Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 571 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYẾN ĐI THỨ BA CỦA XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN

❊ ❊ ❊

Chẳng mấy chốc cuộc sống êm đềm làm tôi lãng quên những nỗi hiểm nghèo đã trải qua qua hai chuyến đi. Bởi đang tuổi tráng niên, tôi đâm chán cảnh sống an nhàn. Say sưa nghĩ tới những gian nguy mới mà mình sẽ phải đương đầu, tôi rời Bátđa với nhiều sản vật địa phương đắt tiền mà tôi cho mua và chuyển đến Banxôra. Ở đây tôi lại xuống tàu cùng nhiều nhà buôn khác. Chúng tôi tiến hành một chuyến đi biển dài. Trên đường, tàu cập bến nhiều hải cảng để mua bán một số hàng hóa lớn.

Một hôm đang đi giữa biển khơi, chúng tôi bị một cơn bão dữ dội làm mất phương hướng. Bão kéo dài nhiều ngày. Gió đẩy dạt tàu chúng tôi đến trước cảng của một hòn đảo. Viên thuyền trưởng hết sức mong sao có thể tránh không phải ghé vào đây, song chúng tôi bắt buộc phải vào buông neo ở cảng. Khi buồm đã cuốn lại rồi, viên thuyền trưởng bảo: “Đảo này và các đảo lân cận có một giống người dã man mình đầy lông lá. Chúng sẽ đến tấn công chúng ta. Mặc dù chúng lùn tịt, song chúng ta không được kháng cự một chút nào, bởi chúng đông như châu chấu. Nên nhớ nếu chúng ta làm chết một đứa thì tất cả bọn chúng sẽ đổ xô đến làm thịt sạch chúng ta.”

Lời viên thuyền trưởng làm cho tất cả mọi người trên tàu hết sức lo lắng. Chẳng mấy chốc chúng tôi được biết những điều ông nói quả đúng sự thật. Chúng tôi thấy xuất hiện một đám đông không thể nào kể xiết những tên man rợ xấu xí, mình mẩy mọc đầy lông màu hung và chỉ cao chừng hai bộ. Chúng nhảy xuống biển bơi. Chỉ một lát sau đã vây quanh chiếc tàu của chúng tôi. Chúng vừa tiến đến gần vừa nói nhưng chúng tôi không hiểu được tiếng của chúng. Chúng bám lấy mạn tàu và các dây dợ rồi từ mọi phía leo lên tới sàn tàu, khéo léo và thoăn thoắt như thể chân không cần chạm vào đâu cả.

Chúng tôi nhìn chúng làm việc đó với một nỗi kinh hoàng chắc các vị có thể tưởng tượng được. Không ai dám chống cự hoặc nói lên một lời nào hòng làm chúng thay đổi ý định, mà chúng tôi ngờ là sẽ tai hại cho mình. Quả nhiên chúng mở buồm ra, cắt dây neo chứ không buồn kéo neo lên nữa, và sau khi cho tàu ghé sát vào bờ, chúng đuổi tất cả chúng tôi lên cạn. Sau đó chúng mang tàu đến một hòn đảo khác, nơi chúng ở. Tất cả mọi người đi biển bao giờ cũng chú ý tránh hòn đảo chúng tôi ghé vào lúc đó. Dừng lại chốn ấy rất nguy hiểm bởi lý do mà quý vị vừa nghe. Nhưng chúng tôi không có cách nào khác, đành phải kiên nhẫn chịu đựng điều không may của mình.

Chúng tôi đi xa dần bờ biển, và vừa đi vừa tìm hái vài thứ quả và lá ăn để cố kéo dài giây phút cuối cùng của cuộc đời. Bởi chúng tôi đều tin chắc sẽ lâm vào một cái chết không thể nào tránh khỏi. Đang đi, chúng tôi trông thấy đằng xa có một tòa nhà lớn, liền rảo bước về phía đó. Đấy là một tòa lâu đài rất cao xây dựng khéo léo. Một cái cửa có hai cánh bằng gỗ mun mở ra ngay khi chúng tôi vừa đưa tay đẩy. Chúng tôi bước vào sân. Trước mắt hiện ra một gian nhà rộng. Phía trước có căn trống một bên là một đống xương người, bên kia vô số những cái xiên dùng để quay thịt. Chúng tôi run lên khi nhìn thấy cảnh tượng đó. Nhưng vì đi bộ lâu đã quá mệt mỏi, chân cứ khụy xuống. Chúng tôi ngã lăn ra đất, kinh hoàng khủng khiếp, và nằm đờ ra như vậy rất lâu.

Mặt trời lặn. Trong lúc chúng tôi đang ở trạng thái thảm thương đó, thì cửa gian nhà ầm ầm mở ra. Ngay lúc ấy xuất hiện bộ mặt gớm ghiếc của một tên da đen cao bằng một cây cọ lớn. Nó chỉ có một mắt ở chính giữa trán, đỏ hừng hực như than hồng. Những chiếc răng cửa rất dài và rất nhọn thò ra ngoài cái miệng rộng không kém gì một cái mõm ngựa. Môi dưới của nó xệ xuống tận ngực. Hai tai giống như hai tai voi phủ kín cả vai. Móng tay thì nhọn sắc và dài như thể móng của những con chim to nhất. Nhìn thấy một tên khổng lồ khủng khiếp như vậy, chúng tôi ngất đi và cùng nằm im như chết.

Cuối cùng tỉnh lại, chúng tôi trông thấy con quái vật ngồi dưới mái nhà ngoài. Nó giương mỗi con mắt độc nhất ngắm nghía chúng tôi. Khi đã xem xét chán, nó tiến đến gần chúng tôi và đưa tay túm lấy gáy nhấc bổng người tôi lên lật đi lật lại như một anh đồ tể sờ nắn cái sỏ cừu. Sau khi nhìn kỹ thấy tôi gầy gò quá, người chỉ có da bọc xương, nó buông tôi ra. Nó lần lượt túm những người khác và cùng xem xét theo cách ấy. Viên thuyền trưởng là người béo tốt hơn tất cả bọn. Một tay nó túm lấy ông một cách nhẹ nhàng như cầm một con chim sẻ, tay kia nó lấy cái xiên xuyên suốt qua người ông ta. Rồi nó đốt to lửa lên, quay chín thuyền trưởng và đưa vào nhà trong ăn tối. Ăn xong nó lại trở ra nhà ngoài nằm ngủ, cất tiếng ngáy ầm ầm như sấm cho đến sáng hôm sau. Về phần chúng tôi, không ai có thể nghỉ ngơi được một chút, suốt đêm lo âu sợ hãi đến tột độ. Trời sáng, tên khổng lồ thức dậy đứng lên đi ra, bỏ chúng tôi lại trong tòa lâu đài.

Khi cho rằng nó đã đi xa, chúng tôi phá tan sự im lặng kéo dài cả đêm. Và như thể đua nhau, chúng tôi kêu khóc than vãn vang dậy cả lâu đài. Mặc dù chúng tôi khá đông và chỉ có mỗi một kẻ thù, lúc đầu chúng tôi cũng chưa nảy ra ý nghĩ tìm cách giết chết nó để thoát thân. Việc này khó thực hiện thật đấy nhưng vẫn là việc đương nhiên cần phải làm.

Chúng tôi bàn bạc nhiều cách song không quyết định được cách nào và đành phó thác số phận cho Thượng đế định đoạt. Suốt ngày chúng tôi đi quanh đảo kiếm rau quả để ăn như ngày hôm trước, chiều đến, chúng tôi cố tìm một chỗ ngủ để che sương nhưng không tìm được, đành phải trở lại tòa lâu đài.

Tên khổng lồ lại trở về. Nó lại chén một người nữa trong bọn chúng tôi, sau đó nó lại lăn ra ngủ và ngáy ầm ầm cho tới sáng. Rồi nó lại bỏ ra đi để chúng tôi lại đấy y như ngày hôm trước. Hoàn cảnh chúng tôi tệ hại quá, đến nỗi nhiều bạn tôi đã định thà nhảy ào xuống biển trầm mình còn hơn là chờ đợi một cái chết kỳ cục.

Những người đó khuyến khích bạn bè cùng làm theo lời họ. Nhưng một người trong bọn tôi cất lời. Anh ta nói: “Chúng ta không được phép tự sát. Và giả dụ là nếu có phải chết chăng nữa, phải là họp lý hơn không, nếu chúng ta nghĩ cách thoát khỏi tên man rợ này. Nó đang bắt chúng ta chết dần một cách khốn khổ.”

Trong trí tôi chọt nảy ra một dự kiến. Tôi liền trao đổi với các bạn tôi. Họ đều tán thành. Tôi liền nói với cả bọn: “Anh em ơi, các anh em đều biết ở ven biển có nhiều gỗ. Nếu anh em nghe lời tôi, chúng ta hãy làm nhiều chiếc bè có thể chở chúng ta. Làm xong sẽ để lại ở bờ, lúc nào cần đến thì dùng. Trong thời gian ấy, chúng ta sẽ thực hiện ý đồ mà tôi đã đề nghị với anh em để giải thoát chúng ta khỏi tay tên khổng lồ. Nếu việc đó thành công, chúng ta có thể chờ cho đến khi có một chiếc tàu nào đến đưa chúng ta ra khỏi hòn đảo tai họa này. Ngược lại nếu thất bại, chúng ta mau mau xuống bè và bơi ra giữa biển. Tôi đồng ý rằng, dấn thân cho sóng dữ trên những chiếc bè mong manh như vậy, có thể có nguy cơ bỏ mạng. Song dù phải chết đi chăng nữa, vùi thân dưới đáy biển chẳng nhẹ nhàng hơn là bị nhốt vào trong bụng con quỷ đã ăn thịt mất hai anh em trong bọn chúng mình hay sao?

Ý kiến của tôi được tán thưởng, chúng tôi bắt tay làm ngay những chiếc bè mỗi chiếc có thể chở được ba người.

Cuối ngày hôm ấy, chúng tôi lại trở về tòa lâu đài. Một lát sau tên khổng lồ lại đến. Chúng tôi đành phải chịu nhìn nó quay chín một người bạn nữa. Nhưng cuối cùng, chúng tôi trả thù tên khổng lồ như thế này. Sau khi ăn xong bữa tối đáng ghê tởm, nó nằm ngửa ra ngủ. Chúng tôi vừa nghe nó ngáy như thường lệ, thì chín người bạo dạn nhất trong bọn chúng tôi và tôi mỗi người lấy một cái xiên, cho đầu nhọn vào lửa nung đỏ lên, rồi sau đó nhất tề nhằm vào chọc vỡ mắt nó ra.

Tên khổng lồ đau đớn thét lên một tiếng khủng khiếp. Nó vùng dậy, quờ tay ra bốn phía hòng tóm được một người nào đó trong bọn chúng tôi để bóp chết cho hả cơn điên. Nhưng chúng tôi đã kịp chạy ra xa và nằm xuống đất vào những chỗ mà chân tay nó không thể với tới. Sau khi bắt chúng tôi không được, nó dò dẫm tìm cửa ra, vừa đi vừa thét lên những tiếng ghê rợn.

Chúng tôi lập tức rời khỏi lâu đài, đi đến bờ biển, nơi để những chiếc bè. Chúng tôi hạ thủy, rồi chờ cho trời sáng là nhảy lên bè, trong trường hợp tên khổng lồ được một tên đồng loại nào dẫn đường tới đây. Nhưng chúng tôi lại có ý định nếu nó không xuất hiện sau khi mặt trời mọc, và nếu không còn nghe những tiếng nó gào thét nữa, điều chứng tỏ nó đã bỏ mạng, thì trong trường hợp này chúng tôi sẽ trở lại đảo chứ không mạo hiểm đi bằng bè. Nhưng trời vừa mới sáng, chúng tôi đã trông thấy tên kẻ thù hung ác có hai tên khổng lồ to gần bằng nó đi theo dẫn đường, và trước nó còn có một số khá đông những tên khác bước vội vàng.

Trông thấy cảnh đó, chúng tôi không trù trừ nữa. Tất cả nhảy vội xuống bè, và chèo lấy chèo để ra xa bờ. Bọn khổng lồ nhìn thấy, liền nhặt những hòn đá lớn chạy đến, lội xuống nước đến ngập nửa người rồi ném theo chúng tôi. Chúng ném khéo đến nỗi, trừ chiếc bè của tôi, tất cả những chiếc khác đều vỡ tan, làm cho không một người nào trên đó thoát khỏi chết đuối. Về phần tôi và hai người bạn đồng hành, chúng tôi chèo cật lực cho nên ra xa hơn cả, ngoài tầm ném đá của chúng. Ra khỏi, chúng tôi trở thành đồ chơi của gió và sóng, khi bị xô sang bên này, lúc thì bị dạt sang phía kia. Suốt ngày hôm ấy và đêm tiếp theo, chúng tôi sống trong sự đau khổ phân vân, không biết số phận mình rồi sẽ ra sao. Nhưng ngày hôm sau, chúng tôi may mắn dạt vào một hòn đảo và hết sức vui mừng là thoát chết. Ở đây có nhiều loại quả rất ngon, giúp cho chúng tôi lấy lại sức khỏe.

Chiều đến, chúng tôi đang ngủ ở bờ biển thì bị đánh thức dậy bởi tiếng rít của một con rắn dài bằng cả một cây cọ. Khi bò trên mặt đất vảy của nó chạm vào nhau và phát ra tiếng rít. Con rắn đã đến rất gần và đớp được một người bạn của tôi, mặc cho anh ta la hét và cố gắng để thoát, nó quẫy anh ta mấy cái rất dữ rồi quật xuống đất và nuốt chửng. Anh bạn còn lại và tôi chạy trốn. Chạy đã khá xa, chúng tôi vẫn còn nghe được một thứ tiếng động mà chúng tôi đoán rằng đấy là tiếng con rắn nhả xương anh bạn đáng thương vừa bị nó ăn thịt.

Quả nhiên, sáng hôm sau chúng tôi ghê rợn nhìn thấy đống xương. “Hỡi Thượng đế! – Tôi kêu lên. – Sao chúng tôi phải trải qua lắm tai ương thế này? Hôm qua chúng tôi vừa mừng thoát được sự hung ác của một tên khổng lồ và cơn giận dữ của sóng nước, thì hôm nay đã lại sa vào một nỗi hiểm nghèo không kém phần ghê gớm!”

Trong khi lang thang, chúng tôi trông thấy một cây cổ thụ rất cao, và dự định đêm tối sẽ leo lên đấy ngủ cho an toàn. Chúng tôi lại đi tìm quả dại để ăn như ngày hôm trước. Tối đến chúng tôi leo lên cây. Chẳng mấy chốc nghe tiếng con rắn, nó vừa bò vừa rít đến tận gốc cây chúng tôi nấp. Nó cất cao mình lên dọc thân cây, bắt gặp anh bạn tôi ở chỗ thấp hơn tôi, nó đớp lấy nuốt chửng và bỏ đi luôn.

Tôi ngồi trên cây cho đến sáng mới dám tụt xuống, sống dở chết dở. Thật vậy, tôi không thể trông chờ một số phận nào khác với số phận hai người bạn đồng hành. Y nghĩ ấy làm tôi sợ run lên, tôi bước lên mấy bước toan nhảy xuống biển. Song bởi vì con người bao giờ cũng muốn sống thêm được lúc nào hay lúc ấy, tôi gượng lại không làm hành động tuyệt vọng và phó thác số phận mình cho Thượng đế định đoạt.

Tuy vậy, tôi vẫn nhặt nhạnh một số lớn những mảnh gỗ nhỏ, dây dợ và gai khô. Tôi bó thành nhiều bó, xếp thành một vòng tròn lớn quanh thân cây và buộc chặt lại. Làm xong, đến chập tối tôi tự nhốt vào giữa vòng tròn, với niềm an ủi đáng buồn là mình đã không bỏ qua bất cứ một việc gì có thể làm để hòng thoát khỏi số phận tai ác đang đe dọa. Con rắn lại đến và bò quanh gốc cây, tìm cách ăn thịt tôi. Nhưng nó không làm được bởi bị cản vì cái lũy tôi tạo nên. Cho tới sáng nó cứ quanh quẩn giống như một con mèo chạy quanh một con chuột nấp ở một nơi không thể chui vào. Cuối cùng sáng ra, nó bỏ đi. Tuy vậy tôi không dám ra khỏi thành lũy của mình trước khi mặt trời mọc hẳn.

Quá mệt mỏi vì những công việc đã làm và quá đau khổ vì chịu đựng cái hơi thở hôi thối của con rắn, tôi nghĩ rằng thà chết đi còn dễ chịu hơn là phải chịu sự kinh khủng này. Tôi rời gốc cây và chạy thẳng ra bờ biển định đâm đầu xuống nước.

Thượng đế thương hại cho sự tuyệt vọng của tôi. Đúng vào lúc sắp đâm đầu xuống biển, tôi chợt nhận thấy một chiếc tàu ở cách bờ khá xa. Tôi ráng hết sức kêu và tháo tấm vải khăn đội đầu ra vẫy. Việc đó không phải là vô ích. Người trên tàu nhìn thấy tôi. Thuyền trưởng cho đưa xuồng vào cứu. Khi tôi lên được trên tàu, các nhà buôn và thủy thủ đều vồn vã hỏi do đâu tôi dạt lên hoang đảo. Sau khi tôi thuật lại tất cả những gì đã xảy ra, những người lâu năm nhất cho biết họ đã nhiều lần nghe nói đến những tên khổng lồ sống trên hòn đảo. Người ta quả quyết với họ rằng đấy là những kẻ ăn thịt người, chúng có thể ăn sống cũng như ăn thịt người đã quay chín. Còn về rắn thì họ nói thêm rằng trên các đảo ấy có rất nhiều. Ban ngày chúng ẩn kín, đến tối mới bò ra. Sau khi vui mừng thấy tôi thoát khỏi bấy nhiêu hiểm nghèo, họ biết tôi đang đói, liền sốt sắng đãi tôi những món ăn ngon nhất. Thấy áo quần tôi rách như xơ mướp, viên thuyền trưởng hào hiệp cho tôi một bộ.

Chúng tôi đi biển một thời gian. Tàu ghé qua nhiều hòn đảo. Cuối cùng đến đảo Xalahát, nơi người ta khai thác đàn hương, một thứ gỗ rất cần dùng trong y học.

Chúng tôi vào cảng và thả neo ở đó. Các nhà buôn bắt đầu dỡ hàng của họ mang đi bán hoặc đổi chác. Trong thời gian ấy, viên thuyền trưởng gọi tôi đến và bảo: “Người anh em ạ, trong kho tôi có nhiều hàng của một nhà buôn trước đây có đi một thời gian trên tàu của tôi. Vì nhà buôn ấy đã qua đời, tôi muốn cho bán đi lấy lãi trao lại cho những kẻ thừa kế ông ta, may ra sau này có lúc nào gặp được.” Các kiện hàng đó xếp ở trên tàu. Ông chỉ cho tôi thấy và nói: “Kia là những hàng hóa tôi vừa nói đến. Tôi mong người anh em vui lòng nhận bán hộ. Bạn sẽ được hưởng một phần lãi do công lao vất vả của bạn.” Tôi nhận lời và cảm ơn ông đã cho cơ hội để đỡ phải ăn không ngồi rồi.

Thư ký của tàu ghi sổ tất cả hàng hóa và tên chủ hàng. Anh ta hỏi viên thuyền trưởng những hàng giao cho tôi bán nên ghi tên của ai, ông trả lời: “Hãy ghi tên Xinbát, người đi biển.” Tôi không thể không xúc động khi nghe nói đến tên mình. Nhìn kỹ thuyền trưởng tôi nhận ra chính ông là người, trong chuyến đi thứ hai của tôi, đã bỏ rơi tôi trên hòn đảo khi tôi ngủ quên bên bờ suối, ông đã cho tàu nhổ neo mà không chờ đợi hoặc cho người tìm kiếm tôi. Lúc đầu tôi không nhận ra, bởi vì người ông đã đổi khác nhiều kể từ lần tôi gặp.

Về phần ông ta, vì tưởng tôi đã chết cho nên không có gì đáng ngạc nhiên là ông không nhận ngay ra tôi. Tôi hỏi ông: “Thưa thuyền trưởng, có phải nhà buôn chủ những kiện hàng tên là Xinbát?”

- Vâng, tên ông ta đúng là như vậy. Ông ta vốn là người Bátđa. Ông xuống tàu tôi ở Banxôra. Một hôm, chúng tôi ghé vào một hòn đảo để lấy nước ngọt và nghỉ ngơi, tôi không hiểu đã nhầm lẫn thế nào mà cho tàu chạy, không để ý rằng ông ta chưa trở lại tàu cùng với những người khác. Mãi bốn giờ sau, các nhà buôn và tôi mới nhận ra điều đó. Lúc ấy, gió thổi từ đằng lái tới và gió thổi mạnh đến nỗi chúng tôi không thể nào cho tàu quay vòng trở lại đón ông ta.

- Ông tưởng người ấy chết rồi sao? – Tôi lại hỏi.

- Chắc chắn như vậy. – Thuyền trưởng đáp.

- Nếu vậy thì, thưa thuyền trưởng, xin ông hãy mở to mắt và nhận ra anh chàng Xinbát mà ông đã bỏ rơi trên hoang đảo. Hôm ấy, tôi ngủ quên bên bờ một con suối, và khi thức dậy thì không còn trông thấy một ai trong đoàn cùng đi trên tàu.

Nghe nói như vậy, thuyền trưởng chăm chăm nhìn tôi.

Sau khi quan sát thật chăm chú, cuối cùng ông nhận ra:

- Tạ ơn Thượng đế! – Ông kêu lên và ôm choàng lấy tôi. – Tôi rất vui lòng là định mệnh đã sửa chữa sai lầm cho mình. Kia là hàng hóa của ông, tôi vẫn luôn luôn chú ý gìn giữ. Bất cứ cập bến cảng nào tôi cũng đều làm cho nó sinh lợi thêm. Giờ tôi xin trả lại ông với tất cả tiền lãi thu được.

Tôi nhận lại hàng và tỏ lòng biết ơn sâu sắc thuyền trưởng.

Từ đảo Xalahát chúng tôi sang một đảo khác. Ở đây tôi mua đinh hương, quế và nhiều mặt hàng tạp hóa khác.

Lúc rời đảo này, chúng tôi nhìn thấy một con rùa lớn ngang dọc mỗi bề đến hai mươi cánh tay. Chúng tôi cũng thấy có một con cá tương tự như con bò. Nó có sữa, và da thì rắn đến mức người ta thường dùng để làm khiên. Tôi cũng thấy một con cá khác nữa hình dạng và màu sắc giống như con lạc đà.

Sau một chuyến đi dài, cuối cùng tôi về đến cảng Banxôra. Từ đó tôi trở về thành phố Bátđa với rất nhiều của cải, nhiều đến mức tôi cũng không rõ số lượng bao nhiêu. Tôi lại dành một phần đáng kể làm phúc cho những người nghèo, rồi tậu rất nhiều đất đai rộng lớn thêm vào chỗ đã tậu từ trước.

Xinbát chấm dứt ở đây câu chuyện về chuyến đi thứ ba của ông. Ông lại sai đưa biếu Hinbát một trăm đồng xơcanh khác, và mời lão sáng mai lại đến ăn cơm và nghe kể về chuyến đi thứ tư.

Hinbát cùng mọi khách khứa ra về. Hôm sau họ trở lại. Đến cuối bữa ăn, Xinbát lại cất lời kể tiếp về những bước đường phiêu lưu trên biển của ông.

CHUYẾN ĐI THỨ TƯ CỦA XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN

Những cuộc vui chơi giải trí sau chuyến đi thứ ba không có đủ sức hấp dẫn để ngăn tôi thôi không đi xa nữa. Tôi lại để mình bị cuốn hút vào sự say mê buôn bán và ngắm nhìn những điều mới lạ. Tôi sắp xếp công việc gia đình, rồi cho mua những thứ hàng hóa liệu có thể bán được ở những nơi mình sẽ đến, và lên đường.

Tôi sang Ba Tư, đi qua nhiều tỉnh của nước này, đến một hải cảng, rồi từ đây đáp xuống tàu bể. Tàu giương buồm, trên đường đi ghé qua nhiều cảng thuộc đất liền và một số đảo phương Đông. Bỗng một hôm, trong một chặng đi dài, một cơn gió xoáy nổi lên buộc thuyền trưởng phải cho hạ buồm và ra những mệnh lệnh cần thiết để đề phòng bất trắc. Nhưng mọi sự thận trọng đều vô ích. Hệ thống thừng chão, bánh lái đã trục trặc. Các cánh buồm đã bị cuồng phong xé tả tơi. Con tàu không điều khiển được nữa, xô vào đá ngầm và vỡ tan, làm một số đông nhà buôn cùng thủy thủ chết đuối, hàng hóa mất sạch.

Cùng với nhiều thủy thủ và nhà buôn khác, tôi may mắn bám được vào một tấm ván. Một dòng nước đẩy chúng tôi dạt vào một hòn đảo. Chúng tôi tìm được quả dại và nước ngọt ăn uống cho lại sức. Đêm đến, chúng tôi nghỉ ngay tại nơi sóng vừa dạt lên. Chưa ai quyết định được là cần phải làm gì vì chưa hoàn hồn, sau những điều bất hạnh vừa xảy ra.

Ngày hôm sau, mặt trời vừa mọc, chúng tôi đã rời bờ biển đi sâu vào trong đảo. Thấy có nhà cửa, chúng tôi tìm đến. Bọn người da đen, rất đông, vây quanh chúng tôi. Và làm như thể chia phần với nhau, chúng phân chúng tôi ra thành những toán nhỏ đưa về nhà.

Tôi và năm người bạn được dẫn về cùng một nơi. Thoạt tiên, chúng bảo chúng tôi ngồi xuống và ra hiệu mời chúng tôi ăn một thứ rau. Các bạn tôi không suy nghĩ về việc những người mời không cùng ăn với mình, chỉ biết nghe theo cơn đói đang thôi thúc, liền ăn ngấu nghiến ngay. Về phần tôi, linh cảm thấy có một sự lừa bịp nào đó, tôi không động đến thức ăn. Như vậy thật may cho tôi, vì chỉ một lát sau, tôi nhận thấy tâm trí các bạn tôi rối loạn. Họ trò chuyện với tôi mà tôi không hiểu được họ đang nói những gì.

Sau đó, bọn da đen cho chúng tôi ăn cơm, thổi với dầu dừa. Các bạn tôi, giờ đây không còn lý trí nữa, ăn rất nhiều. Tôi cùng ăn nhưng rất ít thôi. Thì ra bọn da đen trước hết cho bọn chúng tôi ăn thứ lá ấy để làm rối loạn trí khôn và do đó để khỏi buồn phiền vì biết trước số phận đáng thương của mình, rồi sau đấy mới cho chúng tôi ăn cơm để vỗ béo. Bọn này là những tên ăn thịt người. Ý đồ của chúng là vỗ cho chúng tôi béo lên để ăn thịt. Các bạn tôi đã mất hết trí khôn, họ không rõ số phận của mình rồi sẽ ra sao, cho nên quả có béo lên thật.

Vì tôi còn giữ được đầu óc minh mẫn, chắc các vị có thể hiểu được là không những tôi không béo lên mà còn gầy đi so với lúc trước. Cái chết luôn luôn ám ảnh làm cho mọi thức ăn vào người tôi đều trở thành thuốc độc. Tôi đâm ra đờ đẫn, cái chứng bệnh này đã cứu sống tôi bởi những tên da đen sau khi đã đập chết và ăn thịt hết các bạn tôi thì ngừng lại. Thấy tôi khô khan, gầy đét, đau yếu, chúng hoãn việc giết thịt tôi vào một dịp khác.

Trong thời gian ấy, tôi được tự do hơn. Hầu như chúng không còn chú ý đến hành động của tôi. Nhờ vậy một hôm, tôi có cơ hội rời xa chỗ ở của bọn da đen và tìm cách chạy trốn. Một lão già trông thấy tôi đi xa, nghi ngờ ý định của tôi, ráng hết sức gọi tôi quay trở lại. Nhưng tôi vờ không nghe và đi nhanh hơn, chẳng mấy chốc khuất tầm mắt nhìn của lão. Những tên da đen khác đều đã đi vắng, thông thường đến tối chúng mới về.

Bởi vậy tin rằng là khi chúng biết tôi bỏ trốn chúng cũng không có thì giờ đuổi theo, tôi đi một mạch cho đến tối chỉ dừng lại để nghỉ ngơi chút ít và kịp ăn mấy miếng thức ăn mang theo, rồi lại lên đường ngay. Tôi đi liền bảy ngày qua những nơi không có người ở. Tôi sống nhờ những quả dừa, vừa làm thức ăn vừa làm thuốc uống.

Ngày thứ tám, tôi đến gần bờ biển, và đột nhiên trông thấy nhiều người màu da trắng như mình. Họ đang mải mê hái hồ tiêu là loại cây mọc rất nhiều ở vùng này. Tôi thấy việc của họ có vẻ là điềm lành, nên chẳng ngần ngại gì mà không đến gần và tìm cách bắt chuyện. Những người hái hồ tiêu đi về phía tôi. Vừa trông thấy tôi, họ hỏi bằng tiếng A Rập tôi là ai, từ đâu đến. Sung sướng được nghe tiếng nói giống mình, tôi vui lòng thỏa mãn hiếu kỳ của họ. Tôi thuật lại cho họ nghe đầu đuôi câu chuyện tôi đắm tàu và trôi dạt đến đảo này, rồi sa vào tay bọn người da đen ra sao. Họ hỏi: “Nhưng những tên da đen ấy ăn thịt người kia mà. Nhờ sự thần kỳ nào mà bạn thoát được?” Tôi kể cho họ đúng như các vị vừa nghe, và họ kinh ngạc vô cùng.

Tôi ở lại với họ, chờ cho đến khi họ hái đủ số hồ tiêu cần thiết. Sau đó họ cho cùng xuống chiếc tàu đã đưa họ đến đây, về đảo của họ. Họ giới thiệu tôi với quốc vương họ, một nhà vua tốt. Nhà vua lắng nghe câu chuyện phiêu lưu của tôi từ đầu đến cuối và rất lấy làm lạ. Sau đó, vua sai ban cho tôi áo quần và truyền cho triều đình và dân chúng phải chăm sóc tôi.

Hòn đảo tôi ở rất đông dân và có nhiều sản vật. Việc buôn bán ở kinh đô khá thịnh vượng. Nơi trú ngụ dễ chịu ấy bắt đầu an ủi niềm bất hạnh của tôi. Lòng tốt của nhà vua hào hiệp làm cho tôi hài lòng. Quả vậy, đối với nhà vua, thì không có ai hơn tôi. Nhờ vậy trong triều đình cũng như ngoài phố xá không một người nào không tìm dịp để làm vui lòng tôi. Chẳng bao lâu, tôi được xem như một người sinh trưởng ở thành phố này chứ không phải một người xứ khác đến ngụ cư.

Tôi nhận xét một điều mà tôi cho là kỳ lạ. Mọi người, kể cả nhà vua, đi ngựa đều không có yên cương. Một hôm tôi mạo muội hỏi nhà vua vì sao không dùng những thứ tiện nghi đó. Nhà vua đáp ở nước ông chưa hề biết dùng những thứ tôi vừa nói tới bao giờ.

Tôi liền đến nhà một người thợ, vẽ kiểu và đặt làm một cái cốt yên ngựa bằng gỗ. Xong xuôi, tôi tự tay nhồi đệm và bọc da rồi trang trí bằng một tấm vải thêu kim tuyến. Sau đó, tôi lại đến nhà một người thợ sắt ra kiểu cho anh ta làm cho một cái hàm thiếc đóng ngựa, cùng một đôi bàn đạp đặt chân nữa.

Khi mọi việc đã hoàn hảo, tôi mang tất cả đến dâng nhà vua và thắng thử vào một con ngựa của ông. Nhà vua cưỡi lên, rất vừa ý về sáng chế ấy. Vua ban thưởng cho tôi nhiều của cải để biểu lộ sự hài lòng. Tôi cũng không khước từ mà còn nhận làm nhiều bộ yên cương khác cho các vị thượng thư và quan chức chính trong triều. Họ biếu lại tôi nhiều tặng phẩm, làm cho tôi chẳng mấy chốc mà giàu có. Tôi cũng làm giúp yên cho cả một số người có danh vọng trong thành phố, khiến tôi nổi tiếng và được tất cả mọi người trọng thị.

Tôi đến chầu nhà vua rất đều đặn. Bởi vậy một hôm nhà vua bảo tôi: “Xinbát à, ta mến ông, và ta biết tất cả những người dân của ta quen biết ông đều noi gương ta. Ta có một điều muốn nói với ông và ông phải thuận theo điều ta sắp nói đó.”

- Tâu bệ hạ, không có điều gì mà tôi không sẵn sàng làm để vừa lòng bệ hạ, người có uy quyền tuyệt đối. – Tôi đáp.

- Ta muốn cưới vợ cho ông, – nhà vua nói tiếp – để cho cuộc hôn nhân ấy giữ chân ông ở lại nước ta, để cho ông không nghĩ tới chuyện trở về đất nước mình nữa.

Tôi không dám cưỡng lại ý muốn của nhà vua. Ông gả cho tôi một công nương cao quý, xinh đẹp, khôn ngoan và giàu có. Sau lễ cưới, tôi đến ở nhà nàng. Hai chúng tôi cùng sống với nhau một thời gian hoàn toàn hòa thuận. Tuy nhiên, tôi không quá hài lòng về hoàn cảnh mới của mình. Ý định của tôi vẫn là hễ có dịp là sẽ thoát về Bátđa, ở đấy cơ ngơi của tôi rất to lớn, không thể bỗng chốc tôi quên lãng được.

Tôi đang nuôi những ý nghĩ đó, thì vợ một người láng giềng tôi rất thân, lâm bệnh và qua đời. Tôi đến nhà an ủi, thấy ông ta hết sức buồn bã. Tôi đến gần và nói: “cầu Thượng đế giữ gìn cho bác được sống lâu.”

- Than ôi! Làm sao tôi có thể hưởng điều phúc bác chúc mừng? Tôi chỉ còn sống được một giờ đồng hồ nữa thôi.

- Ồ, xin bác chớ có suy nghĩ bi thương như vậy. Tôi mong điều đó không xảy ra. Tôi tin bác còn sống với tôi lâu dài.

- Tôi xin chúc bác sống lâu! – Ông ta nói. – Còn về phần tôi, thế là hết, tôi xin báo để bác biết người ta sẽ chôn tôi cùng với nhà tôi trong ngày hôm nay. Tục lệ của ông cha chúng tôi đặt ra từ xa xưa và truyền lại trên đảo này là như vậy, nhất thiết không ai được làm sai. Vợ chết thì chôn sống chồng, chồng chết chôn sống vợ. Không còn gì có thể cứu sống tôi, tất cả mọi người đều phải tuân theo luật pháp.

Trong lúc ông nói cho tôi biết cái phong tục dã man lạ lùng làm cho tôi kinh hoảng, thì bà con, bạn bè và hàng xóm lũ lượt đến dự lễ tang. Người ta liệm cho thi hài người đàn bà những quần áo sang trọng nhất như trong ngày cưới và tô điểm cho bà đủ mọi đồ trang sức. Tiếp đó, người ta đặt thi hài vào một chiếc quan tài mở nắp, rồi cả đám tang lên đường. Người chồng đi theo ngay sau thi hài vợ, dẫn đầu đám tang. Người ta lên ngọn một núi cao, và khi đến nơi, nâng tảng đá lớn che khuất một cái giếng sâu, rồi hạ thi hài xuống cùng với quần áo và đồ trang sức. Sau đó người chồng ôm hôn bà con bạn bè, rồi để yên cho người ta đặt vào một chiếc quan tài khác, cùng một vò nước và bảy chiếc bánh nhỏ ở bên cạnh. Người ta lại hạ ông ta xuống giếng, đúng như cách thức vừa hạ huyệt người vợ. Ngọn núi chạy dài, làm thành bờ của biển, và cái giếng thì rất sâu. Buổi lễ kết thúc, tảng đá lại được lấp lên miệng giếng như cũ.

Thưa các vị, không cần nói các vị cũng hiểu rằng tôi hết sức buồn rầu khi chứng kiến đám ma ấy. Tất cả những người khác dự lễ hầu như không tỏ vẻ vì xúc động, bởi lẽ họ đã quá quen nhìn thấy cảnh tượng ấy rồi. Tôi không cầm được, phải tâu với nhà vua điều suy nghĩ của mình: “Tâu bệ hạ, tôi hết sức ngạc nhiên về phong tục lạ lùng ở quý quốc là đi chôn người sống cùng với người chết. Tôi đã đi nhiều nơi, đã giao du với đủ hạng người ở vô số nước khác nhau, thế mà chưa bao giờ nghe nói đến một luật pháp khắt khe như vậy.”

- Biết làm sao được, ông Xinbát, – nhà vua đáp – đó là luật pháp chung, bản thân ta cũng phải tuân theo. Nếu hoàng hậu của ta qua đời trước thì ta cũng bị chôn sống theo nàng.

- Nhưng, tâu bệ hạ, tôi có được phép hỏi bệ hạ rằng người nước ngoài có bắt buộc phải tuân theo tục lệ ấy không?

- Có chứ, – vua trả lời và mỉm cười, hiểu ý vì sao tôi lại hỏi câu đó – nếu họ lấy vợ ở đảo này thì vẫn không được ngoại trừ.

Tôi buồn bã trở về nhà với câu trả lời đó. Sự lo sợ về nỗi vợ tôi sẽ chết trước và người ta sẽ chôn sống tôi cùng với nàng, gợi lên trong tôi nhiều suy nghĩ vừa xót xa vừa tủi nhục. Tuy nhiên, có cách nào tránh được? Thôi đành phải kiên nhẫn và phó thác thân phận mình vào ý muốn của Thượng đế. Tôi run lên mỗi lần nhà tôi hơi se mình. Và than ôi! chẳng mấy chốc tôi lâm vào cơn khủng khiếp thật sự: nàng ốm nặng và qua đời sau mấy ngày lâm bệnh.

Các vị thử tưởng tượng nỗi đau khổ của tôi. Bị chôn sống thì có gì kém thảm khốc hơn bị kẻ ăn thịt người nuốt chửng! Áy thế mà vẫn phải chịu cảnh ấy thôi. Nhà vua cùng với tất cả triều đình muốn tham gia đưa đám cho thêm phần trọng thể. Những người danh giá nhất trong thành phố cũng cho tôi vinh dự được họ đến dự lễ chôn tôi.

Khi mọi việc đã chuẩn bị xong, người ta đặt thi hài vợ tôi vào một chiếc quan tài cùng với tất cả đồ trang sức và những áo quần đẹp nhất của nàng. Cuộc đưa tang bắt đầu. Là diễn viên thứ hai của tấn bi kịch thảm thương, tôi bước đi ngay sau quan tài vợ tôi, đầm đìa nước mắt, xót xa cho số phận khốn khổ của mình. Trước khi đến ngọn núi, tôi thủ tác động vào tinh thần những người đến dự xem sao. Trước hết tôi tâu với nhà vua, rồi sau đó nói với tất cả mọi người chung quanh. Tôi cúi rạp người xuống tận đất trước mặt họ để hôn gấu áo của họ, tôi van họ đoái thương: “Xin các ngài hãy xét cho tôi là người nước ngoài, tôi không đáng chịu một luật pháp khắt khe như vậy! Tôi còn có một vợ nữa và con cái ở nước tôi.”

Tôi nói những lời ấy với vẻ xúc động. Nhưng vô ích, không một ai mủi lòng. Ngược lại người ta còn vội vã hạ thi hài vợ tôi xuống giếng, rồi lát sau ròng tôi xuống trong một chiếc quan tài mở nắp khác cùng một vò nước và bảy chiếc bánh. Cuối cùng cái buổi lễ tai hại cho tôi ấy kết thúc. Người ta xếp lại tảng đá lấp lên miệng giếng, bất chấp sự đau đớn cùng cực và những tiếng kêu gào thảm thiết của tôi.

Trong lúc từ từ ròng xuống, nhờ có chút ánh sáng từ bên trên chiếu rọi, tôi nhận được hình thể các nơi dưới đáy mộ. Đó là một cái hang rất rộng và có thể sâu khoảng năm mươi cánh tay. Một mùi hôi thối không thể nào chịu nổi xông lên từ cơ man xác chết. Hình như tôi còn nghe được tiếng một vài người trong số mới bị chôn sống gần đây thở những hơi cuối cùng. Khi xuống tới nơi tôi mau chóng bước ra khỏi quan tài, tay bịt mũi. Tôi nằm dài ra đất, và cứ như vậy mà khóc một hồi lâu. Rồi suy nghĩ về số phận của mình, tôi nói: “Đúng là Thượng đế định đoạt chúng ta theo ý của Người. Song, hỡi Xinbát đáng thương, phải chăng tại lỗi ở mày, cho nên mày mới phải lâm vào cái chết kỳ quặc thế này? Giá mà trời cho mày chết quách đi trong trận đắm tàu mà mày đã sống sót! Thì mày đã không phải lìa đời một cách chậm chạp và ghê gớm thế này. Nhưng chính mày đã gây nên cái chết do sự bủn xỉn đáng nguyền rủa của mày. A, khốn nạn, tại sao mày không ở lại nhà, để mà hưởng thụ một cách bình yên thành quả những công việc lao động của mày từ trước?”

Đấy là những lời than vãn vô vọng tôi làm vang động cả hang. Tôi đập đầu đấm bụng vì tức giận và tuyệt vọng. Tôi hoàn toàn mê mẩn trong những ý nghĩ bi thương.

Tuy nhiên, có nên nói với quý vị chăng? Là dù khốn khổ đến đâu, lòng yêu cuộc sống vẫn còn ở trong tôi. Nó vẫn thôi thúc tôi cố kéo dài ngày sống chứ không tìm cách chết ngay đi cho nhẹ tội. Vừa đưa tay bịt mũi, tôi vừa dò dẫm bước đi tìm lấy bánh mì và nước để trong quan tài mà ăn cho qua cơn đói khát.

Mặc dù trong hang tối như bưng đến mức không phân biệt được ngày đêm, tôi vẫn trở lại được chiếc quan tài của mình. Hình như cái hang rộng hơn và chứa nhiều xác chết hơn tôi tưởng lúc đầu. Tôi sống mấy ngày bằng bánh mỳ và nước của mình, nhưng cuối cùng ăn uống hết, tôi đành chờ chết.

Tôi chỉ còn chờ đợi cái chết nữa thôi, thì chọt nghe có tiếng nâng tảng đá. Người ta hạ xuống một xác chết và một người sống. Người chết là một người đàn ông. Có những quyết định tuyệt cùng vào những lúc tuyệt cùng nhất, cũng là điều tự nhiên thôi. Trong lúc người ta hạ người đàn bà xuống, tôi đến bên cạnh quan tài bà ta, và khi nhận thấy ở trên đã lấp kín miệng giếng rồi tôi cầm một ống xương to và quật hai ba cái thật mạnh vào đầu người đàn bà tội nghiệp. Bà ta ngất đi, hay đúng hơn là bị tôi giết chết. Nhờ có hành động vô nhân đạo ấy mà tôi chiếm được bánh mì và nước trong quan tài của bà, cho nên có đủ thức ăn để sống thêm mấy ngày nữa. Cuối thời gian đó, người ta lại hạ xuống một phụ nữ chết và một người đàn ông sống. Tôi lại giết người đàn ông bằng cách ấy, và may mắn cho tôi dạo ấy trong thành phố có nhiều người chết, tôi không phải thiếu hụt lương thực nhờ thực hiện cái phương sách nói trên.

Một hôm tôi vừa giết chết một người đàn bà, thì nghe có tiếng thở và bước chân. Tôi tiến đến phía phát ra tiếng động. Nghe tiếng thở mạnh hơn, rồi hình như trông thấy một vật gì đang chạy trốn. Tôi đi theo cái thứ bóng ấy, thỉnh thoảng nó đứng lại rồi vừa thở vừa chạy trốn mỗi khi tôi tiến đến gần. Tôi theo nó rất lâu và đi rất xa, cuối cùng trông thấy một đốm sáng như ngôi sao. Tôi tiếp tục đi về ánh sáng ấy, lúc ẩn lúc hiện, do có những vật cản che. Nhưng lần nào tôi cũng tìm lại được, và cuối cùng tôi phát hiện ra ánh sáng ấy lọt qua từ một lỗ trống trong núi đá. Lỗ khá rộng, con người có thể chui lọt.

Phát hiện ra chỗ đó rồi, tôi đứng lại một lúc chờ lắng dịu bót nỗi xúc động rồi tiến tới chỗ lỗ trống. Tôi chui qua và thấy mình đứng trên bờ biển. Các vị thử tưởng tượng nỗi vui mừng tột độ của tôi. Phải khó khăn lắm, tôi mới tin được rằng không phải là cõi mộng. Khi đã biết chắc đây là cuộc đời thực khi mọi giác quan đã trở lại bình thường, tôi hiểu ra cái vật tôi nghe thở phì phò mà tôi đã đi theo, là một con vật từ dưới biển lên. Nó có thói quen chui vào hang để ăn thịt xác chết.

Tôi quan sát ngọn núi và nhận thấy nó nằm ở giữa thành phố và biển, không có một con đường nào thông thương từ biển vào thành, bởi vì núi hiểm trở đến nỗi thiên nhiên cũng không tạo nổi thành đường. Tôi quỳ xuống bờ biển cảm tạ Thượng đế. Sau đó tôi quay vào hang lấy bánh mì và mang ra ăn dưới ánh sáng ban ngày. Bữa ăn ngon lành nhất kể từ khi tôi bị chôn sống trong chốn tối tăm đến nay.

Tôi còn quay vào hang lần nữa, mò mẫm thu nhặt trong các quan tài tất cả các loại kim cương, châu báu, vòng tay bằng vàng và tất cả các loại vải vóc đẹp tìm thấy được. Tôi mang tất cả những thứ đó ra bờ biển. Tôi gói thành nhiều kiện và buộc cẩn thận bằng những sợi dây thừng người ta dùng để ròng quan tài xuống, thứ ấy trong hang có rất nhiều. Tôi để những kiện đó trên bờ biển, chờ dịp tốt. Không sợ mưa làm hỏng, bởi vì dạo ấy không phải là mùa mưa.

Hai ba ngày sau tôi trông thấy một chiếc tàu vừa ra khỏi cảng và đi qua khá gần nơi tôi đang đứng. Tôi lột chiếc khăn đội đầu làm hiệu và ráng hết sức gọi to cho người trên tàu nghe được, cho thả xuồng vào đón. Các thủy thủ hỏi vì sao không may ở chốn này. Tôi đáp tôi vừa thoát một trận đắm tàu hai hôm trước cùng với các hàng hóa họ trông thấy kia. May mắn cho tôi, họ không để ý nơi tôi đang đứng, bằng lòng với câu trả lời ấy và cho tôi đi theo cùng với các kiện hàng.

Khi tôi lên được trên tàu, viên thuyền trưởng rất vui vì việc cứu giúp được tôi. Ông đang bận chỉ huy con tàu cho nên cũng bằng lòng với câu chuyện đắm tàu của tôi bịa đặt. Tôi đưa biếu ông một vài viên ngọc nhưng ông không nhận.

Chúng tôi đi ngang qua trước nhiều hòn đảo, trong số đó có đảo Chuông, cách đảo Xêrenđíp[1] mười ngày tàu buồm với sức gió đều đặn bình thường. Ở đây cũng cách đảo Kêla đúng mười ngày đường biển. Chúng tôi ghé vào đảo này. Ở đây có những mỏ chì, mía[2] và long não rất tốt.

Chúa đảo Kêla là một ông vua giàu có và hùng cường. Uy quyền ông lan tới toàn đảo chuông. Đảo này rộng đến hai ngày đường tàu biển, dân cư thì còn dã man đến mức vẫn ăn thịt người. Sau khi mua bán nhiều hàng hóa, chúng tôi lại lên đường và cập bến nhiều hòn đảo khác. Cuối cùng tôi yên lành về đến Bátđa với không biết bao nhiêu là của cải, xin không kể chi tiết làm nhàm tai quý vị. Để tạ ơn Thượng đế và bao nhiêu ân huệ Người ban cho tôi, tôi làm nhiều điều phúc. Nào là sửa sang đền chùa, nào là giúp đỡ những người nghèo khó. Tôi hoàn toàn sống với họ hàng bè bạn, cùng với họ vui chơi, chè chén thỏa thuê.

Đến đây, Xinbát kết thúc câu chuyện về chuyến đi thứ tư của ông. Những người nghe càng thấy thú vị hơn cả ba chuyến đi đầu. Ông lại biếu Hinbát một trăm đồng xơcanh nữa, và mời lão cùng tất cả mọi người ngày hôm sau, cũng vào giờ này, đến nhà ông dùng bữa và nghe kể chi tiết về chuyến đi thứ năm của ông.

Hinbát và các khách khứa cáo từ ra về. Ngày hôm sau, khi đã tề tựu đông đủ, họ lại ngồi vào bàn ăn. Bữa ăn kéo dài không kém các bữa ăn trước. Đến cuối bữa, Xinbát lại bắt đầu kể về chuyến đi thứ năm của mình như sau:

❀ ❀ ❀

[1] Tên người A Rập gọi đảo Xâylan (nay là Sri Lanca).

[2] Tên nguyên bản là ‘mía Ấn Độ’, được đưa từ Ấn Độ vào các nước A Rập từ thế kỷ thứ 8, sau đó mới lan sang nhiều nước.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.