Nhân viên bán vé ở ô cửa nhà ga không phải là người thanh niên tử tế từng nhận giữ tấm vé của Harold để cất hộ. Anh ta chẳng hề hay biết gì về nó và phải lục tìm suốt mấy phút mới thấy. Sau khi liếc nhìn ngày tháng trên vé với vẻ săm soi, anh ta vứt phịch nó xuống và cộc lốc nói:
– Hết hạn sử dụng rồi, bạn tôi ạ.
Harold đăm đăm nhìn anh ta. – Ồ, không, điều đó không thể nào; đây là vé đi trong ba mươi ngày mà.
Người nhân viên đâm ra cáu kỉnh. – Tôi biết chứ; vé có giá trị đến ngày mười lăm; hôm nay là ngày mười bảy; tấm vé này vô giá trị rồi.
Harold cầm mảnh giấy lên và ngẩn ngơ nhìn nó. Người nhân viên nói đúng; anh đã lưu lại quá thời hạn cho phép và trong túi không còn nổi năm đô-la. Anh đâm ra suy sụp trước cảm giác bất lực đột ngột ập đến cùng sự hoang vắng của cảnh vật xung quanh. Anh giống như một kẻ có ngựa quỵ giữa chốn sa mạc. Ngồi xuống chiếc ghế băng ở góc tối của phòng đợi, anh phó mặc cho nỗi niềm suy ngẫm về hoàn cảnh hiện tại của mình. Việc ở một mình giữa vùng Needle Range chẳng có gì đáng lo, nhưng đơn độc và trắng tay giữa lòng thành phố mới là điều khiến anh khiếp sợ.
Anh ngồi đó suốt hai tiếng đồng hồ, tâm trí cuồn cuộn như một bầy gia súc bất an, cứ quanh quẩn không mục đích hết vòng này đến vòng khác trên lối đi cũ. Anh đã dại dột bỏ lỡ cơ hội tẩu thoát, và những ngọn núi càng lúc càng trở nên tươi đẹp hơn khi chúng lùi nhanh vào khoảng không xa vời không thể với tới. Anh từng hy vọng sẽ được cưỡi ngựa trở lại miền đồng bằng an lành và tráng lệ, trở về với bạn bè và những thân quen, đồng thời tin tưởng rằng niềm vui ngày đoàn tụ sẽ làm dịu bớt nỗi tuyệt vọng của lần thứ hai thất bại trong việc đưa Mary đi cùng mình.
Thật là một cảnh tượng xót xa khi ngắm nhìn chú đại bàng trẻ tuổi chìm trong giấc mộng ảm đạm, khi một con người của hành động dứt khoát nay lại trở nên ưu tư hướng nội. Dòng người hối hả gồm những thương gia bận rộn, những thiếu nữ vui tươi, và những bác nông dân già da mồi tóc bạc đi từng nhóm hai ba người, lướt qua anh, mờ ảo hắt bóng trong đôi mắt đượm buồn của anh. Tất cả những con người ấy đều có mục đích và phần thưởng trong cuộc đời họ; chỉ riêng anh là kẻ lang thang, một gã vô gia cư, chẳng có ai ngoài con Kintuck già để lôi kéo anh đến một chốn cụ thể nào hay giữ chân anh ở lại đó.
– Mình đứng ngoài mọi thứ, – anh cay đắng nghĩ. – Chẳng có gì dành cho mình cả.
Phải, vẫn còn Cora và bé Pink – rồi anh nghĩ đến bà Raimon, người có khối tài sản và sự bình thản trong tâm hồn tạo nên sức hút lớn lao hơn bao giờ hết. Anh thừa biết rằng chỉ một lời nói của mình sẽ đưa bà và tiền bạc đến giải cứu anh ngay lập tức. Nhưng có cái gì đó trỗi dậy trong thẳm sâu khiến anh không sao thốt lên được một lời như thế. Còn về Cora và đứa nhỏ, chúng gợi lên một cảm xúc khác, và chính ý nghĩ về họ cuối cùng đã đánh thức hành động trong anh.
– Mình sẽ tìm việc gì đó làm và kiếm đủ tiền để quay về, – cuối cùng anh tự nhủ; – mình chỉ hợp với việc đó thôi, chỉ biết làm mướn theo ngày cho người khác; khả năng của mình chỉ có vậy. Mình đã thất bại trong mọi việc từng gánh vác. Mình chẳng có quyền gì để chen vào cuộc đời của một cô gái như Mary. Cô ấy quá cao sang đối với một kẻ lang thang như mình; ngay cả khi có một trang trại thì việc nài nỉ một ca sĩ như cô ấy ra đó sống cũng là hành động hạ thấp cô ấy rồi. Vô ích thôi; tôi còn tệ hơn cả kẻ thất bại – tôi đang rơi vào bước đường cùng, và việc đầu tiên tôi phải làm là kiếm đủ tiền để thoát khỏi cái hố này.
Anh cảm thấy xấu hổ khi phải quay lại khách sạn nhỏ mà anh từng từ giã với bao nỗi nhẹ nhõm. Dù sao thì nơi đó cũng quá đắt đỏ đối với anh, thế là anh bắt đầu tìm một chỗ trọ gần đó phù hợp với hoàn cảnh đã thay đổi của mình. Cuối cùng anh cũng thuê được chỗ ở trong một căn lều gỗ cũ kỹ trên con phố nhỏ cách nhà ga không xa, nơi có giá thuê phòng hai mươi xu một đêm – và phải trả trước. Đó là một nơi tồi tàn, đầy gián và đủ loại côn trùng, nhưng ít ra nó cũng là một cái ổ để anh có thể chui rúc qua vài đêm khi cơn buồn ngủ ập đến. Được củng cố chỗ che thân như vậy, anh lang thang bước vào thành phố – nơi mà qua cái nhìn của anh, mỗi khoảnh khắc trôi qua lại càng trở nên nhẫn tâm và hiểm ác hơn.
Gần như vô thức, anh thấy mình đang đi trên vỉa hè rộng lớn trước ngôi trường âm nhạc nơi anh đã tìm gặp Mary. Anh chẳng hề có hy vọng chắc chắn nào về việc gặp lại nàng, nhưng ô cửa đó chính là đốm sáng duy nhất giữa chốn hỗn độn đen ngòm và sôi sục của thành phố – nơi giờ đây đang đe dọa anh bằng cơn đói và cái rét. Nỗi sợ hãi và kinh hoàng mà anh cảm nhận được cũng giống như tâm trạng của một cư dân thành phố khi bị bỏ lại một mình giữa đầm lầy hoang dã đầy những loài thú lạ và bò sát.
Sau một giờ đi lại không mục đích, anh trở về chiếc giường trọ khi đêm xuống, đầu óc vẫn luẩn quẩn với mọi kế hoạch kiếm tiền có thể tưởng tượng được. Ý nghĩ của anh tự nhiên hướng về công việc chăn dắt gia súc tại các khu lò mổ, và thế là vào một buổi sáng, anh lên đường tìm kiếm, để rồi phải đối mặt với một bất ngờ lớn. Anh thấy cả thế giới như xoay vần đối với mình khi người ta biết anh đang đi tìm việc làm. Khi anh nói với mấy cậu nhân viên văn phòng rằng: "Tôi muốn gặp người quản lý việc thuê múa", họ bảo anh ngồi đợi một lát bằng giọng điệu mà trước nay anh chưa từng gặp phải. Dòng máu trong người anh bỗng sục sôi vì sự xấc láo bình thản ấy. Cuối cùng anh cũng tìm được đường vào một căn phòng nơi một gã béo cộc cằn đang ngồi viết. Gã ngước lên nhìn qua vai và gắt gỏng:
– Gì thế? Mày muốn gì?
Harold kìm nén bản thân và đáp: – Tôi muốn kiếm một chân làm việc; tôi là một cao bồi đến từ Colorado, và tôi muốn——
– Tao không quan tâm mày từ đâu tới; chúng tao đã đủ người rồi. Đi tìm ông White đi, đừng có đến làm phiền tao.
Harold đặt tay lên vai gã đàn ông với cử chỉ của một con báo giận dữ, và trong đôi mắt anh bừng lên ánh nhìn vàng rực khiến tên súp-xơ tàn nhẫn phải rụt cổ lại như thể né tránh ngọn lửa.
Bằng một nỗ lực mạnh mẽ, anh kịp kìm mình lại và nói: – Lần sau gặp một cao bồi nào thì hãy đối xử đàng hoàng hơn một chút, nếu không một phần lá phổi của mày sẽ bay mất đấy. Chào anh.
Anh bước ra ngoài với cảm giác tê dại quen thuộc khắp cơ thể và những vệt sáng đỏ lướt qua trước mắt. Tâm trí anh đang cuồn cuộn cơn bão lòng. Người tự do của chốn núi rừng vừa phải đối mặt với "bạo chúa của giới lao động", và thật may cho gã béo ngốc nghễnh ấy là vào khoảnh khắc đó Harold lại không mang theo súng.
Trở về phòng trọ, anh lấy khẩu súng lục ra và nạp đạn đầy tất cả các ổ. Nét mặt mím chặt của anh chính là lời cảnh cáo dành cho tên chủ lao động nào dám lăng mạ và hạ nhục anh sau đó.
Những ngày tiếp theo, anh lang thang khắp thành phố với đôi mắt quan sát từng nhóm thợ thuyền. Anh không thể ép mình quay lại khu lò mổ, bởi nếu làm vậy có nguy cơ anh sẽ trở thành kẻ sát nhân; và khi tiếp cận những kẻ cai thầu của các tốp thợ trên đường phố, anh lại hết lần này đến lần khác không đủ quyết tâm để ngả vành mũ chào và cất lời xin việc. Có một vài lần, anh chứng kiến những người khác bị hắt hủi tàn nhẫn chẳng kém gì mình, và chỉ nhờ việc quay bước đi mà anh mới kiềm chế được bản thân không nhúng tay vào một trận ẩu đả. Một hoặc hai lần, khi người quản công tình cờ là một kẻ tử tế và cởi mở, Harold liền bước lại gần, bắt gặp ánh mắt đối phương và có thể trò chuyện trên cơ sở bình đẳng; nhưng trong mỗi trường hợp như thế, cuộc trò chuyện diễn ra sau đó đều phơi bày một thực tế là người ta đang chen chúc nhau cho từng vị trí; bản thân Harold cũng có thể nhìn thấy rõ điều đó. Cuối cùng, anh đành nhập vào hàng ngũ những kẻ khốn cùng, run lẩy bẩy, má hóp sâu đang đứng quanh đó với ánh mắt khắc khoải ngắm nhìn công việc đào móng hầm, hay tha thiết dõi theo từng chuyển động cẩu những thanh sắt lớn hoặc cọc móng.
Việc làm bỗng trở thành một thứ vô cùng quý giá để có được. Được đặt bàn tay lên một thanh xà hay cây cuốc xẻng giờ đây dường như là một ân huệ đáng khao khát nhất, bởi nó không chỉ mang lại thức ăn ấm nóng, sự an toàn và mái che, mà trong trường hợp của anh, nó còn hứa hẹn một hành trình trở về chốn núi rừng – nơi mỗi giờ trôi qua lại càng hiện lên như một vùng đất đáng ao ước và tráng lệ nhất trên đời – yên bình biết bao, vui tươi biết bao, rực rỡ biết bao, khiến trái tim anh quặn thắt vì nỗi nhớ thương da diết.
Mỗi tối, anh lại đi bộ ra bờ hồ, băng qua trường cao đẳng và lên cầu cạn, cho đến khi có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn mảng nước mờ ảo và huyền bí. Nơi đó gợi cho anh nhớ đến những đồng cỏ mênh mông, và với bầu không gian khoáng đạt cô độc cùng sự uy nghiêm thanh tịnh của những vì sao phản chiếu trên mặt nước, nó đã giúp anh vơi đi phần nào nỗi buồn. Ban đêm, anh mơ về bầy gia súc và những người bạn cũ trên đường mòn; có lúc anh thấy mình đang cùng Talfeather và băng nhóm của y cưỡi ngựa qua dãy núi West Elk; có lúc lại phi ngựa lên con dốc uốn lượn tuyệt đẹp của đường mòn Trout Lake, nhìn mây tụ lại quanh đỉnh Lizard Head cũ kỹ. Những lúc khác, anh lại trở về trang trại nhà Reynolds ăn tối giữa tiếng gia súc kêu rống, và qua ô cửa mở rộng, ánh nắng chiều tà rọi vào.
Anh đã viết thư cho Reynolds, nhờ mua hộ chiếc yên ngựa và cương ngựa của mình (anh không sao đành lòng bán con Kintuck) và ngày nào anh cũng mong mỏi một lời hồi âm. Anh không nói rõ sự túng quẫn cấp bách của mình, nhưng Reynolds sẽ hiểu. Từng món đồ nhỏ nhoi mà anh sở hữu lần lượt nón ra đi để trả tiền phòng cho chủ nhà. Anh có một mẩu vàng cục nhỏ, được giữ làm bùa may mắn trong túi suốt nhiều tháng trời; anh cũng đem bán nó, và cuối cùng là những khẩu súng lục của anh, để rồi sau đó anh rơi vào cảnh hoàn toàn tay trắng.
Chẳng có tin tức gì từ Reynolds, và điều tồi tệ nhất là, dẫu tiền có gửi đến đi nữa thì lúc này cũng không đủ để đưa anh trở về. Giá như anh có thể gộp số tiền đó với tiền bán cục vàng và mấy khẩu súng lục thì ít nhất nó cũng đưa anh về được tới Denver. Nhưng giờ thì đã quá muộn.
Cuối cùng rồi cũng đến ngày anh cạn kiệt nguồn lực cuối cùng. Anh chẳng thể tìm được việc làm nào trên đường phố, thế là, gạt bỏ lòng tự ái, anh lại một lần nữa tìm đến khu lò mổ và gặp "ông White". Đó là một ngày mưa lạnh, và anh đã đi bộ suốt cả quãng đường dài. Yếu sức vì thiếu ăn, không khí ngột ngạt và tâm trạng chán nản, anh chẳng đủ tiền để mua nổi một xu vé xe điện.
White hóa ra lại là một người rất tử tế, hoàn toàn không hề hay biết gì về cuộc đụng độ trước đó của Harold với gã kia. Tuy nhiên, ông ấy chẳng có việc gì cho anh làm cả. Ông tỏ ra thực sự tiếc nuối và nói:
– Thú thật với anh, tôi đang phải cho bớt nhân công nghỉ việc đây; anh thấy đấy, thời điểm cao điểm đã qua rồi.
Harold đi sang khách sạn Great Western và la cà quanh quán rượu, hy vọng gặp được ai đó quen biết, dẫu rằng việc đó đi kèm với rủi ro bị nhận diện là Black Mose. Khách sạn đông nghịt những chủ trại chăn nuôi, nhưng phần lớn họ đến từ Texas và Oklahoma, chẳng có một gương mặt quen thuộc nào lọt vào đôi mắt đang dò dẫm của anh. Giờ đây, nỗi nhớ nhà đã đẩy anh vào bước đường cùng đến mức anh tính đến chuyện xin xỏ một trong những gã có vẻ khấm khá này tấm vé đi nhờ để về lại miền đất chăn nuôi. Nhưng lần nào lòng tự ái cũng cản trở anh. Anh sẽ phải kể câu chuyện của mình mà vẫn phải giấu tên – điều đó thật vô cùng khó khăn ngay cả khi anh chẳng có gì cần che giấu.
Muộn màng trong đêm tối, kiệt sức vì cơn đói, anh lê bước về chiếc giường tồi tàn của mình như một con sói đói quay về cái hang lạnh lẽo hiu hắt sau một chuyến săn không thành. Tiền của anh lại chỉ còn trơ lại vài xu lẻ, và suốt một tuần qua, mỗi ngày anh chỉ dám ăn một chiếc bánh mì nhỏ ba bữa. – Lạy Chúa! Giá mà mình đang sống giữa những người da đỏ, – anh nghiến răng gầm gừ; – họ sẽ chẳng đời nào để một con người phải chết đói, miễn là họ còn một miếng thịt sẻ chia với kẻ khác; thế mà những kẻ miền Đông này chẳng màng quái gì; đối với họ, tôi chẳng khác nào con rắn hay con cóc tía.
Ý thức được rằng trái tim Mary sẽ rỉ máu vì đau đớn nếu nàng biết được hoàn cảnh của mình đã thôi thúc anh thực hiện một lần thử thách tuyệt vọng cuối cùng. – Ngày mai tôi sẽ thử lại lần nữa, – anh nghiến răng lẩm bẩm.
Trên đường về nhà, thứ chủ nghĩa định mệnh kỳ lạ trong anh bỗng rẽ sang một hướng khác, và cảm giác rằng bức thư của Reynolds chắc chắn đang chờ đón mình đã làm bừng sáng trái tim anh. Thật vô lý nếu anh lại thực sự không còn một xu dính túi, và ý nghĩ đó lấp đầy đại não anh một niềm phấn khích phi lý khiến anh quên cả thứ bùn nhão mà đôi chân đang trượt ngã. Anh lên kế hoạch khởi hành trên chuyến tàu tốc hành. – Tôi sẽ đi thật xa khỏi cái xó thành phố nguyền rủa này càng xa càng tốt, – anh tự nhủ; – tôi sẽ đến nơi mà con người không ăn thịt lẫn nhau chỉ để tồn tại. Nhất định anh ấy sẽ gửi cho tôi hai mươi đô-la. Riêng miếng bạc trên bộ cương ngựa cũng đáng giá ngưng ấy rồi. Biết đâu anh ấy hiểu tôi đang khánh kiệt nên sẽ gửi năm mươi thì sao.>
Cuối cùng, anh trở nên chắc chắn đến mức rẽ vào một quán rượu và mua một cốc brandy lớn để xua đi cơn ớn lạnh đang chớm dâng lên trong người, đồng thời ăn tạm chút đồ nhắm tại quầy. Khi đứng dậy, đôi chân anh bỗng mềm nhũn và một sự tê dại kỳ lạ lan khắp cơ thể. Chưa bao giờ trong đời anh say rượu – nhưng anh thừa biết thứ brandy kia đã gây ra tác dụng này.
– Lẽ ra mình không nên uống khi bụng đói, – anh lẩm bẩm một mình trong lúc lê những bước chân nặng nhọc ra khỏi cửa.
Khi thực sự hoàn hồn trở lại, anh thấy mình đang nằm trong căn phòng nhỏ và cô hầu phòng luộm thuộm đang dòm ngó vào.
– Anh vẫn chưa khỏe lại à? – cô ta hỏi.
– Đi ra đi, – anh cau mày nói; – cô làm phiền tôi quá nhiều rồi đấy.
– Anh đã uống rượu – đúng không nào. Đêm qua Chim đã phải giúp anh lê lên lầu đấy.
– Mấy giờ rồi? – anh hỏi, cố gắng nhớ xem mình đã đi những đâu.
– Mười hai giờ rồi, – cô đáp, vẫn đăm đăm nhìn anh với vẻ thực sự lo lắng.
– Đi ra đi. Tôi phải dậy đây.
Khi cô ta quay về phía cửa, anh chồm dậy được một giây, nhưng một cơn đau nhói buốt ngay sau hốc mắt đã quật ngửa anh xuống gối như thể vừa phải nhận một cú đấm. – Ồ, tôi kiệt sức rồi – tôi không dậy nổi đâu, – anh rên rỉ, áp hai lòng bàn tay vào thái dương. – Tôi đang bị sốt đến cháy da cháy thịt đây.
Cô gái quay trở lại. – Em đã nghĩ thế mà. Trông anh chẳng ổn chút nào. Mẹ anh mà nhìn thấy anh từ lúc đến đây chắc cũng không nhận ra nổi đâu. Tốt hơn là anh nên gọi người nhà đến đi thôi.
– Ôi, ra ngoài đi – để mặc tôi một mình. Được rồi, tôi sẽ làm thế. Lát nữa tôi sẽ dậy.
Khi cô gái quay lại cùng với chủ khách sạn thì Harold đã lơ mơ chẳng còn nói được những lời minh mẫn nữa. Anh đang đập cửa thình thịch, gào lên: "Thả tôi ra!". Khi họ cố mở cửa thì phát hiện nó đã bị khóa. Lão chủ nhà, một tên gốc Đức vạm vỡ, bèn dồn toàn lực lao vào và giật tung ổ khóa.
Harold giữ vẻ bình tĩnh đến đáng sợ khi nói: – Tốt hơn là ông nên thả tôi ra khỏi đây. Mấy gã du thủ du thực đó đang làm bầy gia súc hoảng loạn kìa. Đó là trò mèo của chúng đấy.
– Không sao đâu; anh cứ về giường đi; tôi sẽ lo vụ mâý tên du thủ đó cho, – lão chủ nhà nói, tưởng rằng anh đang say rượu.
– Ông thả tôi ra nếu không tôi bẻ đôi người ông bây giờ, – gã đàn ông quả quyết đáp trả, và một cuộc vật lộn dữ dội đã diễn ra.
Cuối cùng Harold đã bị hạ gục, và Schmidt đè thân hình hộ pháp của hắn lên cơ thể kiệt quệ của chàng trai trẻ, giữ chặt cho đến khi tâm trí anh dịu lại.
– Mày đã bao giờ bị cháy một cái cây trong đầu chưa? – anh hỏi.
– Gọi cảnh sát đi, – Schmidt thì thầm với cô gái, – cả bác sĩ nữa. Gã này bị phát cuồng vì sốt rồi; hắn không phải say rượu đâu.
Khi viên cảnh sát bước vào, Harold nhìn hắn bằng đôi mắt trừng trừng kiên định. – Nghe đây, đội trưởng, đừng có giở trò khôn vặt gì với tôi nhé. Tôi không chịu đâu; tôi sẵn sàng đọ súng với anh vì mấy đồng đô-la hay dăm cái bánh rán đấy.
– Bị sao thế – lên cơn mê sảng à? – viên cảnh sát dửng dưng hỏi.
– Không, – Schmidt đáp, – tôi không tin thế đâu – hắn ta đang bị sốt nặng đấy.
Viên cảnh sát bắt mạch cho anh. – Quả thực người hắn nóng ran thế này cơ mà. Hắn là ai thế?
– Hank Jones.
– Nói dối đấy – tôi là "Black Mose", – Harold nói.
Viên cảnh sát mỉm cười. – "Black Mose" đã bị giết ở San Juan mùa hè năm ngoái rồi.
Harold đón nhận tin đó với vẻ nghiêm túc. – Chia buồn với hắn, nhưng tôi mới chính là con người đó. Các người sẽ tìm thấy tên tôi trên khẩu súng lục của tôi, khẩu lớn ấy – chứ không phải khẩu nhỏ đâu. Tôi là toàn bộ "Black Mose" hiện hữu trên đời. Nếu các người cho tôi một cơ hội, tôi sẽ đấu ném thòng lọng bắt bò với các người vì máu hoặc rượu whisky đấy; tôi đang khát nước.
– Thôi nào, – viên cảnh sát nói, – anh cứ nằm yên cho đến khi bác sĩ đến, còn tôi sẽ lục va-li của anh xem sao. – Sau một hồi lục lọi qua loa, hắn nói: – Ít đến đáng thương, chẳng có khẩu súng lục nào cả. Hắn có ăn uống ở đây không?
– Không, hắn chỉ thuê phòng này thôi.
– Biết đâu hắn chẳng ăn ở đâu cả; trông hắn giống một kẻ đang chết đói lắm.
– Em cũng nghĩ thế, – cô hầu phòng nói. – Em sẽ đi lấy cho hắn ít súp.
Người tù bình thản nói: – Muộn mất rồi; dạ dày của tôi khô cháy hết cả rồi.
– Anh không có người thân nào à? – viên cảnh sát hỏi.
Harold dường như khựng lại để suy nghĩ. – Tôi tin là mình có, nhưng không tài nào nhớ nổi. Mary có thể nói cho anh biết đấy.
– Mary là ai?
– Thì can gì đến anh. Mang cho tôi ít nước đi – tôi đang khát cháy cổ đây.
– Thôi nằm im đi, – viên cảnh sát nói; – anh ốm đòn rồi đấy.
Khi bác sĩ đến, viên cảnh sát bàn giao Harold lại cho ông. – Chắc đây là ca phải chuyển đến Bệnh viện St. Luke rồi, – hắn nói khi bước ra.
Vị bác sĩ nhanh chóng cho bệnh nhân dùng thuốc an thần như là cách dễ dàng và đơn giản nhất để xử lý một người trông có vẻ không thân thích lại chẳng có xu dính túi. – Người bệnh đơn giản là đang mê sảng vì sốt. Trông anh ta giống một kẻ suy kiệt do thiếu ăn. Các người biết gì về anh ta nào?
Lão chủ nhà thú nhận rằng hắn chẳng biết gì nhiều.
Vị bác sĩ tiếp lời: – Dĩ nhiên các người không thể chăm sóc anh ta ở đây được. Tôi sẽ thông báo cho nhà chức trách bệnh viện ngay lập tức. Trong lúc đó, hãy liên lạc với bạn bè của anh ta nếu có thể. Tạm thời anh ta sẽ ổn thôi.
Vị bác sĩ tận tâm vừa mới khuất dạng thì một chàng thanh niên lanh lợi với khuôn mặt cạo râu nhẵn nhụi, mỉm cười bước vào. Cậu ta lục lọi mọi túi quần áo của Harold, và tìm thấy một chiếc phong bì rách có ghi tên "Excell" cùng một bức ảnh nhỏ của một bé gái kèm dòng chữ: "Tặng Mose từ Cora". Nụ cười của chàng thanh niên biến thành tiếng khúc khích khi trông thấy những thứ đó, và cậu ta tự nhủ: "Chẳng có gì để xác minh thân phận, hử?". Sau đó, cậu ta bảo lão chủ nhà: – Tôi đến từ tòa soạn The Star. Nếu có gì mới phát sinh, phiền ông gọi cho Harriman, chính là tôi đây, và cho tôi nhúng tay vào nhé.
Phía bệnh viện không hề nhận được thông báo, hoặc chẳng thèm đếm xỉa gì đến lời triệu tập, và Harold đành phó mặc cho sự chăm sóc của cô hầu phòng – người đã cố gắng hết sức có thể bằng tấm lòng nghèo nàn của mình để phục vụ anh.
Số báo The Star sáng hôm sau đăng tải hai cột bài viết in sát chữ dưới dòng tựa đề: "Black Mose, Xạ Thủ Huyền Thoại Đã Khuất, Đang Hơi Thở Hắt Hô Tại Một Khách Sạn Phía Tây Thành Phố. Sau Nhiều Năm Phiêu Lưu Trên Đường Mòn, Tên Tội Phạm Khét Tiếng Đã Gục Ngã Trước Lão John Barley Corn". Bài báo thuật lại toàn bộ những chiến tích từng được quy cho Harold và thêu dệt thêm vài chiến tích hoàn toàn mới. Kỹ năng sử dụng súng lục siêu phàm của anh được nhắc đến, và việc anh bênh vực những người da đỏ cùng những mảnh đời khốn khó khác cũng được khắc họa đầy cảm xúc, nâng tầm người sắp chết lên chiều cao lãng mạn của sự gan dạ và hào hiệp. Bức chân dung vẽ theo tưởng tượng chiếm gần một phần tư trang báo và được bao quanh bởi một vòng vây những khẩu súng lục đang phun lửa.
Bà Raimon đang ngồi ăn sáng trong phòng ăn sang trọng của khách sạn, thẫn thờ lở giở tờ The Star, chỉ liếc nhìn một cái rồi bất giác mở tung tờ báo ra nhanh và hoảng hốt đến mức cốc và đĩa trượt rơi xuống sàn.
– Lạy Chúa! Chữ này có thật không? Tôi phải đi gặp anh ấy ngay.
Vừa đọc bài báo, tư duy trong đầu bà vừa chạy đua với tốc độ chóng mặt. – Làm sao tìm được anh ấy đây? Mình phải gặp tên phóng viên đó; hắn sẽ biết rõ.
Bà là người phụ nữ quyết đoán. Bà đứng phắt dậy và quay trở lại phòng mình.
– Gọi ngay cho tôi một cỗ xe ngựa! – bà bảo cậu nhân viên trực chuông đáp lời kêu gọi của mình. – Khách sạn không được nêu tên, nhưng The Star thì chắc chắn biết. Lạy Chúa! Nhỡ anh ấy chết thì sao!
Khuôn mặt đỏ hồng của bà đanh lại và trắng bệch khi bước lên xe. – Đến tòa soạn The Star – nhanh lên! – bà ra lệnh với người đánh xe, và tiếng đóng sầm cửa xe mang theo mệnh lệnh dứt khoát.
Bà cộc cằn nói với tổng biên tập tờ báo: – Tôi muốn tìm người đã viết bài báo về "Black Mose" này. Tôi muốn tìm khách sạn nơi anh ấy đang ở.
Viên biên tập ngay lập tức tỏ ra vô cùng hứng thú. – Harriman thuộc ca trực đêm và giờ đang ở nhà, nhưng tôi sẽ xem mình có thể giúp gì.
Bằng cách bấm chuông liên hồi và nói vào những ống nghe chằng chịt đầy bí ẩn, cuối cùng ông ta cũng có thể thông báo: – Anh ta ở một khách sạn nhỏ ngay bên kia sông. Tôi nghĩ tên nó là St. Nicholas. Đó không phải là một nơi tử tế gì; cô nên dẫn theo người đi cùng. Lưu ý là tôi không bảo đảm tính xác thực của bài báo đó đâu nhé; cậu phóng viên nhà tôi có thể nhầm lẫn đấy.
Bà Raimon quay gót biến mất. Bà đã có thông tin và hành động theo đó. Chưa bao giờ trông bà tuyệt vời đến thế khi quỳ xuống bên giường bệnh của Harold và nhẹ nhàng đặt tay lên trán anh. Bà nghẹn ngào không nói nên lời, và khi đôi mắt bớt nhòa lệ, nhìn thấy đôi mắt thao láo, khô khốc của người đàn ông đang nhìn xoáy vào mình, một cơn đau thắt nghẹn lại trong tim.
– Anh ấy không nhận ra tôi! – bà kêu lên với cô hầu phòng luộm thuộm đang đứng theo dõi cảnh tượng với vẻ đồng cảm sâu sắc.
Harold càu nhàu lên tiếng: – Đi đi và bảo Mary đến đây với tôi. Ca hát tốn kém lắm nên cô ấy mới không tới. Mấy kẻ này không cho tôi dậy, nhưng Reynolds sẽ đến sớm thôi và khi đó mọi thứ sẽ tung hê hết. Họ đã lấy súng và yên ngựa của tôi rồi. Giá mà có con Kintuck ở đây thì tôi đã phi ngựa đi tìm Mary được rồi. Cô ấy bảo sẽ hát cho tôi nghe mỗi Chủ nhật cơ mà. Nghe này, tôi muốn đắp đá lên đầu. Chiếc gối này bị nung nóng rồi. Tôi không thích gối nóng – và tôi không muốn bị trùm cánh tay lại đâu. Này, phiền cô nhắn lời tới chỗ lão Jack nhé. Tôi không biết hắn ở đâu, nhưng hắn sẽ đến – Reynolds cũng thế. Mấy tên cảnh sát này sẽ phải khốn đốn khi giữ tôi ở đây sau khi họ tới cho mà xem. Ở đây thấp kém quá, tôi phải đưa Mary đi thôi – ở trên núi không khí lành mạnh hơn. Ở đó không nóng bức thế này——
Lọt thỏm giữa dòng từ ngữ rời rạc ấy, nữ công tước chỉ bắt lấy và gìn giữ được dăm ba cái tên như "Jack" và "Mary".
– Jack là ai vậy? – bà dịu dàng hỏi.
Harold cười vang. – Cô không biết lão Jack mặt tàn nhang à? Ơ hay, tôi có thể nhận ra Jack ngay cả trong hang tối. Hắn là bạn tôi – chiến hữu cũ của tôi. Hắn không hề quên tôi khi họ tống giũa tôi vào tù. Mary cũng thế. Cô ấy đã hát cho tôi nghe đấy.
– Anh có thể cho tôi biết tên họ của Mary không?
– Chà, thì chỉ là Mary, Mary Yardwell thôi.
– Cô ấy sống ở đâu?
– Ồ, đừng làm phiền tôi nữa, – anh cáu kỉnh đáp. – Cô muốn biết để làm gì?
Nữ công tước vẫn nhẹ nhàng gặng hỏi, và anh đành nói: – Cô ấy sống ở miền Đông. Ở Chicago. Xém xa lắm không tìm nổi đâu. Mất tận năm ngày đi tàu chở gia súc mới xuống tới nơi, rồi lại còn phải tra trong danh bạ, rồi lần theo dấu vết nữa. Tôi không tài nào tìm nổi.
Nữ công tước ghi lại tên của Mary và cử người đi tìm địa chỉ của người phụ nữ có ý nghĩa với kẻ đang mê sảng hơn cả thế giới ngoài kia.
Trong lúc anh trằn trọc và lẩm bẩm, bà đã tiếp quản luôn cả căn nhà trọ. – Đây là căn phòng tồi tàn nhất của các người phải không? Hãy chuẩn bị chiếc giường tốt nhất trong nhà này mau. Tôi muốn người đàn ông này phải được ở trong căn phòng sạch sẽ nhất. Nhanh lên! Gọi điện cho khách sạn Western Palace và bảo Bác sĩ Sanborn đến đây ngay – nói với ông ấy rằng bà Raimon đang cần.
Dưới sự hành động quyết liệt của bà, một trong những căn phòng lớn đã được dọn sạch sẽ và sẵn sàng, và khi bác sĩ đến, Harold được chuyển phòng dưới sự giám sát trực tiếp của ông. – Tôi sẽ ở lại đây cho đến khi anh ấy qua cơn nguy kịch, – bà nói với bác sĩ khi ông chuẩn bị ra về, – và xin hãy bảo cô hầu phòng của tôi ra ngoài mua ít ga trải giường sạch mang ngay xuống đây nhé – đồng thời bảo cô ấy cử anh Doris đến đây luôn, được chứ ạ?
Vị bác sĩ hứa sẽ giải quyết ổn thỏa những việc đó ngay lập tức.
Bà ngồi bên giường bệnh của người thương binh, lau tay và mặt cho anh như thể anh là một đứa trẻ, dịu dàng trò chuyện với anh bằng âm điệu trầm tĩnh của người mẹ. Giờ đây anh đã quá yếu để chống cự lại bất kỳ mệnh lệnh nào, và ngoan ngoãn nuốt trọn liều thuốc một cách nhanh gọn như một chú chim non.
Vào buổi chiều muộn, khi bà Raimon từ ngoài phố quay về, bà ngạc nhiên tột độ khi thấy một thiếu nữ cao ráo và xinh đẹp đang ngồi bên giường người bệnh, hai tay cô đang nắm chặt đôi bàn tay trắng bệch, lạnh ngắt của anh. Trên khuôn mặt người lạ mặt xuất hiện một nét thanh thản kỳ lạ và đầy mê hoặc – một sự bình thản mang tính thăng hoa, trong khi Harold với đôi mắt khép hờ, nằm lặng đi như thể đang kính sợ, ngước nhìn khuôn mặt người phụ nữ ấy.
Bà Raimon chờ cho đến khi đôi mắt Harold khép lại như một đứa trẻ đang buồn ngủ và người canh gác đứng dậy – bấy giờ bà mới tiến lại gần và rụt rè hỏi:
– Cô có phải là Mary không?
– Vâng, – câu trả lời ngắn gọn cất lên.
Giọng người phụ nữ lớn tuổi run lên. – Tôi rất vui vì cô đã đến. Anh ấy cứ gọi tên cô mãi không thôi. Cô phải để tôi giúp một tay nhé – tôi là bà Raimon, ở Wagon Wheel – tôi quen anh ấy ở trển.
Mary hiểu thái độ nhún nhường của người phụ nữ kia, nhưng nàng không tỏ vẻ đón nhận cử chỉ âu yếm nào. Nàng lạnh lùng đáp: – Tôi rất biết ơn. Anh ấy đang rất nặng tay, và tôi sẽ không rời nửa bước cho đến khi bạn bè anh ấy tới.
Nàng nghĩ ngay đến Jack, và gửi một bức điện tín với nội dung: "Harold đang ở đây, ốm nặng – đến ngay lập tức". Nàng không biết cách nào để liên lạc với ông Excell, nên đành phải chờ để bàn bạc với Jack.
Bà Raimon ở lại cùng nàng và tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ một cách âm thầm đến mức trái tim Mary cũng phải mềm lòng đối với bà – dẫu cho nàng chẳng mặn mà gì với vẻ đẹp phô trương rực rỡ và số trang sức bà ta trưng diện.
Một bức điện tín từ Jack gửi đến vào buổi tối: "Làm tất cả những gì có thể cho Harold. Tối nay tôi sẽ có mặt".
Anh đến vào lúc mười một giờ, gương mặt hằn lên những nếp nhăn lo âu. Chúng dãn ra ngay khi ánh mắt anh chạm phải Mary đang đợi sẵn ở hành lang.
– Ồ, anh rất mừng vì thấy em ở đây, – anh nghẹn ngào nói. – Tình hình thế nào rồi – còn chút hy vọng nào không?
Sự điềm tĩnh của Mary bỗng vỡ òa khi có mặt anh. – Ôi Jack! Nếu giờ anh ấy mệnh hệ gì... – Nàng tựa đầu vào vai người bạn vững chãi và khẽ run lên vì suy nhược thần kinh trong giây lát. Chưa kịp để anh lên tiếng, nàng đã tự trấn tĩnh lại. – Anh ấy chỉ nhận ra em được vài phút. Lại mê sảng rồi. Bác sĩ đang ở trong đó – ôi, em không chịu nổi khi nghe anh ấy sảng thế đâu! Khủng khiếp lắm! Anh ấy gọi tên em, vậy mà lại chẳng nhận ra em. Ôi Jack, lòng em đau thắt lại, anh ấy yếu quá! Anh ấy đến tìm em – rồi lại bỏ đi – em chẳng biết anh ấy đã đi đâu nữa. Và suốt từng ấy thời gian anh ấy phải chịu đói khát ở nơi này. Lạy Chúa! Thật quá đỗi kinh hoàng – nhỡ anh ấy chết đi thì sao!>
– Chúng ta sẽ không để anh ấy chết đâu! – anh quả quyết đáp. – Anh vào thăm anh ấy đây.
Cả hai cùng bước vào. Vị bác sĩ đang đăm đăm nghiên cứu bệnh tình của bệnh nhân vẫn ngồi im phăng phắc. Ông là một thanh niên có khuôn mặt nghiêm nghị, nhưng mọi cử động đều nhanh nhẹn, lặng lẽ và quyết đoán. Ông ngước lên ra hiệu, ngăn họ lại ngay tại chỗ.
Giữa tiếng lẩm bẩm đứt quãng, cuối cùng những lời của Harold cũng rõ ràng hơn: – Tao không thèm quan tâm – nhưng nước lạnh như đá ấy – tao chẳng thèm thả con ngựa hoang nào xuống đó đâu – chứ đừng nói đến con Kintuck. Chắc phải có cái cầu ở quanh đây chứ nhỉ.
– Ồ, anh ấy lại đang trên đường mòn rồi! – Mary nói. – Harold, anh không nhận ra em sao?
Nàng lại cúi người xuống sát bên anh, dồn toàn bộ sức mạnh ý chí để kéo anh về hiện tại. – Em ở đây này Harold, anh không thấy em sao?
Đầu anh ngừng ngoắt qua ngoắt lại và nhìn nàng bằng ánh mắt khiến tim nàng quặn thắt – rồi một nụ cười chậm rãi, nhạt nhòa xuất hiện trên môi anh. – Có... anh nhận ra em chứ, Mary – nhưng con sông đang chắn ngang giữa chúng ta, nước vừa xiết vừa lạnh, và con Kintuck thì gầy giơ xương lại đói khát – anh không thể qua sông lúc này được!>
– Bác sĩ, – Jack lên tiếng khi vị thầy thuốc chuẩn bị rời đi, – tình hình thế nào ạ?
Giọng vị bác sĩ mang theo sự quả quyết vững chắc: – Ồ, cậu ấy sẽ vượt qua thôi – cậu ấy sở hữu một trong những thể hình tuyệt vời nhất mà tôi từng thấy. – Ông mỉm cười. – Cậu ấy sẽ qua sông suôn sẻ thôi – và cập bến về phía chúng ta.
Hai ngày sau, ông Excell cao lớn và da ngăm đen, trán cũng hằn sâu những nếp nhăn lo lắng, bước vào phòng, sụp xuống quỳ gối và vắt cánh tay dài của mình lên thân hình bất động dưới lớp chăn. – Harry! Con trai của ta, con có nhận ra ta không?
Harold ngước nhìn ông với đôi mắt trừng trừng to lớn và chậm rãi chìa tay ra. – Chứ sao lại không! Và con vẫn chưa chết đâu thưa cha. Chẳng mấy chốc con sẽ khỏe lại thôi. Con có Mary ở cạnh rồi. Cô ấy có thể chữa bệnh cho con – nếu bác sĩ bó tay.>
Anh nói chậm rãi, nhưng ẩn chứa sau giọng nói ấy là một ý chí kiên cường. Gương mặt hốc hác của anh toát lên một vẻ hiền hòa khiến người cha vô cùng xúc động. Ông không thể ngắm nhìn tàn tích đáng thương của đứa con trai từng kiêu hãnh và bất khuất một thời mà không rơi lệ, và để ý đến ác cảm của Harold đối với những biểu hiện sướt mướt, ông đành bước ra ngoài để lấy lại sự bình tĩnh. Nói với Mary, ông Excell bày tỏ: – Tôi không biết cô – nhưng cô là một người phụ nữ cao thượng. Tôi xin gửi lòng biết ơn của một người cha đến cô. Cô có thể cho tôi biết cô là ai được chứ?
– Cháu là Mary Yardwell, – nàng đáp bằng giọng điệu đặc trưng khúc chiết của mình. – Quê cháu ở Marmion, nhưng cháu từng học ở làng của bác. Cháu đã hát ở nhà thờ nhà bác một thời gian ngắn.
Khuôn mặt ông sáng bừng lên. – Ta nhớ ra cháu rồi – một cô bé xanh xao và nghiêm nghị. Cháu có quen con trai ta ở đó không?
Nàng thoáng ngước nhìn đi chỗ khác. – Cháu đã hát cho anh ấy nghe – khi anh ấy ở trong tù, – nàng đáp. – Cháu thuộc Đội Cứu trợ.
Một bóng đen lại bao trùm lên gương mặt người cha.
– Ta không hề biết chuyện đó, – ông nói, cảm nhận được một điều gì đó huyền bí ẩn giấu nơi đây – thứ nằm ngoài tầm với của ông. – Trong thời gian đó cháu có gặp nó không? Ta đoán chắc là có rồi.
– Có một lần, ở Marmion, cách đây khoảng bốn năm trước.
– À! Giờ thì ta hiểu chuyến viếng thăm Marmion của nó rồi, – ông Excell nói với nụ cười bất chợt. – Ta cứ tưởng nó đến thăm Jack và ta chứ. Hóa ra nó thực sự đến tìm cháu. Ta đoán có đúng không?
– Vâng, – nàng đáp. – Anh ấy muốn cháu đi cùng về trển, nhưng cháu... cháu... không thể làm thế được.
– Ta hiểu – ta hiểu mà, – ông vội vã tiếp lời. – Nó chẳng có quyền gì để nài nỉ cháu điều đó cả – tội nghiệp thằng bé.
– Giờ nghĩ lại thì cứ như thể cháu không có quyền từ chối vậy. Lẽ ra cháu đã có thể giúp anh ấy. Nếu bây giờ anh ấy có bề gì thì nơi đây sẽ nhói đau mãi không nguôi – nàng đưa tay đặt lên cổ họng; – chừng nào còn sống, cháu sẽ không bao giờ tha thứ cho chính mình.>