Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 576 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN CON NGỰA THẦN KỲ

❊ ❊ ❊

-Tâu bệ hạ, – nàng Sêhêrazát lại kể – như Người đã rõ, từ những thời xa xưa, trong khắp nước Ba Tư, tết Nguyên đán, ngày mở đầu năm mới và mở đầu mùa xuân là một ngày hội trọng thể có truyền thống lâu đời. Ngay cả sau khi đạo Hồi chân chính của chúng ta đã được truyền bá vào nước ấy rồi, những phong tục và nghi lễ cũ vẫn tiếp tục tồn tại. Không nói đến các thành phố lớn, ngay các thành phố nhỏ thôi cũng cử hành ngày hội đó với những cuộc vui chơi kỳ lạ.

Nhưng những cuộc vui trong cung đình vượt xa tất cả bởi những cảnh tượng lạ lùng mới mẻ và muôn màu muôn vẻ của nó. Ngay người nước ngoài dân các nước lân bang đến từ những nước xa xôi nhất, cũng được thu hút tới dự hội, bởi những món tiền thưởng và ân huệ mà các nhà vua tặng cho những ai có sáng kiến và kỹ xảo tài giỏi. Nhờ thế không một nơi nào khác trên thế giới có thể so sánh với sự huy hoàng của những ngày hội đầu năm ở nước Ba Tư.

Vào một trong những ngày hội đó, sau khi những người khéo léo và tài hoa nhất nước cùng với những người ngoại quốc kéo về Sirazơ – kinh đô nước Ba Tư hồi bấy giờ – đã trình bày với vua và tất cả triều đình mọi điều mới lạ, vua liền hào phóng ban thưởng cho mọi người một cách công bằng, xứng đáng về những gì được coi là kỳ diệu nhất và hay ho nhất, khiến cho ai nấy đều hài lòng. Giữa lúc vua sắp cho chấm dứt ngày hội, và chuẩn bị lui về thì một gã thổ dân xuất hiện dưới chân ngai.

Gã dẫn tới một con ngựa làm bằng gỗ thắng yên cương và trang hoàng lộng lẫy, được tô vẽ một cách tài tình đến mức thoạt nhìn qua ai cũng tưởng đấy là con ngựa thật.

Gã thổ dân phủ phục trước ngai vàng rồi đứng dậy trỏ con ngựa và nói với vua:

- Tâu bệ hạ, mặc dù tôi là người cuối cùng đến ra mắt bệ hạ trong cuộc đua tài này, tôi vẫn dám quả quyết với Người rằng, trong ngày hội hôm nay, Người chưa từng thấy một vật kỳ diệu và lạ lùng hơn con ngựa mà tôi cúi mong được Người hạ cố để mắt nhìn kia.

- Ta chẳng thấy ở con ngựa này có gì khác hơn là nghệ thuật và kỹ xảo của người thợ đã tạc nó giống y như con ngựa thật, và quả nhiên họ đã làm được như vậy. Nhưng nhiều người thợ khác chắc cũng có khả năng làm được một việc tương tự, thậm chí họ có thể còn tinh xảo hơn.

- Tâu bệ hạ, – gã thổ dân lại nói – chẳng phải vì cách chế tạo hoặc màu sắc tô vẻ bề ngoài giống như thật của nó mà tôi dám mong được bệ hạ đoái xem, mà điều kỳ diệu chính là ở cách sử dụng nó. Không một ai khác có thể làm như tôi nhờ cái bí quyết mà tôi xin trình bệ hạ rõ: ấy là khi đã cưỡi lên lưng con ngựa này rồi, thì bất cứ một nơi nào trên trái đất dù xa xôi đến đâu mà tôi muốn bay tới, tôi đều có thể đến được ngay trong một thời gian rất ngắn. Tâu bệ hạ, đấy là tôi nói tóm tắt về sự thần kỳ của con ngựa của tôi, một sự thần kỳ chưa ai từng nghe nói đến, và tôi có thể thực nghiệm ngay nếu Người ra lệnh.

Vua nước Ba Tư xưa nay vốn hiếu kỳ đối với tất cả những gì kỳ diệu. Sau biết bao nhiêu chuyện hay vật lạ đã thấy, đã tìm xem và muốn được xem, vua chưa bao giờ trông thấy hoặc nghe nói tới một vật lạ dường này. Vua liền bảo gã thổ dân, chỉ có sự thực nghiệm điều mà gã vừa nói tới mới có sức thuyết phục được vua; và vua sẵn sàng xem sự thật thế nào.

Gã thổ dân cho chân vào bàn đạp, leo lên lưng ngựa một cách nhẹ nhàng, và sau khi đã ngồi vững chắc trên yên, gã hỏi vua Ba Tư muốn phái gã tới đâu.

Cách Sirazơ ba dặm, có một quả núi. Đứng từ quảng trường trước cung điện mà vua hiện đang cùng quần chúng tụ tập, có thể nhìn thấy rất rõ. Vua trỏ ngọn núi ấy bảo gã thổ dân:

- Ngươi trông thấy ngọn núi kia chứ, ta muốn ngươi đi tới đó, khoảng cách tuy không xa nhưng cũng đủ cho ta xét xem, ngươi từ đây đến đó trở về nhanh chóng thế nào. Vì ta không thể đưa mắt dõi theo tận đấy, ngươi hãy mang về đây cho ta một ngọn lá hái từ cây mọc ở chân núi, coi như đấy là bằng chứng ngươi đã đến tận nơi.

Vua vừa dứt lời, gã thổ dân chỉ cần xoay một cái chốt hơi nhô lên ở cổ con ngựa. Ngay lập tức, con ngựa vút lên không, mang theo người kỵ mã, nhanh như một tia chớp, và lên cao tới mức chẳng bao lâu những đôi mắt tinh tường nhất cũng không còn trông thấy. Vua, triều đình, cũng như tất cả những người được mục kích đang tụ tập ở quảng trường đều hết sức khâm phục và thốt lên những tiếng ngạc nhiên từ mọi phía.

Chưa đầy một khắc sau, mọi người đã thấy gã thổ dân bay trở về trên không, tay cầm ngọn lá cọ. Gã lượn trên quảng trường, cho ngựa uốn éo mấy vòng trước những tiếng hò hét vui mừng của nhân dân, rồi mới hạ xuống trước ngai vàng, đúng vào chỗ lúc nãy gã từ đó bay đi, một cách thật nhẹ nhàng êm ả. Xuống ngựa, gã tiến tới gần ngai vàng, quỳ xuống và đặt ngọn lá cọ dưới chân vua.

Đầy kinh ngạc và khâm phục chứng kiến cảnh chưa từng có mà gã thổ dân vừa trình diễn, vua Ba Tư nảy ra lòng ham muốn được làm chủ con ngựa đó. Tin chắc rằng không gặp khó khăn gì trong việc thương lượng với người chủ, vì cho dù gã có đòi số tiền lớn đến bao nhiêu, vua cũng đồng ý trả, bởi nhà vua đã cầm chắc đây là vật quý báu nhất cần bổ sung cho kho tàng của mình. Vua bảo gã:

- Thoạt nhìn vẻ ngoài của con ngựa, ta không hiểu hết giá trị của nó. Ta nhận là hồi nãy có xúc phạm tới anh, và để chứng tỏ lòng quý trọng của ta, ta sẵn sàng mua con ngựa nếu anh bằng lòng bán.

- Tâu bệ hạ, – gã thổ dân đáp – tôi xưa nay vẫn tin chắc, trong số các vị quân vương hiện nay đang trị vì trên trái đất, bệ hạ là người hơn ai hết có sự phán xét công minh đối với con ngựa của tôi, sau khi tôi trình bày để Người rõ do đâu nó được chú ý. Tôi cũng đã dự kiến không những Người chỉ bằng lòng xem và khen ngợi, mà có thể Người còn muốn trở thành người sở hữu nó, đúng như Người vừa ngỏ ý. Về phần mình, tâu bệ hạ, cho dù tôi biết rõ hơn ai hết giá trị của nó, và quyền sở hữu con ngựa này có thể làm cho tên tuổi tôi trở thành bất tử, tôi vẫn không dám bo bo giữ nó tới mức không thỏa mãn mong muốn cao cả của Người. Nhưng, khi ngỏ lời như vậy, tôi lại xin có lời nói thêm về điều kiện, mà thiếu nó, tôi sẽ không bao giờ để con ngựa chuyển sang tay người khác, một điều kiện mà e rằng bệ hạ không thể chấp thuận. Xin Người biết cho, – gã thổ dân nói tiếp – tôi đã không mua con ngựa này. Tôi chỉ có thể nhận từ tay người sáng chế ra nó bằng cách gả cho ông ta đứa con gái duy nhất của tôi, mà ông ta đòi lấy. Đồng thời, ông ta lại buộc tôi không được bán, mà chỉ có thể đổi chác theo cách nào tôi cho là thỏa đáng.

Gã thổ dân còn muốn nói tiếp, nhưng vừa nghe hai tiếng đổi chác, vua Ba Tư đã vội ngắt lời gã. Vua nói:

- Ta đồng ý đánh đổi với ngươi tất cả những gì ngươi đòi hỏi. Ngươi biết rằng vương quốc ta rộng lớn, có nhiều thành phố to, mạnh, giàu có, đông dân. Ta cho ngươi chọn lấy một nơi, ngươi sẽ được toàn quyền làm chủ cho đến trọn đời.

Đối với cả triều đình Ba Tư có mặt lúc ấy, sự đổi chác ấy thật quá vương giả, song nó còn thấp so với đòi hỏi của tên thổ dân. Mắt gã còn nhìn lên mục tiêu cao quý hơn nhiều. Gã đáp lời vua:

- Tâu bệ hạ, tôi cực kỳ biết ơn Người về đề nghị đó, và không biết làm sao cảm tạ cho hết sự hào hiệp của Người. Tuy nhiên, cầu xin Người chớ coi là bị xúc phạm nếu tôi dám ngỏ ý rằng, tôi chỉ đồng ý trao con ngựa nếu Người đồng ý cho phép tôi được lấy công chúa con Người làm vợ, tôi chỉ bằng lòng nhường quyền sở hữu con ngựa với cái giá ấy mà thôi.

Các triều thần đang chầu quanh vua Ba Tư không thể nhịn được cười ha hả, khi nghe gã thổ dân đòi hỏi kỳ cục như vậy. Riêng hoàng tử Firu Sát, đông cung thái tử, người thừa kế ngai vàng, không thể nghe mà không bất bình. Nhà vua lại nghĩ khác. Vua cho là có thể hy sinh công chúa nước Ba Tư cho gã thổ dân, để thỏa mãn sự hiếu kỳ của mình. Tuy nhiên, vua còn lưỡng lự đôi chút trước khi đi đến quyết định.

Thái tử Firu Sát thấy cha lưỡng lự chưa trả lời ngay tên thổ dân, lo rằng vua có thể đồng ý điều gã đòi hỏi, một việc mà chàng xem như làm sỉ nhục đến uy danh của hoàng gia, của công chúa và của chính chàng. Thái tử liền cất lời:

- Tâu bệ hạ, xin bệ hạ tha thứ cho con được hỏi tại sao bệ hạ có thể còn do dự, cân nhắc mà chưa khước từ ngay đòi hỏi láo xược của một tên vô danh tiểu tốt, một tên làm trò múa rối vô sỉ, lại để cho nó dám mơ tưởng rằng gia đình nó sắp được môn đăng hộ đối với một trong những đấng quân vương hùng mạnh nhất thế gian này. Con xin bệ hạ hãy cân nhắc không chỉ vì trách nhiệm đối với chính mình, mà còn vì tình máu mủ và trách nhiệm đối với oai phong của các đấng tiên vương ta nữa.

- Con ạ, – vua Ba Tư đáp, – ta vui lòng nghe lời con can gián và thông cảm mối quan tâm của con muốn giữ gìn uy danh của hoàng tộc. Nhưng con chưa hiểu hết sự kỳ diệu của con ngựa này, cũng như chưa thấy rằng gã thổ dân đến đề nghị ta đây, nếu bị từ chối có thể mang tới một nơi khác mà ở đó người ta không quá coi trọng danh dự. Và rồi đây ta sẽ lấy làm tuyệt vọng nếu một vị quân vương khác có thể khoe khoang là đã hào phóng hơn ta. Con làm cho ta mất niềm quang vinh được sở hữu con ngựa này, mà ta cho là vật đặc biệt đáng cho mọi người khắp thiên hạ thán phục.

Tuy nhiên, không phải ta có ý nói rằng ta đã đồng ý chấp nhận lời yêu cầu của nó. Có lẽ tự nó cũng chưa hiểu hết đòi hỏi của nó quá đáng; gạt riêng chuyện công chúa sang bên cạnh, ta có thể bằng lòng với một điều kiện khác hẳn. Nhưng, trước khi đi đến chỗ ngã ngũ, ta muốn tự con xem xét con ngựa; con hãy dùng thử, và cho ta biết cảm tưởng của mình. Ta tin rằng chủ của con ngựa đồng ý để cho con làm việc đó.

Thông thường ai đã mong ước điều gì thì hy vọng đạt được điều mình mong ước. Qua những lời nghe được ấy, gã thổ dân tưởng nhà vua chắc cũng có thể nhận lời đổi con gái lấy con ngựa; và hoàng thái tử, chẳng những không phản đối mà rồi còn có thể nói điều thuận lợi cho gã. Vì vậy, đã không ngần ngại trước ý kiến của nhà vua, gã còn tỏ vẻ vui mừng và sẵn sàng giúp thái tử lên ngựa, rồi sau đó sẽ nói cho thái tử rõ nên làm thế nào để điều khiển ngựa cho tốt.

Với một sự nhanh nhẹn diệu kỳ, hoàng thái tử Firu Sát vọt lên lưng ngựa mà không cần gã thổ dân giúp.

Vừa đặt chân vào bàn đạp, không chờ nghe ý kiến của tên thổ dân, chàng đã vặn cái chốt lúc nãy thấy gã vặn.

Lập tức, con ngựa vút lên không như một mũi tên bắn ra bởi một xạ thủ dũng mãnh và tài hoa nhất. Trong chốc lát, nhà vua, cả triều đình và tất cả đám đông tập hợp trong quảng trường không nhìn thấy chàng đâu nữa.

Thái tử Firu Sát mất hút trong không trung. Trong lúc vua Ba Tư cố gắng một cách vô ích nhìn xem có còn thấy con không thì gã thổ dân hốt hoảng vì sự việc vừa xảy ra, vội chạy tới phủ phục trước ngai, xin vua hãy đoái nhìn và nghe gã nói:

- Tâu bệ hạ, chính mắt Người đã nhìn thấy thái tử, vì quá nhanh nhảu, đã không để cho tôi chỉ dẫn những điều cần thiết để điều khiển con ngựa. Chỉ nhìn qua cách tôi làm, thái tử đã muốn tỏ ra không cần tôi chỉ dẫn cách bay lên không, không chịu nghe cách làm sao cho con ngựa quay trở về đúng nơi xuất phát. Bởi vậy, bệ hạ vốn quá công minh, sẽ không bắt tội tôi về điều bất hạnh có thể xảy đến cho thái tử.

Lời gã thổ dân làm vua Ba Tư rất phiền muộn. Vua hiểu nỗi hiểm nguy mà thái tử đang trải qua là không thể tránh khỏi, nếu quả thật đúng như lời gã thổ dân vừa nói, có một bí quyết khác để điều khiển con ngựa quay trở lại, không giống với cách làm cho nó bay lên.

Vua hỏi gã tại sao không gọi lại ngay khi thái tử vừa xuất phát. Gã đáp:

- Tâu bệ hạ, chính Người đã trông thấy con ngựa cùng thái tử vút lên không trung nhanh đến chừng nào. Lúc đầu, tôi kinh ngạc đến mức không thốt nên lời. Khi mở miệng ra nói được rồi, thì chàng đã đi xa không thể nghe tôi gọi nữa, mà cho dù có nghe được, làm sao lái được con ngựa quay trở về, một khi chàng không rõ bí quyết và cũng không đủ kiên nhẫn nghe tôi trình bày. Nhưng tâu bệ hạ, vẫn có thể hy vọng là trong cơn bối rối, thái tử sẽ nhận ra một cái chốt khác, nếu vặn nó, thì con ngựa thôi bốc lên cao mà hạ dần xuống, rồi thái tử sẽ có thể dùng cương điều khiển cho nó đặt chân xuống một nơi mà chàng thấy thuận tiện.

Gác ngoài tai lời lẽ của gã thổ dân nghe cũng phần nào có lý, vua Ba Tư hoảng hốt trước tai nạn khó tránh của con trai. Vua nói:

- Ta tin rằng, và điều này rất không chắc chắn, là thái tử sẽ nhận ra cái chốt kia và sử dụng nó đúng như mày nói. Nhưng nếu con ngựa không đỗ xuống đất mà rơi vào núi đá, hoặc cùng thái tử rơi xuống biển cả thì sao?

- Tâu bệ hạ, – gã thổ dân đáp – xin Người đừng lo ngại, tôi đảm bảo con ngựa bay qua biển không bao giờ hạ xuống, và bao giờ cũng đưa người cưỡi ngựa tới nơi người đó muốn đặt chân. Bệ hạ có thể tin chắc rằng, chỉ cần thái tử trông thấy cái chốt mà tôi nói, thế nào con ngựa của chàng cũng quay trở lại nơi chàng muốn. Chẳng lẽ chàng lại không biết hạ xuống một nơi có người để cứu giúp và nhận ra chàng là ai hay sao?

Nghe đến đây, vua Ba Tư nói:

- Cho dù thế nào chăng nữa, ta không thể tin vào lời bảo đảm của ngươi. Ngươi phải chịu trách nhiệm về tính mạng của con ta. Nếu trong hạn ba tháng, ta chưa thấy con trai ta trở về an toàn vô sự, hoặc chưa được tin chắc chắn là nó còn sống, thì ta sẽ lấy đầu ngươi.

Vua ra lệnh giữ gã thổ dân, tống vào một nhà giam chật chội; sau đấy trở về hoàng cung, cực kỳ phiền muộn vì ngày tết Nguyên đán trọng thể biết bao trong khắp nước Ba Tư này lại kết thúc một cách đáng buồn như vậy cho nhà vua và cho cả triều đình.

Trong thời gian đó, thái tử Firu Sát bay vút lên không trung hết sức nhanh chóng, như tôi vừa kể. Chưa đầy một giờ sau, chàng đã lên cao tới mức không còn nhận ra vật gì dưới đất nữa: núi và thung lũng lúc này trông cũng chẳng khác gì đồng bằng. Lúc ấy chàng mới nghĩ tới chuyện trở về nơi xuất phát. Chàng tưởng, muốn vậy, chỉ cần quay ngược cái chốt và gò cương quay đầu ngựa lại là đủ. Nhưng chàng cực kỳ kinh ngạc thấy con ngựa vẫn tiếp tục bốc lên với cùng tốc độ cũ. Chàng vặn đi vặn lại cái chốt nhiều lần, đều vô ích. Chỉ đến lúc ấy chàng mới nhận ra sai lầm lớn của mình là không để cho gã thổ dân kịp chỉ dẫn những điều cần thiết để điều khiển con ngựa trước khi khởi hành. Lập tức, chàng nhận ra ngay nỗi hiểm nguy to lớn đang chờ đợi mình.

Tuy vậy, nỗi lo không làm cho chàng mất trí phán đoán.

Chàng tập trung suy nghĩ, cố sức quan sát cẩn thận từ đầu tới cổ con ngựa, và nhận ra có một cái chốt khác, nhỏ hơn và ít lộ liễu hơn so với cái chốt kia, bên cạnh tai phải của con ngựa. Chàng vặn cái chốt này và tức khắc, chàng thấy mình đang hạ xuống, tuy vẫn tiếp tục đi theo con đường thẳng lúc bay lên, chỉ có điều không nhanh bằng. Đã nửa giờ rồi, đêm tối phủ xuống mặt đất dưới chỗ thái tử Firu Sát đang bay khi chàng vặn cái chốt. Nhưng vì đang bay xuống, chẳng mấy chốc chính chàng cũng không nhìn thấy mặt trời nữa, cho tới khi lao vào đêm tối mịt mùng. Như vậy, không thể nào chọn một chỗ đặt chân xuống đất cho thuận tiện. Chàng đành thả lỏng cương trên cổ ngựa và kiên nhẫn chờ cho đến lúc nó dừng lại bất kể đấy là một nơi có người ở, sa mạc, sông lớn hay biển cả.

Cuối cùng, con ngựa dừng lại và đặt chân chạm đất.

Đã quá nửa đêm, thái tử Firu Sát xuống ngựa, nhưng người rất mệt, bởi vì từ sáng sớm, khi ra khỏi hoàng cung cùng vua cha dự ngày hội cho đến bây giờ, chàng không ăn uống một miếng gì. Công việc đầu tiên của chàng, là trong đêm tối, cố nhận ra mình đang ở đâu.

Hóa ra, chàng đang đứng trên mái bằng của một cung điện lộng lẫy, chung quanh có lan can bằng cẩm thạch vừa ngang tầm tựa. Quan sát cái sân thượng, chàng nhận ra cầu thang đưa xuống dưới tầng dưới, cánh cửa lúc này không đóng kín mà chỉ khép hờ.

Giá một người nào khác đã không dám cả gan bước xuống trong bóng đen bao phủ cầu thang, hơn nữa còn có thể gặp người, chưa rõ bạn hay thù. Thái tử Firu Sát không vì thế mà ngại ngần. Chàng tự bảo: “Ta không đến đây để làm hài cho ai, có lẽ những người đầu tiên ta gặp, không thấy ta cầm vũ khí ở tay, sẽ có lòng nhân đạo mà nghe ta nói trước khi định làm hại tính mạng ta.”

Chàng nhẹ nhàng mở rộng thêm cánh cửa mà không gây tiếng động, và cẩn thận xuống cầu thang, tránh bước hụt chân có thể gây lên tiếng động, làm người ta tỉnh giấc. Làm được việc đó, chàng đến nơi cầu thang quặt lại, và nhận ra có một cánh cửa mở vào một gian phòng rộng có ánh đèn.

Dừng lại trước cửa, thái tử lắng tai, không nghe động tĩnh nào ngoài những tiếng ngáy khác nhau của đông người đang ngủ. Chàng tiến mấy bước vào trong phòng. Nhờ ánh sáng của một ngọn đèn treo, chàng nhận ra những người ngủ đều là hoạn nô đen, mỗi tên có một thanh gươm tuốt trần đặt sẵn bên cạnh; điều đó làm chàng hiểu đây là đội bảo vệ cung riêng của một hoàng hậu hoặc công chúa. Và quả đúng như vậy, đây là cung của một nàng công chúa.

Buồng công chúa ngủ kề ngay căn phòng này. Nhờ cánh cửa để ngỏ và ngọn đèn thắp sáng choang, chàng có thể nhìn thấy qua bức màn che làm bằng một tấm lụa rất mỏng.

Thái tử Firu Sát tiến đến tận bức màn, chân bước thật nhẹ nhàng, để khỏi làm tỉnh giấc các hoạn nô.

Chàng mở cửa bước vào, và không dừng chân ngắm vẻ đẹp huy hoàng của căn phòng rất vương giả, điều này chẳng quan trọng mấy trong hoàn cảnh hiện nay, vì còn phải quan tâm tới những việc hệ trọng hơn nhiều.

Trong phòng có nhiều giường ngủ, một chiếc kê trên bục cao và những chiếc khác thấp hơn. Những người hầu của công chúa ngủ ở các giường thấp này, để làm bạn và để hầu hạ nàng khi cần tới, còn công chúa ngự trên chiếc giường cao.

Thấy rõ sự phân biệt đó, thái tử biết ngay nên chọn công chúa để ngỏ lời. Chàng tiến đến gần giường, cố không làm thức giấc nàng cũng như một người hầu nào. Đến gần, chàng nhận ra đây là một người đẹp đến kỳ lạ, đẹp đáng ngạc nhiên, đến nỗi chàng thấy xúc động và nồng cháy yêu đương ngay từ phút đầu.

Chàng ngầm kêu:

“Trời đất! Phải chăng số mệnh dắt dẫn ta tới chốn này để làm cho ta mất tự do mà ta vẫn giữ gìn trọn vẹn cho đến bây giờ? Phải chăng ta sẽ trở thành một tên nô lệ không thể tránh khỏi của tình yêu chừng nào nàng mở mắt, và đôi mắt ấy, đúng như ta mong đợi, sẽ càng làm rạng rỡ hơn vẻ yêu kiều và duyên dáng kỳ diệu của con người. Ta phải quyết định thôi, bởi vì không thể thoái lui mà không tự mình làm hại tính mạng của mình, sự cần thiết bức ta phải làm như vậy.”

Suy nghĩ về liên quan giữa tình cảnh hiện nay của mình và sắc đẹp của công chúa, thái tử Firu Sát liền quỳ hai gối xuống, cầm đầu ống tay áo công chúa buông thõng, để lộ một cánh tay tròn và trắng như tuyết, kéo nhè nhẹ.

Công chúa mở mắt. Ngạc nhiên thấy trước mình có một chàng trai khôi ngô, tuấn tú, ăn mặc sang trọng, nàng lặng đi, tuy vậy không hề tỏ dấu hiệu khủng khiếp hay kinh hoàng.

Lợi dụng giây phút thuận lợi đó, thái tử rập đầu xuống tận thảm, rồi ngẩng lên nói:

- Thưa công chúa đáng kính, do một chuyện lạ lùng và kỳ diệu chưa từng ai nghĩ tới, cho nên nàng mới thấy một hoàng tử, con trai quốc vương Ba Tư, đang quỳ gối cầu khẩn dưới chân mình. Sáng hôm qua, tôi còn ở bên cạnh vua cha tôi, tham dự cuộc vui chơi của một ngày hội trọng thể, thế mà bây giờ lại đang ở một xứ xa lạ, đang có nguy cơ mất mạng nếu nàng không hào hiệp đoái thương để cứu giúp và bảo vệ cho. Thưa công chúa yêu quý, tôi van xin nàng hãy che chở cho, và tin chắc là sẽ không bị khước từ. Tôi có đầy đủ căn cứ để dám tin như vậy, vì không thể một người xinh đẹp, duyên dáng và oai vệ dường này lại không có lòng nhân đạo.

Nàng công chúa mà thái tử Firu Sát đang ngỏ lời ấy chính là công chúa Bengan, con gái của vương quốc nước ấy. Nhà vua đã xây cất cho con gái cung điện này, không xa kinh đô mấy, và nàng vẫn thường về đây nghỉ ngơi cho cách biệt chốn thị thành. Sau khi lắng nghe chàng nói, với sự hiền từ quá mức chàng mong đợi, nàng ân cần đáp:

- Thưa hoàng tử, xin hãy yên tâm, không phải chàng đang ở trong một xứ dã man. Sự hiếu khách, lòng nhân đạo và phong cách lịch sự cũng trị vì ở vương quốc Bengan này không kém vương quốc Ba Tư. Không phải chỉ có riêng tôi là người đồng ý bảo vệ chàng theo lời chàng yêu cầu, chàng có thể tìm được tình nhân ái trong cung này cũng như trong cả vương quốc Bengan. Chàng có thể tin tưởng và trông cậy vào lời tôi nói.

Thái tử nước Ba Tư muốn ngỏ lời cảm tạ công chúa Bengan về sự chân thành và mối ân huệ nàng tỏ rõ với mình. Chàng đã cúi đầu thấp, định cất lời chúc tụng, nhưng nàng không thể để cho chàng kịp nói tiếp.

- Cho dù tôi rất nóng lòng mong muốn, – nàng nói -được biết do sự kỳ diệu thế nào mà chàng từ kinh đô nước Ba Tư đến tận đây trong thời gian ngắn như thế, và bằng phép thần nào chàng có thể ra mắt tôi một cách bí mật, vượt qua được sự cảnh giác của đội bảo vệ, tuy nhiên, chắc chắn chàng đang cần được ăn uống, và tôi coi chàng như một người khách được hoan nghênh. Bởi vậy, tôi xin gác sự hiếu kỳ của mình đến sáng sớm mai, để cho các người của tôi đưa chàng đến một gian phòng, mời chàng dùng bữa, và chàng nghỉ ngơi ở đó đỡ mệt, cho tới chừng nào thấy có điều kiện thỏa mãn sự hiếu kỳ của tôi, cũng như tôi đã sẵn sàng để nghe chàng trình bày.

Những người hầu của công chúa đã thức giấc ngay từ những câu đầu tiên của thái tử. Họ cực kỳ ngạc nhiên thấy chàng quỳ cạnh giường công chúa; không hiểu làm sao chàng có thể vào tới đây mà không làm cho họ và bọn hoạn nô thức giấc. Vừa hiểu rõ ý định của công chúa, họ vội vàng dậy mặc áo, sẵn sàng thực hiện mọi lệnh của nàng. Cầm mỗi người một cây nến – rất nhiều đèn nến đang thắp sáng trưng phòng của công chúa – họ chờ cho chàng cáo biệt nàng cực kỳ lễ độ, xong mới đi trước dẫn đến một căn phòng rất đẹp. Rồi những người này lo sửa soạn nơi nghỉ, những người kia chạy đi làm thức ăn.

Mặc dù giờ giấc trái khoáy, những người lo việc bếp núc không để cho thái tử phải chờ lâu. Họ mang đến rất nhiều loại thức ăn. Chàng chọn những món mình thích.

Khi chàng dùng đủ, họ thu dọn, để chàng ở lại nghỉ ngơi, sau khi trỏ cho chàng nhìn thấy những cái tủ đựng những thứ chàng có thể cần.

Công chúa nước Bengan, qua cuộc nói chuyện ngắn ngủi với thái tử, còn xúc động trước vẻ lịch thiệp, trí thông minh, sự lễ độ và những đức tính khác của chàng, chưa ngủ lại được thì những người hầu đã quay trở về.

Nàng hỏi họ đã chăm sóc chàng chu đáo chưa, chàng có hài lòng không, chàng có thiếu gì chăng, và nhất là họ nghĩ thế nào về hoàng tử ấy.

Những người hầu, sau khi đáp lời chủ về những câu hỏi trên, có ý kiến về điều cuối cùng như sau:

- Thưa công chúa, chúng tôi không rõ công chúa nghĩ như thế nào về chàng, về phần mình, chúng tôi sẽ rất sung sướng nếu đức vua bằng lòng cho công chúa làm bạn với một hoàng tử khả ái như vậy. Ở triều đình nước Bengan ta, không một ai có thể sánh được chàng, và chúng tôi cũng biết rằng trong các quốc gia lân bang với ta, cũng chẳng có ai xứng đáng với công chúa như chàng.

Lời tán tụng đó không phải không làm vừa lòng công chúa. Nhưng vì không muốn để lộ tình cảm của mình, nàng bảo họ im đi.

- Các cô đến là lắm điều. Hãy đi nghỉ, và để yên cho ta ngủ tiếp!

Sáng hôm sau, việc đầu tiên công chúa làm sau khi thức dậy là bắt đầu trang điểm. Chưa bao giờ nàng tốn nhiều công sức như hôm ấy để nhìn vào gương mà ngắm nghía, chải chuốt, chưa bao giờ các người hầu lo việc điểm trang cho công chúa lại phải kiên trì làm đi làm lại mỗi một việc ấy kỳ cho tới lúc nàng lấy làm bằng lòng. Nàng tự nhủ:

- Ta không đến nỗi bị hoàng tử nước Ba Tư chê khi ta còn đang trong giấc ngủ, thì nay đã trang điểm rồi, chàng sẽ phải thấy ta khác nhiều.

Nàng cài lên mái tóc những viên kim cương lớn nhất, sáng nhất, rồi mang một chuỗi ngọc, những đôi vòng và một cái thắt lưng cũng đính ngọc đẹp nhất, tất cả đều đắt giá vô cùng. Còn chiếc áo nàng mặc thì may bằng thứ lụa đẹp nhất xứ Ấn Độ, chỉ dành riêng cho các vị vua, hoàng hậu, hoàng tử và công chúa dùng, màu sắc hài hòa với các vật trang sức. Sau đó, nàng lại soi gương, và hỏi đi hỏi lại những người hầu xem trang phục này còn thiếu thứ gì nữa không, rồi mới cho người sang xem hoàng tử nước Ba Tư đã ngủ dậy hay chưa; nếu chàng đã dậy và ăn mặc rồi, thế nào chàng cũng xin đến chào công chúa trước. Và nàng có lý do để tin như vậy.

Thái tử nước Ba Tư ban ngày trông còn khôi ngô tuấn tú hơn đêm qua, vì đã hoàn toàn lại sức sau một chuyến đi vất vả. Chàng vừa mặc quần áo xong, thì người hầu của công chúa mang đến lời chào của nàng.

Không chờ cho người hầu kịp thưa lại những điều công chúa dặn, thái tử vội hỏi công chúa đã sẵn sàng để cho phép chàng tới vấn an chưa. Nhưng, khi được rõ ý kiến của công chúa, chàng đáp:

- Công chúa là chủ nhân, tôi có mặt ở đây là chỉ để thi hành những mệnh lệnh của nàng.

Vừa hay tin thái tử nước Ba Tư đang chờ, công chúa nước Bengan vội tới ngay. Sau những lời chúc tụng lẫn nhau, hoàng tử thì muôn nghìn lần xin lỗi đã vô tình làm mất giấc của nàng, còn công chúa thì hỏi chàng có ngủ được không, và hiện nay thấy trong người thế nào, công chúa ngồi xuống chiếc trường kỷ, thái tử cũng ngồi cùng ghế nhưng cách xa một chút, để tỏ lòng kính trọng. Lúc ấy, công chúa cất lời nói:

- Thưa hoàng tử, lẽ ra tôi có thể tiếp chàng ngay trong gian phòng, nơi chàng thấy tôi đang ngủ tối qua. Nhưng vì ở đấy viên trưởng hoạn nô của tôi được phép tự do ra vào, còn ở đây nó không bao giờ dám bước vào nếu chưa được phép. Tôi nôn nóng muốn rõ câu chuyện kỳ lạ, làm cho tôi có diễm phúc được gặp chàng, nên tôi xin đến để nghe chàng tại đây, là nơi mà cả chàng lẫn tôi không bao giờ bị kẻ khác làm gián đoạn câu chuyện. Vậy thì, tôi mong chàng hãy kể lại điều tôi yêu cầu.

Để làm hài lòng công chúa nước Bengan, thái tử Firu Sát bắt đầu thuật lại về ngày lễ Nguyên đán trọng thể trong khắp nước Ba Tư, cùng những cảnh đáng gợi được hiếu kỳ, làm cho cả triều đình và toàn kinh đô Sirazơ vui thích. Tiếp đó, chàng kể đến chuyện con ngựa thần kỳ và mô tả con ngựa. Điều kỳ diệu mà gã thổ dân trình diện trước một cử tọa nổi tiếng như vậy, thuyết phục được công chúa rằng trên đời thật khó tưởng tượng ra một vật gì đáng ngạc nhiên hơn. Thái tử Nước Ba Tư nói tiếp:

- Thưa công chúa, xin nàng biết cho là phụ vương tôi xưa nay không ngại tiêu pha tốn kém để cho kho tàng của Người ngày càng có nhiều hơn những vật hiếm hoi và ngộ nghĩnh nhất mà Người biết được, nên rất say sưa muốn có thêm một con ngựa loại ấy. Quả như vậy, Người đã không ngần ngại hỏi gã thổ dân đòi bao nhiêu.

Câu trả lời của gã thật kỳ cục. Gã đáp không phải gã mua con ngựa, mà đánh đổi nó bằng người con gái duy nhất của gã. Và bởi vì đã trót hứa là chỉ có thể nhượng với điều kiện tương tự, gã chỉ đồng ý để lại cho Người với điều kiện là Người cho phép được lấy công chúa em gái tôi làm vợ.

Các vị triều đình đang chầu quanh ngai vàng cha tôi lúc đó đều cất cao lời chế nhạo gã. Riêng phần mình, tôi cảm thấy bất bình tới mức không thể nào che giấu được, nhất là khi trông thấy cha tôi cân nhắc câu trả lời. Tuy nhiên, lời can gián của tôi không đủ sức làm cho Người từ bỏ hoàn toàn ý định hy sinh công chúa em gái tôi cho người đáng khinh như gã. Người tưởng tượng rằng tôi sẽ đồng tình, một khi cũng hiểu được như Người về giá trị của con ngựa, do tính chất độc đáo của nó. Với ý nghĩa đó, Người muốn tôi xem xét con ngựa, cưỡi lên nó và đi thử.

Để vui lòng vua cha, tôi lên ngựa. Vì đã được trông thấy gã thổ dân xoay một cái chốt khiến cho con ngựa bay lên, tôi đã làm như vậy và không hỏi thêm gã, thế là ngay tức khắc tôi được phóng lên trời nhanh như mũi tên bắn bởi cánh tay một xạ thủ khỏe mạnh nhất, giàu kinh nghiệm nhất.

Chẳng mấy chốc, tôi lên cao cách xa mặt đất đến nỗi không phân biệt được một vật gì dưới ấy nữa, và tưởng như mình sắp chạm tới vòm trời, e đụng vào đấy vỡ đầu. Thoạt đầu được phóng đi nhanh quá, tôi mất tự chủ hồi lâu, không nhận ra hết nỗi hiểm nghèo mình đang trải qua. Tôi muốn vặn ngược cái chốt lúc nãy, nhưng kết quả không như mong đợi. Cuối cùng nhận ra được một cái chốt khác, tôi vặn nó; nhờ thế con ngựa không tiếp tục bay lên nữa mà bắt đầu hạ xuống, chẳng mấy chốc trời tối mịt, không thể nào điều khiển cho nó hạ xuống một nơi không xảy ra nguy hiểm cho mình, tôi đành buông cương, và phó thác cho Thượng đế định đoạt số phận của tôi tùy theo ý của Người.

Cuối cùng con ngựa hạ xuống đất. Tôi xuống yên, và xem xét chỗ ấy, tôi thấy mình đang ở trên sân thượng tòa cung điện này. Tôi tìm thấy cửa cầu thang hè mở, tôi xuống mà không gây tiếng động, rồi một cánh cửa có ít nhiều ánh đèn mở ra trước mắt tôi. Tôi thò đầu nhìn vào thấy các hoạn nô đang ngủ, và sau một bức màn, có nhiều ánh sáng. Trong tình trạng bức bách lúc bấy giờ, mặc cho nỗi nguy hiểm không thể nào tránh khỏi nếu các hoạn nô thức giấc, tôi đành phải bạo dạn nếu không nói rằng to gan, nhẹ nhàng tiến lên vén bức màn.

Thưa công chúa, – hoàng tử nói tiếp – không cần kể thêm nữa nàng đã rõ. Tôi chỉ còn có việc cảm tạ sự hiền từ và lòng hào hiệp của công chúa, và xin nàng cho tôi biết bằng cách nào tôi có thể chứng tỏ lòng biết ơn của mình và làm vừa lòng công chúa, bởi vì theo luật lệ người đời, tôi hiện là nô lệ của nàng, do đó không thể hiến dâng nàng con người của tôi nữa mà chỉ còn có thể hiến dâng mỗi một trái tim của mình nữa mà thôi. Tôi biết nói sao, thưa công chúa? Trái tim ấy không còn thuộc về tôi nữa, nàng đã chiếm đoạt nó bằng vẻ yêu kiều. Tôi không những không muốn đòi lại trái tim của mình mà còn giao phó hẳn cho nàng. Tôi coi công chúa không những là chủ nhân của mọi ý chí mà còn của trái tim mình.

Những câu nói sau cùng của thái tử Firu Sát được nói ra với giọng nói và vẻ mặt khiến công chúa nước Bengan không mảy may nghi ngờ tác động gây nên do sự hấp dẫn của mình, đúng như nàng chờ đợi. Nàng không lấy làm xúc phạm vì lời tỏ tình hơi vội vã của thái tử nước Ba Tư. Mặt nàng đỏ ủng, khiến cho thái tử thấy càng xinh đẹp càng đáng yêu.

Khi thái tử Firu Sát dứt lời, công chúa nước Bengan nói:

- Thưa hoàng tử, chàng đã đưa đến cho tôi niềm thú vị hiếm có khi thuật lại những điều lạ lùng và kỳ diệu mà tôi vừa được nghe. Mặt khác, tôi cũng không thể không khủng khiếp khi nghe chàng kể chuyện bay vút tận mây xanh. Và dù chàng đang ngồi trước mặt tôi an toàn vô sự, tôi vẫn không hết lo sợ, mãi cho tới đoạn chàng kể tới con ngựa của gã thổ dân hạ xuống bình yên trên sân thượng của cung tôi. Việc đó có thể diễn ra ở hàng nghìn chỗ khác; nhưng tôi rất hài lòng về sự ngẫu nhiên đã cho tôi có cơ hội chứng tỏ với chàng rằng không ở đâu đón tiếp chàng thoải mái và đầy thích thú như ở nơi đây. Bởi vậy thưa hoàng tử, tôi tự cho mình rất bị xúc phạm nếu tin rằng ý kiến của chàng, nói chàng là nô lệ của tôi là một ý kiến nghiêm túc. Tôi cho rằng chàng nói như vậy vì lịch sự hơn là xuất phát từ tình cảm chân thành. Sự đón tiếp của tôi đối với chàng tối hôm qua hẳn đủ làm cho chàng thấy rõ ở đây, chàng cũng được tự do không kém gì ở giữa triều đình nước Ba Tư. Còn về trái tim của chàng, – công chúa nói thêm với giọng không có vẻ gì khước từ, vì tôi chắc không phải đợi đến bây giờ chàng mới sử dụng tới nó, và hẳn chàng đã trao cho một công chúa nào xứng đáng rồi, tôi sẽ rất không hài lòng nếu mình là cớ để cho chàng bỏ mất lòng chung thủy.

Thái tử Firu Sát muốn phản đối, và tỏ cho công chúa nước Bengan biết rằng trái tim mình chưa có ai làm chủ cho đến khi từ giã nước Ba Tư, nhưng chàng vừa định cất lời thì một người hầu của công chúa, đã nhận được lệnh từ trước, vào mời hai người đi dùng bữa sáng.

Việc đó gỡ cho thái tử và công chúa khỏi bối rối vì một sự giải thích xét ra không cần thiết. Công chúa nước Bengan hoàn toàn tin chắc ở sự chân thành của thái tử. Về phía chàng, mặc dù công chúa không nói ra, qua lời lẽ và thái độ thuận chiều của nàng, chàng nghĩ là mình có thể vừa lòng với hạnh phúc.

Công chúa đứng lên mời thái tử, vừa lúc thái tử cũng đứng dậy như nàng. Nàng nói không có thói quen dùng bữa sáng sớm thế này, nhưng vì nghĩ rằng tối hôm qua, những người hầu của nàng hẳn đã mời chàng một bữa tối chẳng ra sao, cho nên nàng đã ra lệnh chuẩn bị bữa sáng sớm hơn thường lệ.

Vừa nói nàng vừa dẫn chàng qua một cánh cửa mà người hầu hồi nãy vẫn bỏ ngỏ, sang một căn phòng lộng lẫy, ở đây người ta đã bày sẵn nhiều món ăn tuyệt vời.

Họ ngồi vào bàn. Khi hai người đã yên vị, những người hầu của công chúa, rất đông, đều xinh đẹp và ăn mặc sang trọng, bắt đầu đàn múa hát vui cho tới hết bữa ăn. Cuộc hòa tấu nhẹ nhàng và được cử hành sao cho không làm trở ngại tới cuộc nói chuyện của thái tử và công chúa. Suốt bữa ăn, hai người dành nhiều thời giờ để chúc tụng và mời mọc nhau những món ngon lành nhất. Qua những thù tạc này, tình yêu giữa hai người càng mặn mà hơn cả tình yêu của đôi nam nữ sau một cuộc hẹn hò tay đôi định trước.

Cuối cùng thái tử và công chúa rời bàn ăn. Công chúa mời hoàng tử nước Ba Tư sang một căn phòng rộng và lộng lẫy bởi sự kiến trúc và cách trang trí màu vàng và màu thanh thiên rất hài hòa, cùng những bàn ghế sang trọng. Họ ngồi xuống một trường kỷ, nhìn ra khu vườn đẹp mắt. Thái tử Firu Sát khen ngợi các loại hoa. Cây cối thì đa dạng, khác hẳn bên Ba Tư, nhưng vẫn đẹp không kém thực vật bên nước chàng, chàng nhân cơ hội này mà nói tiếp câu chuyện với công chúa:

- Thưa công chúa, trước đây tôi vẫn tưởng trên khắp thế giới chỉ nước Ba Tư là có những cung điện hùng vĩ và những vườn hoa đẹp mắt, xứng với oai phong các đấng quân vương. Bây giờ tôi thấy rõ ở đâu có những quốc vương vĩ đại, thì các vị đó đều biết xây dựng cung thất phù họp với tầm vóc và quyền lực của mình. Nếu có sự khác biệt chăng về cung cách kiến trúc và trang hoàng, thì lại có sự giống nhau về tầm cỡ lớn lao và vẻ huy hoàng tráng lệ.

- Thưa hoàng tử, – công chúa nước Bengan đáp, – vì chưa nhìn thấy cung điện ở nước Ba Tư, tôi không thể có ý kiến so sánh nó với cung của tôi để bày tỏ với chàng. Nhưng, cho dù chàng rất chân thực, tôi vẫn khó nghĩ rằng ý kiến của chàng là đúng, chắc hẳn chàng do nhã ý mà quá khen. Tuy tôi không muốn hạ thấp giá trị cung điện của tôi trước mặt chàng, hẳn chàng có con mắt tinh tường và khiếu thẩm mỹ cao quý hơn để phán đoán, song xin quả quyết là tôi thấy cung điện của tôi rất tầm thường, nếu đem so sánh với cung điện của cha tôi, vô cùng lớn lao hơn, đẹp đẽ hơn, sang trọng hơn cái này. Chàng sẽ nói cho tôi hay chàng nghĩ như thế nào sau khi nhìn thấy nó. Bởi vì sự tình cờ đã run rủi chàng đến tận kinh đô nước này, tôi không nghĩ rằng chàng không muốn tới thăm và chào vua cha tôi, để cho Người có dịp được tiếp đón long trọng một hoàng tử có cương vị danh giá như chàng.

Với gợi ý mời hoàng tử nước Ba Tư tới thăm cung điện nước Bengan và chào vua cha mình, công chúa hy vọng rằng, nếu được như vậy, cha nàng nhìn thấy một hoàng tủ tuấn tú, khôn ngoan và có nhiều đức tính tốt đẹp, có thể đi tới quyết định cho nàng kết hôn cùng chàng. Đã biết chắc chắn tình cảm của mình đối với chàng, và chàng thì hiển nhiên sẽ không từ chối cuộc hôn phối ấy, làm như thế thì nàng có thể toại nguyện mà vẫn giữ được tư thế xứng đáng của một vị công chúa là lúc nào cũng chỉ biết tuân phục ý muốn của phụ vương, cha đặt đâu con xin ngồi đấy. Nhưng thái tử nước Ba Tư lại không đáp ứng điều đó như nàng mong muốn. Chàng nói:

- Thưa công chúa, theo như lời nàng nói, tôi hoàn toàn tin rằng cung điện của quốc vương Bengan vĩ đại hơn cung điện của nàng. Còn về lời nàng muốn tôi đến triều yết phụ vương, tôi thấy rằng đây không phải là một niềm vui mừng mà còn là một vinh hạnh lớn cho riêng tôi. Nhưng, thưa công chúa, xin nàng hãy suy xét cho, lẽ nào nàng khuyên tôi nên ra mắt một đấng quân vương oai nghi, vĩ đại dường ấy, với bộ dạng của một kẻ phiêu lưu, không có đoàn tùy tùng và phụ tá thích đáng với địa vị của mình?

- Thưa hoàng tử, – công chúa lại nói, – xin chàng đừng băn khoăn về việc đó. Chàng cứ việc ngỏ ý, tiền chẳng thiếu đâu, chàng muốn sắm đoàn tùy tùng thế nào, xin cứ tùy tiện, tôi xin cung ứng đầy đủ.Ở đây có rất nhiều nhà buôn người nước chàng, hoàng tử có thể chọn bao nhiêu người, mua bao nhiêu hàng tùy ý, đủ làm rạng rỡ cho chàng thì thôi.

Thái tử Firu Sát thấu hiểu ý nghĩ của công chúa nước Bengan, và điều đó càng làm cho chàng thêm say mê nàng. Nhưng, cho dù tình yêu có nồng nhiệt đến bao nhiêu, chàng cũng không thể lãng quên bổn phận.

Chàng đáp không chút chần chừ:

- Thưa công chúa, nhẽ ra tôi vui lòng nhận sự giúp đỡ của công chúa và không biết làm sao để cảm tạ cho xứng đáng. Nhưng nỗi lo âu của cha tôi thấy con biệt vô âm tín không cho phép tôi xử sự như vậy. Tôi sẽ không xứng đáng với tấm lòng hiền từ cũng như tình thương của Người, nếu tôi không trở về sớm nhất và đến ngay bên cạnh để cho Người hết lo âu. Tôi biết như vậy lắm. Trong khi tôi đang có hạnh phúc được đàm đạo với một công chúa khả ái dường này, thì chắc chắn cha tôi đang trải qua những nỗi đau đớn sâu xa, và có lẽ đã mất hết hy vọng thấy con trở về. Mong công chúa anh minh hiểu cho tôi, tôi không thể vô ơn và không phạm tội, nếu không chịu trở về ngay để cứu cha tôi khỏi cái chết, mà chắc chắn sẽ xảy ra nếu tôi còn chần chừ nấn ná. Sau việc đó rồi, thưa công chúa, – thái tử nói tiếp – nếu nàng xét thấy tôi xứng được mong ước trở thành hôn phu của nàng, vì cha tôi xưa nay vẫn nói cho tôi rõ Người không bao giờ cưỡng ép tôi trong việc hôn nhân, chắc chắn tôi sẽ chẳng khó khăn gì mà không xin được Người cho phép trở lại đây. Tôi sẽ trở lại không phải như một kẻ vô danh, mà với tư cách hoàng tử, thay mặt Người xin với quốc vương nước Bengan cho hai nước được kết liên, bằng cuộc hôn nhân của hai ta. Tôi tin chắc rằng tự cha tôi sẽ ngỏ ý ấy trước, khi nghe tôi trình bày tấm lòng hào hiệp mà nàng đã đón tiếp tôi trong bước không may.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.