Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 554 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ALÁTĐANH HAY CÂY ĐÈN KỲ DIỆU

❊ ❊ ❊

Chuyện nàng Sêhêrazát kể:

- Tâu bệ hạ, tại kinh đô một nước thuộc Trung Quốc, rất giàu và rất rộng, giờ đây tôi quên mất tên, có một người thợ mang tên là Mutxtapha. Ông ta không có danh vị nào khác ngoài cái mà nghề nghiệp ông ta đưa lại. Mutxtapha là một người thợ may rất nghèo. Công việc làm ăn giật gấu vá vai vẫn không đủ nuôi sống vợ và một đứa con trai tên là Alátđanh.

Được nuôi dạy theo lối gặp chăng hay chớ, chú mắc nhiều nếp xấu. Chú nghịch ngợm, bướng bỉnh, không vâng lời bố mẹ. Chú vừa mới lớn lên một chút, bố mẹ chú đã không giữ được chú ở nhà. Từ sáng sớm, chú đã bỏ nhà ra đi, chơi bời lêu lổng suốt ngày ở ngoài đường phố và các nơi công cộng với những đứa bé con du thủ du thực có khi còn ít tuổi hơn chú.

Khi chú đến tuổi học việc, bố chú chẳng có điều kiện cho chú theo học một nghề nào khác ngoài nghề nghiệp của mình, liền giữ chú ở quán may và bắt đầu bày cho chú cách cầm cây kim sợi chỉ. Nhưng lời lẽ dịu dàng không được, đe dọa roi vọt cũng không xong, ông bố chẳng còn cách gì giữ chân con được. Chú không chịu ngồi yên cần cù chăm chỉ với nghề, như ông ta mong muốn. Mutxtapha vừa quay lưng đi, Alátđanh đã lảng mất, và suốt cả ngày hôm ấy, chú không đặt chân trở về tiệm may nữa. Ông bố lại sửa cho một trận; nhưng Alátđanh vẫn tính nào tật ấy. Ông ta buộc phải để mặc cho chú tự do, muốn làm gì thì làm. Điều đó làm ông ta rất phiền lòng, và nỗi buồn không dạy bảo được con nên người khiến cho ông lâm bệnh nặng mấy tháng thì qua đời.

Bà mẹ Alátđanh thấy con không chịu theo nghiệp bố, liền đóng cửa quán may và bán hết đồ nghề để góp thêm vào số tiền ít ỏi bà kiếm được bằng nghề kéo sợi, cho hai mẹ con sống lần lữa qua ngày.

Chú bé Alátđanh, trước đây đến bố còn không bảo được thì giờ đây còn coi mẹ ra gì. Chú to gan đến mức dám đe dọa cả mẹ mỗi lần bị bà trách mắng, thành ra chú tha hồ chơi bời lêu lổng. Chú đàn đúm với lũ trẻ con cùng lứa tuổi và càng ham mê chơi bời với chúng hơn cả trước kia. Chú sống theo cách ấy mãi đến năm mười lăm tuổi, đầu óc chẳng mở mang về bất cứ một thứ gì, chẳng bao giờ suy nghĩ sau này mình sẽ ra sao.

Chú đang ở trong tình cảnh ấy, thì một hôm, trong khi chú đang cùng một lũ trẻ du thủ du thực nô đùa trên một đám đất rất rộng, có một người lạ mặt đi qua dừng chân lại và chăm chú nhìn chú.

Người lạ mặt ấy là một lão phù thủy cao tay, mà những tác giả chép câu chuyện này chỉ gọi là lão phù thủy người Phi. Chúng ta cũng sẽ gọi hắn như vậy. Mà gọi như vậy cũng phải thôi bởi vì quả thật hắn là người tận bên châu Phi, vừa đặt chân đến đây mới có hai ngày trời.

Hoặc giả lão phù thủy người Phi vốn giỏi nghề xem tướng mặt, đã nhận ra khuôn mặt Alátđanh những nét gì tuyệt đối cần thiết cho sự thực hiện cái ý đồ đã khiến lão cất công đến tận đây chăng. Cũng có thể là lão đã khôn khéo tìm hiểu trước về gia đình chú, để biết rõ chú là ai, người ngợm tính nết thế nào. Khi đã rõ điều muốn biết rồi, lão đến gần chú, kéo riêng chú ra cách bạn bè mấy bước rồi hỏi:

- Cháu ơi có phải bố cháu tên là Mutxtapha, thợ may không?

- Thưa ông vâng, nhưng bố cháu mất đã lâu rồi. -Alátđanh đáp.

Nghe câu đáp, lão phù thủy người Phi ôm chầm lấy Alátđanh, hôn chú nhiều lần, nước mắt rưng rưng và thở dài thườn thượt. Alátđanh thấy thế, liền hỏi tại sao lão khóc. Lão phù thủy người Phi kêu lên: “Ôi cháu ơi! Làm sao chú có thể cầm được nước mắt? chú là chú ruột cháu đây, bố cháu là anh của chú. Đã nhiều năm nay chú đi xa. Đúng vào lúc chú về đến đây hy vọng gặp lại bố cháu, để cho bố cháu vui lòng là chú đã trở về, thế mà cháu lại cho chú hay tin bố cháu đã qua đời! Thật đau xót làm sao, chú đã không đạt được niềm an ủi mà chú mong chờ. Nhưng có điều làm chú khuây khỏa được phần nào, ấy là khi nhìn cháu, chú nhận ra ngay nét mặt của bố cháu mà chú còn nhớ rõ. Chú thấy chú đã không nhầm khi đến hỏi chuyện cháu.”

Lão vừa thọc tay vào túi tiền vừa hỏi Alátđanh mẹ chú ở đâu. Alátđanh đáp, lão đặt vào tay chú một nắm tiền và bảo:

- Cháu ơi, cháu hãy về tìm mẹ cháu, nhớ nói là chú gửi lời chào. Cháu thưa với mẹ cháu là nếu thì giờ cho phép, sáng mai chú sẽ đến thăm để được nhìn lại nơi ông anh của chú đã sống một thời gian khá lâu và cũng là nơi ông vĩnh biệt cõi đời.

Lão phù thủy người Phi từ biệt đứa cháu hờ, và Alátđanh chạy vội về nhà, rất vui mừng với số tiền ông chú vừa cho. Vừa về tới nhà, chú hỏi mẹ:

- Mẹ ơi, xin mẹ cho biết, con có ai là chú không?

- Không con ạ, con chẳng có chú bên nội cũng như bên ngoại.

- Ấy thế mà con vừa gặp một người bảo là chú ruột bên nội của con cơ đấy, bởi vì cha con là anh cả của ông ta theo như lời ông ta quả quyết. Ông ta còn khóc và ôm hôn con nữa khi nghe con nói bố đã qua đời. Đây nhé, bằng chứng con nói thật – chú đưa ra khoe số tiền vừa nhận được – đây là món tiền chú ấy cho. Chú còn nhờ con chuyển lời chào mẹ, và nói với mẹ rằng nếu có thì giờ chú sẽ đến thăm mẹ và cũng để viếng ngôi nhà, nơi bố con đã sống và đã qua đời.

- Con ạ, – bà mẹ nói – đúng là cha con có một người em trai, nhưng chú ấy mất đã lâu, và mẹ không bao giờ nghe bố con nói có một chú em nào khác.

Đến đấy hai mẹ con không nhắc gì đến lão phù thủy người Phi nữa.

Ngày hôm sau, khi Alátđanh đang chơi với một lũ trẻ con khác ở một nơi khác trong thành phố, thì lão phù thủy lại tìm đến một lần nữa. Lão lại ôm hôn chú như ngày hôm trước, rồi đặt vào tay chú hai đồng tiền vàng và bảo:

- Cháu hãy mang tiền này về đưa cho mẹ cháu, nói rằng tối nay chú sẽ đến chơi. Mẹ cháu hãy đi mua thứ gì để chú cháu ta cùng ăn với nhau. Nhưng trước hết, cháu hãy nói cho chú biết nhà cháu ở đâu.

Alátđanh chỉ cho lão rõ nhà của mình, lão liền để chú đi.

Alátđanh mang hai đồng tiền vàng về đưa cho mẹ và nói cho bà rõ ý định của ông chú. Bà đi mua nhiều thức ăn ngon. Nhà không có đủ bát đĩa, bà phải sang hàng xóm mượn. Suốt ngày hôm ấy, bà lụi cụi sửa soạn bữa cơm chiều, và khi đã sắp xong đâu vào đấy, bà bảo Alátđanh:

- Con ạ, có thể chú con không biết nhà ta ở đâu, con hãy đi đón, hễ trông thấy thì đưa chú về.

Mặc dù Alátđanh đã chỉ cho lão phù thủy biết rõ nhà ở chỗ nào, chú vẫn sửa soạn đi đón. Vừa lúc ấy, có tiếng gõ cửa. Chú ra mở và thấy lão phù thủy. Lão bước vào, tay cắp nhiều chai rượu và trái cây để dùng trong bữa cơm chiều.

Lão trao tất cả những thứ ấy cho Alátđanh, rồi chào bà mẹ và yêu cầu bà chỉ cho biết ông anh Mutxtapha của lão trước đây ngồi ở chỗ nào trên ghế. Bà trỏ, lão lập tức quỳ xuống hôn chỗ ấy nhiều lần, nước mắt rưng rưng, miệng thì than thở: “Ôi! Hỡi anh tội nghiệp của em ơi, khổ thân cho em biết bao đã không về kịp để được ôm hôn anh một lần cuối cùng trước khi anh mất!”

Mặc cho bà mẹ Alátđanh mời mọc, lão nhất định chẳng chịu ngồi vào chỗ ấy. Lão nói: “Không, tôi không bao giờ dám thế đâu. Chị hãy vui lòng cho tôi ngồi ở chỗ đối diện này, để nếu không được cái sung sướng nhìn thấy mặt anh tôi còn sống, ông anh quyền huynh thế phụ cho cả một gia đình thân yêu của tôi, thì ít ra tôi cũng có thể nhìn vào đấy như thể anh tôi còn có mặt vậy.” Bà mẹ Alátđanh không nài thêm, để mặc cho lão muốn ngồi đâu tùy ý.

Khi đã yên vị vào cái chỗ lão tự chọn lấy rồi, lão phù thủy người Phi bắt đầu chuyện trò với bà mẹ Alátđanh. Lão nói:

- Thưa chị, xin chị chớ lấy làm lạ sao không hề trông thấy tôi kể từ ngày chị về làm bạn với ông anh đáng thương tiếc của tôi. Đã bốn mươi năm nay tôi ra đi khỏi mảnh đất quê hương tôi cũng như của ông anh đã quá cố của tôi. Từ dạo ấy, sau khi đã chu du khắp các nước Ấn Độ, Ba Tư, A Rập, Xyri, Ai Cập, và cư trú tại nhiều thành phố đẹp nhất của những nước đó, tôi sang châu Phi và sống lâu nhất ở bên ấy. Cuối cùng – và đây cũng là điều tự nhiên cho tất cả mọi người, dù cách xa quê hương đến đâu cũng không thể không nhớ tới nơi chôn rau cắt rốn, không thể không nghĩ đến họ hàng thân thuộc và anh em cùng được nuôi dạy với mình, tôi nảy ra lòng mong muốn thiết tha được nhìn thấy lại quê hương, được ôm hôn ông anh thân yêu. Phải trở về lúc mình chưa quá già yếu và còn đủ dũng cảm để làm một chuyến đi xa xôi. Bởi vậy, tôi lao vào việc chuẩn bị rồi lên đường ngay.

Tôi sẽ không kể cho chị hay đã phải đi mất biết bao thời giờ, vượt qua biết bao trở ngại trên đường, chịu đựng biết bao gian lao khổ ải để tới được chốn này. Tôi chỉ xin nói rằng không có gì làm cho tôi tủi phận hơn, buồn bã hơn, so với tất cả các chuyến đi khác, bằng lúc được tin ông anh trai mà tôi luôn luôn yêu mến, với những tình cảm thật sự là anh em ruột thịt, đã qua đời.

Tôi nhận ra ngay những nét mặt của anh tôi trên khuôn mặt cháu. Nhờ đó tôi phân biệt được cháu ở giữa đám trẻ đang chơi đùa. Cháu có thể cho chị nghe tôi đã đón nhận tin buồn ông anh tôi mất như thế nào. Nhưng thôi, chúng ta hãy tạ ơn trời đất về điều này hơn hết thảy. Ấy là niềm an ủi tôi vẫn được thấy lại ông anh tôi qua những nét đặc sắc còn lưu lại trên khuôn mặt của cháu đây.

Nhận thấy bà mẹ Alátđanh xúc động khi nghe gợi đến vong linh chồng, lão phù thủy người Phi liền chuyển sang nói chuyện khác. Lão quay lại phía Alátđanh và hỏi chú tên gì. Chú đáp:

- Tên cháu là Alátđanh.

- Thế nào, Alátđanh? – Lão phù thủy nói tiếp. – Cháu hiện nay đang làm gì? cháu có biết nghề gì không?

Nghe hỏi, Alátđanh cúi gầm mặt và tỏ ra bối rối.

Nhưng bà mẹ đã đỡ lời:

- Alátđanh là một đứa vô tích sự. Khi bố cháu còn sống, bố cháu đã cố gắng hết sức mình để dạy nghề cho nó, thế mà không sao làm được. Từ khi bố cháu mất đi, mặc cho tôi nói gì thì nói, mặc cho tôi ngày nào cũng nhắc đi nhắc lại có bấy nhiêu điều, nó chẳng chịu làm nghề ngỗng gì ngoài cái việc đi lang thang đàn đúm suốt ngày với lũ trẻ con, mà như chú thấy đấy, có phải nó còn bé bỏng gì cho cam! Nếu chú không giúp chỉ ra được cho nó thấy điều đó để lấy làm xấu hổ mà tỉnh dần, thì tôi cho là chẳng bao giờ nó có thể nên người. Nó biết bố nó chẳng để lại một chút của cải nào, và tôi lụi hụi kéo sợi từ sáng sớm tới đêm khuya vẫn không sao kiếm ra đủ ngày hai bữa. Nó cũng thấy đấy, chứ phải không đâu. Tôi đã định bụng hôm nào tống khứ nó ra khỏi nhà, cho nó muốn tìm đâu ra cái ăn thì đi mà tự tìm lấy.

Bà mẹ nói xong tủi thân khóc nức nở. Lão phù thủy người Phi liền bảo Alátđanh:

- Như thế không tốt đâu, cháu ạ. Cháu phải nghĩ tới chuyện cố gắng lên và tự mình kiếm sống chứ. Nhân sinh bách nghệ, cháu hãy thử xem có nghề nào cháu thích hơn cả hay không? Có thể cháu không thú nghề của bố cháu và họp với một nghề gì khác cũng nên. Cháu cứ nói thật với chú, chú chỉ muốn giúp đỡ cháu mà thôi.

Thấy Alátđanh chẳng nói chẳng rằng, lão tiếp:

- Nếu cháu ngại không muốn đi học nghề nhưng lại muốn có một cửa hiệu bán vải vóc, lụa là đắt tiền, thì cháu phải đứng ra quản lý lấy, rồi đến khi bán hết hàng, cháu lấy tiền ấy cất hàng khác về. Bằng cách đó cháu sẽ sống rất đàng hoàng, cháu hãy suy nghĩ cho kỹ, rồi thẳng thắn cho chú biết ý kiến cháu thế nào. Cháu sẽ thấy chú lúc nào cũng sẵn sàng giữ lời hứa với cháu.

Lời gợi ý ấy làm cho Alátđanh rất thú vị. Chú vốn không thích lao động chân tay, hơn nữa chú cũng đã có đủ trí khôn mà nhận thấy rằng những hiệu buôn loại ấy đều sạch sẽ và đông khách, còn các ông chủ hiệu thì ăn mặc sang trọng và rất được nể vì. Chú nói với lão phù thủy, mà chú tin là chú ruột của mình, rằng chú rất thích làm nghề buôn bán ấy hơn là nghề nào khác. Nếu được lão gây dựng cho thì chú sẽ nhớ ơn đến trọn đời.

Lão phù thủy nói:

- Cháu đã thích nghề buôn bán, vậy thì sáng sớm mai chú sẽ dẫn cháu đi may mặc cho nó chỉnh tề và sang trọng, giống hệt như một người chủ hiệu buôn lớn ở thành phố ta ấy. Rồi đến ngày kia, chúng ta sẽ tính tới chuyện mở một cửa hiệu đúng như cung cách mà chú hằng suy tính.

Bà mẹ Alátđanh, cho đến lúc bấy giờ vẫn chưa thật tin lão phù thủy là em chồng mình. Nhưng sau khi nghe bấy nhiêu điều mà lão hứa làm cho con trai mình, bà không còn nghi ngờ gì nữa. Bà cảm ơn lão về những ý định tốt lành. Sau khi khuyến khích Alátđanh hãy tỏ ra xứng đáng những điều hay ho như ông chú định gây dựng cho, bà soạn bữa cơm chiều. Suốt bữa ăn, câu chuyện vẫn chỉ xoay quanh mỗi một việc ấy, cho đến khi lão phù thủy thấy đêm đã khuya, liền cáo từ hai mẹ con ra về.

Sáng sớm hôm sau, lão phù thủy người Phi không quên trở lại nhà bà vợ góa của Mutxtapha thợ may, như lão đã hứa. Lão dẫn Alátđanh đi và đưa chú vào một hiệu buôn lớn chuyên bán quần áo may sẵn bằng đủ loại vải cho đủ mọi lứa tuổi, người sang cũng như người hèn. Lão gọi mang ra những áo quần hợp với khổ người Alátđanh, rồi sau khi để riêng ra những bộ lão thích nhất và trả lại những bộ lão cho là không đẹp, lão nói với chú: “Cháu hãy chọn trong số này bộ áo quần nào cháu thích hơn cả.” Thú vị về sự hào phóng của ông chú, Alátđanh chọn một bộ. Lão phù thủy liền mua cùng với mọi thứ kèm, và trả tiền toàn bộ không hề cò kè mặc cả.

Thắng bộ cánh sang trọng từ đầu đến chân, Alátđanh hết lời cảm ơn ông chú. Lão phù thủy lại hứa hẹn sẽ không rời bỏ chú, sẽ luôn luôn kèm chú bên mình. Đúng như vậy, lão dẫn chú đến những nơi đông đúc nhất trong kinh thành, đặc biệt là đến khu phố những hiệu buôn giàu có. Khi đi vào phố có những cửa hiệu bán các loại vải lụa đẹp đắt tiền nhất, mượt mà nhất, lão nói với Alátđanh:

- Chẳng bao lâu nữa cháu sẽ trở thành chủ hiệu như những người cháu thấy kia. Vậy cho nên cháu hãy đến chỗ họ buôn bán để cho họ biết cháu, đó cũng là việc nên làm.

Lão cho chú đi xem những nhà thờ đẹp nhất, lớn nhất. Lão dẫn chú vào những nhà trọ mà các nhà buôn nước ngoài thường nghỉ lại và đến những nơi trong hoàng thành mà dân chúng được phép tự do ra vào. Sau khi cùng nhau đi xem những cảnh đẹp nhất ở kinh đô, lão phù thủy đưa Alátđanh đến quán trọ mà lão thuê phòng, ở đấy lão đã mời sẵn mấy nhà buôn lão mới làm quen từ hôm đến đây để thết đãi và đồng thời để giới thiệu đứa cháu hờ luôn thể.

Mãi đến tối bữa tiệc mới tàn. Alátđanh muốn cáo từ ông chú để trở về nhưng lão phù thủy không cho chú bé về một mình, lão thân hành đưa về tận nhà. Bà mẹ trông thấy con ăn mặc đẹp quá, hết sức mừng rỡ. Bà không tiếc lời ca ngợi lão phù thủy đã chi tiêu một món tiền lớn đến thế để sắm sanh cho con trai bà. Bà nói:

- Chú tốt bụng quá, tôi không biết làm sao cảm ơn hết tấm lòng hào hiệp của chú. Tôi biết rằng cháu chẳng xứng đáng với những việc tốt lành chú làm cho nó đâu. Nếu nó không biết tỏ ra hàm ơn và ăn ở sao cho xứng với ý đồ đẹp đẽ của chú, là gây dựng cho nó một cơ ngơi làm ăn quý báu thì nó thật không đáng làm người, về phần tôi, một lần nữa, tôi xin cảm ơn chú tự đáy lòng. Tôi xin chúc chú sống lâu để chứng kiến sự biết ơn của cháu, nó không có cách nào tỏ rõ lòng biết ơn hơn là cố ăn ở sao cho đúng các lời chú dạy bảo.

- Alátđanh là một thằng bé lành. – Lão phù thủy tiếp. – Cháu chịu nghe lời tôi, và tôi tin rằng chúng ta có thể dạy dỗ nó nên người. Duy chỉ có một điều tôi chưa bằng lòng ấy là ngày mai chưa thể thực hiện điều tôi đã hứa với cháu. Mai là thứ sáu, các hiệu buôn đều đóng cửa. Không thể nào tính đến chuyện thuê một gian hàng và sắm sanh hàng họ trong khi các nhà buôn người ta còn mải lo việc vui chơi. Bởi vậy, công việc đó đành phải lùi sang thứ bảy vậy. Nhưng sáng mai tôi sẽ đến đón cháu, cho cháu đi dạo trong các công viên mà giới thượng lưu thường lui tới. Chắc cháu chưa bao giờ được xem những trò giải trí trong đó. Mãi đến bây giờ cháu chỉ toàn chơi với trẻ con, cần để cho cháu giao du với người lớn.

Cuối cùng lão phù thủy người Phi cáo từ hai mẹ con ra về.

Alátđanh đang hết sức vui mừng vì ăn mặc đẹp, càng sung sướng hơn về chuyện sắp được đi dạo ra những vùng xa ngoài thành phố. Quả vậy, chưa bao giờ chú được đi xa ra bên ngoài các cổng thành, chưa bao giờ chú được đi đến những vùng phụ cận, phong cảnh vốn rất tươi đẹp và hữu tình.

Sáng hôm sau, Alátđanh thức dậy và mặc áo quần thật sớm, để sẵn sàng lên đường khi ông chú đến gọi. Sau khi chờ đợi một thời gian mà chú cho là rất lâu, sốt ruột quá, chú mở cửa và đứng ở bậc thềm ngóng xem có thấy lão đến không. Vừa trông thấy lão đằng xa, chú đã báo cho mẹ biết, rồi vừa xin phép mẹ vừa đóng cửa lại và chạy ra với lão.

Lão phù thủy xoa đầu chú rất thân mến và tươi cười

bảo:

- Cháu thân yêu ơi, chúng ta hãy đi thôi, hôm nay chú muốn cho cháu xem nhiều cảnh vật rất ngoạn mục.

Lão dẫn chú đi qua một cái cổng lớn đến nhiều ngôi nhà to và lộng lẫy, hay đúng hơn là những lâu đài tráng lệ, nhà nào cũng có nhiều vườn tược rất đẹp có thể ra vào tự do. Cứ đến mỗi tòa lâu đài, lão lại hỏi Alátđanh có thấy đẹp không, và Alátđanh mỗi lần đến một lâu đài mới, lại vội nói: “Chú ơi, tòa nhà này còn đẹp hơn cả những tòa chúng ta vừa xem cơ đấy.”

Hai chú cháu cứ thế đi xa mãi về thôn quê. Lão phù thủy tinh ranh vốn muốn đi thật xa để thực hiện ý đồ lão đang nghiền ngẫm trong đầu, lão tìm dịp để đi sâu vào bên trong những khu vườn tươi tốt. Lão ngồi xuống cạnh một bể nước lớn hứng một dòng nước rất đẹp tuôn xuống từ mõm một con sư tử bằng đồng, và vờ làm ra vẻ mệt để ép Alátđanh ngồi nghỉ:

- Cháu ơi, – lão nói – chắc cháu cũng mệt như chú, chúng ta hãy nghỉ ở đây một chốc để lấy hơi, thế thì mới có thêm sức lực để tiếp tục cuộc du ngoạn của chúng ta chứ.

Hai người ngồi xuống, lão phù thủy người Phi mở chiếc khăn buộc ở thắt lưng lấy ra bánh ngọt và nhiều trái cây mang theo, đặt lên thành bể. Lão bẻ đôi một chiếc bánh cho Alátđanh một nửa, còn về trái cây thì lão để cho chú tha hồ chọn lấy quả nào thích nhất. Trong bữa ăn, lão dạy bảo đứa cháu hờ nhiều điều, khuyên cháu chớ nên chơi bời với lũ trẻ con nữa mà nên gần gũi những người khôn ngoan, thận trọng, nên lắng nghe ý kiến họ và học hỏi những điều họ trao đổi với nhau. Lão nói:

- Chẳng bao lâu nữa, cháu cũng sẽ là một người như bọn họ, và cháu không thể không sớm noi gương họ mà nói năng cho chững chạc.

Sau khi dùng xong bữa ăn nhẹ, hai chú cháu đứng dậy và tiếp tục đi băng qua các khu vườn không có hàng rào mà chỉ có những hào nhỏ ngăn cách. Nhân dân thành phố này vốn tin cậy lẫn nhau cho nên không cần rào giậu gì hơn để đề phòng chuyện mất mát có thể xảy ra làm thiệt hại lẫn nhau. Dần dà, lão phù thủy người Phi dẫn Alátđanh đi cách khu vườn một quãng khá xa, băng qua nhiều cánh đồng đến gần sát chân núi.

Alátđanh, từ thuở bé chưa bao giờ đi nhiều đường đất như vậy, bắt đầu thấy thấm mệt. Chú hỏi lão phù thủy:

- Chú ơi, chúng ta đi đâu thế này? Bao nhiêu vườn tược đều ở đằng sau ta cả rồi, trước mặt cháu chỉ thấy toàn là núi. Nếu chúng ta đi xa hơn nữa, cháu không biết rồi có đủ sức quay trở về được thành phố hay không.

- Hãy dũng cảm lên, cháu của chú ạ! – Lão chú hờ nói. – Chú muốn cho cháu xem một khu vườn đẹp hơn tất những khu vườn chúng ta vừa thấy. Chẳng còn xa nữa đâu, chỉ mấy bước nữa thôi. Khi đến nơi rồi, tự cháu sẽ nói cho chú biết, có phải đã tới gần như thế này rồi mà bỏ về không xem thì thật đáng tiếc hay không.

Alátđanh nghe cũng bùi tai. Thế là lão phù thủy dẫn chú đi càng xa hơn nữa, vừa đi vừa kể chuyện vui cho chú nghe để chú thấy đường đi bớt chán và đỡ mệt được phần nào.

Cuối cùng hai người đi đến quãng đất giữa hai quả núi không lấy gì làm cao và xấp xỉ như nhau, cách nhau bởi một thung lũng rất hẹp. Đây chính là nơi hệ trọng mà lão phù thủy người Phi muốn đưa Alátđanh đến để thực hiện một mưu đồ to lớn đã khiến lão phải cất công đi từ nơi tận cùng châu Phi đến đất Trung Hoa này.

Lão nói với Alátđanh:

- Thôi, ta không đi xa hơn nữa. Chú muốn cho cháu xem ở đây những điều kỳ lạ chưa một ai từng biết. Khi đã nhìn thấy rồi, cháu khắc cảm ơn chú đã cho cháu chứng kiến biết bao điều kỳ diệu mà trừ cháu ra, không có một ai trên đời này được trông thấy. Trong khi chú đánh lửa, cháu hãy đi nhặt lại đây mọi thứ củi khô nhỏ nhất mà cháu trông thấy để nhóm lửa.

Ở chỗ ấy có rất nhiều bụi bờ, chỉ một loáng Alátđanh đã thu nhặt được một đống thừa đủ dùng, trong khi lão phù thủy đánh lửa. Lão châm lửa, khi củi cháy, lão ném vào đấy một loại hương trầm cầm sẵn ở tay. Một ngọn khói rất dày bốc lên cao. Lão niệm những câu thần chú Alátđanh nghe mà chẳng hiểu tí gì, làm cho ngọn khói chao đảo bên này bên kia.

Cùng lúc ấy, mặt đất khẽ rung và mở ra ngay chỗ trước mặt lão phù thủy và Alátđanh đang đứng, để lộ một phiến đá nằm ngang, rộng mỗi bề khoảng một bộ rưỡi và dày chừng một bộ, chính giữa có gắn một cái vòng bằng đồng để nắm và nhấc lên. Khiếp đảm về những điều trông thấy, Alátđanh hoảng hốt muốn bỏ chạy.

Nhưng sự có mặt của chú cần thiết cho phép ma. Lão phù thủy giữ chú lại, mắng rát và cho chú một cái tát nên thân đến nỗi chú ngã lăn ra đất, hộc máu mồm, thiếu tí nữa thì gãy hết răng cửa. Chú bé Alátđanh đáng thương run lẩy bẩy, nước mắt chảy ròng ròng, vừa khóc vừa kêu:

- Chú ơi, cháu có tội gì mà chú nỡ đánh cháu đau như vậy?

- Tao có lý do để đánh mày. – Lão phù thủy đáp. – Tao là chú mày, lúc này đây cũng như bố mày, mày không được phép cãi lại bố. Nhưng thôi con ạ, – lão dịu giọng nói tiếp – con đừng sợ gì cả, chú chẳng đòi hỏi gì ở con, ngoài việc con phải làm theo lời chú thật đúng đắn, nếu con muốn được hưởng thụ xứng đáng tất cả những lợi ích to lớn mà chú muốn gây dựng cho con đây!

Những lời hứa hẹn tốt đẹp ấy làm giảm bót phần nào nỗi sợ hãi và lòng giận hờn của Alátđanh. Khi thấy chú đã hoàn toàn trấn tĩnh, lão phù thủy nói tiếp:

- Cháu đã thấy rõ rồi đấy những việc chú vừa làm bằng hương trầm và các câu thần chú. Bây giờ cháu nên biết rằng ở dưới phiến đá cháu nhìn thấy kia có giấu kho tàng để dành cho cháu. Nó sẽ làm cho cháu một ngày kia trở nên giàu có hơn tất cả những nhà vua vĩ đại nhất trên trần gian. Thật đúng vậy, vì trên đời này chỉ có cháu là được phép chạm vào phiến đá này và nhấc nó lên để đi vào mà thôi. Ngay cả chú đây cũng không được phép động vào phiến đá và bước chân vào kho tàng đã mở. Bởi vậy, cháu cần phải thực hiện đúng từng điểm một những điều chú sắp dặn đây, không được bỏ sót một chi tiết nào. Việc này hết sức hệ trọng đối với cháu cũng như đối với chú.

Vẫn chưa hết ngạc nhiên trước những điều mắt thấy tai nghe về các kho tàng mà lão phù thủy nói sẽ làm cho chú suốt đời sung sướng. Alátđanh quên ngay tất cả những chuyện bực mình vừa xảy ra:

- Thế thì cần phải làm những gì, hở chú? chú hãy truyền, cháu sẵn sàng vâng lệnh. – Chú vừa nói vừa lóp ngóp đứng lên.

Lão phù thủy liền ôm hôn Alátđanh và nói:

- Cháu ơi, chú rất hài lòng là cháu đã nhất quyết như vậy. Cháu hãy đến đây, hãy tới gần hơn nữa, hãy cầm lấy cái vòng này và nhấc phiến đá lên.

- Nhưng, thưa chú, cháu làm sao đủ sức nhấc nổi lên, chú phải giúp cháu một tay.

- Không, cháu không cần có chú giúp sức. Nếu chú phụ giúp vào thì chú cháu ta sẽ chẳng làm được gì sất. Cháu phải tự mình nhấc nó lên. Khi nắm cái vòng, cháu chỉ cần đọc tên bố cháu và tên ông nội cháu rồi kéo lên, cháu sẽ thấy chẳng nặng nhọc gì.

Alátđanh làm theo lời lão phù thủy, chú nhấc phiến đá lên một cách dễ dàng và đặt sang bên cạnh.

Phiến đá được nhấc lên, để lộ ra một cái hầm con sâu chừng ba bốn bộ, có một cái cửa nhỏ và các bậc thang để xuống sâu hơn nữa. Lão phù thủy liền bảo Alátđanh:

- Cháu ơi, cháu hãy thực hiện đúng đắn tất cả những điều chú dặn đây. Cháu hãy đi xuống cái hầm này. Khi xuống đến bậc thang cuối cùng, cháu sẽ trông thấy một cái cửa mở sẵn dẫn tới một chỗ có xây vòm bên trên và chia làm ba căn phòng lớn kế tiếp nhau. Ở phòng nào, cháu cũng sẽ thấy ở bên phải và bên trái có bốn chiếc vại bằng đồng to như những cái lẫm, chứa đầy vàng bạc, nhưng cháu chớ có động vào. Trước khi bước vào căn phòng thứ nhất, cháu hãy vén áo lên và buộc thật gọn vào quanh người. Khi đã vào được căn phòng thứ nhất thì hãy sang ngay phòng thứ hai không dừng lại, từ phòng thứ hai, hãy đi tiếp ngay sang phòng thứ ba, chớ có dùng dằng. Điều quan trọng hơn hết thảy là cháu hãy chú ý, chớ đi quá sát để khỏi chạm người vào vách cũng đừng để cho tà áo của cháu quệt vào, bởi vì nếu nhỡ chạm vào vách cháu sẽ chết ngay tức khắc. Chính vì vậy mà chú dặn cháu hãy quấn gọn áo quanh người.

Cuối căn phòng thứ ba, có một cửa dẫn sang một khu vườn trồng những cây đẹp, cây nào cũng trĩu quả. Cháu cứ thẳng trước mặt mà đi và băng qua khu vườn ấy theo một con đường dẫn đến một cầu thang có năm mươi bậc đưa lên sân thượng. Lên đến sân thượng rồi, cháu sẽ trông thấy trước mặt cháu có một cái khám, trong khám có một cây đèn thắp sáng. Cháu hãy cầm lấy cây đèn thổi tắt đi, sau khi đã ngắt chiếc bấc và đổ hết nước, cháu hãy ôm nó vào lòng và mang lên đây cho chú. Cháu đừng sợ làm bẩn áo, thứ nước trong đèn ấy không phải dầu đâu, khi đã đổ hết nước rồi thì cây đèn sẽ khô ngay. Nếu cháu thấy thích các quả ở trong vườn, cháu có thể hái bao nhiêu thì hái, mặc sức, điều này không cấm.

Nói xong, lão phù thủy người Phi rút ở ngón tay lão ra một chiếc nhẫn, đeo vào cho Alátđanh và bảo rằng đấy là một thứ bùa hộ mệnh phòng những điều không may có thể xảy ra, miễn là cháu phải tuân theo đầy đủ những điều chú dặn. Căn dặn xong đâu đấy, hắn nói tiếp:

- Nào, cháu hãy mạnh dạn lên mà bước xuống, hai chú cháu ta đều sắp giàu có suốt đời rồi.

Alátđanh nhẹ nhàng nhảy vào chiếc hầm con và tụt xuống tận bậc thang cuối cùng. Chú trông ba căn phòng mà lão phù thủy đã tả. Chú đi qua hết sức thận trọng vì luôn luôn tâm niệm là sẽ chết nếu không chú ý nhất nhất làm theo những lời dặn dò. Chú đi băng qua khu vườn không dừng lại, trèo lên sân thượng, cầm lấy cây đèn đang cháy sáng trong cái khám, ngắt chiếc bấc, đổ nước đi, và thấy cây đèn khô ráo đúng như lời lão phù thủy đã nói chú cho luôn vào lòng. Chú bước xuống khỏi sân thượng và dừng lại trong khu vườn để ngắm nghía các trái cây mà chú chỉ thoáng trông thấy khi đi qua.

Tất cả cây cối trong vườn này đều trĩu những quả kỳ lạ. Mỗi cây có những quả màu sắc khác nhau. Có những quả màu trắng, có những quả lấp lánh và trong suốt như pha lê; có những quả màu đỏ đậm nhạt không đều; có những quả màu lục, màu xanh, màu tím, màu ngà và nhiều màu sắc khác nữa. Những quả trắng ấy chính là ngọc trai, những quả sáng và trong suốt là kim cương, những quả màu đỏ thắm là xích ngọc, những quả đỏ nhạt hơn là hồng ngọc, những quả màu lục là bích ngọc, những quả màu xanh là lam ngọc, những quả màu tím là tử ngọc, những quả màu ngà là thạch ngọc, những quả khác cũng đại loại như vậy. Mỗi quả đều to và hoàn hảo chưa từng ai trông thấy trên đời này.

Alátđanh không hề biết tên gọi và giá trị của chúng, cho nên nhìn các quả ấy chẳng chút xúc động, vì không hợp với sở thích của chú như vải, nho và các loại quả khác rất ngon lành mà ở nước Trung Hoa đâu đâu cũng có. Hơn nữa, chú cũng chưa đến tuổi biết được giá cả các thứ đó. Chú nghĩ rằng đây chẳng qua là đồ thủy tinh pha màu và cũng chẳng có giá trị gì hơn thế. Tuy nhiên, màu sắc rực rỡ, vẻ đẹp và cỡ lớn kỳ lạ của mỗi quả gây cho chú lòng ham thích muốn hái đủ các thứ để chơi. Thế là cứ mỗi loại cùng màu chú lại hái nhiều quả, bỏ đầy hai túi áo và hai cái túi dùng để đựng tiền mới toanh mà lão phù thủy đã mua cho cùng với áo quần hắn cho chú, để cho toàn bộ cánh đều là của mới. Và vì các túi áo đều đầy ắp, chú đeo luôn hai cái túi đựng tiền vào thắt lưng, mỗi bên một cái. Chú còn nhét cả vào trong thắt lưng, nó là một tấm lụa rộng quấn nhiều vòng quanh bụng, và chú ý nhét cẩn thận sao cho các quả khỏi rơi. Chú cũng không quên tuồn chặt quanh mình, vào giữa lần áo ngoài và áo lót nữa.

Mang theo bấy nhiêu của báu mà không hay biết, Alátđanh vội vàng trở lại con đường băng qua ba gian phòng để lão phù thủy người Phi khỏi phải chờ đợi lâu và sau khi đi ngang qua để trở về cũng thận trọng như lúc bước vào, chú trèo lên các bậc thang tới cửa miệng cái hầm con, ở đây lão phù thủy đang nóng lòng chờ đợi. Vừa trông thấy lão, Alátđanh nói:

- Chú ơi, xin chú hãy đưa tay đỡ cháu trèo lên! Lão phù thủy bảo:

- Cháu hãy đưa trước cây đèn cho chú, nó có thể làm cháu vướng đấy.

- Xin chú miễn thứ, nó chẳng làm cháu vướng đâu, -Alátđanh đáp – lên được rồi cháu sẽ đưa ngay cho chú.

Lão phù thủy khăng khăng đòi Alátđanh phải giao chiếc đèn vào tay lão trước khi lão kéo chú lên khỏi hầm, còn Alátđanh thì vì lỉnh kỉnh với bấy nhiêu thứ quả chú nhét cùng với cây đèn, cứ một mực đòi ra khỏi hầm rồi mới chịu giao đèn cho lão. Thế là lão phù thủy thất vọng vì bị chú bé cự tuyệt, điên tiết lên, lão ném một ít hương thơm vào ngọn lửa mà lão chú ý giữ cho cháy suốt từ nãy đến giờ. Lão đọc xong hai câu thần chú, thì phiến đá dùng để lấp lối vào hầm tự động chạy về đúng chỗ cũ, đất lại phủ kín bên trên, giống y như khi lão phù thủy và Alátđanh vừa mới tới đây vậy.

Rõ ràng là lão phù thủy không phải là em trai của Mutxtapha thợ may như lão vẫn rêu rao, và do đó không phải là chú ruột Alátđanh. Lão đúng là người châu Phi, ra đời ở bên ấy, và bởi vì châu Phi là nơi người ta say mê ma thuật hơn bất cứ nơi nào khác, ngay từ khi còn trẻ lão học phù phép, và sau khoảng bốn mươi năm khổ công tu luyện và đọc hết sách vở dạy ma thuật, cuối cùng lão phát hiện ra được trên thế giới có một ngọn đèn kỳ diệu, nếu lão chiếm đoạt và trở thành chủ nhân của nó thì lão có quyền lực hơn bất kỳ bậc đế vương nào trong vũ trụ.

Nhờ một quẻ bấm dẫn mới nhất, lão biết được cây đèn ấy ở vào một nơi nào đó dưới đất chính giữa nước Trung Hoa, vào đúng địa điểm và trong bối cảnh như chúng ta vừa thấy. Tin chắc điều phát hiện của mình là đúng, lão bắt đầu đi từ chốn tận cùng của châu Phi, như chúng ta đã biết. Sau một chuyến đi lâu dài và gian khổ, lão đến được cái thành phố ở gần nơi cất giấu bảo vật. Nhưng, mặc dù cây đèn chắc chắn ở nơi lão đã biết, lão vẫn không được phép tự mình cầm lấy cũng như không được bước vào cái hầm ngầm giấu nó. Cần phải có một người khác đi xuống đấy, lấy cây đèn và đưa tận tay cho lão. Chính vì vậy lão phải tìm đến Alátđanh, một chú bé mà lão biết là cầu bơ cầu bất và rất thích hợp để làm cái việc lão đang cần. Lão nhất quyết là khi đã nắm được cây đèn trong tay, sẽ làm phép xông hương và đọc mấy câu thần chú để làm hại chú, cho không còn một ai biết được hành tung của lão nữa. Cái bạt tai lão đánh Alátđanh, cũng như cái quyền uy mà lão tạo nên, chỉ nhằm mục đích là làm cho chú sợ hãi, chú sẽ giao ngay cho lão cây đèn thần trứ danh. Nhưng sự tình xảy ra trái với điều lão dự liệu. Cuối cùng lão phải hành động độc ác một cách vội vàng để giết hại chú bé Alátđanh đáng thương, bởi vì lão sợ nếu có tranh cãi với chú lâu hơn nữa, nhỡ có kẻ nào đi tới, nghe được và sẽ làm lộ việc mà lão đang muốn giữ cho thật kín nhẹm.

Khi ấy mọi ước mơ to lớn và tốt đẹp của mình vĩnh viễn tan thành mây khói, lão phù thủy biết không có cách nào khác hơn là tìm đường trở về châu Phi. Và lão đi ngay trong ngày hôm ấy. Lão tìm đường vòng để khỏi phải trở về thành phố mà ban sáng lão đã cùng Alátđanh ra đi. Quả vậy, lão sợ có người trông thấy lão đi chơi cùng chú bé rồi trở về một mình, mà hỏi nguyên cớ chăng.

Cứ sự tình này thì rồi sẽ chẳng bao giờ có ai nghe nói đến Alátđanh nữa. Nhưng, con người tưởng vĩnh viễn tiêu diệt được chú đã không chú ý là chính mình đã đeo vào ngón tay chú một chiếc nhẫn có thể dùng cứu nguy cho chú. Đúng như vậy, chiếc nhẫn ấy mà chú không mảy may biết rõ quyền lực lại là nguyên nhân cứu sống Alátđanh. Và cũng đáng ngạc nhiên là lão phù thủy cùng một lúc mất luôn hai thứ: chiếc nhẫn cùng với cây đèn thần, mà không tuyệt vọng đến nỗi phải quyên sinh. Nhưng bọn phù thủy vẫn quá quen với những việc không may và những sự kiện trái với những ước mong của chúng, cho nên chừng nào còn sống là chúng còn lao vào những chuyện hão huyền, những hy vọng viển vông.

Alátđanh không ngờ ông chú hờ, sau bấy nhiêu lời đường mật và những việc làm tốt đẹp, lại có thể độc ác đến thế, cho nên rất đỗi ngạc nhiên. Nỗi kinh ngạc của chú kể cũng dễ hiểu thôi song thật khó mà diễn tả nên lời. Khi thấy mình bị chôn sống, chú gọi ông chú hờ đến một nghìn lần, vừa gọi vừa kêu to lên rằng chú sẵn sàng đưa cây đèn cho lão. Nhưng mọi tiếng kêu của chú đều vô ích, không còn ai có thể nghe được. Thế là chú lâm vào cảnh tăm tối mịt mù.

Cuối cùng tạm ngừng than khóc, chú mò mẫm tụt xuống đến bậc cuối cùng của chiếc cầu thang trong hầm ngầm, để may ra thấy được ánh sáng ở khu vườn mà chú vừa đi qua chăng. Nhưng bức tường lúc nãy được ma thuật mở ra thì bây giờ đã bị ma thuật đóng vào cho liền lại. Chú sờ soạng trước mặt, bên phải và bên trái nhiều lần, nhưng không sao tìm thấy cửa nữa. Chú kêu khóc, rồi ngồi xuống bậc thang trong hầm, chẳng chút hy vọng gì nhìn thấy ánh sáng nữa. Chú chắc chắn mình sắp chết đến nơi.

Alátđanh sống hai ngày trong tình cảnh ấy chẳng có lấy một miếng cơm hay một giọt nước. Cuối cùng đến ngày thứ ba, thấy không còn cách nào thoát chết, chú chắp hai tay lại đưa lên cao và hoàn toàn khuất phục trước ý trời, chú thốt lên: “Sức mạnh và quyền uy chỉ có ở Thượng đế tối cao vĩ đại.” Trong khi chắp tay vào nhau, chú vô tình miết vào chiếc nhẫn mà lão phù thủy người Phi đã đeo vào ngón tay, chú vẫn chưa hiểu rõ quyền lực. Lập tức một ông thần có bộ mặt to tướng và đôi mắt khủng khiếp như từ dưới đất chui lên sừng sững trước mặt chú, đầu chạm mái vòm cao. Thần nói với Alátđanh những lời sau đây:

- Ngài cần gì? Tôi xin sẵn sàng tuân lệnh. Tôi và tất cả nô lệ của chiếc nhẫn này đều là nô lệ của ngài cũng như của tất cả những ai đeo nó ở ngón tay.

Vào một lúc khác và trong một trường hợp khác, Alátđanh vốn chưa từng quen với những hiện hình kiểu ấy có thể đã khiếp đảm, không thốt được nên lời. Nhưng mải lo âu cho số phận đang lâm nguy của mình, chú trả lời không chút do dự:

- Cho dù ông là ai đi nữa, hãy đưa ta ra khỏi chốn này, nếu ông có đủ quyền lực làm điều ấy.

Chú chưa dứt lời, đất đã mở ra và chú thấy mình ở bên ngoài hầm ngầm, đúng vào nơi lão phù thủy đưa chú đến hôm trước.

Thoạt tiên, mắt Alátđanh không chịu nổi ánh sáng ban ngày. Lát sau, mắt chú mới quen dần. Nhìn ra chung quanh, chú rất ngạc nhiên thấy mặt đất không có chỗ hở, chú không hiểu được mình từ lòng đất chui ra được bằng lối nào. Chỉ có nhờ vào dấu cái bếp lửa đất từ hai hôm trước, chú mới mang máng nhận ra được cái hầm đại khái ở vào chỗ nào. Sau đấy, quay đầu nhìn lại, chú trông thấy thành phố nằm giữa các khu vườn bao bọc, và nhận ra con đường hôm nọ lão phù thủy đã dẫn chú đến.

Chú theo con đường đó đi ngược trở lại, vừa đi vừa cảm tạ Thượng đế đã cho mình sống lại mặc dù đã chắc mẩm chết mười mươi. Chú lần vào thành phố, và vất vả lắm mới lê về được đến nhà. Vào được nhà mẹ đẻ, quá vui mừng vì gặp lại mẹ, cộng thêm nỗi gần ba ngày trời không được ăn, chú ngã lăn ngất đi một lát.

Bà mẹ tưởng chú bị lạc hay là đã chết, trông thấy con trong tình trạng ấy, vội tìm đủ mọi cách chạy chữa cho chú hồi tỉnh. Cuối cùng, chú tỉnh lại, và lời đầu tiên chú thốt lên là câu nói:

- Mẹ ơi, trước hết xin mẹ hãy cho con ăn, ba ngày nay con chẳng có một miếng gì vào bụng.

Bà mẹ mang những thứ có sẵn trong nhà ra để trước mặt con và nói:

- Con ơi, chớ có vội vàng, sẽ nguy hiểm đấy, con hãy ăn từng chút một và ăn thong thả. Trong lúc con đang đói như thế này, hãy giữ lấy hơi. Mẹ cũng không muốn con nói chuyện ngay với mẹ nữa. Bao giờ lại sức, con sẽ tha hồ kể cho mẹ nghe những gì đã xảy ra cho con. Trông thấy con là mẹ thỏa rồi, sau bấy nhiêu lo âu và chạy vạy ngược xuôi để tìm con; mẹ lo lắng kể từ hôm con ra đi khi thấy trời tối mà con vẫn không trở về.

Alátđanh nghe lời mẹ, ăn từ tốn từng ít một và uống có mức độ, ăn xong, chú nói:

- Mẹ ạ, con rất phàn nàn sao mẹ lại nhẹ dạ giao phó con vào một tay kẻ mang dã tâm hãm hại con, một kẻ mà, trong giờ phút con đang nói chuyện với mẹ đây, đang cầm chắc con không còn sống nữa, hắn nhất quyết con đã chết rồi, thậm chí đã chết ngay trong ngày đầu. Ấy thế mà mẹ lại tin hắn là chú con, và con cũng tin như mẹ mới khổ chứ. Làm sao chúng ta có thể nghĩ khác về một con người đã âu yếm, vỗ về con, cho con biết bao tiền của, lại còn hứa hẹn với con đủ điều lợi lộc? Thật ra, hắn chỉ là một gã phản trắc, một tên độc ác, một thằng bịp bợm. Hắn làm cho con bao nhiêu việc tốt và hứa hẹn với con bấy nhiêu điều là chỉ nhằm đi đến mục đích hãm hại con như con vừa nói mà mẹ cũng như con đều không thể nào đoán ra được tại sao. Về phần mình, con có thể quả quyết đã không hề gây nên cho lão bất cứ một điều gì đáng để cho lão đối xử như vậy. Qua câu chuyện con sẽ kể lại trung thực cho mẹ nghe, từ khi con từ giã mẹ cho đến lúc lão thực hiện cái mưu đồ độc địa của lão, rồi mẹ khắc hiểu.

Alátđanh bắt đầu thuật lại tất cả những việc xảy ra cho chú cùng với lão phù thủy từ cái ngày thứ sáu lão đến tìm để đưa chú đi xem các tòa lâu đài và vườn tược ở ngoài thành phố, những gì đã xảy ra trên quãng đường cho đến các địa điểm nằm giữa hai quả núi, nơi lão phù thủy thực hành phép lạ kỳ của lão, bằng cách ném vào bếp lửa hương và đọc vài câu thần chú, mặt đất đã mở ra ngay tức khắc và để lộ lối đi xuống cái hầm con dẫn tới một kho tàng vô giá như thế nào. Chú không quên nhắc đến cái bạt tai của lão, rồi sau đó giảm bớt cơn giận dữ, lão đeo cho chú chiếc nhẫn, hứa hẹn rất nhiều điều khuyến khích chú đi xuống hầm ngầm. Chú không bỏ qua một tình tiết nào về những gì chú nhìn thấy khi đi ngang qua và quay trở lại ba gian phòng, trong khu vườn và trên sân thượng, nơi chú lấy được cây đèn kỳ diệu. Chú rút từ trong người ra khoe với mẹ cây đèn cùng các thứ quả trong suốt và nhiều màu sắc chú đã hái trong khu vườn khi quay trở ra với cùng hai túi đầy.

Chú đưa cho mẹ xem, nhưng bà chẳng chút lưu tâm. Ấy thế mà các quả ấy lại là những viên ngọc quý đang ánh lên rực rỡ như mặt trời dưới ánh sáng của ngọn đèn soi tỏ căn buồng. Nhưng bà mẹ Alátđanh vốn cũng chẳng hiểu biết gì về ngọc ngà hơn con trai. Bà được nuôi dạy trong hoàn cảnh rất nghèo hèn. Chồng bà chẳng giàu có gì để có thể cho bà những của quý ấy. Hơn nữa bà cũng chưa bao giờ trông thấy bất kỳ một người bà con hay hàng xóm nào đeo ngọc. Bởi vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi bà coi những thứ ấy như những đồ vật chẳng có mấy chút giá trị, họa chăng chỉ làm vui mắt người ta nhờ những màu sắc khác nhau của chúng mà thôi. Thế là Alátđanh đành nhét tất cả vào đằng sau một chiếc gối đặt trên bộ phản chú đang ngồi.

Để kết thúc câu chuyện, chú kể tiếp cho mẹ nghe, sau khi trở ra lên đến miệng hầm và sắp sửa bước ra ngoài thì, vì chú không chịu đưa cây đèn cho lão phù thủy, lão ném một ít hương thơm vào đống lửa mà lão vẫn giữ không cho tắt cho đến lúc bấy giờ và đọc mấy câu thần chú, thế là miệng hầm tự động đóng lại ngay tức khắc. Chú nghẹn ngào không thể nói thêm mà không rơi nước mắt lúc thuật lại cho mẹ nghe tình cảnh khốn đốn từ khi bỗng nhiên thấy mình bị chôn sống trong căn hầm ác hại cho đến lúc thoát ra được, hay cũng có thể nói là sống lại được nhờ chạm vào chiếc nhẫn thần. Kể đến đây, chú nói với mẹ.

- Chẳng cần nói thêm nhiều hơn nữa những việc gì xảy ra sau đó, mẹ đã biết cả rồi. Tóm lại, đầu đuôi câu chuyện xảy ra với con và những nỗi hiểm nghèo mà con phải trải qua từ hôm con xa mẹ đến nay là như vậy đấy.

Bà mẹ Alátđanh kiên nhẫn lắng nghe mà không ngắt lời câu chuyện kỳ diệu và lạ lùng đồng thời cũng đáng lo âu nữa cho một người mẹ vẫn thương yêu con tha thiết bất chấp tính xấu của nó. Tuy vậy, đến những đoạn xúc động nhất, làm nổi bật sự đểu cáng của lão phù thủy người Phi, bà không thể không để lộ ra mặt bà oán ghét lão ta đến chừng nào. Alátđanh vừa nói xong, bà đã không tiếc lời nguyền rủa tên bất lương ấy. Bà gọi lão nào là phản trắc, là xảo trá, là dã man, tên giết người, lừa dối, phù thủy, thù địch và là kẻ hủy diệt loài người.

- Đúng như vậy con ạ, – bà nói tiếp – đó là một tên phù thủy mà bọn phù thủy hết thảy đều là dòi bọ. Bằng những bùa ma phép quỷ, chúng toàn giao du với loài yêu quái. Tạ ơn Thượng đế đã không để cho sự độc ác của lão làm hại đến con! Con tạ ơn trời đất về cái phúc lành con vừa được hưởng. Nếu con không nhớ đến Thượng đế và cầu xin sự cứu vót của Người, thì chắc chắn con đã không thể nào thoát nạn.

Bà còn nhiều điều nữa nguyền rủa lão phù thủy đã phản bội con trai bà, thì chọt nhớ ra Alátđanh, đã ba ngày rồi không chạp mắt, đang cần được nghỉ ngơi. Bà sửa soạn nơi cho chú nằm và một lát sau bà cũng đi ngủ luôn.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.