tinh thần du mục. Trên người nó, thể hiện nhu cầu sinh tồn của nhà mục dân và sự tôi rèn của thổ nhưỡng khắc nghiệt trên thảo nguyên, tập trung những phẩm chất tốt nhất mà dã thú thảo nguyên và gia súc thảo nguyên nên có: cô độc, lạnh lùng kiêu hãnh, oai mãnh và trung thành, dũng cảm, hy sinh cũng như chịu đói, chịu lạnh, chịu đựng mọi mài giũa. Một khi coi Tạng Ngao như vật nuôi thú cưng để nuôi nấng, ngày ngày đúng giờ đúng định lượng cho chúng ăn, chăm chút từng li từng tí chải lông, tắm rửa, tiêm phòng uống thuốc cho chúng, dắt chúng đi dạo trên mặt đất phẳng lơ bóng loáng; một khi cuộc sống ăn no rửng mỡ, không làm gì cả khiến chúng trở nên rảnh rỗi lười nhác, thân phận quý tộc trong loài chó ngày càng khiến chúng trở thành búp bê bằng xương bằng thịt, quá trình trưởng thành không có sự thách thức thậm chí là bị thui chột khiến chúng say sưa ngây ngất, thói quen ăn sung mặc sướng, háu ăn lười làm trở thành tất yếu và bắt buộc, thì một con Tạng Ngao như thế liệu còn có thể duy trì được đặc tính vĩ đại cường tráng, uy hiếp lẫm liệt, cuồng dã mạnh mẽ, ghét ác như thù hay không?
Tạng Ngao là tráng sĩ, là long nhương, là hổ bôn, là con chó dũng mãnh phẫn nộ "có thể giết mới có thể sinh, có thể ghét mới có thể yêu", là linh hồn bất khuất "nếu bị thương, liền trốn vào rừng sâu, tự mình liếm cho khô, không cho ai biết, đại khái nghỉ ngơi một lát, là vẫn cứ đứng lên", là người bi thương và hạnh phúc "dám đối mặt trực diện với cuộc đời ảm đạm, dám nhìn thẳng vào dòng máu đầm đìa". Chứ không phải là công tước đời đời vinh hiển, càng không phải là tiểu thư khuê nữ "thêu thùa cũng thấy mệt đến choáng đầu" hay thiếu niên chải chuốt chưng diện hữu danh vô thực. Sinh mạng của chúng chỉ có thể trong trạng thái quay về với tự nhiên khắc nghiệt và gánh vác trách nhiệm cuộc sống, mới tiến bước đến cảnh giới bạt sơn cửu đỉnh.
Cha và tôi đều từng có tiên đoán thế này: Thế hệ Tạng Ngao đầu tiên rời khỏi thảo nguyên bước vào xã hội thú cưng có lẽ vẫn sẽ hung mãnh oai phong, trung thành dũng mãnh kiên định, nhưng đến thế hệ thứ hai thứ ba thì khó mà nói liệu có còn duy trì được phong thái vừa thuộc về Tạng Ngao vừa thuộc về đại ngàn cao nguyên này hay không. Bởi vì sự hình thành tố chất của Tạng Ngao, ngoài di truyền và huyết thống ra, quan trọng hơn chính là sự tôi luyện dung đúc của môi trường, là kết quả tất yếu của sự nương tựa lẫn nhau, phát triển gian nan giữa chó với tự nhiên, chó với loài người, là chất lượng sinh mạng đặc biệt được môi trường đặc biệt của cao nguyên Thanh Tạng nuôi dưỡng và khắc tạc nên. Nếu không thể để chúng tung hoành trên vùng hoang dã cao nguyên thiếu oxy ít nhất năm mươi phần trăm, không thể để chúng gầm thét trong băng giá âm bốn mươi độ, không thể để chúng luôn cảnh giác và phát hiện ra tình hình sói tình hình báo từ cách xa mười hai mươi dặm, không thể để chúng gánh vác toàn bộ gánh nặng cuộc sống của nhà mục dân lên vai mình, thì khứu giác, thính giác, thị giác của chúng cũng như tư duy đại não, năng lực phản ứng, sức mạnh chiến đấu, tốc độ xuất kích đều sẽ suy thoái nghiêm trọng, xương cốt, cơ bắp, nội tạng, thể phách, lông tóc, da dẻ, nội tiết v.v. cũng sẽ rời xa dáng vẻ ban đầu để đi đến suy tàn và biến dị.
Điều khiến cha càng lo lắng hơn nữa là, cho dù chúng ta không nuôi nhốt Tạng Ngao như thú cưng trong nhà kính mà thả chúng về với núi tuyết thảo nguyên, chúng cũng vẫn phải đối mặt với nguy cơ thoái hóa biến chất. Bởi vì hệ sinh thái nguyên thủy mà loài Tạng Ngao cổ đại nương tựa để sinh tồn đang dần biến mất, dã thú như sói, báo, gấu dưới sự săn bắt bừa bãi của con người ngày càng ít đi, thậm chí đến mức độ bên bờ vực tuyệt chủng, khi đối thủ để Tạng Ngao mài giũa ý chí chiến đấu, xưng hùng xưng bá không còn nữa, liệu chúng có còn ngạo nghễ thảo nguyên như tổ tiên của chúng không? Tinh thần và năng lực của chúng liệu có phải cũng sẽ suy giảm nghiêm trọng giống như môi trường mà chúng đang sống hay không? Trên thực tế, trên cao nguyên Thanh Tạng rộng lớn, ở khu vực Tam Giang Nguyên mà tôi cứ cách một hai năm sau khi rời đi lại quay về một chuyến, bây giờ đã rất khó tìm được một con Tạng Ngao thực sự thuần chủng rồi. Tạng Ngao của cha, đã một đi không trở lại rồi.
4 Hoài niệm về Tạng Ngao
Trong niềm hoài niệm về Tạng Ngao, cha đã vĩnh biệt cõi đời.
Tôi và anh trai cùng nhau xé từng trang cuốn sổ ghi chép rải rác rất nhiều kiến thức về Tạng Ngao của cha và cuốn sổ cắt dán có viết tám chữ "Nghìn vàng dễ kiếm, một ngao khó tìm" ở bìa, đem đốt cùng với tiền giấy trước hộp tro cốt của cha. Cha ơi, tình yêu suốt đời của cha đã đi theo cha rồi, những con Tạng Ngao của cha đã đi theo cha rồi. Giá như thực sự có kiếp sau, nhất định vẫn sẽ có Tạng Ngao bầu bạn bên cha.
Mùa xuân năm thứ hai, con trai của người bạn cũ Đán Chính Gia là Cường Ba đã đến nhà tôi, tay nâng một dải khăn Ha-đa, tìm kiếm một vòng trong ngoài mới biết cha đã qua đời. Cường Ba dâng khăn Ha-đa lên di ảnh của cha, rồi lấy từ trong túi du lịch ra món quà mà cậu ấy mang tặng cha. Cả nhà chúng tôi đều chết lặng, đó là bốn chú chó con, không, là bốn chú Tạng Ngao con. Người mục dân trung hậu chân chất như Tạng Ngao này biết cha cả đời thích Tạng Ngao, đã lặn lội khó khăn khắp vùng Tam Giang Nguyên rộng lớn để tìm kiếm bốn con Tạng Ngao thuần chủng, muốn để cha có được một tuổi già sung túc vui vẻ. Đáng tiếc là cha đã đi mất rồi, không thể nào tận hưởng được niềm vui và sự kích động mà Tạng Ngao mang lại cho ông nữa.
Bốn chú Tạng Ngao con gồm hai đực hai cái, hai con đen tuyền, hai con lưng đen chân vàng. Cường Ba nói: "Cháu đã nghĩ kỹ rồi, chúng là anh em kết đôi với chị em, giống như tục đổi vợ trên thảo nguyên vậy, em gái đổi cho anh trai lấy vợ." Vừa nói, cậu ấy vừa giống như chơi trò gia đình, sắp xếp bốn chú Tạng Ngao con thành từng đôi vợ chồng đặt cạnh nhau.
Mẹ và chúng tôi vội vàng ôm chầm lấy chúng vào lòng, thích đến mức quên cả việc tiếp khách. Tôi hỏi Cường Ba đã đặt tên chưa, cậu ấy bảo chưa. Chúng tôi lập tức đặt tên cho chúng, chú ngao đực khỏe mạnh nhất tên là Cương Nhật Sengge, con em gái của nó tên là Na Nhật. Chú ngao cái nhỏ nhất tên là Quả Nhật, còn người em trai khỏe hơn nó tên là Đa Cát Lai Ba. Đây đều là những cái tên mà cha từng đặt cho những con Tạng Ngao ông từng nuôi, chúng tôi chép y nguyên sang bốn chú Tạng Ngao con này. Mà khi viết cuốn tiểu thuyết này, tôi lại dùng chúng để đặt tên cho nhân vật chính của mình, coi như là sự tưởng niệm đối với cha và bốn chú Tạng Ngao con vậy.
Ngày đưa bốn chú Tạng Ngao con tới, chính là ngày lễ đầu tiên của gia đình chúng tôi sau khi cha qua đời. Ngày lễ này khiến chúng tôi vui mừng đến mức gần như phát cuồng, cũng khiến chúng tôi chôn vò mầm mống bi kịch trong sự khoe khoang quên cả trời đất. Hai tuần sau, nhà chúng tôi bị trộm, chẳng mất thứ gì cả, chỉ mất bốn chú Tạng Ngao con.
Việc tìm kiếm được tiến hành không sót một ngóc ngách nào, cả nhà đều xuất động. Chúng tôi giống như mất đi đứa con ruột thịt của mình, điên cuồng gọi lớn từng tiếng ở mọi ngõ ngách lớn nhỏ trong thành phố: "Cương Nhật Sengge, Đa Cát Lai Ba, Quả Nhật, Na Nhật." Không nghe thấy tiếng chúng đáp lại, liền cho rằng chắc chắn là bạn bè đang đùa giỡn với chúng tôi, họ giấu bốn chú Tạng Ngao con đi, đợi chúng tôi lo lắng đủ rồi, sẽ mang trả lại cho chúng tôi. Nhưng không có, chúng tôi tìm khắp nhà của tất cả những người bạn có thể nhớ ra, đều không tìm thấy bốn chú Tạng Ngao con.
Những ngày tháng sau đó, tôi và người nhà lang thang khắp nơi tìm kiếm vô định, tìm một tháng, hai tháng, ba tháng, lại thông qua việc nhờ người, báo cảnh sát, đăng báo, treo giải thưởng vòm vọc các cách, tìm suốt ròng rã hai năm, lúc này mới nhận thức được rằng, bốn chú Tạng Ngao con của cha cũng là của chúng tôi e rằng không tìm lại được nữa rồi. Những kẻ trộm chó thường không nuôi chó, chúng rất có thể là mấy tên buôn chó, dùng thủ ích lợi kỷ biến bốn chú Tạng Ngao con thành tiền. Kẻ có thể bỏ tiền mua Tạng Ngao con, chắc chắn cũng là người thích Tạng Ngao, họ sẽ không đến nỗi ngược đãi chúng chứ? Họ sẽ tận tâm tận lực nuôi nấng chúng chứ? Chỉ là không biết, bốn chú Tạng Ngao con có cùng ở trong một nhà chủ hay không, hay là chúng đã chia lìa, mỗi người một ngẻo chân trời góc bể, mỗi người sống cuộc đời của riêng mình, hoàn thành sứ mệnh của riêng mình rồi.
Cả nhà chúng tôi vô cùng đành lòng bất lực từ bỏ nguyện vọng tìm kiếm bốn chú Tạng Ngao con, bởi vì chúng đã không còn là bốn chú Tạng Ngao con nữa, chúng sớm đã lớn khôn, đến tuổi làm bố làm mẹ rồi. Tôi ở đây chỉ muốn nói với kẻ hoặc những kẻ đang nuôi dưỡng chúng rằng, xin hãy nhớ lấy tên của chúng, Cương Nhật Sengge có nghĩa là sư tử núi tuyết, Đa Cát Lai Ba có nghĩa là kim cương hiền lành, Quả Nhật là cách gọi của người mục dân đối với dũng kiện thần mẫu có hình tượng biểu trưng là mặt trăng, Na Nhật là cách gọi của họ đối với sư diện hắc kim hộ pháp có hình tượng biểu trưng là mây đen, Quả Nhật lại là trứng tròn, Na Nhật lại là trứng đen, đều là những cái tên mà người Tạng thường dùng khi gọi tên cúng cơm cho đứa con thân thiết nhất, điều này cho thấy người mục dân đối với "Quả Nhật" và "Na Nhật" vừa thân thiết lại vừa kính úy.
Tôi hy vọng người nuôi dưỡng chúng có thể đối xử với chúng giống như người mục dân giống như cha, tuyệt đối đừng tùy tiện cho chúng phối giống. Cương Nhật Sengge, Đa Cát Lai Ba cũng như Quả Nhật và Na Nhật, chỉ có sinh con đẻ cái với giống ngao Himalaya thuần chủng, mới có thể vừa kế thừa huyết thống, duy trì thể xác cao lớn vạm vỡ, vừa duy trì tinh thần vĩ đại và phẩm cách cao thượng, cũng mới có thể khiến chúng đời này qua đời khác oai trấn muôn thú, trác tuyệt không ai sánh bằng, đúc bằng sắt tạc bằng đá, linh khí hội tụ, đời đời kiếp kiếp trở thành một phần trong cuộc sống của loài người.
Lúc này, ngoài cửa sổ đã là từng đợt ánh sáng mờ tỏ lúc bình minh, tinh thần đang bùng cháy của Tạng Ngao đang nổi bật lên thành một váng rơm dũng mãnh ở chân trời trong sự đột phá của ánh bình minh, tôi nghe thấy cơn gió xanh bất tử của bên tai đang vang vọng, nhìn thấy ánh sáng núi tuyết đang cuồn cuộn dâng trào. Mà trong vòng tay ôm ấp của cao nguyên Thanh Tạng, trong khuỷu tay của Tam Giang Nguyên, bố Tạng Ngao đã lên đường rồi, nó mang theo tình cảm sâu nặng trong suốt như buổi sớm mà rớm máu, chạy về phía con Tạng Ngao mẹ độc nhất vô nhị cách xa hàng ngàn dặm.
Cương Nhật Sengge, Đa Cát Lai Ba, Quả Nhật và Na Nhật, các người rốt cuộc đang ở đâu? Cha và những người bạn chung của chúng ta, các người rốt cuộc đang ở đâu? Tạng Ngao đã bi tráng qua đời trên thảo nguyên, thiên kiêu đã đi xa của Trung Quốc, các người rốt cuộc đang ở đâu? Hồn về lại đi, hồn về lại đi.