Qua cung cách thái tử nước Ba Tư vừa giãi bày, công chúa vốn là người biết điều, không nài chàng đến chào phụ vương mình nữa, hoặc đòi chàng làm việc gì khác trái với bổn phận và lương tâm. Nhưng, nàng băn khoăn sao chàng nghĩ tới chuyện ra đi nhanh chóng vậy. Nàng lo sợ rằng, chàng đã cáo biệt sớm đến thế thì một khi đã xa nhau, chàng sẽ quên nàng ngay, chứ không giữ được lời hứa sẽ quay trở lại. Để làm chàng thay đổi ý kiến, nàng bảo:
- Thưa hoàng tử, khi gợi ý chàng nên đến chào phụ vương tôi, quả thật tôi không hề có ý muốn làm ngược lại điều chàng vừa trình bày rất chính đáng, mà tôi không nghĩ ra. Nếu tôi có ý nghĩ ấy, thì tự mình đã trở thành tòng phạm của cái lỗi mà chàng có thể mắc phải. Nhưng tôi không thể nào tán thành ý kiến chàng muốn ra đi vội vã, như chàng vừa nói. Ít ra xin chàng hãy vui lòng ưng thuận cho một điều tôi yêu cầu, ấy là nên để thì giờ lấy lại sức. Và, bởi vì may mắn sao cho tôi, chàng đáp xuống vương quốc nước Bengan chứ không phải là giữa một sa mạc khô cằn hoặc trên đỉnh một ngọn núi cao hiểm trở không có đường xuống, vậy thì xin chàng hãy nghỉ lại đây một thời gian đủ để tôi mang tin chi tiết sang thông báo với triều đình nước Ba Tư.
Công chúa nước Bengan nói câu này nhằm mục đích giữ thái tử Firu Sát ở lại lâu hơn một ít, để rồi chàng sẽ đàm mê mình hơn. Nàng hy vọng qua việc đó sẽ trì hoãn việc chàng trở về nước Ba Tư, và rồi chàng sẽ đồng ý xuất hiện công khai và đến ra mắt quốc vương Bengan. Thái tử nước Ba Tư không lòng nào nỡ từ chối điều nàng yêu cầu, sau những sự đãi đằng và đón tiếp nồng hậu của nàng đối với chàng. Chàng đành nhận lời. Và nàng chỉ còn lo tới việc bày ra nhiều trò giải trí để cho những ngày lưu lại của chàng trở nên thoải mái.
Ấy thế là trong nhiều ngày liền, chỉ toàn có hội hè, nhảy múa, hòa nhạc, đại yến và tiểu yến, dạo chơi ở vườn hoa và săn bắn trong rừng cấm gần cung điện.
Trong khu rừng này có đủ các loại dã thú như hươu, nai, hoẵng và nhiều loại vật tương tự, đặc sản của nước Bengan mà sự săn bắt không nguy hiểm, có thể phù họp với công chúa.
Sau mỗi chuyến săn, thái tử và công chúa lại gặp nhau tại một nơi đẹp mắt nào đấy trong rừng, ở đấy người hầu đã trải sẵn một tấm thảm cùng nhiều chiếc gối, để họ ngồi nghỉ cho được thoải mái. Ở đây, tinh thần hết căng thẳng và thể chất dần trở lại bình thường sau những giờ hoạt động dồn dập, họ chuyện trò về mọi việc. Công chúa nước Bengan chú ý, hơn tất cả mọi điều, lái câu chuyện về tầm cỡ vĩ đại, sự hùng mạnh, và sự giàu có của vương quốc Ba Tư, để cho sau khi thái tử đáp lời, đến lượt nàng có dịp lại nói về nước Bengan và những lợi thế của nước mình, và từ đó, Cố làm cho chàng yên tâm lưu lại. Nhưng nàng đã đạt được kết quả ngược với ý định của mình.
Quả vậy, thái tử nước Ba Tư, không hề nói quá xa, đã khéo léo mô tả sự hùng cường của vương quốc Ba Tư, về sự huy hoàng và phồn thịnh của nước ấy, về lực lượng quân sự, việc thương mại trên đường bộ và đường biển đến tận những nước rất xa xôi, mà một vài nước ngay cả chàng cũng chưa hề biết tới; về cơ man thành phố lớn, thành phố nào cũng đông dân cư như kinh thành, nơi chàng chọn làm chỗ ở có nhiều lâu đài, bàn ghế đầy đủ, sẵn sàng đón khách tùy theo thời tiết khác nhau, đến mức có thể lựa chọn để cho quanh năm lúc nào cũng là mùa xuân. Chàng chưa nói hết, công chúa đã thấy vương quốc mình thua kém nước Ba Tư về nhiều mặt. Đến nỗi sau khi kể xong, chàng yêu cầu đến lượt nàng hãy mô tả những lợi thế của vương quốc Bengan, thì nàng chần chừ đợi chàng giục giã nhiều lần mới chịu nói.
Vậy là công chúa nước Bengan bằng lòng yêu cầu của thái tử Firu Sát, nhưng nói bót đi nhiều những lợi thế mà vương quốc Bengan thực sự trội hơn hẳn vương quốc Ba Tư. Nàng còn để lộ rõ nàng sẵn sàng theo chàng đi đến đấy và chàng cũng biết là nếu mình ngỏ ý nàng sẽ thuận tình. Nhưng chàng nghĩ chỉ nên làm việc đó chừng nào đã lưu lại đây một thời gian khá lâu, đủ để chứng minh cho công chúa thấy là nàng sai lầm nếu còn tỏ ý muốn giữ chàng ở lại nữa, ngăn cản chàng làm bổn phận cần thiết là trở về bên cạnh vua cha.
Suốt hai tháng liền, thái tử Firu Sát sống hoàn toàn tùy theo ý của công chúa nước Bengan. Chàng có mặt ở tất cả mọi cuộc giải trí mà nàng có thể nghĩ ra và tổ chức cho chàng dự, làm như thể chàng chẳng có việc gì trên đời khác hơn là sống cùng nàng theo lối đó. Nhưng, hết hạn ấy, chàng nghiêm chỉnh tuyên bố rằng chàng không làm nghĩa vụ của mình đã quá lâu rồi, xin cho phép chàng thực hiện điều đó, chàng nhắc lại lời hứa là sẽ trở lại ngay, cùng một phái đoàn xứng đáng với nàng và với chàng, để cầu hôn với quốc vương nước Bengan theo đúng nghi lễ.
- Thưa công chúa, – chàng nói tiếp – có lẽ nàng chưa thật tin lời tôi nói, có lẽ qua việc tôi xin phép cáo từ, nàng hẳn xếp tôi vào loại những con người giả dối rồi đây vừa xa mặt đã xa lòng. Vậy thì, để chứng tỏ nỗi đàm mê chân thành và không che giấu của tôi, kẻ vẫn cho rằng cuộc đời của mình chỉ có thể hạnh phúc nếu được chung sống với một công chúa khả ái như nàng, để khỏi phải dài dòng, tôi xin phép ngỏ ý mong được nàng cùng đi theo. Mong nàng không cho lời yêu cầu của tôi là một sự xúc phạm.
Thái tử Firu Sát nhận thấy công chúa đỏ mặt khi nghe những lời sau cùng. Thấy nàng không tỏ dấu hiệu giận đỗi, mà chỉ có vẻ lưỡng lự không biết nên quyết định thế nào, chàng nói tiếp:
- Thưa công chúa, về chuyện cha tôi có đồng ý hay không và Người sẽ đón tiếp công chúa như thế nào về sự hôn phối của chúng ta, tôi xin bảo đảm. Còn về phía vương quốc Bengan, qua những dấu hiệu thương yêu, thân mến, và quý trọng Người hằng có và đang có đối với con gái thì trừ phi Người là một vị khác hẳn người mà nàng vẫn mô tả cho tôi nghe, nghĩa là không quan tâm đến sự yên vui và hạnh phúc của con, còn thì tôi tin chắc Người sẽ rộng lượng đón tiếp sứ bộ mà phụ vương tôi phái đến xin chấp thuận đám cưới của hai ta.
Công chúa nước Bengan lặng im không đáp lời thái tủ nước Ba Tư, nhưng sự im lặng và đôi mắt nhìn xuống của nàng đủ cho chàng thấy rõ, hơn tất cả mọi lời tuyên bố, rằng nàng không thấy khó chịu phải theo chàng sang Ba Tư, và như vậy là thuận tình. Khó khăn duy nhất mà nàng còn e ngại là thái tử nước Ba Tư chưa có đủ kinh nghiệm điều khiển con ngựa; nàng e rồi sẽ cũng gặp sự bối rối như lần chàng đi thử. Nhưng thái tử Firu Sát mau chóng giải thoát cho nàng khỏi nỗi lo âu ấy. Chàng thuyết phục nàng hãy tin cậy ở chàng. Sau những việc đã xảy ra, giờ chàng có thể thách gã thổ dân điều khiển con ngựa thạo hơn mình. Thế là nàng chỉ còn việc cùng với chàng tìm cách để ra đi được bí mật, sao cho không một người nào trong cung nảy sinh chút nghi ngờ.
Việc này thực hiện được. Ngay sáng hôm sau, trước khi trời sáng, khi cả cung điện còn chìm sâu trong giấc ngủ nồng, nàng theo thái tử lên sân thượng, chàng quay lại con ngựa về hướng nước Ba Tư, và đặt nó sao cho công chúa cũng lên yên được một cách dễ dàng.
Chàng lên ngựa trước, và sau khi công chúa đã ngồi sau lưng một cách thoải mái và ôm vòng lưng chàng cho thêm chắc chắn, chàng vặn cái chốt như đã từng làm khi rời kinh đô nước Ba Tư. Thế là con ngựa đưa họ bay vút lên trời.
Con ngựa bay nhanh chóng như thường lệ. Thái tủ Firu Sát điều khiển nó khoảng hai giờ rưỡi thì nhận ra kinh đô nước Ba Tư. Chàng không đỗ xuống quảng trường, nơi chàng xuất phát, cũng không phải trong cung của nhà vua, mà ở một khu nghỉ mát, cách thành phố không xa. Chàng dẫn công chúa vào căn phòng đẹp nhất, và nói với nàng: Để công chúa được đón tiếp theo đúng lễ nghi phù họp với tước vị của nàng, chàng cần đi báo cho vua cha biết mình đã trở về, rồi sẽ quay lại với nàng ngay. Đồng thời, chàng ra lệnh cho người trông nom cung điện, lúc ấy đang có mặt, không được để nàng thiếu thốn một thứ gì.
Để công chúa lại trong phòng, thái tử Firu Sát lại sai người trông nom cung điện thắng một con ngựa. Ngựa được dẫn tới, chàng lên yên; sau khi cho người trông nom cung điện trở lại với công chúa và ra lệnh, trước hết, hãy mau chóng mời nàng dùng bữa sáng, chàng lên đường. Qua các nẻo đường và phố xá trong thành phố để vào hoàng cung, chàng được hoan hô nhiệt liệt. Dân chúng đổi buồn thành vui, vì sau khi chàng biến mất, không ai hy vọng chàng còn trở về.
Nhà vua đang thiết triều thì thái tử xuất hiện, giữa đông đủ triều thần đều mặc tang phục giống như nhà vua, kể từ hôm con ngựa đưa chàng đi mất. Vua ôm con hôn, lòng tràn đầy vui mừng và thương mến. Vua vội vã hỏi chàng về con ngựa của gã thổ dân đã ra sao.
Câu hỏi ấy tạo cơ hội để hoàng tử thuật lại cho vua nghe sự bối rối và nỗi hiểm nghèo mà mình trải qua sau khi con ngựa bốc lên không trung; chàng đã thoát khỏi thế nào và đến cung công chúa nước Bengan ra sao; sự đón tiếp nồng nhiệt của nàng đối với chàng; lý do buộc chàng phải lưu lại lâu hơn ý muốn; nhã ý của nàng; việc chàng thuyết phục được nàng nhận lời cùng chàng đến Ba Tư, lúc chàng hứa sẽ lấy nàng làm vợ.
Kết thúc câu chuyện, thái tử nói:
- Tâu bệ hạ, chắc bệ hạ không khước từ việc con đưa nàng cùng về kinh đô trên con ngựa của gã thổ dân? Hiện nàng còn đang đợi trong cung nghỉ mát của bệ hạ, nơi con để nàng ở lại. Nàng đang chờ con đến báo cho nàng biết là con không phải đã hứa suông.
Nói xong, thái tử định quỳ xuống trước hoàng đế để khẩn cầu, nhưng nhà vua đã ngăn lại, ôm hôn chàng một lần nữa và nói:
- Con ạ, không những ta đồng ý cho con rước nàng công chúa nước Bengan, ta còn muốn thân hành đến đón nàng về hoàng cung để cảm ơn nàng, và sẽ cho tổ chức lễ cưới ngay ngày hôm nay.
Nhà vua liền ra tiếp những mệnh lệnh về việc đón tiếp công chúa nước Bengan, và truyền cho mọi người cởi bỏ tang phục. Các cuộc vui chơi bắt đầu bằng tiếng hòa tấu thanh la, kèn trống cùng với các loại nhạc khí khác. Vua còn cho thả gã thổ dân khỏi nhà tù và đưa gã tới ra mắt mình.
Gã thổ dân được dẫn đến. Vua nói:
- Ta đã cho giữ ngươi lại, để buộc ngươi phải lấy mạng sống trả lời về sinh mạng của thái tử, cho dù mạng sống của ngươi không đáng bù đắp cơn thịnh nộ cũng như nỗi đau đớn của ta. Hãy tạ ơn Thượng đế đã cho ta tìm lại được con ta! Ngươi hãy đi đi, hãy lấy con ngựa của ngươi, và đừng có bao giờ xuất hiện ở đây nữa!
Vừa đi khuất mắt nhà vua nước Ba Tư, gã thổ dân, nhờ những người đến mở nhà giam giải thoát nói gã biết rằng thái tử Firu Sát đã trở về, mang theo công chúa trên con ngựa thần kỳ, nơi nàng đang chờ và cũng như việc nhà vua sắp đến đón về hoàng cung. Thế là gã không ngần ngại phỗng tay trên cả nhà vua lẫn thái tử.
Không để mất thời giờ, gã vội vã đến ngay cung nghỉ mát, nói với người trông nom cung rằng, quốc vương và thái tử nước Ba Tư phái gã đến mời công chúa lên lưng ngựa bay tới chỗ nhà vua, hiện đang chờ ở quảng trường trước hoàng cung, để đón tiếp nàng trước mặt cả triều đình và dân chúng kinh thành Sirazơ.
Người trông nom cung điện vốn đã biết chuyện thổ dân bị vua cầm tù, bởi vậy càng dễ tin lời gã, khi thấy gã được tự do. Gã đến ra mắt công chúa nước Bengan.
Nàng vừa nghe nói gã được thái tử nước Ba Tư đặc phái tới đón về triều, thế là nàng đồng tình ngay vì tưởng nhầm đấy là ý thái tử.
Hoan hỉ thấy thực hiện một cách quá dễ dàng mưu đồ độc ác của mình, gã thổ dân lên ngựa, nhờ người trông nom cung điện đỡ công chúa lên ngồi đằng sau. Gã vặn cái chốt, thế là con ngựa bay vút, đưa cả gã và nàng công chúa lên không trung.
Cùng lúc ấy, vua Ba Tư và cả triều đình mới ra khỏi hoàng thành. Vừa khi thái tử định bứt đi trước để báo cho công chúa chuẩn bị đón tiếp nhà vua thì gã thổ dân từ cung nghỉ mát bay trở lại, bay ngang qua kinh thành cùng với con mồi của mình để khiêu khích hoàng đế cùng thái tử và trả thù nhà vua về cách xử sự đối với gã, mà gã cho là không công bằng.
Trông thấy tên bắt cóc người, vua nước Ba Tư sửng sốt đứng khựng lại. Nỗi phiền muộn của vua càng sâu cay bởi không có cách gì buộc gã phải hối hận về điều sỉ nhục gã gây ra cho vua trước con mắt thần dân. Nhà vua, cũng như tất cả triều thần và những người mục kích đều lên tiếng nguyền rủa gã sao dám láo xược và độc ác chưa từng thấy. Chẳng xúc động về những lời sỉ vả vang đến tận tai, gã thổ dân tiếp tục đường bay của gã, trong khi nhà vua trở về cung, cực kì rầu rĩ vì bị sỉ nhục và vì tự thấy mình bất lực, không có cách gì trừng trị tên thủ phạm. Thái tử Firu Sát cảm thấy vô cùng đau khổ khi mọi việc xảy ra trước mắt mình mà không có cách gì ngăn cản; chàng hiểu rằng, gã thổ dân bắt cóc công chúa nước Bengan người chàng yêu say đắm sẽ làm cho chàng không thể nào sống nổi vì thiếu nàng.
Trước sự bất ngờ ấy, chàng đứng sững chưa kịp quyết định nên nguyền rủa gã thổ dân hay phàn nàn cho số phận đáng thương của nàng công chúa, hoặc là xin nàng tha thứ cho mình về tội sơ xuất không biết cách bảo vệ con người đã phó thác thân phận vào tay mình, thì con ngựa thần đã đưa cả nàng và tên bắt cóc đi mất hút trong nháy mắt. Làm thế nào đây? Trở về cung phụ vương, tự nhốt vào phòng riêng để buông mình cho sầu não mà không có hành động nào truy nã gã thổ dân để giải thoát nàng công chúa cho xứng tội ư? Lòng hào hiệp, tình yêu và sự dũng cảm không cho phép chàng làm như vậy. Thế là chàng tiếp tục đi đến cung nghỉ mát.
Trông thấy chàng đến, người trông nom cung điện biết mình vì cả tin mà để cho gã thổ dân đánh lừa, liền chạy ra quỳ xuống chân chàng, nước mắt lưng tròng, tự kết án và xin được nhận tội chết. Thái tử bảo:
- Hãy đứng lên, ta không đổ tội cho anh đã để công chúa bị bắt cóc, ta tự kết tội ta, vì đã suy nghĩ quá giản đơn. Chớ để mất thời giờ, hãy tìm cho ta một bộ quần áo giáo sĩ, và nhớ chớ nói là tìm cho ta dùng!
Cách cung nghỉ mát không xa, có một tu viện. Người bề trên của các giáo sĩ lại là bạn của người trông nom cung. Anh ta tìm người bề trên, giả vờ tâm sự về việc một vị quan cao cấp trong triều vừa bị thất sủng; anh ta chịu ơn vị quan này nhiều lắm, cho nên cố tìm cách đưa ông ta lẩn tránh khỏi cơn thịnh nộ của vua, nhờ vậy, chẳng khó khăn gì mà anh xin được bộ áo quần giáo sĩ mang về cho thái tử. Chàng cởi trang phục của mình, mặc áo quần giáo sĩ vào. Hóa trang như vậy rồi, tiện thể có sẵn hộp ngọc và kim cương định mang đến làm quà tặng công chúa, có thể dùng tạm làm tiền tiêu pha trong lúc đi đường, thái tử giắt vào người, ra khỏi cung nghỉ mát vào lúc chập tối, chưa biết đi theo hướng nào, nhưng quyết tâm không trở về chừng nào chưa tìm thấy công chúa và đưa nàng về cùng mình.
Thế là thái tử lên đường.
Chúng ta hãy trở lại với gã thổ dân. Gã điều khiển con ngựa thần kì, và ngay ngày hôm đó, hạ xuống khá sớm trong một khu rừng, gần kinh đô của vương quốc Casơmia. Vì cảm thấy đói, và nghĩ là hẳn công chúa nước Bengan cũng cần ăn, gã xuống ngựa để nàng ngồi trên bãi cỏ, cạnh một con suối rất mát và rất trong.
Công chúa nước Bengan thấy mình bỗng chốc sa vào tay một tên bắt cóc vô liêm sỉ, sợ bị gã cưỡng bức, trong lúc vắng mặt gã, đã nghĩ tới chuyện trốn đi, tìm một nơi nương náu. Nhưng vì buổi sáng, khi đến cung nghỉ mát, nàng chỉ ăn tí chút, bây giờ nàng thấy yếu và mệt đến nỗi cho dù muốn thực hiện ý nghĩ ấy, cũng đành chịu bó tay. Vậy là nàng phải ở lại, quyết tâm thà chịu chết chứ nhất định không thất tiết. Bởi vậy, không chờ gã thổ dân mời đến lần thứ hai, nàng ăn ngay, và nhờ thế lấy lại ít nhiều sức lực, đủ đáp lại những lời sỗ sàng gã tuôn ra vào cuối bữa ăn. Trông thấy gã thổ dân, sau nhiều lời dọa nạt, định dùng lối cưỡng hiếp, nàng đứng lên để chống cự, vừa lớn tiếng kêu cứu. Nhờ những tiếng kêu ấy, trong chốc lát, một toán kỵ sĩ chạy đến vây quanh nàng cùng gã thổ dân. Áy chính là quốc vương Casơmia vừa cùng đoàn tùy tùng đi săn về ngang qua, may mắn sao cho công chúa nước Bengan, nghe được tiếng kêu của nàng liền chạy đến. Vua hỏi gã thổ dân là ai, gã muốn gì ở phu nhân đứng kia. Gã thổ dân trả lời mặt dày mày dạn rằng đấy là vợ gã, không ai được phép hỏi han về việc cãi cọ giữa hai vợ chồng người khác.
Công chúa tuy chưa biết rõ cương vị và danh hiệu của người vừa đến đúng lúc để giải thoát cho mình, vội cải chính ngay:
- Thưa ngài, – nàng nói – cho dù ngài là ai, mà trời đã phái đến cứu giúp tôi, xin hãy thương hại một nàng công chúa, và chớ nghe lời một tên gian trá. Xin Thượng đế giữ cho tôi khỏi làm vợ một tên hèn hạ và đáng khinh bỉ đến thế này! Đó là một tên phù thủy khả ố hôm nay vừa bắt cóc tôi khỏi tay thái tử nước Ba Tư, mà tôi đã đính hôn. Gã mang tôi đến đây trên con ngựa thần kỳ ngài trông thấy kia.
Công chúa không cần nhiều lời hơn để thuyết phục vua Casơmia tin là mình nói thật. Sắc đẹp, vẻ vương giả và những dòng nước mắt đã nói thay nàng. Bất bình một cách chính đáng trước thái độ hỗn xược của gã thổ dân, vua ra lệnh vây bắt và chặt đầu gã thổ dân ngay tức khắc. Mệnh lệnh ấy được thi hành chẳng khó khăn gì, vì gã thổ dân làm vụ cưỡng đoạt ngay khi vừa ra khỏi nhà tù, trong tay không có thứ vũ khí nào để chống cự.
Được giải thoát khỏi sự hành hạ của gã thổ dân, công chúa nước Bengan lại sa vào tay một vụ khác, cũng không kém phần đau khổ cho nàng. Sau khi sai mang một con ngựa, nhà vua đưa nàng về hoàng cung, cho nàng ở một phòng tráng lệ nhất sau phòng của mình. Vua lại phái đến một số đông nô tì để săn sóc và hầu hạ nàng, cùng những hoạn nô làm nhiệm vụ bảo vệ. Vua thân hành dẫn công chúa đến tận gian phòng ấy, và không để cho nàng kịp mở lời cảm tạ mối ân huệ to lớn như nàng dự định, vua nói:
- Thưa công chúa, tôi chắc nàng đang cần sự nghỉ ngơi. Tôi để nàng được thoải mái. Sáng mai sẽ thuận tiện hơn để nàng thuật lại cho tôi nghe chi tiết về câu chuyện lạ lùng đã xảy đến với nàng.
Nói xong, vua lui ra.
Công chúa nước Bengan sung sướng không thể nào tả nổi thấy mình, trong một thời gian rất ngắn, đã được giải thoát khỏi sự hành hạ của một con người mà nàng chỉ có thể nhìn với sự kinh tởm. Nàng tin rằng vua nước Casơmia sẽ tỏ rõ hết tấm lòng hào hiệp và đưa nàng trở về với thái tử nước Ba Tư, một khi nàng trình bày cho vua rõ mình đã thuộc về thái tử nước Ba Tư như thế nào, và cầu xin vua gia ân cho việc đó. Nhưng, thật còn lâu mới thấy được hy vọng của nàng biến thành sự thật.
Quả vậy, quốc vương Casơmia đã ra lệnh báo tin vui bằng thanh la, trống lớn, kèn đồng và nhiều loại nhạc khí tấu nhạc mừng, làm vang lừng không chỉ hoàng cung mà cả thành phố. Rồi vua Casơmia đến gặp công chúa hỏi thăm sức khỏe, và nói cho công chúa rõ, tiếng kèn tiếng trống đang vang dội kia là nhằm làm cho buổi lễ vua kết hôn với nàng thêm trọng thể. Nghe vậy, nàng bị chấn động mãnh liệt đến nỗi ngã xuống ngất đi. Những người hầu lúc ấy có mặt, vội chạy tới cấp cứu. Nhà vua cũng góp sức làm cho nàng hồi tỉnh, nhưng nàng vẫn mê man một thời gian khá lâu.
Cuối cùng, nàng tỉnh lại. Không chịu phản bội lời hứa đính hôn cùng thái tử Firu Sát, và không nhận lời tham dự lễ cưới do vua Casơmia tổ chức mà không buồn hỏi trước ý kiến của mình, nàng quyết định làm như thể bị mất trí sau cơn ngất. Từ lúc ấy, nàng bắt đầu nói lảm nhảm những điều kỳ cục ngay trước mặt nhà vua. Nàng chồm lên như sắp sửa xông vào cấu xé, làm cho quốc vương Casơmia rất ngạc nhiên và buồn bực về chuyện xảy ra không đúng lúc chút nào. Thấy nàng không tỉnh trí trở lại, vua đành để nàng ở lại nơi các người hầu, và ra lệnh cho họ phải quan tâm hết sức chăm sóc nàng.
Ngày hôm đó, vua nhiều lần cho người hỏi thăm, và lần nào cũng được trả lời công chúa vẫn trong tình trạng ấy, thậm chí căn bệnh có phần tăng chứ không thuyên giảm. Buổi chiều, cơn bệnh có vẻ còn nặng hơn ban sáng.
Tối hôm ấy, vua nước Casơmia không hưởng được hạnh phúc như mình mơ tưởng. Công chúa nước Bengan tiếp tục nói lảm nhảm và có các biểu hiện khác của một người mất trí không chỉ ngày hôm sau, mà còn những ngày sau nữa. Đến nước này quốc vương Casơmia đành phải triệu tập các thầy thuốc trong cung lại, nói cho họ biết về cơn bệnh của công chúa. Vua hỏi ai có môn thuốc nào chữa khỏi bệnh giúp Người không.
Các ngự y, sau khi tham bác ý kiến của nhau, đồng thanh đáp rằng bệnh này có nhiều loại và có nhiều mức độ khác nhau, tùy theo tính chất của nó, có những loại chữa khỏi và có những loại nan y. Muốn biết công chúa mắc loại bệnh nào, cần phải để cho họ thăm con bệnh.
Quốc vương Casơmia liền truyền cho các hoạn nô đưa họ đến phòng công chúa, mời họ kẻ trước người sau, lần lượt vào theo phẩm trật.
Công chúa đã dự kiến điều sẽ xảy ra. Nàng sợ, nếu để cho các thày lang đến gần người và bắt mạch, thì kẻ ít kinh nghiệm nhất cũng có thể biết được nàng hoàn toàn khỏe mạnh và bệnh của nàng chỉ là bệnh giả vờ.
Bởi vậy, các thầy thuốc vừa xuất hiện, nàng đã lên cơn giận dữ dội, sẵn sàng cấu xé nếu họ đến gần, đến nỗi không một vị nào có đủ gan đưa đầu ra chịu báng.
Có những vị tự cho mình tài giỏi hơn những người khác, khoe khoang rằng chỉ cần nhìn mắt con bệnh đã biết ngay được người đó mắc bệnh gì, kê cho nàng nhiều loại thuốc. Nàng bằng lòng uống, chẳng làm khó dễ gì vì tự biết ốm hay không vào lúc nào là tùy mình; còn các loại thuốc kia chẳng có gì công phạt.
Thấy các ngự y không chữa khỏi bệnh cho công chúa, vua nước Casơmia vời đến các danh y trong kinh thành, nhưng kiến thức khoa học, tài nghệ và kinh nghiệm của những vị này cũng chẳng hơn gì. Vua lại mời các thầy thuốc ở các thành phố khác trong vương quốc, đặc biệt những vị danh tiếng nhất. Các loại thuốc họ kê đơn cũng đều không công hiệu. Vua lại phái nhiều người sang các quốc gia, vương quốc và triều đình lân bang, mang theo những giấy tờ chẩn đoán hợp thủ tục phân phát cho những thầy thuốc danh tiếng nhất, với lời hứa sẽ chịu phí tổn đi đường cho những ai vui lòng đến kinh đô nước Casơmia, và sẽ thưởng thật trọng hậu cho người nào chữa khỏi bệnh công chúa.
Nhiều vị danh y cất công đi. Nhưng không một ai có thể khoe khoang là mình may mắn hơn các thầy thuốc ở triều đình và vương quốc này; không có một ai có thể làm cho trí khôn nàng trở lại bình thường. Điều này đâu có thể tùy thuộc ở họ và ở tay nghề của họ, mà ở nghị lực của chính công chúa.
Trong khoảng thời gian ấy, thái tử Firu Sát, cải trang dưới dạng một giáo sĩ, rong ruổi qua nhiều nước và đến nhiều thành phố của các nước này. Không tính tới những nỗi vất vả dọc đường, chàng chỉ lo con đường mình đi không biết có đúng hướng hay không, chỉ e chim ăn núi Bắc người tìm bể Đông mất thôi. Chú ý nghe ngóng tin tức những nơi đi qua, cuối cùng chàng đến một thành phố lớn của Ấn Độ, và nghe người ta đồn đại khá nhiều về một nàng công chúa nước Bengan tự nhiên phát điên đúng vào hôm quốc vương Casơmia định tổ chức lễ cưới nàng. Nghe nói đến tên nàng công chúa nước Bengan, chàng nghĩ đấy đúng là người mình đang tìm kiếm. Điều này càng đáng tin vì chàng biết ở triều đình nước Bengan không có công chúa nào khác ngoài người yêu của mình.
Tin vào lời đồn đại, chàng lên đường sang ngay Casơmia, tới kinh đô nước đó. Đến nơi, chàng trọ tại một cái khan. Ngay hôm đó chàng được nghe chuyện nàng công chúa nước Bengan và cái chết khốn nạn của tên thổ dân bắt nàng đi trên con ngựa thần kỳ (thật đáng tội của gã). Chi tiết này càng làm cho chàng tin rằng, không có gì nhầm lẫn nữa, đấy chính là nàng công chúa mình đang tìm. Chàng còn biết thêm cả sự tốn kém vô ích của quốc vương Casơmia chi cho các thầy thuốc, mà không một ai chữa khỏi bệnh cho nàng.
Nắm vững mọi chi tiết ấy rồi, ngay sáng hôm sau, thái tử nước Ba Tư sắm một bộ quần áo lương y. Với trang phục ấy và bộ râu mà chàng để cho mọc dài trong lúc đi đường, chàng ra phố tự xưng là thầy thuốc. Nôn nóng muốn được gặp công chúa, chàng không chần chừ đến thẳng cung vua, xin gặp một vị quan. Người ta dẫn chàng đến trước quan trưởng văn phòng, chàng trình bày: có thể có người cho chàng đã bạo gan khi dám đến nhận chữa bệnh cho công chúa, sau khi bao nhiêu vị danh y đã không thành công. Nhưng chàng hy vọng, với các môn thuốc gia truyền và kinh nghiệm của mình, có thể sẽ chữa khỏi, chứ không như các vị trước. Quan trưởng văn phòng ngỏ lời hoan nghênh, nói rằng quốc vương sẵn sàng tiếp kiến. Nếu chàng có thể làm cho vua hài lòng thấy công chúa bình phục như trước, thì chắc chắn sẽ được thưởng công trọng hậu, đúng với sự hào phóng của quốc vương chúa tể và chủ nhân của ông ta.
“Xin ngài hãy chờ cho một lát, – ông ta thêm – tôi xin quay trở lại ngay.”
Đã lâu không có một thầy thuốc nào đến ra mắt, quốc vương Casơmia rất đau khổ, tưởng đã không còn hy vọng thấy công chúa lấy lại sức khỏe như khi mình thoạt gặp và đồng thời cũng mất cả hy vọng cưới nàng làm vợ.
Bởi vậy, vua truyền cho quan trưởng văn phòng lập tức mời thầy thuốc vào.
Thái tử Ba Tư được đưa tới trình diện quốc vương nước Casơmia dưới bộ áo quần cải trang. Nhà vua không để mất thời giờ với những lời lẽ dông dài, mà nói ngay rằng công chúa nước Bengan không chịu nổi các thầy lang, hễ trông thấy mặt một vị nào là nàng lại lên cơn, khiến cho bệnh tình càng thêm trầm trọng. Vua sai người dẫn chàng đến một căn buồng phụ, từ đấy có thể nhìn công chúa qua một bức mành, mà không để cho nàng nhìn thấy.
Thái tử Firu Sát lên căn buồng ấy, và nhận ra nàng công chúa đáng yêu của mình đang ngồi trễ nải, nước mắt đầm đìa. Nàng đang lẩm bẩm hát một bài khóc than số phận bất hạnh khiến cho nàng có lẽ mãi mãi không còn gặp lại người thương xiết bao yêu dấu.
Xúc động trước tình trạng đáng buồn của công chúa thân yêu, thái tử không cần thêm có dấu hiệu khác cũng biết ngay căn bệnh này là bệnh giả vờ, và chính tình yêu đối với chàng đã buộc nàng phải tự hãm mình trong cảnh sầu thương ấy. Chàng đi xuống, trình với nhà vua nguồn gốc chứng bệnh của công chúa không phải là nan y, và nói rằng để chữa lành bệnh, cần phải cho chàng nói chuyện riêng tay đôi với nàng. Còn về chứng nàng lên cơn mỗi khi trông thấy mặt thầy thuốc, chàng hy vọng nàng sẽ vui lòng tiếp và nghe chàng nói.
Vua sai mở cửa gian phòng của công chúa. Thái tủ Firu Sát bước vào. Qua bộ áo quần chàng đang mặc, nàng tưởng đấy là một ông lang. Vừa trông thấy mặt, nàng đã chồm dậy như một con điên, cất lời đe dọa và chửi mắng. Điều đó vẫn không ngăn chàng tiến tới. Khi đã gần đủ cho nàng nghe tiếng, và cũng chỉ muốn để mình nàng nghe được mà thôi, chàng hạ giọng nói với vẻ kính trọng:
- Thưa công chúa, tôi không phải là thầy thuốc. Xin nàng hãy nhận ra thái tử nước Ba Tư đến đây để giải thoát nàng.
Nghe giọng nói và nhìn những nét mặt, bất chấp bộ râu rậm rịt mà thái tử để mọc, công chúa nhận ra ngay, và yên tĩnh trở lại. Ngay lập tức mặt nàng lộ rõ niềm vui, dấu hiệu chứng tỏ người khác có thể nói chuyện được với nàng. Niềm vui được gặp lại người thân yêu làm nàng nghẹn lời, đủ thời giờ cho thái tử kể lại nỗi tuyệt vọng của mình khi tự mắt trông thấy gã thổ dân bắt cóc đưa nàng đi; quyết định của chàng từ lúc ấy từ bỏ tất cả mọi thứ trên đời để tìm cho bằng được nàng bất kỳ ở góc biển chân trời nào và giải thoát nàng khỏi tay tên gian trá; và cuối cùng, hạnh phúc làm sao, qua một chuyến đi phiền chán và vất vả, chàng sung sướng được gặp lại nàng trong cung điện của quốc vương Casơmia.
Nói xong những điều đó với lời lẽ gọn nhất, chàng yêu cầu công chúa cho biết những gì đã xảy ra, kể từ khi nàng bị bắt cóc đến giờ phút hạnh phúc mà chàng đang được nói chuyện với nàng đây. Chàng cần rõ những chi tiết đó để có những biện pháp đúng đắn, nhằm không để nàng chịu đựng lâu hơn nữa sự thô lỗ của vua nước Casơmia. Công chúa nước Bengan chẳng có gì nhiều để kể lể dài dòng.
Nàng chỉ thuật lại nàng được quốc vương Casơmia giải thoát khỏi sự cưỡng hiếp của gã thổ dân ra sao, lúc vua đi săn trở về; nhưng ngay ngày hôm sau đã bị đối xử tàn bạo bằng việc vua tuyên bố ý định vội vàng muốn cưới nàng làm vợ, mà chẳng cần tới điều lịch sự tối thiểu là hỏi trước xem nàng có đồng ý hay không; thái độ hung bạo ấy của nhà vua khiến cho nàng không có cách nào khác hơn là giả vờ làm như người mất trí, coi đó là cách tốt nhất để giữ trọn trinh tiết với hoàng tử mà nàng đã giao phó trái tim và niềm tin; nàng thà chết chứ không bao giờ chịu hiến thân cho một ông vua mà nàng không thể nào yêu được.
Thấy công chúa không có gì để nói hơn nữa, thái tủ nước Ba Tư liền hỏi, nàng có biết gì về con ngựa thần kỳ sau khi gã thổ dân chết hay không. Nàng đáp:
- Thiếp không rõ nhà vua đã ra những mệnh lệnh gì về con ngựa đó. Nhưng, sau những điều thiếp nói về nó, có thể tin là ông ta không cho nó là vật bỏ đi.
Tin rằng nhà vua nước Casơmia đã cho cất giữ cẩn thận con ngựa, thái tử Firu Sát tin cho công chúa biết ý định của chàng dùng nó để đưa công chúa trở lại Ba Tư.
Sau khi thỏa thuận với nhau cách thực hiện ý đồ mà không gặp trở ngại, thái tử đặc biệt căn dặn nàng đừng chỉ có mặc áo lót như lúc này, mà sáng mai nên ăn vận đàng hoàng để tiếp đón quốc vương Casơmia một cách lịch sự chừng nào chàng dẫn nhà vua tới, nhưng không ép nàng phải nói chuyện với nhà vua. Sau đó, thái tử lui về.
Quốc vương nước Casơmia hết sức vui mừng nghe thái tử Ba Tư báo cho biết đã chữa cho bệnh của công chúa thuyên giảm khá nhiều sau buổi điều trị đầu tiên. Ngày hôm sau, vua coi chàng là danh y nhất thế gian, khi công chúa chịu đón tiếp vua với vẻ làm cho vua thấy bệnh đã thuyên giảm khá nhiều, đúng như lời chàng nói.
Trông thấy nàng trong tình trạng ấy, vua tỏ ra hoan hỷ về việc công chúa sắp lấy lại đầy đủ sức khỏe như trước đây. Và vua khuyến khích nàng hãy cộng tác với nhà danh y tài giỏi mà vua hoàn toàn tin cậy để cho ông có điều kiện hoàn tất việc điều trị đã mở đầu tốt đẹp. Nói xong, vua lui về ngay, không để nàng kịp ngỏ một lời.
Thái tử nước Ba Tư vừa theo nhà vua tới đây cũng lui ra khỏi buồng công chúa cùng một lúc. Tiễn vua ra về, chàng làm ra vẻ kính cẩn, đúng như một ông lang tâu với một nhà vua, xin phép hỏi vì sao một nàng công chúa nước Bengan lại ở một mình trong vương quốc Casơmia, rất xa xứ sở của nàng, làm như thể công chúa chưa nói cho biết một điều gì về chuyện đó. Chàng hỏi vậy cốt hướng câu chuyện về con ngựa thần kỳ để nhà vua tự miệng nói ra, đã để nó ở đâu rồi.
Quốc vương Casơmia không rõ thâm ý của thái tử, nên chẳng cần giữ gìn. Vua thuật lại cho chàng nghe gần như những điều công chúa đã nói. Con ngựa thần kỳ ấy, vua đã sai cho cất vào kho tàng, coi như một vật cực kỳ quý hiếm, mặc dù chưa biết cách sử dụng nó thế nào.
- Tâu bệ hạ, – ông thầy lang giả nói – điều bệ hạ vừa nói cho biết cung cấp cho tôi phương tiện để chữa khỏi hoàn toàn bệnh của công chúa. Vì nàng được con ngựa thần kỳ ấy mang đi, nàng đã bị phép ma ám ảnh ít nhiều, chỉ có thể chữa khỏi bệnh bằng cách xông những loại hương mà tôi biết. Nếu bệ hạ thích giới thiệu với toàn thể triều đình và dân chúng ở kinh kỳ một cảnh tượng thực sự lạ lùng, thì xin Người ngày mai hãy sai mang con ngựa tới quảng trường trước hoàng cung; rồi giao cho tôi thực hiện một việc mà tôi xin hứa, sẽ làm cho công chúa nước Bengan trở lại hoàn toàn minh mẫn và khỏe mạnh như chưa từng thấy, ngay trước mắt bệ hạ và toàn thể mọi người. Và để cho việc đó được thật huy hoàng, có lẽ nên cho công chúa ăn vận lộng lẫy và trang điểm những ngọc ngà quý báu nhất mà bệ hạ có.
Vua nước Casơmia sẵn sàng làm những việc khó khăn hơn nhiều so với điều thái tử nước Ba Tư vừa nêu ra, để được hưởng thụ niềm vui như vua hằng mong ước, mà vua cho là sắp tới nơi.
Ngày hôm sau, rất sớm, con ngựa thần kỳ đã được vua truyền lệnh cho người mang tới đặt giữa quảng trường lớn trước hoàng cung. Chẳng mấy chốc, tiếng đồn đại khắp kinh thành, đấy là sự chuẩn bị cho một sự kiện cực kỳ phi thường sắp xảy ra, nhân dân từ các phố phường đổ về rất đông. Quan cấm vệ của nhà vua được bố trí canh gác để ngăn ngừa mọi sự mất trật tự và để chừa một khoảng trống lớn quanh con ngựa thần kỳ.
Quốc vương nước Casơmia xuất hiện. Sau khi đã an tọa trên một giàn cao giữa các đại thần văn võ trong triều đình, công chúa nước Bengan được tất cả người hầu mà vua cắt cử trông nom đi theo, tiến đến gần con ngựa thần kỳ. Những người hầu giúp nàng lên ngựa.
Sau khi nàng ngồi chắc trên yên ngựa, hai chân xỏ vào hai bàn đạp, tay cầm cương, vị thầy lang giả liền sai mang đến xếp chung quanh nhiều chảo đầy than cháy, rồi đi vòng quanh và ném vào đấy một thứ hương liệu làm tỏa mùi thơm ngào ngạt. Rồi, làm như thể tham thiền nhập định, mắt nhìn xuống, hai tay chắp trước ngực, chàng đi ba lần vòng quanh con ngựa, miệng lầm rầm như đọc thần chú. Các chảo than ngày càng bốc khói mù mịt với mùi hương ngào ngạt, dày đến nỗi che khuất cả nàng công chúa cùng con ngựa. Vừa lúc ấy chàng nhẹ nhàng phóc lên lưng ngựa, ngồi sau công chúa, tay xoay nhẹ cái chốt. Khi con ngựa vừa bốc lên không, mang theo chàng cùng công chúa, chàng nói to, rất rành mạch để nhà vua có thể nghe rõ: “Này quốc vương Casơmia kia, khi nào người muốn lấy những nàng công chúa đến cầu xin người che chở, thì trước đó hãy nên học cách làm cho người ta thuận tình đã.”
Như vậy đó, thái tử nước Ba Tư tìm thấy lại và giải thoát được cho nàng công chúa nước Bengan. Cùng trong ngày ấy, chẳng bao lâu sau, chàng đưa nàng hạ xuống, không phải ở cung nghỉ mát mà trước phòng riêng của vua cha ở Sirazơ. Quốc vương Ba Tư không chậm trễ, cho tổ chức lễ cưới ngay, chừng nào mọi việc chuẩn bị xong xuôi đâu vào đấy, để cho hôn lễ được thật trọng thể thật huy hoàng. Vua coi đó là phần đóng góp của mình vào cuộc vui.
Sau khi đã qua đủ số ngày quy định cho những cuộc vui chơi, việc đầu tiên vua nước Ba Tư quan tâm là cử một sứ bộ trọng thể sang nước Bengan, để thuật lại với quốc vương nước này tất cả những gì xảy ra và xin vua chuẩn y cho việc thông hiếu giữa hai nước qua cuộc hôn nhân này. Vua nước Bengan, sau khi nghe rõ mọi điều, lấy làm vinh dự và vui thích mà chấp thuận.