Đến khi thông tin Nhật Bản đầu hàng truyền đến bên hồ Hán Hồ, đã là tháng chín. Hồ Lão Căn đi bán cá, thấy người mua cá hớn hở vui mừng, vừa mở miệng đã đòi con cá lớn, nói là để bày tiệc. Hồ Lão Căn thấy lạ, vốn hiếm khi mở miệng nên đành mở miệng một lần, hỏi làm gì mà vui thế. Người ta đáp rằng tên Nhật lùn thua rồi, đã đầu hàng Trung Quốc, phải ăn mừng một bữa. Hồ Lão Căn thậm chí còn chưa bán hết cá, vội vã chèo thuyền vội vã quay về.
Thủy Thượng Đăng ban đầu không tin, nhưng cô lại không thể xác thực thật giả. Cuối cùng nghĩ tới nghĩ lui, liền nhờ Hồ Lão Căn đưa cô đến quán trọ mà cô từng ở trước đây. Hồ Lão Căn và Hồ đại thẩm thấy đây cũng là việc nên làm, bèn chống thuyền đưa cô ra cửa.
Còn chưa tới quán trọ, mới đặt chân lên bờ, liền biết quả nhiên là người Nhật đã đầu hàng. Thủy Thượng Đăng lập tức mừng rỡ như điên, ngay trong ngày hôm đó muốn tìm xe ngựa để quay vội về Hán Khẩu. Khi ăn cơm tối ở quán trọ, nữ chủ quán níu kéo hết lần này đến lần khác, thấy trời đã tối không tiện đi lại, Thủy Thượng Đăng mới trọ lại đó một đêm. Đêm này gần như thức trắng. Nằm đối giường trò chuyện với chủ quán suốt cả một đêm. Thủy Thượng Đăng cảm thấy đã lâu lắm rồi cô không muốn nói chuyện nhiều như vậy.
Hôm sau trở về Hán Khẩu, cả thành phố sôi sục một mảnh. Mọi người đều đang đổ về Công viên Trung Sơn, nói là Công viên Trung Sơn đã dựng đình thu nhận đầu hàng, hôm nay sẽ tổ chức lễ đầu hàng ở đó, người Nhật từ nay về sau cút hết cả. Thủy Thượng Đăng ngay cả nhà cũng không về, thẳng thừng bảo xe ngựa đưa mình đến đó.
Hán Khẩu ngày hôm nay giống như được hồi sinh, đâu đâu cũng tràn ngập niềm vui và sự huyên náo. Bầu không khí ấy cực kỳ giống năm 1937. Thủy Thượng Đăng muốn tìm trong đám đông ồn ào này những khuôn mặt quen thuộc. Cô tứ cố lang thang, bước đi thật nhanh. Trên mặt ai nấy đều nở nụ cười sau những thăng trầm dâu bể. Tất cả mọi người đều cười lớn, biểu cảm đều giống nhau y đúc, Thủy Thượng Đăng gần như không thể phân biệt được ai với ai. Kết quả là ngày hôm nay, cô đến một người quen cũng không gặp được.
Mọi thứ trong nhà hoàn toàn giống y nguyên lúc cô đi. Thậm chí những mảnh vụn từng bị người ta đập phá dưới tủ vẫn còn sót lại. Hoa trên bệ cửa sổ đã chết. Cốc trà vì không đổ bã trà đi nên bên trong đã mọc mốc xanh. Đây là chén trà mà Trần Nhân Hậu từng uống. Thủy Thượng Đăng nghĩ, cô phải nhanh chóng dọn dẹp lại mọi thứ trong nhà, hơn nữa cô phải nhanh chóng đặt lại một chậu hoa trên bệ cửa sổ. Cô muốn Trần Nhân Hậu vừa đi đến gần là có thể nhìn thấy, chậu hoa kia là vì anh mà nở rộ.
Các diễn viên Hán kịch sơ tán khỏi Hán Khẩu cũng lần lượt trở về thành, nhưng những thảm trạng truyền đến tai lại khiến những người mê kịch ngẩn ngơ. Rất nhiều đào kép nổi tiếng đã chết trên con đường lưu lạc. Chết vì đói, chết vì bệnh hoặc chết do bom đạn, nếu liệt kê danh sách đưa lên báo chí, có thể chiếm tới hơn nửa trang báo. Mương nào chết vùi mương đó, đường nào chết chôn đường đó, tất cả đều trở thành cô hồn dã quỷ. Thầy Hoàng Tiểu Hợp của gánh Thượng tự cũng chết ở Tương Tây. Khi người Nhật ném bom, họ đang ở trên thuyền. Chiếc hòm đựng quần áo đặt ở đuôi thuyền đã bốc cháy. Không còn hòm quần áo, kịch không thể diễn được nữa. Hoàng Tiểu Hợp lao lên dập lửa trên hòm quần áo, kết quả bị bom đánh chết. Thầy Từ Giang Liên vì nhà ở Hán Khẩu đã bị hủy hoại trong trận ném bom một năm trước, người nhà cũng chết không tìm thấy cả thi cốt, liền coi Hán Khẩu là chốn đau thương, ở lại vùng quê, không chịu quay về nữa. Cũng ở Tương Tây, Lâm Thượng Hoa bị bom làm đứt lìa cả hai chân. Cô được người ta khiêng vào Hán Khẩu, từ đó không thể bước lên sân khấu được nữa.
Thủy Thượng Đăng nghe được tin này liền vội vã đi tìm Lâm Thượng Hoa, hai người gặp nhau ôm mặt khóc nức nở. Lâm Thượng Hoa nói, người thành ra thế này, còn đâu lòng dạ nào mà sống nữa? Không phải vì u già còn trên đời, không nỡ để kẻ đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, thì căn bản cô chỉ muốn chết quách ở Tương Tây cho rồi. Thủy Thượng Đăng khóc lóc nói, từ nay về sau, chỉ cần tôi Thủy Thượng Đăng có con đường sống, thì nhất định sẽ có con đường sống cho chị. Lâm Thượng Hoa khóc bảo, cô đừng đến tìm tôi nữa, tôi không muốn người ta biết tôi là ai. Cô đến rồi, mọi người sẽ chú ý. Bây giờ tôi sống lấm lét chỉ vì một mình u già, đây cũng là lý do để tôi tự tìm cho mình một con đường sống. Tôi hy vọng mình sống mà như đã chết, để thời gian ngày qua ngày chôn vùi tôi đi. Thủy Thượng Đăng nghẹn ngào nói, lúc tôi đến cũng không cho người ta biết tôi là ai. Tôi đến khi trời tối. Tôi sẽ ở bên chị, hai chúng ta ở cùng nhau, để u già sống thật vui vẻ. Có chị ở đây, trong lòng tôi mới cảm thấy yên tâm.
Hai người vừa nói vừa khóc, khóc rồi lại nói, suốt cả một đêm không hề chợp mắt.
Thủy Thượng Đăng trở về nhà, lòng nặng trĩu. Người Nhật đã đi rồi, vốn tưởng rằng sẽ vô cùng vui mừng, nào ngờ những chuyện khiến cô đau đớn và buồn bã lại cứ nối tiếp nhau xảy ra, tâm trạng dường như càng thêm u uất. Vì cái chết của Hoàng Tiểu Hợp, vì gia đình của Từ Giang Liên, vì đôi chân của Lâm Thượng Hoa. Thêm nữa, điều càng đè nặng trong lòng cô hơn, chính là Trần Nhân Hậu mãi vẫn không hề lộ diện. Anh đã chết hay còn sống? Thủy Thượng Đăng hoàn toàn không dám đoán mò.
Có một hôm, Thủy Thượng Đăng giả vờ như đi ngang qua, bước đến trà viên Ngũ Phúc. Ngẩng đầu nhìn biển hiệu, vậy mà lại đổi thành trà viên Vọng Hà. Dường như đã đổi chủ khác. Cô có chút kinh ngạc, vội bước vào trong cửa hỏi thăm. Đám tiểu nhị trong trà viên không một ai quen mặt. Thủy Thượng Đăng hỏi, đây chẳng phải trước kia là trà viên Ngũ Phúc sao? Tiểu nhị đáp, ây da, đổi qua mấy lượt chủ rồi còn gì. Thủy Thượng Đăng nói, sao lại thế được? Lần trước tôi tới đây tính ra còn chưa đầy một năm đâu. Tiểu nhị nói, lúc người Nhật làm chủ, một năm thời gian, cô tưởng là ngắn lắm chắc? Thủy Thượng Đăng hỏi, chủ nhân của quán này họ gì? Tiểu nhị đáp, họ Tần, cô quen à? Thủy Thượng Đăng hỏi, thế còn chủ nhân mang họ Thủy ban đầu đâu? Tiểu nhị nói, ồ, cái này ấy à, nghe nói người nhà hắn ta phạm chuyện, nên đã bán trà viên đi để gom tiền cứu người. Trà viên Ngũ Phúc đã đổi sang họ Trần. Tên là trà viên Cửu Phúc. Lão bản của chúng tôi từ Trùng Khánh trở về tiếp quản, lại mua đứt trà viên Cửu Phúc, đổi thành cái tên như bây giờ. Nghe người ta bảo vị lão bản họ Trần nguyên thủy kia là Hán gian, bây giờ đang ở trong đại lao rồi.
Lúc Thủy Thượng Đăng bước ra ngoài, trong lòng thầm nghĩ, vị lão bản họ Trần kia, lẽ nào không phải là Trần Nhất Đại đó chứ? Nếu là Trần Nhất Đại, vậy còn Thủy Văn thì sao? Lòng Thủy Thượng Đăng thắt lại một nhịp. Thế là cô lại gọi xe kéo đi thẳng đến cổng lớn nhà họ Thủy. Vẫn là cánh cổng lớn sơn đen quen thuộc mà cũng đáng hận ấy. Hai chiếc vòng sắt đen bóng vẫn treo lủng lẳng trên cửa. Thủy Thượng Đăng tiến lên gõ gõ mấy cái, người ra mở cửa là một ông lão. Thủy Thượng Đăng hỏi, xin hỏi đây có phải nhà họ Thủy không? Ông lão mất kiên nhẫn đáp, nhà họ Thủy cái gì, họ Hỏa ấy chứ, đổi chủ lâu rồi. Nói xong, một tiếng "rầm" liền đóng sập cửa lại. Chiếc vòng sắt trên cửa suýt chút nữa đập vào trán Thủy Thượng Đăng.
Lòng Thủy Thượng Đăng có chút hoảng hốt. Cô không biết nhà này đã xảy ra chuyện gì. Cô nghĩ, sao mình lại phải phiền muộn đến thế này? Cơ nghiệp tổ tiên của họ đều đã đổi chủ cho người khác, chẳng phải đó là điều mà cô vẫn luôn hằng mong ước sao? Chẳng lẽ cô không vẫn luôn căm hận bọn họ, và hận không thể khiến bọn họ nhà tan cửa nát ngay lập tức hay sao? Thế mà bây giờ, khi cô không biết tung tích của họ, trong lòng lại chẳng hề có chút cảm giác may mắn nào, ngược lại tâm trạng lại rối bời phiền muộn là sao? Sự thù hận ngút trời của cô đối với họ đâu rồi? Mối hận bị sỉ nhục cùng mối thù giết cha của cô đã đi đâu cả rồi?
Thủy Thượng Đăng không hiểu bản thân mình bị làm sao nữa.
Chính là vào đêm hôm đó, Thạch Thượng Tuyền đã tìm đến nhà Thủy Thượng Đăng.
Thủy Thượng Đăng cảm thấy khá bất ngờ, hỏi anh ta có chuyện gì. Thạch Thượng Tuyền nói, cô có muốn diễn kịch không? Thủy Thượng Đăng đáp, đương nhiên là muốn, nằm mơ cũng muốn. Thạch Thượng Tuyền bảo, chứ sao nữa? Anh biết cô sẽ thế này mà. Bởi vì cô vẫn chưa nổi danh đến cùng cực. Thủy Thượng Đăng mỉm cười, bảo đúng vậy. Tôi còn muốn nổi danh khắp toàn Trung Quốc cơ. Thạch Thượng Tuyền nói, nghĩ được vậy là tốt. Thủy Thượng Đăng hỏi, sao nào, anh muốn mời tôi à? Thạch Thượng Tuyền đáp, tôi thì làm gì có bản lĩnh này. Là Châu ban chủ Châu Nguyên Khôn từ Trùng Khánh trở về rồi. Thấy Hán kịch ảm đạm như vậy, ông ấy chuẩn bị dựng lại gánh hát, dàn dựng vở lớn, để Hán kịch náo nhiệt trở lại. Thủy Thượng Đăng thản nhiên nói, ông ta nói muốn mời tôi à? Thạch Thượng Tuyền đáp, đúng vậy. Bởi vì cô là đào kép nổi tiếng mà. Chỉ có điều, Châu ban chủ biết bố cô lâm bệnh, ông ấy không cho cô mượn tiền, khiến cô phải chịu biết bao nhiêu khổ sở, mấy năm nay cô vẫn ghi hận ông ấy, cho nên, ông ấy không cách nào mở lời được. Hôm qua tôi cùng Châu ban chủ đi thăm Lâm Thượng Hoa. Lâm Thượng Hoa nói, Thủy Thượng Đăng là một người rạch ròi ân oán. Ai có ơn với cô ấy, cô ấy nhất định sẽ báo đáp. Ban chủ năm xưa thu nhận cô ấy vào gánh, lại mời Từ lão sư dạy dỗ cô ấy, để cô ấy có được bản lĩnh đầy mình, cái ơn này, Thủy Thượng Đăng nhất định sẽ báo. Cô ấy không đổi cái nghệ danh Thủy Thượng Đăng này, chính là muốn bản thân ghi nhớ ơn nghĩa của ban chủ. Châu ban chủ nghe được lời này, mới bảo tôi hôm nay đến tận cửa để mời. Cứ xem thái độ của cô thế nào đã.
Lòng Thủy Thượng Đăng xao động, có một dòng nước ấm lan tỏa khắp toàn thân. Cô nghĩ, vẫn là Lâm Thượng Hoa hiểu mình. Nghĩ đoạn liền nói, đối với tôi mà nói, Châu ban chủ chỉ có ơn chứ không có oán. Không cho tôi mượn tiền, đó là quy củ trong gánh. Ông ấy cũng không thể phá lệ, không tính là oán. Tôi cũng chưa từng ghi hận, là do ông ấy tự đa nghi đấy chứ. Còn về ơn nghĩa, Châu ban chủ có ơn nặng tựa thái sơn đối với tôi, không có Châu ban chủ, thì sẽ không có Thủy Thượng Đăng của ngày hôm nay. Đã là Châu ban chủ tổ chức lại gánh hát, chỉ cần ông ấy coi trọng tôi, tôi nhất định sẽ đi.
Thạch Thượng Tuyền mừng rỡ khôn xiết, vội vàng liên mồm nói, tuyệt quá rồi. Lúc tôi đến, Châu ban chủ còn dặn đi dặn lại, không được ép buộc Thủy Thượng Đăng. Tôi về báo lại lời này của cô với Châu ban chủ, ông ấy nhất định sẽ vui chết mất thôi. Thủy Thượng Đăng mỉm cười nói, còn về tiền bao lương thì... Thạch Thượng Tuyền đáp, Châu ban chủ đã nói rồi, tiền bao lương của cô chắc chắn là cao nhất, hơn nữa sẽ đưa theo ý của cô. Thủy Thượng Đăng bảo, tôi không có ý này, ý tôi là, Châu ban chủ cứ tùy tình hình mà quyết định, cho tôi bao nhiêu tôi cũng không tranh cãi đâu. Thạch Thượng Tuyền nói, Thủy Thượng Đăng, cô nói câu này khiến tôi thật sự bất ngờ đấy. Cô có biết không, tôi vốn định hôm nay đến đây để đôi co mòn cả mép với cô đấy. Thế mà mới có mấy phút, mọi chuyện đã bàn xong xuôi hết rồi cả rồi ư? Tôi vẫn còn thấy chưa đã thèm đấy nhé. Thủy Thượng Đăng bật cười, bảo đó là vì anh không hiểu tôi. Người hiểu tôi thì thừa biết căn bản chẳng cần phải đôi co mòn mép gì sảng, chỉ cần nói là diễn kịch, dưới lầu hô lên một tiếng là tôi tới ngay.
Sự nghiệp diễn kịch thời hậu chiến của Thủy Thượng Đăng cứ thế bắt đầu.
Châu Nguyên Khôn đã chọn sân khấu lớn của Nhạc Viên làm nơi biểu diễn cho buổi mở màn. Ông ấy đã chọn hai vở sở trường của Thủy Thượng Đăng là "Vũ Tự Phong" và "Trích Hoa Hí Chủ". Thủy Thượng Đăng nhấc chân bước lên sân khấu, hàng ghế khán giả vốn đang ồn ào náo nhiệt lập tức rơi vào tĩnh lặng. Thủy Thượng Đăng trên sân khấu rực rỡ chói lọi, sáng bừng rạng rỡ. Cô hầu như vừa cất giọng, tiếng vỗ tay đã vang lên rào rào như vũ bão. Tiếng hát thanh tao mà phóng khoáng của cô, biểu cảm vừa quyến rũ vừa kiên định của cô, cử chỉ uyển chuyển đa dạng của cô, ánh mắt đưa tình liếc ngang liếc dọc của cô, bỗng chốc đã diễn tả được trọn vẹn tinh hoa vừa đẹp đẽ lại vừa có sức mạnh của Hán kịch. Vốn tưởng rằng sau tám năm kháng chiến bảy năm lưu vong, các đào kép nổi tiếng của Hán kịch đều đã nhuốm đầy tang thương, người cũ đã già, người mới chưa xuất hiện, gần như đã bị đứt thế hệ. Nào ngờ Thủy Thượng Đăng lại vẫn tỏa sáng rực rỡ trên sân khấu này.
Vở kịch còn chưa diễn xong, Châu Nguyên Khôn đã thừa biết Thủy Thượng Đăng sau lần này chắc chắn sẽ nổi đình nổi đám. Cô quả nhiên đã trở thành cây hái ra tiền của ông ta.
Vừa vãn tuồng, Thủy Thượng Đăng gần như bị người hâm mộ vây kín. Cô đã ý thức được sức hút của bản thân, biết rằng lần này mình nhất định sẽ nổi danh khắp Hán Khẩu, biết rằng quãng thời gian ẩn mình bảy năm qua của cô không hề bị phí hoài. Vì thế mà cô phấn khích đến mức nói năng lộn xộn. Các phóng viên đuổi theo cô, người hâm mộ vây quanh cô, nhất thời cô khó lòng đối phó xuể.
Thế nhưng, khi tất cả sự náo nhiệt và săn đón đã tan biến hết, cô tắm rửa xong xuôi nằm lên giường, trong lòng lại cảm thấy trống rỗng hụt hẫng. Hình bóng một người cứ hoài vảng vất trước mắt cô. Cô nhớ khi ấy ngày nào anh cũng sai một cậu bé bán hoa mang đến phòng hóa trang của cô một bó hoa tươi. Cô nhớ ánh mắt rưng rưng ngấn lệ của anh mỗi khi nhìn thấy cô. Con người nhiệt huyết mà chân tình ấy, con người vẫn luôn miệng nói muốn nâng niu bảo bọc cô cả đời ấy, con người ôm cô vào lòng rồi nhất quyết không chịu buông tay ấy, giờ phút này lại đang ở đâu?
Thủy Thượng Đăng hiểu rằng sự trống vắng trong lòng cô chính là vì Trần Nhân Hậu. Mà sao Trần Nhân Hậu mãi vẫn chưa xuất hiện?
Có một hôm, Thủy Thượng Đăng diễn xong bước ra ngoài. Bây giờ cứ mỗi lần diễn kịch xong, cô đều được người hâm mộ đón đi ăn đêm. Giả như là ban ngày, cũng sẽ có người bày biện sẵn tiệc tùng đợi cô tới. Ngồi trên xe kéo, Thủy Thượng Đăng dự định đến Tiểu Đào Viên, nghe nói đây là một nhà hàng mới mở, món canh gà làm thơm phức lại rất bổ dưỡng. Khi đi đến gần nhà thờ Vinh Quang Cơ Tố, chợt thấy một người phụ nữ đang gánh hàng rong có dáng người trông rất giống Lý Thúy, Thủy Thượng Đăng thầm cả kinh. Không kìm được bèn gọi xe dừng lại, tự mình xuống xe tiến lại gần để nhìn cho kỹ.
Điều khiến cô vô cùng ngạc nhiên là, quả nhiên chính là Lý Thúy.
Cho dù có mối thù hằn sâu sắc đến mấy, cho dù từng một lòng muốn trả thù, nhưng khi nhìn thấy bộ dạng này của cô ta, tận sâu trong nội tâm Thủy Thượng Đăng vẫn dấy lên một nỗi đau âm ỉ. Thủy Thượng Đăng dừng bước trước mặt cô ta, cô chặn đứng con đường phía trước.
Lý Thúy thấy một đôi giày da cao gót lọt vào tầm mắt mình, chợt ngẩng đầu lên, lại thấy đó là Thủy Thượng Đăng. Hốc mắt cô ta lập tức tràn ngập nước mắt, rồi cô ta bật khóc. Lý Thúy nói, con đi đâu thế hả? Thủy Tích! Mẹ đã đến nhà tìm con, tìm mấy bận liền, mà trong nhà đều không có ai.
Thủy Thượng Đăng không còn so đo chuyện cô ta gọi mình là Thủy Tích nữa, mà chỉ vội vã hỏi, sao cô lại làm cái nghề này? Lý Thúy đáp, muốn sống tiếp, không làm cái này thì làm sao được chứ? Thủy Thượng Đăng hỏi, đã xảy ra chuyện gì vậy? Lý Thúy đáp, chẳng lẽ con không biết ư?
Thủy Thượng Đăng biết nếu đã nói ra đầu đuôi thì chắc chắn sẽ rất dài dòng, cô đành từ chối cả tiệc tùng, đưa Lý Thúy về nhà của mình. Suốt dọc đường Lý Thúy cứ khóc mãi, Thủy Thượng Đăng không lên tiếng, cứ để mặc cho cô ta khóc. Thủy Thượng Đăng thầm nghĩ, năm xưa lúc tôi khóc, cô đang ở đâu? Lại có ai tới an ủi tôi cơ chứ?
Uống xong một chén trà nóng, Lý Thúy lúc này mới mở miệng nói, con thực sự không biết chuyện nhà họ Thủy sao? Thủy Thượng Đăng đáp, từ sau khi người Nhật đến nhà tôi, ngày hôm sau tôi đã rời khỏi Hán Khẩu rồi. Vẫn luôn ở nông thôn, đến cả chuyện người Nhật đầu hàng khi nào tôi còn chẳng hay biết nữa là. Lý Thúy bảo, hèn chi. Thủy Văn đã bị người Nhật bắt đi, bọn chúng đinh ninh rằng Thủy Văn từng làm cảnh sát, lại biết dùng súng lục, có quan hệ vô cùng mật thiết với đồ tể Giả, mà đồ tể Giả từng giết chết mấy tên lính Nhật liền. Cho nên bọn chúng chắc mẩm là do Thủy Văn ra tay sát hại người Nhật. Bọn chúng đã tống giang hắn ta vào đại lao. Trên người bị đánh đập nát bét cả ra, thế mà Thủy Văn vẫn không hề biện minh nửa lời. Để cứu Thủy Văn, người nhà đã đem trà viên Ngũ Phúc gạt bán rẻ mạt cho Trần Nhất Đại, trông mong hắn ta ra tay giúp đỡ. Tên khốn này nuốt trọn trà viên, nhưng lại chẳng thèm dốc sức, chỉ cứu được mỗi mình San Tử ra ngoài. Đại thái thái vì sốt sắng cứu con, lại đem bán cả nhà trạch họ Thủy đi, mang tiền đến để chuộc người, kết quả vẫn chẳng ăn thua gì. Cuối cùng người Nhật dùng đao chém chết Thủy Văn, toàn thân không tìm nổi một miếng da lành lặn, chết thảm thương làm sao. Đại thái thái nghe được tin dữ này, đến cả thi thể của Thủy Văn cũng chẳng thèm nhìn lấy một cái, ngay ngày hôm đó đã nhảy xuống sông tự vẫn. Đến lúc vớt thi thể lên, người ta đã biến dạng hết cả. Thủy Võ vừa nhìn thấy, liền phát điên luôn, phát điên đến mức độ trầm trọng. Nó tận mắt chứng kiến cái chết thảm thương của tía, lại nhìn thấy mẹ chết bi thảm nhường ấy, mà anh trai cũng chết với thi thể không còn mảnh da lành, hỏi sao nó có thể không phát điên hoàn toàn cho được chứ? Chuyện tang ma trong nhà chẳng có ai đứng ra lo liệu, toàn bộ đều trông cậy vào San Tử giúp tôi, mai táng qua loa cho hai mẹ con họ. Xong xuôi, Thủy Võ chẳng biết chạy đi đâu mất, vợ của Thủy Văn thì bồng con bồng cái về nhà mẹ đẻ. Tôi và San Tử cũng đành mỗi người tự tìm lấy đường sống cho mình. Nhà họ Thủy cứ thế mà lụi tàn.
Thủy Thượng Đăng kinh ngạc đến mức đứng ngây người ra một hồi lâu không thốt nổi nên lời. Cô rời khỏi Hán Khẩu tính ra chưa đầy chín tháng, vậy mà vật đổi sao dời, tất cả những gì cô từng căm hận, tất cả những gì cô từng muốn trả thù, căn bản chẳng cần cô phải nhúng tay vào, thế mà đã thay đổi hoàn toàn rồi. Cô thừa biết rõ trong lòng, mọi biến cố này đều có liên quan đến cô. Bởi vì, chính cô là kẻ đã nói dối. Cô không hề chứng minh rằng tối hôm đó Thủy Văn đang ở nhà mình. Cô chợt nhớ lại đêm gió bão ấy, Thủy Văn ngồi trên ghế sô-pha nhà cô, lắng nghe cô kể lại những trải nghiệm cả đời mình. Khi đó, ánh mắt anh tràn ngập sự đồng cảm, đến những khúc đoạn bi thảm, đôi mắt anh cũng ngấn lệ. Người đàn ông này chính là ruột thịt của cô, vậy mà cô lại mượn tay người Nhật để đẩy anh vào chỗ chết, lại còn vạ lây đến cả nhà.
Thủy Thượng Đăng đột nhiên cảm thấy lồng ngực đau thắt lại. Trước đây cô cũng từng đau đớn vô số lần, nhưng đằng sau mỗi lần đau đớn ấy đều có mối thù hận vô tận chống đỡ cho cô. Mối thù hận đó thậm chí còn dùng một sức mạnh lớn lao hơn để lấn át đi nỗi đau trong lồng ngực. Còn lần này, chỉ có nỗi đau đớn, chứ không hề có hận thù. Đây mới là nỗi đau thực sự. Là một thứ đau đớn đến mức gần như không thể gánh chịu nổi.
Thủy Thượng Đăng không thể tiếp tục trò chuyện với Lý Thúy nữa, cô lấy ra một khoản tiền, đưa cho cô ta, bảo cô ta đi sống cho thật tốt. Lý Thúy van xin, tôi muốn được ở cùng một chỗ với con. Tôi tiêu tốn của con chẳng bao nhiêu đâu, hơn nữa tôi còn có thể chăm sóc cho con.
Vừa nghe thấy câu nói này, nỗi đau trong lòng Thủy Thượng Đăng lập tức vơi đi, hận ý lại trỗi dậy. Cô đứng phắt dậy, mở toang cửa ra, đưa tay làm hiệu mời ra ngoài. Thủy Thượng Đăng lạnh lùng nói, tôi và cô chẳng họ chẳng hàng, thậm chí còn chẳng tính là quen thuộc, cô có lý do gì mà đòi ở chung với tôi chứ? Tôi cần cô đến chăm sóc làm gì? Lý Thúy nói, tôi biết con hận tôi, nhưng dù sao tôi cũng là mẹ ruột của con. Con là do một tay tôi mang nặng đẻ đau mười tháng sinh ra đấy. Thủy Thượng Đăng lớn tiếng nói, tôi nói cho cô biết, mẹ của tôi chỉ có duy nhất một người, tên của người ấy là Huệ Như; cha của tôi cũng chỉ có duy nhất một người, ông ấy tên là Dương Nhị Đường. Bọn họ đều đã chết từ lâu rồi. Trên cõi đời này, tôi không còn người thân nào khác nữa.
Lý Thúy trầm mặc một thoáng, cô ta đứng dậy, cầm lấy số tiền trên tay Thủy Thượng Đăng. Thủy Thượng Đăng bảo, đây là vì nể mặt Thủy Văn, tôi mới cho cô tiền. Lý Thúy trừng mắt nhìn cô chằm chằm mấy giây, rồi bước về phía cửa, vừa đi vừa nói, số mệnh, tất cả đều là số mệnh. Là số mệnh của con, cũng là số mệnh của tôi. Không có một đứa con gái nhẫn tâm thế này thì cũng tốt. Dính líu tới nó, chính là cái chết. Nhà họ Thủy từ xưa vẫn nói con là sao chổi, tao còn chẳng tin, giờ thì nhìn lại nhà họ Thủy mà xem, hễ con xuất hiện là bố chết thì nhà tan. Mấy người tự tính lại xem, trên tay con đã dính máu của bao nhiêu người rồi hả.
Lý Thúy nói xong liền bước ra ngoài, nhìn bóng lưng cô ta khuất dần, Thủy Thượng Đăng gần như mềm nhũn ngã quỵ xuống đất. Cô đưa bàn tay mình lên nhìn, nó mới thon thả trắng trẻo và tràn ngập vẻ đẹp làm sao, thế nhưng dưới lớp da ấy lại gần như chi chít những vết máu tanh. Những giọt máu ấy, toàn bộ đều là của người khác.
Cô thậm chí còn quên mất cả việc hỏi xem Trần Nhân Hậu đang ở đâu. Kể từ ngày này, đêm nào cô cũng gặp ác mộng.
Mới vừa chớm ấm áp, mùa mưa dầm đã kéo đến. Vào cái tiết trời này, vì ai nấy đều lười ra đường trong trời mưa, nên sân khấu có phần ảm đạm, tựa như cái cây bị mưa làm ướt đẫm, chẳng tài nào vực dậy được chút tinh thần nào. Các chủ gánh hát và ông chủ các hí viện vào lúc này, ngày nào cũng ngồi trong trà viên để vắt óc suy nghĩ xem nên dùng chiêu trò mới mẻ nào để lôi kéo đám người mê kịch bước chân vào hí viện của họ.
Chiêu mới còn chưa nghĩ ra, thì cơ hội đã tự tìm đến tận cửa. Tất cả những điều này đều là nhờ Thủy Thượng Đăng.
Có một hôm, một phóng viên đột nhiên viết một bài báo dài dằng dặc, thuật lại rằng khi Hán Khẩu thất thủ, các nghệ sĩ ở Hán Khẩu đã giữ vững khí tiết như thế nào để tẩy chay người Nhật. Trong đó có đoạn dài nhắc đến đào kép nổi tiếng của Hán kịch là Thủy Thượng Đăng, dù đang ở trong vùng bị chiếm đóng nhưng vẫn quyết liệt không chịu hát cho người Nhật nghe. Dù có mời mọc thế nào đi nữa, cô cũng nhất quyết không chịu. Cuối cùng để né tránh sự truy lùng của người Nhật, cô đã một thân một mình trốn khỏi Hán Khẩu. Vị phóng viên kia nói rằng, người anh em của ông ta đã nghe được câu chuyện này khi đang thẩm vấn một tên Hán gian tên là Trần Nhất Đại, và cảm thấy vô cùng xúc động nên đặc biệt nhờ ông ta viết ra. Tên Hán gian Trần Nhất Đại kia trong suốt thời gian Hán Khẩu thất thủ, vẫn luôn làm quản sự của Nhạc Viên. Khi hắn ta khai nhận tội ác của mình, thậm chí còn nói rằng người mà hắn ta khâm phục nhất chính là Thủy Thượng Đăng, bởi vì hắn ta từng nhiều lần mời Thủy Thượng Đăng đến diễn kịch, thù lao đưa ra cũng cực kỳ cao, thế nhưng đều bị Thủy Thượng Đăng cự tuyệt thẳng thừng. Thủy Thượng Đăng đã nói với hắn ta rằng, chỉ cần dưới sân khấu có một tên lính Nhật xem kịch, thì cô sẽ không bao giờ đi diễn. Phóng viên cho hay, ông ta đã cất công đến Nhạc Viên để phỏng vấn. Kết quả lại nghe được một thông tin còn chấn động hơn nữa. Năm xưa các nghĩa sĩ kháng Nhật đã ném bom tiêu diệt người Nhật ở rạp xiếc bên cạnh, tình cờ bị Thủy Thượng Đăng bắt gặp, chính cô là người đã cải trang thành nam nhi để giải cứu cho các nghĩa sĩ kháng Nhật. Đây là điều do chính ông lão chột mắt làm trà phòng ở Nhạc Viên tận mắt nhìn thấy, bởi vì họ đã đổi quần áo ngay trong phòng trà của ông ta. Phóng viên đã dùng những lời lẽ ca tụng hết lời đối với Thủy Thượng Đăng, nói rằng cô chính là lương tri đẹp đẽ nhất của người Trung Quốc.
Lúc Thủy Thượng Đăng nhìn thấy tờ báo này thì trời đã tối muộn. Vị phóng viên viết bài đã cất công đến tận hậu đài để trao tận tay cho cô. Cô vô cùng kinh ngạc, không hiểu tại sao Trần Nhất Đại lại thốt ra những lời nhường ấy. Hôm sau, Châu ban chủ hớn hở báo với Thủy Thượng Đăng rằng, vé xem kịch của cô ở Hán Khẩu bây giờ đã là "một vé khó cầu" rồi. Chỉ cần treo bảng tên cô lên là vé được bán sạch veo trong chớp mắt. Châu ban chủ nói, Thủy Thượng Đăng à, cô cừ lắm, đã mang lại vinh quang cho gánh Thượng tự chúng ta rồi đấy. Ở ẩn tại Hán Khẩu gần bảy năm trời, vậy mà chưa từng diễn một vở kịch nào cho người Nhật xem, thật là hiếm có khó tìm. Cũng chẳng biết cô đã vượt qua quãng thời gian đó như thế nào nữa. Thế nhưng chúng tôi đều vô cùng tự hào về cô. Làm tốt lắm. Tôi được làm ban chủ của cô, đúng là phúc phận của tôi rồi. Lời nói khiến Thủy Thượng Đăng vô cùng hổ thẹn.
Đến lúc hạ màn vào buổi tối, số lẵng hoa gửi tặng Thủy Thượng Đăng nhiều đến mức trên sân khấu không còn chỗ đặt. Có người gửi tặng một cặp lẵng hoa lớn, một cái trên đề "Thủy Thượng Đăng, lương tri đẹp đẽ của Hán Khẩu". Cái còn lại đề "Thủy Thượng Đăng, khí tiết kiêu hãnh của Hán Khẩu". Thủy Thượng Đăng lập tức rưng rưng ngấn lệ. Cô nghẹn ngào bước lên sân khấu tạ ơn, nói rằng lúc triệt thoái, thầy Hoàng Tiểu Hợp đã dặn dò cô, tuyệt đối không được diễn kịch cho người Nhật xem. Cô đã hứa với thầy Hoàng. Cho nên, ở Hán Khẩu, cô chưa từng nghĩ đến chuyện kháng Nhật, chẳng qua chỉ là ghi nhớ kỹ lời dạy của thầy mà thôi. Câu trả lời khiêm nhường của cô lại càng giành được những tràng pháo tay vang dội khắp cả khán phòng.
Đêm hôm đó, Thủy Thượng Đăng từ chối mọi lời mời đi ăn đêm, cầm chặt tờ báo đó trở về nhà. Ngâm mình trong bồn tắm bốc khói nghi ngút, cô thầm nghĩ, mấy năm nay, rốt cuộc mình đã vượt qua như thế nào nhỉ? Không có Trần Nhân Hậu, không có Trương Tấn Sinh, không có Thủy Văn, không có Vi Hồng, không có lão bá chột mắt, thậm chí không có cả Trần Nhất Đại, thì làm sao cô có thể sống nổi đây? Những ngày tháng không có kịch để diễn tuy rằng cô đơn, nhưng hình như cũng đâu đến nỗi quá khổ sở phải không? So với những nỗ lực tuyên truyền kháng Nhật và những tội ác phải gánh chịu khi lưu lạc bên ngoài của Lâm Thượng Hoa và thầy Hoàng Tiểu Hợp cùng những người khác, thì chút chuyện này của cô tính là gì chứ?
Thế nhưng hoa tươi, tiếng vỗ tay cùng vinh quang lại đều đổ dồn lên người cô.
Đêm hôm đó, Thủy Thượng Đăng vậy mà lại không tài nào chợp mắt được.
Sáng sớm hôm sau, nữ gia nhân vừa mới dọn dẹp phòng ốc xong xuôi, thì có người đến tìm Thủy Thượng Đăng. Thủy Thượng Đăng vẫn chưa thức dậy. Nữ gia nhân hạ giọng thầm thì bên gối rằng, trông giống như mấy người bên chính quyền. Thủy Thượng Đăng giật mình thót tim, vội dặn dò cô ta tiếp khách, còn mình thì lồm cồm bò dậy. Vội vàng chải chuốt qua loa, trang điểm nhạt nhẽo, rồi bước vào phòng khách.
Hai người lạ mặt và một người trông có vẻ quen mặt đang ngồi trên ghế sô-pha ở phòng khách thưởng thức cà phê. Thủy Thượng Đăng hỏi, xin hỏi các vị đây là...? Vị có vẻ quen mặt kia vội vàng lên tiếng, tôi là phóng viên tờ Thượng Báo, họ Lưu. Hôm qua tôi vừa gặp cô rồi. Chính tôi đưa họ đến đấy. Họ muốn tìm hiểu về tình hình của Trần Nhất Đại.
Thủy Thượng Đăng hơi ngạc nhiên, nói tìm tôi để tìm hiểu tình hình của Trần Nhất Đại ư? Người nọ đáp, bởi vì Trần Nhất Đại ở trong ngục vẫn luôn kêu oan cho mình, nói rằng hắn ta sở dĩ làm Hán gian, là vì lúc đó đối mặt với đám người Nhật xộc thẳng vào, để bảo vệ cho mấy chục con người lớn nhỏ trong đoàn xiếc tạp kỹ, nên hắn ta mới cực chẳng đã phải làm như vậy. Hắn ta chưa từng làm chuyện gì hại người ở Hán Khẩu cả. Tỷ như việc Thủy Thượng Đăng không chịu diễn kịch cho người Nhật, hắn ta không những không tố cáo với người Nhật, mà còn luôn bảo vệ cô. Thậm chí dù biết rõ trong nhà cô cất giấu phần tử kháng Nhật, hắn ta không những không vạch trần, mà còn che chở tại chỗ, qua mặt đám người Nhật, nhờ đó mà bảo vệ được các chiến sĩ kháng Nhật của chúng ta. Chúng tôi muốn tìm cô để xác thực lại xem, những lời hắn ta nói có đúng sự thật hay không.
Thủy Thượng Đăng trầm mặc. Cô đang suy nghĩ. Lời của Trần Nhất Đại tuy không sai, nhưng còn cái chết của Thủy Văn thì sao? Việc hắn ta dựa thế người Nhật để chiếm đoạt Lý Thúy thì sao? Việc hắn dẫn người Nhật xông đến nhà cô thì sao? Tội ác hắn ta chiếm đoạt trà viên Ngũ Phúc mà không cứu Thủy Văn thì sao? Hơn nữa, còn nữa, đồ đệ của hắn ta từng đánh chết người cha ruột mà cô chưa từng gặp mặt bao giờ, nếu không có cái chết đó, thì cô sao lại phải chịu đựng nhiều khổ nạn nhường ấy? Nhà họ Thủy sao lại thành ra nông nỗi này của ngày hôm nay? Hắn ta tội ác tày trời, tại sao cô phải làm chứng cho hắn ta chứ?
Nghĩ đoạn, Thủy Thượng Đăng nhạt nhẽo cười, nói hắn ta không nhắc đến chuyện dựa dẫm vào thế lực của người Nhật để cưỡng chiếm phụ nữ nhà người ta à? Cũng không nhắc đến chuyện hắn ta dẫn người Nhật đến nhà tôi để bắt người đấy chứ? Không phải chính hắn ta đã dẫn dụ người Nhật tới, thì hà cớ gì tôi phải trốn khỏi Hán Khẩu? Chắc hắn ta không biết rằng, tôi trốn chạy vào lúc tháng chạp giá lạnh, đổ bệnh một trận nặng suýt thì chết ở nông thôn đâu nhỉ. Đây cũng là sự bảo vệ của hắn ta á? Hơn nữa, chẳng lẽ hắn ta không nói với các vị rằng, chính hắn ta là kẻ đã đi mật báo với người Nhật, khiến cho ông chủ trà viên Ngũ Phúc là Thủy Văn bị người Nhật bắt đi rồi chém chết ư? Thủy Văn cũng là người chưa từng chịu hợp tác với người Nhật đấy thôi. Anh ấy là chiến sĩ kháng Nhật. Gia đình anh ấy tan cửa nát nhà, chẳng lẽ Trần Nhất Đại không nên chịu trách nhiệm hay sao?
Thủy Thượng Đăng nhìn đôi mày của người kia đang nhíu chặt lại. Thủy Thượng Đăng nghĩ, không vì lý do gì khác, lần này tôi phải báo cái thù giết cha giết anh.
Nửa tháng sau, vào một buổi tối, Thủy Thượng Đăng diễn xong bước vào phòng hóa trang, chợt thấy Lý Thúy đang ngồi ở đó. Cô vừa định nói gì đó, thì Lý Thúy đã lên tiếng, tôi biết con muốn nói gì, tôi sẽ không làm phiền con đâu. Tôi chỉ nói vài câu là đi ngay. Hơn nữa con cứ yên tâm, đây là lần cuối cùng tôi tìm con, sau này tôi cũng không muốn gặp lại con nữa đâu.
Thủy Thượng Đăng ngẩn ngơ một thoáng, nói cô có chuyện gì thì nói đi. Lý Thúy đáp, tôi muốn nói cho con biết hai chuyện, một là Trần Nhất Đại hôm kia đã tự sát rồi.
Thủy Thượng Đăng giật mình thót tim, nhưng cô không muốn để lộ sự kinh ngạc này ra trước mặt Lý Thúy. Cô thản nhiên nói, vậy sao? Điều này thì liên quan gì đến tôi chứ?
Lý Thúy nói, liên quan hay không, con hãy tự hỏi chính trái tim mình đi. Trần Nhất Đại tuy không phải là thứ ra gì, nhưng hắn ta quả thực đã từng bảo vệ con. Người Nhật đến chỗ con, chính là hắn ta chủ động đòi đi theo, hắn ta sợ người Nhật gây bất lợi cho con. Bởi vì trước đó, tôi đã nói cho hắn ta biết, con là con gái của tôi và Thủy Thành Vượng. Hắn ta vẫn luôn ôm nỗi áy náy về cái chết của Thủy Thành Vượng, cho nên, hắn ta muốn làm gì đó cho con, bao gồm cả những lời hắn ta đã khai khi nấy. Hắn ta từng nói từ lâu rồi, hắn ta muốn trả lại tất cả món nợ mà hắn ta thiếu Thủy Thành Vượng và thiếu mẹ con tôi lên người con. Con bây giờ đã trở thành anh hùng của Hán Khẩu, chính là một phần món nợ mà hắn ta trả rồi đấy. Thế nhưng con lại chẳng thèm nói dù chỉ một chữ sự thật vì hắn ta cả.
Thủy Thượng Đăng trấn tĩnh lại bản thân, nói những điều tôi nói đều là sự thật. Chẳng lẽ cô bị hắn ta cưỡng chiếm mà không cảm thấy nhục nhã ư? Cô xứng đáng với tôi và người cha ở nhà họ Thủy không? Chẳng lẽ cái chết của Thủy Văn mà hắn ta không cần phải chịu trách nhiệm sao?
Lý Thúy cười lạnh một tiếng, nói cuối cùng con cũng chịu thừa nhận mình là con gái nhà họ Thủy rồi cơ à. Thủy Thượng Đăng đáp, thì sao nào? Lý Thúy bảo, hay lắm. Chuyện này tôi không nói nhiều nữa. Thứ hai, tôi muốn báo cho con tin tức về Trần Nhân Hậu.
Thủy Thượng Đăng chấn động toàn thân, vội hỏi anh ấy đang ở đâu? Lý Thúy đáp, anh ta đang ở chùa Ngũ Tổ ở Hoàng Mai. Anh ta đã chứng kiến cái chết của Thủy Văn, chứng kiến cảnh nhà họ Thủy lụi tàn, anh ta lực bất tòng tâm, nhưng con người ta vẫn có lương tâm, tự biết bản thân tội nghiệt tày trời, nên đã cạo đầu xuất gia rồi. Con đừng có mong anh ta sẽ quay về bên con.
Thủy Thượng Đăng kinh ngạc ngã khụy xuống chiếc ghế.
Lý Thúy nói, con hãy nhìn lại người thân của con xem, rồi cả bạn bè nữa. Dính líu tới con chính là cái chết, không chết thì cũng sống không bằng chết. Con đúng là một cõi u linh, hơi thở của con cũng có độc, con đến cõi đời này, chính là để khiến những người xung quanh chết sạch. Ta dẫu sinh ra con, nhưng sao ta dám ở lại bên cạnh con chứ. Con tự lo liệu lấy thân mình đi.
Lý Thúy nói dứt câu liền phất áo bỏ đi. Bỏ lại Thủy Thượng Đăng gần như đờ đẫn ngồi ngây ra đó với chiếc mũ hoa điền trên đầu, mặc trang phục phượng y, chân đi giày vải. Những dòng nước mắt tuôn rơi không dứt, làm lem luốc lớp phấn sơn vẽ trên khuôn mặt tạo thành hai vệt trắng xóa.
Thủy Thượng Đăng đột nhiên lớn tiếng nói, là tại tôi ư? Chẳng lẽ tất cả đều là tại tôi sao? Thế thì những lúc tôi chịu đựng khổ nạn, lại là vì cái gì? Nếu tôi là u linh, vậy thì lúc ấy, các người là cái gì? Chẳng lẽ là ma quỷ hay sao?
Sáng sớm hôm sau, Thủy Thượng Đăng từ chối lịch diễn mấy ngày này, gọi xe phi thẳng tới chùa Ngũ Tổ Hoàng Mai. Trời bắt đầu đổ mưa, dọc đường lầy lội. Đến khi tới huyện thành, trời đã tối mịt. Người trong huyện nói, muộn lắm rồi, không thể lên núi được đâu. Bắt buộc phải đợi đến ngày mai mới đi được, đành phải tìm quán trọ để nghỉ lại.
Sáng hôm sau trời chưa sáng, Thủy Thượng Đăng đã tỉnh giấc. Cô trằn trọc ngủ không nổi. Gặp được Trần Nhân Hậu, cô nên nói gì đây? Cô ngày nhớ đêm mong, ngày ngày ngóng trông anh trở lại, kết quả thế nào cô cũng đã nghĩ qua rồi, tuy rằng có hơi không dám đối mặt, nhưng dẫu sao cũng đã mường tượng ra đủ mọi khả năng. Duy chỉ có chưa từng nghĩ tới con đường này. Nếu anh đã xuất gia làm hòa thượng, quãng đời còn lại của cô từ nay về sau sẽ ra sao đây? Lòng Thủy Thượng Đăng rối như tơ vò.
Trời vừa hửng sáng, ăn xong một bát mì ở quán nhỏ, cô liền lên xe khởi hành. Đi được hơn hai tiếng đồng hồ, bị xóc cho tê cả da đầu, cuối cùng mới tới chân núi Đông Sơn.
Cửa Nhất Môn của chùa Ngũ Tôn áp sát mép đường nhỏ, bên đường cỏ dại mọc um tùm, cây cối xen kẽ lẫn nhau. Ô tô không thể lên được, Thủy Thượng Đăng đành bỏ xe đi bộ. Một con đường đá xanh dài đằng đẵng, từng bước đi lên. Phức phỏng chừng chừng lại có tiều phu từ trên núi đi xuống. Thấy y phục kỳ lạ của Thủy Thượng Đăng, liền nhao nhao dùng tiếng địa phương hỏi, lên núi trả nguyện hả? Thủy Thượng Đăng liền đáp, phải ạ.
Đi bộ bao lâu, Thủy Thượng Đăng cũng chẳng biết, trong lòng cô cảm thấy đã rất lâu rồi. Con đường núi rộng một mét, phảng phất như thông lên trời. Giữa đường thỉnh thoảng lại có tháp vuông cản lối. Khi Thủy Thượng Đăng cuối cùng cũng nhìn thấy mái ngói của ngôi chùa, trời đã gần trưa.
Đến khi chiếc cầu hoa bắc qua khe núi bất chợt hiện ra trước mắt, thì ngôi chùa đã ở ngay sát bên rồi. Dù được bao bọc bởi những tán cây xanh rậm rạp xung quanh Đông Sơn, nhưng bức tường vàng và mái ngói đen của ngôi chùa vẫn lọt qua kẽ lá chiếu rọi vào. Lòng Thủy Thượng Đăng dâng trào cảm xúc, phảng phất như chuyến đi này là một cuộc hẹn quan trọng trong đời người, cô sắp được gặp người duy nhất muốn gặp trong đời. Nhưng khi cô vừa định bước qua cửa vòm của cầu hoa, thì đột nhiên nhìn thấy trên đó viết ba chữ lớn: Buông bỏ đi!
Ba chữ này khiến Thủy Thượng Đăng giật mình kinh hãi. Tựa như có ai đó đang lớn tiếng hét vào tai cô: Buông bỏ đi! Mà âm thanh ấy truyền đến chốn núi non, tất cả cây cối vách đá trong núi, đều phát ra tiếng vang y hệt: Buông bỏ đi! Buông bỏ đi! Buông bỏ đi! Tim Thủy Thượng Đăng đập thình thịch, một nỗi sợ hãi khó tên bất chợt ập tới. Cô thầm nghĩ, mình muốn buông bỏ cái gì? Thứ gì là thứ mình bắt buộc phải buông bỏ?
Khi Trần Nhân Hậu bước ra, khoác áo cà sa xám, đầu đã cạo trọc, ánh mắt ngoài nỗi bi thương sâu thẳm, còn mang theo vẻ chán chường tột độ. Thoáng chốc, Thủy Thượng Đăng không dám nhận ra. Trần Nhân Hậu từng có khí chất hiên ngang ấy, Trần Nhân Hậu từng xông pha súng đạn bắn chết không biết bao nhiêu Hán gian ấy, Trần Nhân Hậu từng trăm bề chiều chuộng nâng niu cô ấy, Trần Nhân Hậu từng ôm cô trong chiếc giường ấm áp muốn mang lại cho cô hạnh phúc cả đời ấy, nay lại chính là một hòa thượng đầu bù tóc rối, ủ rũ thế này đây. Thủy Thượng Đăng vốn tưởng rằng mình sẽo lao vào người anh ta khóc lớn một trận, bỗng nhiên chẳng còn chút ham muốn nào nữa. Cô biết, tất cả giấc mơ, đều đã trở thành công cốc. Cô thậm chí còn muốn giơ tay, tát anh ta một cái, bảo rằng, anh có tỉnh lại không hả?
Chữ ở phía bên này cầu viết là "Buông bỏ đi", thế còn qua cầu, bên kia thì sao? Là "Chớ lỡ làng".
Trần Nhân Hậu nói, cô đến đây làm gì? Thủy Thượng Đăng nhìn thấy ánh nước trong mắt anh ta, nhìn thấy sự run rẩy trong nội tâm anh ta. Thế là cô nói, anh đang run, anh đang khóc sao? Trần Nhân Hậu nói, mặc kệ tôi ra sao, tôi sẽ không cùng cô xuống núi. Tôi biết cô vẫn luôn báo thù, bây giờ việc báo thù của cô đã kết thúc rồi chứ? Nhà họ Thủy cũng chẳng còn gì để cô báo thù nữa. Cô có thể mãn nguyện rồi chứ?
Lòng Thủy Thượng Đăng cũng run lên. Trần Nhân Hậu chưa từng dùng giọng điệu này để nói chuyện với cô, cô biết, anh ta yêu cô nhưng đồng thời cũng hận cô. Thủy Thượng Đăng nói, tôi không giải thích đâu, tôi chỉ muốn kể cho anh nghe một câu chuyện. Kể xong tôi sẽ đi. Anh làm hòa thượng của anh, tôi làm đào hát của tôi, từ nay chúng ta là người của hai thế giới.
Trên núi có một đoạn đường Thông Thiên, qua đường Thông Thiên, liền có vách Xá Thân. Đứng trên vách có thể nhìn thấy những cánh đồng bát ngát xung quanh. Xanh tươi và mỹ lệ biết bao, khi con người ta bỏ mình nơi đây, cho dù đứng trước cảnh sắc như thế, vẫn cứ dứt khoát mà đi. Thủy Thượng Đăng nghĩ, bây giờ cô đã hiểu được tâm trạng của những người buông bỏ sinh mạng ấy.
Chính là ngồi trên mỏm đá này, Thủy Thượng Đăng đem câu chuyện mà u Cúc đã kể cho cô nghe, thuật lại một lượt từ đầu đến cuối. Thủy Thượng Đăng nói, anh có biết không? Ngày hôm đó trong cơn lũ dữ anh đã gặp em. Tại sao em lại ngồi trong nước mà không muốn nhúc nhích. Bởi vì u của em vào lúc đó đã nói với em, bà ấy không phải là mẹ của em, bà ấy chưa từng yêu em. Bà ấy sau này không bao giờ muốn gặp lại em nữa. Mà cha của em cũng không phải là cha của em. Ở tháp lầu anh đã thấy em khóc thế nào rồi đấy. Em không phải khóc vì cha mẹ mình, mà là khóc cho chính mình. Bởi vì em là kẻ bị cha ruột mẹ ruột vứt bỏ. Mẹ ruột của em chính là Lý Thúy, bà ấy từng bị nhà họ Thủy ép buộc đem đứa con gái một tháng tuổi của mình vứt ra khỏi cửa, câu chuyện này anh đã sớm biết rồi. Đứa bé đó chính là em.
Đứng trước câu chuyện thế này, Trần Nhân Hậu chết sững như gà gỗ.
Thủy Thượng Đăng nói tiếp, bây giờ anh đã rõ chưa? Cậu của anh Thủy Thành Vượng là cha của em, thím Thúy của anh là mẹ của em. Anh họ của anh Thủy Văn, Thủy Võ là anh ruột của em. Còn anh, chính là anh họ ruột của em. Nhà họ Thủy coi em là yêu quái, vứt bỏ em ở bên ngoài, để mặc em chịu đựng mọi đày đọa ở cõi người. Chẳng phải anh vẫn luôn nói tâm địa báo thù của em quá nặng sao? Anh cũng biết em từng trải qua cuộc sống thế nào mà. Bây giờ anh đã hiểu tại sao em muốn trả thù bọn họ rồi chứ?
Trần Nhân Hậu lẩm bẩm, sao lại thế này? Sao lại thế này cơ chứ? Thủy Thượng Đăng nói, cuộc sống đối với em, chính là như vậy. Nếu như không có niềm tin báo thù chống đỡ, có lẽ em sớm đã từ bỏ thế giới này rồi. Bởi vì nơi này, chẳng có gì để em lưu luyến cả. Thế nhưng, em có niềm tin, em liền khác biệt. Em sống là vì muốn nhìn thấy bọn họ sống khổ sở hơn em, hoặc dứt khoát để bọn họ chết đi. Bây giờ mục đích của em đã đạt được, thế nhưng trái tim em lại càng đau đớn hơn. Bởi vì trên đời này không có một ai hiểu được em. Vốn dĩ còn có anh, bây giờ đến cả anh cũng không hiểu nữa.
Trần Nhân Hậu cuối cùng cũng bình tâm lại. Trần Nhân Hậu nói, anh hiểu. Anh vẫn luôn hiểu em. Chỉ là, anh không thể tha thứ cho chính mình. Dù sao Thủy Văn vì anh mà chết, nhà họ Thủy vì anh mà vong. Nhà họ Thủy có ơn với anh, anh mang tội với nhà họ Thủy. Không những thế, hai người anh em cùng anh đi ám sát kẻ phản bội, cũng đều bị bắt trong lần hành động đó, bọn họ cùng Thủy Văn bị chặt đầu. Bọn họ là đi cùng anh, thế mà chỉ có mình anh, vẫn còn sống lay lất trên cõi đời. Anh không sao đối mặt với chính mình nổi.
Thủy Thượng Đăng nói, người có tội là em. Chính là em đã nói dối người Nhật. Em phải chọn một trong hai người. Một người là người em yêu, một người là người em hận. Không có bất kỳ đường lui nào, em chỉ có thể giữ lại người em yêu. Em không biết đoạn tình cảm này lại có thể giết người. Cũng không biết tình yêu này lại khiến một gia đình tan nát thành trăm mảnh. Kẻ tội đồ này là em, chứ không phải anh.
Trần Nhân Hậu nói, nhưng cuối cùng em là vì anh. Bởi vì anh là người em yêu. Bởi vì anh, người khác phải chịu chết thay. Mà người này lại chính là anh họ của anh, anh nỡ lòng nào.
Thủy Thượng Đăng nói, đổi lại là anh, anh sẽ chọn thế nào? Giả sử giữa Thủy Tích người anh yêu và một người khác, có một người có thể chết, anh chọn thế nào?
Trần Nhân Hậu không nói gì. Thật ra anh ta không biết nói thế nào mới đúng. Bởi vì anh ta biết, đổi lại là anh ta, cũng sẽ liều mạng bảo vệ người mình yêu. Vào thời điểm như thế. Thật ra chẳng có lựa chọn nào cả. Nghĩ lại kẻ định đoạt chuyện này, chính là vận mệnh.
Thủy Thượng Đăng đứng dậy, nhìn về phía vùng đồng hoang xanh tươi dưới vách núi, nói thuở thiếu thời, thứ chống đỡ em chính là trả thù, trong lòng em chỉ có hận. Sau đó, nghĩa phụ và chú Vạn đối xử tốt với em, khiến lòng hận thù của em vơi đi rất nhiều, rồi sau đó nữa, có anh, anh hiểu em hơn bọn họ, cố tình không để em chìm đắm trong thù hận, cho đến cuối cùng, thứ chống đỡ em, thậm chí không còn là hận nữa, mà là tình yêu của anh. Từ trước đến nay, anh chính là người thân duy nhất của em. Bây giờ, đến cả người thân này cũng rời bỏ em, chỗ dựa này không còn nữa. Không có nó, em thật sự rất muốn nhảy xuống vách Xá Thân này.
Trần Nhân Hậu giật nảy mình, anh ta thất thanh kêu lên, đừng! Tình yêu này vẫn còn ở đây, chỉ là... chỉ là...
Thủy Thượng Đăng nhìn anh ta, mang theo nỗi đau đớn vô tận, nhạt nhẽo mỉm cười, nói anh yên tâm, em sẽ không nhảy đâu. Bởi vì em không có tình yêu của anh phần này, nhưng vẫn còn những thứ khác. Lâm Thượng Hoa từng nói với em, nếu như lúc muốn chết, thì hãy nghĩ cách tìm cho mình một lý do bắt buộc phải sống tiếp. Cô ấy bây giờ là lý do để em sống tiếp. Rời khỏi em, cô ấy thân tàn phế, không thể sống độc lập một mình. Cho nên, em phải sống, hoàn thành trách nhiệm của một người bạn.
Lúc xuống núi, Thủy Thượng Đăng đi con đường núi lúc đến. Trần Nhân Hậu không đi theo ra. Đi qua cầu hoa lần nữa, đập vào mắt trước tiên là "Chớ lỡ làng", bước qua cầu rồi, mới là "Buông bỏ đi". Thủy Thượng Đăng nghĩ, cuộc đời này của mình, rốt cuộc đã bỏ lỡ những gì? Lại buông bỏ những gì? Sai lầm, đã là vạn tiễn xuyên tâm, buông bỏ, cũng là gan ruột đứt từng khúc. Những ngày tháng sau này, rốt cuộc phải sống cho qua đây? Người này đã hòa vào sinh mệnh của cô rồi, không có anh ta, cô phải sống thế nào đây?
Bốn
Đã là tháng năm, không khí đáng lẽ phải ấm lên. Nào ngờ bất ngờ xảy ra một đợt rét nàng Bân, khiến nhiệt độ Hán Khẩu lạnh gần như mùa đông. Giá cả tăng vọt chóng mặt. Lương thực quân nhu thu mua, chẳng qua chỉ năm mươi tệ một cân, mà dân chúng mua lương thực, lại đã tăng lên ba trăm tệ một cân rồi. Xung đột quân sự trong Đại Bạt Sơn ngày càng trở nên khốc liệt, ruộng đất hoang hóa, nhà nông mười phần thì đã có tám chín phần biến thành phế tích. Dân làng vì thế lũ lượt kéo nhau vào thành. Gian thương cấu kết với đại biểu tiếp quản cùng nhau phát tài. Vật tư địch ngụy thu được, chất đống trong kho, có một ngày, vậy mà lại phát hiện dưới chân tường kho hàng có mấy cái lỗ lớn, phần lớn vật tư, đều đã bị người ta trộm qua những cái lỗ lớn này. Cảnh sát điều tra một phen, rồi cũng cho qua đâu vào đấy.
Trong trà viên ngày nào cũng ngồi một đám đào hát. Những lúc ế khách, bọn họ cứ vừa uống trà vừa trò chuyện như thế, để đợi các gánh hát giang hồ khắp nơi đến tìm người ghép vở. Vận may tốt, ngồi ba năm ngày, là có chỗ dung thân, vận may kém, đợi trọn một tháng, cũng chẳng thấy bóng dáng người đến. Thế là, một ngày chỉ có thể ăn một bữa cơm, đành dựa vào nước trà để chống đói.
Nhưng những đại vực như Thủy Thượng Đăng, lại không có nỗi lo này. Vở kịch của cô sắp xếp rất kín lịch, một tuần diễn ba tối, đôi khi còn phải đi gánh hát khác để diễn ké vai. Tiền thù lao của cô cũng ngày càng hậu hĩnh. Chỉ cần cô lên sân khấu, người chưa xuất hiện, tiếng vỗ tay dưới đài đã rào rào vang lên. Mà mỗi lần cô tạ màn, không ra lạy chào nhiều lần, thì minh tinh mê kịch tuyệt đối không tha cho cô. Bọn họ liên hồi gọi lớn: "Thủy Thượng Đăng!" "Thủy Thượng Đăng!"
Trên mặt chủ gánh Châu ngày nào cũng có nụ cười, ông ta đã mua lại dinh cơ của ông chủ buôn muối ở Thanh Phân Lý rồi. Nghe nói còn định mở lớp đào tạo nghệ thuật, chỉ cần đào tạo ra được một danh y như Thủy Thượng Đăng, thì không phải lo gánh Hán kịch cứ thế đời này nối tiếp đời kia rực rỡ phát triển.
Chỉ là tâm trạng của Thủy Thượng Đăng thì từ đầu đến cuối vẫn không vui nổi. Đêm nào cô cũng mơ mộng. Trong mơ thường có người đến đòi mạng cô. Để tránh những cơn ác mộng thế này, trước khi đi ngủ, cô sẽ cố sức lẩm niệm sáu chữ trên cầu hoa chùa Ngũ Tôn: Buông bỏ đi. Chớ lỡ làng. Dần dần, người đến đòi mạng ít đi, nhưng ba chữ "Buông bỏ đi" trên cầu, bất chợt lại nhảy vọt ra từ trong tâm trí, giống như những viên đá, từng cú từng cú nện vào người cô.
Người Nhật đi rồi, trong thành vẫn hỗn loạn vô cùng. Có một ngày, Thủy Thượng Đăng giống như bị quỷ ám mà bước vào Tam Đức Lý. Cô lẳng lặng đi vào một căn chung cư. Một đứa trẻ nhảy nhót chạy ra, nhìn thấy cô, hỏi rằng, cô tìm ai vậy khì? Thủy Thượng Đăng khựng lại một nhịp, nói đây có phải là nhà của phó quan Trương không? Đứa trẻ nói, ông ấy là bố cháu. Ông ấy đi rồi. Đi đến một nơi rất xa rồi.
Thủy Thượng Đăng nói, thế u của cháu đâu? Đứa trẻ nói, sang nhà tháp thái thái giặt đồ rồi ạ. Cô là ai thế? Thủy Thượng Đăng nói, cháu không biết đâu, ta là một người bạn của bố cháu.
Lòng Thủy Thượng Đăng trĩu xuống buồn bã, cô đi đến ga xe lửa Hán Khẩu, mua một hộp sô-cô-la, rồi lại quay ngược trở lại, cô đem sô-cô-la tặng cho đứa trẻ đó, nhìn thấy biểu cảm vui mừng khôn xiết của đứa trẻ ấy, nước mắt cô suýt thì trào ra.
Cuộc sống chính là như vậy. Huyên náo, bi thương, cô đơn, đau đớn mà tiến về phía trước. Mùa thu lại đúng hẹn kéo theo.
Ngày lập thu, Thủy Thượng Đăng không lên sân khấu. Cô đến công ty quốc hóa đường Giang Hán Nhất mua một chiếc chăn lụa tơ tằm. Xách chiếc chăn có giá niêm yết mười tám vạn năm nghìn tệ này, Thủy Thượng Đăng thầm nghĩ, cái giá thế này, bảo người nghèo phải sống kiểu gì đây? Chiếc chăn này được mua cho Lâm Thượng Hoa, mùa đông sắp đến rồi, cô biết Lâm Thượng Hoa cả ngày không động đậy, ban đêm sợ lạnh, cô ấy bắt buộc phải đắp ấm hơn một chút.
Hễ là những lúc không có tuồng diễn, Thủy Thượng Đăng đều ở chỗ Lâm Thượng Hoa. Hai con người cô đơn cùng nhau trò chuyện dăm ba câu, thế là sự cô đơn liền vơi đi một chút.
Vừa đi đến cửa nhà Lâm Thượng Hoa, liền nghe thấy tiếng khóc của Lâm Thượng Hoa. Thủy Thượng Đăng giật mình, vội vàng bước nhanh vào. Lâm Thượng Hoa nhìn thấy Thủy Thượng Đăng thì khóc to hơn nữa. Thủy Thượng Đăng nói, có chuyện gì vậy? Lâm Thượng Hoa nói, u hôm nay bị xe tông rồi. Bị người ta đưa đến bệnh viện, cũng không biết tình hình thế nào nữa?
Thủy Thượng Đăng nghe vậy liền cuống lên, nói đưa đến bệnh viện nào rồi? Lâm Thượng Hoa nói, hình như là bệnh viện cha xứ Mai. Thủy Thượng Đăng nói, cậu đừng gấp, tôi lập tức đi ngay. Quay đầu tôi gọi người hầu ở nhà đến chăm sóc cậu. Lâm Thượng Hoa nói, tôi tự chăm sóc bản thân được. Cậu giúp tôi xem u thế nào rồi. Không có bà ấy, tôi sống kiểu gì đây?
Thủy Thượng Đăng cắm cổ chạy đi. Ra đến phố liền gọi xe kéo.
Mẹ của Lâm Thượng Hoa bị một chiếc ô tô đâm phải, đầu đập xuống đất, hôn mê bất tỉnh. Bác sĩ nói, e rằng phải mổ sọ. Thủy Thượng Đăng nói, mổ sọ là gì. Bác sĩ nói, chính là mở cái đầu ra, bên trong có lẽ có máu bầm.
Thủy Thượng Đăng giật mình, nói chuyện này tôi không làm chủ được. Bác sĩ nói, ai làm chủ được? Thủy Thượng Đăng gọi xe kéo lại chạy về nhà Lâm Thượng Hoa.
Cuối cùng vẫn phải mổ sọ. Cho dù ca phẫu thuật mổ sọ rất thành công, nhưng nửa tháng sau, mẹ của Lâm Thượng Hoa vẫn chết. Toàn bộ tang lễ đều do Thủy Thượng Đăng giúp đỡ lo liệu. Trong lòng cô ngày càng có nhiều sự bất an cùng với ngày càng nhiều nỗi hoảng sợ.
Đêm canh linh, Thủy Thượng Đăng ngồi bên quan tài mẹ của Lâm Thượng Hoa, ánh nến và tiền vàng mã cứ chập chờn bên khóe mắt cô, vô số khuôn mặt hiện lên trong thứ ánh sáng mờ ảo và làn khói nhẹ ấy. Những nét mặt quen thuộc ấy luân phiên biến hóa, bọn họ hoặc cười hoặc khóc hoặc giận hoặc oán. Bọn họ từ đôi mắt của Thủy Thượng Đăng, đi vào nội tạng của cô, rồi giống như từng lớp thủy ngân, bao trùm lấy tâm can Thủy Thượng Đăng, ép đến mức khiến cô thở không ra hơi.
Lâm Thượng Hoa không nhịn được mà hỏi, cậu sao thế? Sao sắc mặt lại tái xanh vậy?
Thủy Thượng Đăng cuối cùng không nhịn được nữa, đem thân thế và trải nghiệm của mình tuôn ra như đậu đổ ống tre, một hơi kể hết cho Lâm Thượng Hoa nghe. Sự bất an và hoảng sợ của cô, cũng theo lời kể của cô mà trút sạch ra ngoài.
Thủy Thượng Đăng nức nở nói, cậu có biết không? Mẹ ruột và mẹ nuôi của tôi đều nói, tôi là sao chổi là bóng ma tôi có độc, người bên cạnh tôi đều sẽ vì tôi mà chết. Cậu có biết không? Hai người bọn họ vốn chẳng quen biết nhau, thế mà lại nói ra những lời y hệt nhau. Giống như là thật vậy, tôi nhìn thấy rất nhiều người bên cạnh mình lần lượt chết đi. Dù là vì nguyên nhân gì đi nữa, nhưng bọn họ đều là những người thân thiết với tôi. Tôi rất sợ, tôi sợ mẹ cậu rời đi thế này cũng là vì tôi. Nếu thật sự là vậy, thì tội nghiệt của tôi tày trời rồi.
Lâm Thượng Hoa nói, tuyệt đối đừng nghĩ như vậy. Cậu ngẫm lại cho kỹ nguyên nhân cái chết của từng người bọn họ xem, có ai thực sự là vì lý do của cậu không? Chúng ta mười mấy tuổi đã là bạn bè, cậu nhìn tôi xem, chẳng phải chưa chết đấy sao?
Thủy Thượng Đăng nói, thế nhưng đôi chân của cậu...
Lâm Thượng Hoa nói, đây là máy bay của người Nhật ném bom đấy. Cậu cũng muốn quàng lên người mình bằng được à?
Thủy Thượng Đăng nói, tôi không biết. Tôi cứ hễ nghĩ đến những người đó, tổng cảm thấy là tôi đã hại chết họ, ngực tôi nghẹn đắng lên được.
Lâm Thượng Hoa nói, người khác tôi mặc kệ, u tôi ra đi không liên quan gì đến cậu cả. Toàn bộ tiền viện phí tiền mai táng đều do cậu chi trả, điều tôi muốn bày tỏ với cậu là sự cảm kích vô tận, sao cậu còn có thể cho rằng đó là tội nghiệt của cậu chứ?
Thủy Thượng Đăng ôm lấy Lâm Thượng Hoa khóc òa lên. Thủy Thượng Đăng nói, cậu không biết đâu, bề ngoài tôi rực rỡ, nhưng tôi vô cùng chán ghét cuộc đời này, đêm nào tôi cũng bị ác mộng hành hạ. Tôi thường nghĩ nếu như chết đi, có lẽ sẽ được bình yên.
Rất lâu rất lâu sau, Lâm Thượng Hoa mới nói, tôi sớm đã nói với cậu rồi, người muốn chết hơn cả cậu chính là tôi. Chân tôi vừa đứt, tôi đã nghĩ đến chuyện chết chóc. Thế nhưng mẹ còn sống, tôi không thể chết. Hôm nay mẹ đi rồi, tôi lại nghĩ, tôi cuối cùng cũng có thể chết được rồi. Nhưng mà bây giờ, tôi đã thay đổi suy nghĩ. Tôi không thể chết được. Tôi lại có thêm một lý do để mình sống tiếp rồi. Tôi muốn cậu nhìn tôi. Tôi còn có thể sống sót, sao cậu lại có thể chết chứ? Hơn nữa cậu còn phải lo cho tôi, bởi vì không có sự giúp đỡ của cậu, một người mất đi hai chân sẽ rơi vào đường cùng. Cho nên, cậu nếu không muốn có người vì cậu mà chết, thì phải sống, hơn nữa phải sống cho thật tốt. Ít nhất tôi sống bao lâu, cậu phải sống bấy lâu.
Thủy Thượng Đăng nhìn Lâm Thượng Hoa đến ngẩn ngơ. Sau đó trên mặt cô từ từ nở nụ cười. Cô nói, cứ vậy đi nhé. Cậu cũng cho tôi một lý do để sống. Tôi sống là để cậu được sống. Cậu sống bao lâu, tôi sống bấy lâu.
Lâm Thượng Hoa nói, nếu như tôi chết trước, cậu lại tự tìm cho mình một lý do để sống tiếp, thật sự tìm không nổi, rồi hẵng chết.
Thủy Thượng Đăng nói, cứ quyết định vậy nhé.
Đã sang cuối thu rồi. Thủy Thượng Đăng đã hát qua tất cả các rạp hát ở Vũ Hán tam trấn. Diễn đến đâu, một lượng lớn fan kịch liền bám theo đến đó. Cuộc sống của cô thoạt nhìn có vẻ huyên náo, đâu đâu cũng gấm vóc hoa thêu, nhưng thực chất lại rất đơn giản, ngày nào cũng giống nhau đến nhàm chán. Những kẻ quyền quý theo đuổi cô ngày càng nhiều, nhưng những lời đồn về sự kiêu ngạo của cô cũng theo những cuộc theo đuổi này mà ngày càng lan rộng.
Chỉ là, tâm ý của Thủy Thượng Đăng lại ngày càng chán chường. Hán kịch từng được cô yêu tha thiết, lúc này trong mắt cô đã chẳng còn chút hứng thú nào, vinh hoa phú quý từng khiến cô mơ mộng nằm mơ cũng muốn theo đuổi, trong lòng cô cũng trở nên nhạt nhẽo vô vị. Sự huyên náo ban ngày tạo ra sự tương phản cực lớn với vẻ lạnh lẽo cô tịch ban đêm. Chứng mất ngủ hầu như đêm nào cũng hành hạ cô.
Có một hôm, cô đi thăm một danh cẩu lớn tuổi, bắt gặp bà ta đang hút á phiện, liền bảo Thủy Thượng Đăng nếm thử, Thủy Thượng Đăng liền thử một chút. Mấy ngụm đầu, vẫn bình thường, cho đến cuối cùng, lại bất chợt phát hiện thứ mùi vị này khiến cô có cảm giác vô cùng dễ chịu, phảng phất như bao nhiêu nút thắt nghẹn chặt trong lồng ngực đều được đả thông, máu toàn thân lưu thông trôi chảy, như đang chạy nhảy ca hát trong cơ thể. Cảm giác sảng khoái ấy, vậy mà lại là thứ chưa từng có trước nay.
Thủy Thượng Đăng nghĩ, hóa ra nó lại là thứ tốt thế này cơ à, hèn gì Hồng Mân côi một ngày cũng không rời nó được. Nhưng khi cô hút lần thứ hai, thì bị chủ gánh Châu Nguyên Khôn bắt gặp. Châu Nguyên Khôn tiến lên tát cô một bạt tai, lớn tiếng quát mắng, cô muốn hủy hoại chính mình đấy à? Đây là thứ mà cô có thể chơi đùa được sao? Có bao nhiêu người chết trong tay nó rồi hả? Đệ tử khóa Chữ Thượng từng nổi danh Châu Thượng Thượng chết vì bệnh giang mai, tôi không muốn một Thủy Thượng Đăng nổi danh khác lại hủy hoại vì á phiện đâu. Kết cục của Hồng Mân côi chẳng phải cô cũng thấy rồi sao? Đừng tưởng cô là đại minh tinh danh tiếng rồi thì tôi không quản nổi cô. Chỉ cần cô là người đi ra từ lớp học khóa Chữ Thượng của tôi, ai dám đụng đến thứ này, dù có già thế nào tôi cũng phải quản.
Cái tát này đánh cho Thủy Thượng Đăng ngẩn ngơ, nhưng cũng đồng thời đánh thức cô. Cô biết, cho dù thế nào đi nữa, cũng không được dính vào cái thứ đó.
Tam kịch trường của Nhạc Viên, vẫn là nơi Thủy Thượng Đăng thường xuyên lui tới. Buổi tối ngày hôm nay, cô lại sẽ diễn ba vở kịch ngắn ở đây. Thủy Thượng Đăng đang ủ rũ ngày càng chán ghét cuộc sống thế này, thế nhưng bản thân cô muốn một cuộc sống thế nào, chính cô cũng chẳng biết. Lâm Thượng Hoa nói, cậu là trong lòng có bệnh rồi. Thủy Thượng Đăng nói, có lẽ thế.
Mỗi ngày ban đêm, chỉ cần nhắm mắt lại, phía sau lưng đều có một đám người đuổi theo mình, tôi chạy mệt quá.
Hôm nay diễn vở "Mộc Lan tòng quân" và "Chiêu Quân xuất tái". Những vở kịch này, cô đều thuộc làu làu. Cho dù tâm trạng u ám, cho dù mệt mỏi chìm sâu, nhưng chỉ cần vừa lên sân khấu, vừa bước vào nhịp chiêng trống, cô liền không kìm chế được mà nhập vai, cùng cười cùng khóc cùng hiên ngang lẫm liệt cùng gào thấu trời xanh với nhân vật. Cô trên sân khấu, luôn rực rỡ bắt mắt và tỏa sáng chói lọi nhường ấy. Mọi người đã quen rồi, chỉ cần nhìn thấy cô xuất hiện trên sân khấu, tâm trạng liền phấn chấn liền vui vẻ.
Vừa diễn xong một đoạn ngắn, đang lúc nghỉ ngơi, Châu Nguyên Khôn đi qua nói hôm nay ông ta muốn mời ăn đêm, còn bảo người đón Lâm Thượng Hoa ra ngoài, cùng ngồi lại, trò chuyện dăm ba câu. Thủy Thượng Đăng đang đáp lời, đột nhiên có một đứa trẻ đưa hoa mang hoa tươi tới. Thủy Thượng Đăng nói, là một người anh tặng cho em à? Đứa trẻ nói, không phải, là một chú đội mũ, chú ấy bảo cháu đưa cho cô một bức thư.
Thủy Thượng Đăng bóc ra xem, nhìn chữ liền biết là Trần Nhân Hậu, bất giác kích động.
Thư viết: Thủy Tích thân yêu: Đây e là lần cuối cùng anh gọi em như vậy rồi. Anh xuống núi rồi. Bởi vì con người anh đã bước ra khỏi cõi trần, nhưng tâm trí vẫn còn vương vấn chốn ấy. Kể từ ngày em xuống núi, hồn phách của anh cũng xuống núi theo, nó không thể an định lại chốn núi non. Cho nên anh chỉ có thể hoàn tục. Thế nhưng anh lại không có dũng khí để đối mặt với em. Anh đã mất đi dũng khí tận hưởng cuộc sống. Bởi vì trước mắt anh lúc nào cũng hiện lên những gương mặt của người thân đã chết vì anh.
Ngày hôm nay anh còn sống, là do mạng sống của người khác đổi lấy. Cho nên, nhân lúc nội chiến kịch liệt thế này, anh sẽ xông pha ra tuyến đầu. Anh hy vọng mình có thể chết trận sa mạc, như vậy đối với anh mà nói, chính là chốn về tốt nhất.
Vừa rồi nhìn thấy em trên sân khấu, anh đã mãn nguyện rồi. Em vẫn rực rỡ lóa mắt như ngày nào. Chỉ cần quên đi anh, em sẽ có được tất cả hạnh phúc mà em muốn. Vĩnh biệt nhé, Thủy Tích. Dù có chết đi, Nhân Hậu vẫn luôn yêu em.
Thủy Thượng Đăng đọc xong đẫm nước mắt gương mặt, cô mặc kệ trên người vẫn đang mặc đồ diễn, cứ thế chạy thẳng ra cửa hậu trường thông ra phố. Đèn đường khắp phố sáng mờ ảo. Ở tận cùng tầm mắt, một bóng người vừa đi vừa ngoảnh lại ba bận bước vào màn đêm mờ mịt.
Thủy Thượng Đăng cảm thấy trái tim mình trong khoảnh khắc vỡ vụn thành cát bụi. Cô biết cô vĩnh viễn không thể hàn gắn lại nó, vĩnh viễn không thể khiến nó trọn vẹn, vĩnh viễn không thể khiến nó có nhịp đập bình thường, mà niềm vui và hạnh phúc cũng vì thế mà vĩnh viễn rời xa cô.
Trần Nhân Hậu đi rồi, từ đó bọn họ bặt vô âm tín. Bọn họ thậm chí còn chưa gặp mặt nhau lấy một lần, còn chưa nắm tay nhau lấy một cái, còn chưa nói với nhau một câu từ biệt cuối cùng, cứ thế, anh ta biến mất trên con đường phố đêm, cũng biến mất trong cuộc đời cô.
Mang theo nỗi đau đớn và mất mát tột cùng, Thủy Thượng Đăng tiếp tục diễn kịch. Dư Thiên Khiếu từng nói, kẻ làm đào hát, chỉ cần đã treo biển, đã bán vé, trừ phi nằm liệt giường không dậy nổi, hễ còn có thể đứng dậy, thì phải lên sân khấu. Dù có còn lại một hơi thở, cũng phải nôn nốt nó trên sân khấu. Dù có đau đớn tày trời, cô cũng bắt buộc phải diễn cho xong.
Thủy Thượng Đăng ngày hôm nay, người gần như chìm đắm trong vở kịch. Một nụ cười một nhíu mày, từng cử động từng hành động, hình như đều không liên quan gì đến Thủy Thượng Đăng, hoàn toàn là người trong kịch đang cười đang khóc đang cử động đang múa. Thủy Thượng Đăng đã hòa làm một thể cả hai, trên sân khấu chỉ có người trong kịch, mà không có người diễn kịch. Đến những fan kịch lâu năm cũng xem đến mức say sưa quên cả trời đất, không phân biệt nổi trên sân khấu là Thủy Thượng Đăng đang diễn kịch, hay người trong kịch đã bước ra từ trong vở diễn.
Vương Úng Quân tựa như diều đứt dây chẳng nơi nương náu,
Trăng chìm đáy biển khó lòng sáng soi.
Đóa hoa đóa hoa hoa đang nở, vầng trăng vầng trăng trăng đang sáng,
Hoa nở lại bị gió cuồng vùi giập,
Trăng sáng lại bị mây che khuất rồi...
Hát đến chỗ này, lòng Thủy Thượng Đăng nặng trĩu chìm xuống đáy vực. Cô đột nhiên khựng lại một nhịp, ý nghĩ trong đầu xẹt qua như chớp giật. Một tiếng sét đét ngang tai, chấn động tâm can cô. Cô tự mình xoay người một cái, phảng phất như muốn dứt áo bỏ đi. Dàn nhạc bên cánh gà chấn động một trận, nhịp trống vội vàng dồn dập gõ liên hồi, để kéo Thủy Thượng Đăng hoàn hồn trở lại. Khán giả dưới đài lại không hề phát hiện ra điểm bất thường, cứ tưởng là Vương Chiêu Quân lúc này đã bi thương đến cực điểm, quay lưng che mặt, thực ra là tình cảm dâng trào. Thủy Thượng Đăng ngẩn ngơ bị tiếng trống dồn dập gọi về, cô lại xoay người lại, đem câu sau hát rõ từng chữ một.
Lúc tạ màn, tiếng vỗ tay rầm rộ như muốn hất tung cả mái nhà. Châu Nguyên Khôn đứng một bên khen ngợi không ngớt, nói hôm nay Thủy Thượng Đăng hát thật sự quá hay rồi. Tạ màn ba lần, tiếng vỗ tay vẫn chưa dứt. Lần thứ tư Thủy Thượng Đăng bước ra đài, cúi người hành lễ rồi ngẩng người lên nói, để đáp lại sự nhiệt tình của mọi người, hôm nay tôi xin hát thêm một màn. Vở kịch này tên là "Vũ trụ phong", thuở nhỏ, lần đầu tiên tôi đi xem kịch chính là ở Tam kịch trường, vở kịch đầu tiên tôi xem chính là "Vũ trụ phong". Kể từ ngày đó, tôi liền trở thành fan kịch, rồi tôi bắt đầu học kịch. Hôm nay tôi muốn đem vở kịch này hát lại cho những khán giả yêu mến tôi nghe.
Nghe xong đoạn này, tiếng vỗ tay của khán giả lại rào rào vang lên, nhao nhao nói hôm nay coi như hời lớn rồi. Châu Nguyên Khôn bội phần cảm thấy kỳ lạ. Lúc đổi cảnh, không nhịn được mà hỏi, Thủy Thượng Đăng, em bị sao thế? Trước đây chưa từng có chuyện này cơ mà?
Thủy Thượng Đăng nói, chủ gánh, xin hãy để em làm chủ một lần đi. Sợ rằng sau này không còn cơ hội nữa.
Thủy Thượng Đăng bước lên sân khấu, Châu Nguyên Khôn vẫn cứ ngẫm nghĩ câu nói này. Ông ta thầm nghĩ, thế nào gọi là sau này không còn cơ hội nữa cơ chứ?
Vở "Vũ trụ phong" vốn là sở trường của Thủy Thượng Đăng. Cô chẳng cần nghĩ ngợi, lời ca đã tự thốt ra khỏi miệng. Việc Triệu Diễm Dung giả điên giả ngốc gần như trở thành nơi trút bỏ cảm xúc của Thủy Thượng Đăng. Cô lúc thì cuồng cười lúc thì cười lạnh lúc thì cười ngốc lúc thì cười khổ, khắp sân khấu đều là bóng dáng xoay tròn của cô. Cô xõa tóc rách áo, lấy tiếng khóc dài làm ca khúc, khiến khán giả dưới đài nín thở không nói nên lời, đến cả tiếng muốn gọi hào cũng dường như bị màn biểu diễn của cô chặn nghẹn lại.
Giận ta nghiến lợi hung hăng đánh nát mũ ngọc,
Khiến người ta từng chập từng chập nghiến nát hàm răng.
Tay ta có binh khí muốn quyết chiến một trận sống mái,
Phải đem đám cuồng đồ này chém chết ngay trước ngựa.
Khóc một tiếng Ngọc Hoàng gia không thể gặp mặt, Ngọc Hoàng gia ơi!
Ngài không nên đày đọa đệ tử xuống trần gian.
Thủy Thượng Đăng bị nước mắt của chính mình làm cho nghẹn ngào. Lại một lần nữa tạ màn, khán giả đều đứng bật dậy, bọn họ hoan hô, gọi lớn. Thủy Thượng Đăng lại không hề xuống đài, cô cứ thế đi thẳng đến rìa tiền đài, cúi người thật sâu một cái, khán giả biết cô có lời muốn nói, liền im phăng phắc.
Thủy Thượng Đăng nói, cảm ơn mọi người đã yêu mến tôi. Vừa nói một câu, cô liền nghẹn ngào không thốt nên lời. Khán giả dưới đài đều ngẩn ngơ, trong chốc lát yên tĩnh đến mức một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy. Châu Nguyên Khôn đứng bên cánh gà kinh ngạc nhìn cô, nói với quản sự sân khấu rằng, hôm nay cô ấy bị làm sao thế?
Thủy Thượng Đăng nói, cảm ơn mọi người. Nhưng tôi đã thể xác tinh thần mệt mỏi, không còn tâm sức đâu để tiếp tục lên sân khấu nữa. Cho nên từ ngày hôm nay, tôi sẽ rút khỏi sân khấu, vĩnh viễn không hát kịch nữa. Đưa ra quyết định này, thực sự là bất đắc dĩ. Lòng tôi cũng đau như dao cắt, gan ruột đứt từng khúc. Nếu có điều gì làm tổn thương các vị, xin hãy lượng thứ nhiều hơn.
Lời này của Thủy Thượng Đăng vừa thốt ra, không chỉ khán giả dưới đài ngây người, đến cả Châu Nguyên Khôn cùng dàn nhạc và các diễn viên khác cũng ngây người theo. Sự im lặng kéo dài mấy phút đồng hồ, mới bùng nổ ra tiếng ồn ào tựa sóng thần. Tiếng hô hoán, tiếng chất vấn, tiếng khóc lóc, hòa quyện vào một chỗ. Thủy Thượng Đăng liên tục cúi người, mang theo nước mắt lùi về sau. Cô bước xuống từ sân khấu rực rỡ lóa mắt, tựa như vừa giãy giụa thoát ra từ cơn bão trên biển, cả người hoàn toàn suy sụp.