Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 412 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ALÁTĐANH HAY CÂY ĐÈN KỲ DIỆU (tt)

❊ ❊ ❊

Alátđanh không hề được nghỉ ngơi suốt thời gian bị chôn sống trong cái hầm ngầm, cho nên đêm hôm ấy ngủ say như chết. Sáng hôm sau dậy thật muộn, vừa thức dậy câu đầu tiên chú nói với mẹ là chú đói lắm, và chú sẽ sướng tuyệt nếu bà có thức gì ăn. Bà mẹ đáp:

- Than ôi, con ơi, mẹ chẳng còn lấy một mẩu bánh cho con, tối hôm qua con đã ăn hết mọi thức ăn còn lại trong nhà rồi. Nhưng con hãy nén lòng chờ một tí, mẹ khắc có thứ mang về cho con. Nhà còn một ít sợi mẹ kéo được, mẹ sẽ mang bán đi mua bánh mì và một chút gì cho mẹ con ta ăn sáng.

- Mẹ ơi, mẹ hãy để dành số sợi ấy cho một bữa khác, – Alátđanh nói – và hãy đưa cây đèn con mang về hôm qua ra đây. Con sẽ đưa đi bán, với số tiền bán được chắc đủ cho mẹ con ta ăn lót lòng và ăn bữa sáng, may ra còn có thể đủ ăn buổi chiều nữa cũng nên.

Bà mẹ liền vào chỗ con nằm, lấy cây đèn đưa ra cho con và bảo:

- Đấy, đèn của con đấy, nhưng mà nó bẩn lắm, hãy đánh qua đi một chút, mẹ tin là sẽ bán được tiền hơn. Bà đi tìm nước và một ít cát để đánh bóng cây đèn. Nhưng bà vừa cọ sát cây đèn ấy, thì lập tức một ông thần gớm ghiếc cao lớn như hộ pháp, hiện ra trước mắt hai mẹ con và cất giọng ồm ồm như sấm:

- Bà cần gì? Cùng với tất cả những nô lệ khác của cây đèn, tôi sẵn sàng tuân lệnh bà cũng như tuân lệnh bất cứ ai cầm cây đèn trong tay.

Bà mẹ Alátđanh không còn miệng lưỡi nào để trả lời. Trông thấy bộ mặt gớm ghiếc và đằng đằng sát khí của ông thần, bà khiếp đảm đến nỗi vừa nghe thần nói mấy tiếng đầu, bà đã ngã vật ra bất tỉnh nhân sự.

Alátđanh đã từng gặp một sự hiện hình tương tự trong hầm ngầm. Không cần suy nghĩ cho mất thời giờ, chú cầm vội cây đèn, và thay lời mẹ, chú đáp giọng kiên quyết:

- Ta đang đói, hãy mang thứ gì lại đây cho ta ăn!

Thần đèn biến mất, và một lát sau trở lại, đội một chiếc mâm bạc lớn trên đầu, trên mâm có mười hai chiếc đĩa cũng bằng bạc đựng đầy những thức ăn tuyệt diệu, kèm sáu chiếc bánh mì trắng đặt trên đĩa, hai chai rượu ngon và hai chiếc ly bằng bạc cắp ở tay. Thần đặt tất cả xuống tấm phản, rồi biến ngay tức khắc.

Tất cả những việc đó xảy ra trong chốc lát, nhanh đến nỗi khi thần biến mất lần thứ hai, bà mẹ Alátđanh vẫn chưa hồi tỉnh. Alátđanh dấp một ít nước lạnh vào mặt bà nhưng chưa có kết quả, đang định làm thêm để cho bà tỉnh lại thì, hoặc là do tâm thần bà đang hồi trở lại dần dần hoặc là mùi thơm của các món ăn do thần đèn mang lại góp sức vào đấy phần nào, vì chính bà cũng đang đói, bà tỉnh dậy ngay. Alátđanh nói:

- Mẹ ơi, không hề gì đâu, mẹ hãy dậy và đến cùng ăn với con. Những món ăn này đủ làm cho mẹ an thần cũng như thỏa mãn cơn đói như bào của con. Chúng ta hãy ăn đi, chớ để nguội lạnh những thức ăn ngon thế này.

Bà mẹ Alátđanh cực kỳ ngạc nhiên khi trước mắt nhìn thấy chiếc mâm to, mười hai chiếc đĩa, sáu chiếc bánh, hai chai rượu và hai cái ly, và mũi ngửi thấy mùi thơm quyến rũ tỏa lên từ những thức ăn ấy. Bà hỏi:

- Con ơi, ở đâu ra nhiều thế này, và chúng ta chịu ơn ai hào phóng như vậy? Hay là hoàng đế biết nỗi nghèo khổ của gia đình ta nên đoái thương chúng ta chăng?

- Mẹ ơi, chúng ta hãy ngồi vào mâm và ăn thôi! Alátđanh đáp. – Mẹ cũng đang đói như con; ăn xong rồi con sẽ xin thưa để mẹ rõ.

Hai mẹ con ngồi vào, càng ăn càng thấy ngon vì suốt đời họ chưa bao giờ có một mâm cỗ thịnh soạn như vậy. Vừa ăn, bà mẹ Alátđanh vừa ngắm nghía và xuýt xoa ca ngợi chiếc mâm và các đĩa, mặc dù bà cũng không phân biệt được những thứ ấy làm bằng bạc hay làm bằng một chất gì khác, bởi vì chẳng mấy khi được nhìn thấy những đồ giống như vậy. Thật ra bà cũng chẳng biết giá trị là bao nhiêu. Điều bà ca ngợi nhất là nó mới toanh. Cậu con trai Alátđanh thì cũng chẳng hay biết gì hơn bà.

Hai mẹ con lúc đầu tưởng chỉ ăn lót dạ bình thường, nhưng mãi đến giờ ăn trưa vẫn chưa đứng dậy. Chả là những món ăn tuyệt diệu làm cho họ cảm thấy rất ngon miệng. Thức ăn còn nóng, họ nghĩ ra rằng thà chén luôn một mạch cả bữa sáng và bữa trưa còn hơn là chia làm hai bận. Ấy thế mà ăn xong luôn cả hai bữa, phần còn lại cũng không những đủ để ăn tối mà còn có thể dành cho ngày hôm sau ăn hai bữa như vậy nữa.

Sau khi đã dọn mâm đĩa và cất số thức ăn chưa động đến, bà mẹ Alátđanh đến ngồi xuống tấm phản bên cạnh con trai và nói:

- Mẹ sốt ruột chờ con kể cho mẹ nghe câu chuyện con vừa hứa với mẹ.

Alátđanh thuật lại đầy đủ những việc đã xảy ra giữa thần đèn và chú trong khoảng thời gian bà ngất đi cho đến khi bà tỉnh lại. Bà mẹ Alátđanh rất đỗi ngạc nhiên về câu chuyện con vừa kể và về sự xuất hiện của thần đèn. Bà nói tiếp:

- Nhưng, con này, những chuyện về thần và thánh của con là thế nào nhỉ? Từ khi mẹ lọt lòng đến nay, chưa bao giờ mẹ nghe một người quen biết nào nói có trông thấy thần thánh cả. Tại làm sao cái lão hung thần gớm ghiếc ấy lại đến với mẹ? Tại sao lão nói với mẹ mà không nói với con, lão đã hiện lên với con một lần trong cái hầm ngầm giấu kho tàng rồi kia mà?

- Mẹ ơi, ông thần vừa hiện lên trước mặt mẹ không phải là ông thần đã hiện lên với con. Hai vị thần có giống nhau chừng nào về dáng vóc khổng lồ nhưng họ hoàn toàn khác nhau về vẻ mặt và cách ăn mặc. Bởi vậy họ thuộc về những chủ nhân khác nhau. Mẹ còn nhớ không, ông thần hiện lên với con xưng là nô lệ của chiếc nhẫn con đeo ở ngón tay, còn ông thần hiện lên với mẹ lại xưng là nô lệ của cây đèn mẹ đang cầm. Nhưng con nghĩ là mẹ đã không nghe được hết vì, hình như ông ta vừa mở miệng nói, mẹ đã ngất xỉu đi rồi.

- Sao? Thế ra tại cây đèn của con cho mà lão hung thần chết tiệt ấy nói với mẹ chớ không nói với con à? Ôi! Con ơi, con hãy cất nó đi khuất mắt cho mẹ nhờ, con muốn để nó ở đâu tùy ý, mẹ chẳng muốn động vào nó nữa. Theo mẹ tốt hơn là nên quăng hay bán đi còn hơn để có ngày chết khiếp vì chạm phải nó. Nếu con nghe lời mẹ thì con nên vất luôn cả chiếc nhẫn nữa. Không nên giao du với quỷ thần, chúng nó đều là yêu quái cả. Đấng tiên tri của chúng ta đã dạy như vậy sao?

- Mẹ ơi, xin mẹ cho phép, bây giờ con sẽ không bán nữa như con đã dự định làm lúc nãy, cây đèn này sẽ có ích cho mẹ con ta. Mẹ không thấy những thức ăn nó vừa mang lại cho chúng ta đó ư? Phải để cho nó tiếp tục cung đốn cho mẹ con ta sống chứ. Mẹ hẳn phải thấy như con rằng, chẳng phải không có lý do mà cái lão chú hờ độc địa của con lại chịu làm bao nhiêu việc khó khăn và chịu cất công đi xa vất vả như vậy, chỉ nhằm mục đích là chiếm bằng được cây đèn thần diệu này. Lão còn chuộng cây đèn này hơn tất cả vàng bạc lão biết rõ là giấu trong các gian phòng, như lão đã nói trước với con và chính mắt con cũng trông thấy. Lão biết rõ tác dụng và giá trị của cây đèn này lắm, cho nên mới không đòi hỏi một thứ gì khác trong cả một kho tàng quý báu như vậy.

Nhờ sự tình cờ mà mẹ con ta nhận ra được công dụng của nó, thì chúng ta hãy sử dụng sao cho có lợi cho nhà ta mà không ồn ào để khỏi làm cho hàng xóm sinh lòng ham muốn và ghen tị. Mẹ sợ các thần thánh đến thế, thì con sẵn sàng mang cây đèn đi cho khuất mắt mẹ và cất ở một nơi để có thể tìm lại khi cần. Còn về chiếc nhẫn, con không thể đang tâm vất nó đi, không có chiếc nhẫn ấy, mẹ đã không thể gặp lại con. Vậy mẹ cho phép con giữ lấy và luôn luôn trang trọng đeo ở ngón tay. Ai có thể nói trước một tai nạn hiểm nghèo nào xảy đến với con, mẹ lẫn con đều không thấy trước được, và biết đâu chiếc nhẫn này sẽ chẳng giải thoát cho con?

Lý lẽ Alátđanh nghe cũng xuôi tai, bà mẹ chẳng biết cãi lại thế nào. Bà nói:

- Con ơi, con muốn làm gì tùy ý. về phần mẹ, mẹ chẳng muốn dính dáng gì đến quỷ thần. Mẹ nói rõ với con là mẹ không chịu trách nhiệm, và từ nay mẹ chẳng bao giờ nói thêm với con về chuyện ấy nữa.

Ngày hôm sau, ăn xong bữa tối thì chẳng còn sót tí gì số thức ăn thần đèn mang về. Hôm sau nữa, Alátđanh không chờ đến cơn đói bụng thúc bách, chú lấy một chiếc đĩa bạc giấu dưới vạt áo rồi mang đi bán rất sớm.

Dọc đường gặp một lão Do Thái, chú kéo riêng lão ta ra một nơi, đưa cho xem cái đĩa và hỏi lão có muốn mua không.

Lão Do Thái tinh ranh và khôn khéo, cầm lấy chiếc đĩa xem xét và vừa thấy nó bằng bạc tốt, liền xăm xăm hỏi ngay Alátđanh định giá bao nhiêu, chú không hiểu rõ giá trị của nó và chưa bao giờ buôn bán loại hàng này, đành phải đáp rằng lão hẳn biết rõ chiếc đĩa này đáng giá bao nhiêu, và chú tin vào sự ngay thật của lão. Lão Do Thái bối rối trước sự khôn ngoan của Alátđanh. Phân vân không rõ chú có biết chiếc đĩa làm bằng gì và có rõ giá trị của nó hay không, lão móc ở túi tiền ra đưa cho chú một đồng tiền vàng – có giỏi lắm thì đồng tiền này cũng mới bằng một phần bảy mươi giá trị của cái đĩa.

Alátđanh vội vã đón lấy đồng tiền vàng, và khi đã nắm được ở trong tay rồi, chú bỏ đi hấp tấp đến nỗi lão Do Thái không bằng lòng với món lời quá mức vừa thu được qua chuyện mua bán ấy, tự lấy làm bực mình sao đã không nắm chắc Alátđanh không hay biết giá cả thứ hàng vừa bán, thành ra lão đã không mặc cả giá thấp hơn nữa. Suýt nữa lão đuổi theo chàng trai, hy vọng có thể bớt lại được chút ít nào trong đồng tiền vàng của lão. Nhưng Alátđanh chạy đã khá xa, lão có vất vả lắm cũng chưa chắc đã đuổi kịp.

Trên đường về, Alátđanh ghé vào một hiệu bánh mỹ, mua phần bánh cho cả hai mẹ con, chú đưa đồng tiền vàng ra và lấy lại tiền lẻ. Về đến nhà, chú đưa số tiền còn lại cho mẹ, bà ra chợ mua thêm những thức ăn cần thiết khác đủ cho hai mẹ con sống qua mấy ngày. Hai mẹ con tiếp tục sống theo lối ấy, nghĩa là Alátđanh lần lượt bán hết tất cả các đĩa cho đến cái thứ mười hai, vẫn theo cách thức chú bán chiếc đầu, mỗi khi trong nhà hết tiền tiêu. Lão Do Thái đã bỏ ra một đồng tiền vàng để mua chiếc đầu, không dám bớt giá, sợ mất món bở, lão đành mua tất cả cùng một giá ấy. Khi đã tiêu hết số tiền bán chiếc đĩa cuối cùng rồi, Alátđanh tìm đến cái mâm, nặng bằng mười cái đĩa cộng lại. Chú muốn mang đến bán cho bạn hàng quen thuộc của chú nhưng nặng quá không mang nổi. Chú buộc phải tìm lão Do Thái, sau khi xem xét trọng lượng của cái mâm, lập tức đếm trả mười đồng tiền vàng, và Alátđanh lấy thế làm mãn nguyện.

Chừng nào các đồng tiền vàng ấy hãy còn, thì nó được dùng trang trải các khoản tiêu pha hằng ngày trong gia đình. Trong thời gian ấy, Alátđanh quen với lối sống an nhàn. Từ hôm xảy ra cái chuyện rắc rối với lão phù thủy người Phi, chú thôi không chơi đùa với bọn trẻ con cùng lứa tuổi nữa. Suốt ngày chú đi dạo chơi hoặc trò chuyện với những người chú làm quen, một đôi khi chú dừng lại ở các hiệu buôn lớn, lắng nghe những người quyền quý ghé qua hay hẹn hò ở đấy trao đổi với nhau; và những câu chuyện ấy dần dần cũng giúp chú có ít nhiều hiểu biết về cuộc đời.

Khi đã tiêu sạch hết mười đồng vàng, Alátđanh phải nhờ đến cây đèn. Chú cầm đèn ở tay, tìm cái chỗ mẹ chú trước đây đã chạm vào, và nhận ra cái vết xây xát do cát gây nên, chú miết vào đấy và lập tức thần đèn đã hiện ra như lần trước xuất hiện trước mặt chú. Nhưng, vì Alátđanh miết nhẹ tay hơn mẹ, thần đèn nói với chú giọng dịu dàng hơn, vẫn những lời lẽ như lần trước:

- Ngài cần gì? Cùng với tất cả nô lệ khác của cây đèn, tôi sẵn sàng tuân lệnh ngài cũng như tuân lệnh những ai cầm cây đèn trên tay.

Alátđanh bảo:

- Ta đang đói, hãy mang lại cho ta thức ăn!

Thần đèn biến mất và chỉ lát sau lại xuất hiện, mang theo một mâm cỗ giống y như lần trước. Thần đặt mâm thức ăn xuống phản rồi biến ngay lập tức.

Bà mẹ Alátđanh biết trước ý định của con, liền bỏ ra ngoài làm một việc gì đấy, để khỏi có mặt trong nhà khi thần đèn xuất hiện. Lát sau bà trở vào, trông thấy bàn và chạn đầy ắp thức ăn, bà cũng ngạc nhiên về những tác dụng kỳ lạ của cây đèn không kém gì lần trước. Hai mẹ con ngồi vào bàn, và sau bữa ăn, vẫn còn lại đủ cho hai người sống thoải mái hai ngày sau đó.

Khi trông thấy trong nhà không có bánh mì hoặc thức ăn gì khác và cũng chẳng có tiền để mua, Alátđanh cầm một chiếc đĩa bạc đi tìm lão Do Thái quen biết để bán. Đường chú đi ngang qua trước cửa hiệu một nhà buôn vàng bạc, một cụ già đáng kính, lương thiện và rất ngay thẳng. Trông thấy chú cụ già gọi lại bảo chú vào nhà và nói:

- Con ơi, lão từng nhìn thấy con nhiều lần đi qua, mang theo vật gì như hôm nay đến gặp lão Do Thái nọ, rồi sau đó trở về không thấy vật ấy nữa, lão nghĩ rằng chắc con mang đến bán cho lão ta. Nhưng con chưa biết lão ta là một tên bịp và còn bịp bợm hơn mọi tên Do Thái khác. Không một ai đã một lần buôn bán với lão còn muốn quan hệ gì thêm với lão. Hơn nữa, điều lão nói với con đây là chỉ vì lợi ích của con. Nếu con vui lòng đưa cho lão xem cái vật con hiện đang mang theo trong người, và nếu con có ý định bán thì lão sẽ trả cho con thật đúng giá của nó, nếu vật đó họp ý lão. Bằng không lão sẽ giới thiệu con với những nhà buôn khác, họ sẽ không lừa bịp con.

Hy vọng có thể bán được nhiều tiền hơn, Alátđanh lấy chiếc đĩa giấu trong vạt áo ra đưa cho cụ xem. Cụ nhìn biết ngay chiếc đĩa bằng bạc tốt, liền hỏi chú có phải đã từng bán những chiếc giống thế này cho lão Do Thái không, và được lão trả bao nhiêu tiền. Alátđanh ngây thơ đáp chú đã bán mười hai chiếc, mỗi chiếc chỉ được lão trả cho mỗi một đồng tiền vàng.

- Chao ôi! Tên kẻ cắp! – Cụ già thốt lên. – Con ạ, việc gì đã qua rồi thì thôi, chẳng cần phải nghĩ đến làm gì nữa, nhưng lão nói cho con rõ cái đĩa của con bằng thứ bạc tốt hơn cả những thứ bán trong cửa hiệu của lão đây, tên Do Thái đã bịp mất của con không biết bao nhiêu là tiền.

Cụ già buôn đồ bạc lấy chiếc cân ra cân cái đĩa. Sau khi giảng giải cho Alátđanh biết thế nào là một nén bạc, một nén có bao nhiêu lạng và giá trị bao nhiêu tiền, cụ căn cứ vào trọng lượng của nó, nói cái đĩa đáng giá bảy mươi hai đồng vàng. Nói xong, cụ đếm ngay tiền mặt và bảo:

- Đấy, cái đĩa của con giá trị đúng chừng này. Nếu con không tin, con có thể đi hỏi bất kỳ hàng bạc nào con muốn, nếu có ai bảo rằng nó đáng giá cao hơn thì lão hứa sẽ trả gấp đôi. Những người làm nghề bạc như lão đây mua bạc chỉ lấy công làm lãi, việc đó thì đến những người Do Thái ngay thật nhất cũng không chịu làm.

Alátđanh hết lời cảm ơn cụ hàng bạc đã có lời khuyên bảo giúp chú thu được một món hời rất lớn. Từ đấy trở đi, chú chỉ bán cho cụ tất cả những đĩa bạc, cũng như chiếc mâm, cái này cũng vẫn được trả đúng giá tương xứng với trọng lượng của nó.

Mặc dù hai mẹ con Alátđanh có một nguồn tiền vô tận ở cây đèn, tiêu hết cần có bao nhiêu thì được bấy nhiêu, họ vẫn tiếp tục sống thanh đạm như trước, trừ những khi Alátđanh cần chi tiêu riêng để ăn mặc cho chững chạc hoặc mua sắm những thứ cần thiết cho gia đình. Bà mẹ, về phần mình, cũng chỉ dám may mặc bằng món tiền bán số sợi bà kéo được. Với lối sống sinh hoạt phải chăng như vậy, cũng dễ tính ra được khoảng thời gian mà số tiền bán mười hai cái đĩa và chiếc mâm theo giá bán cho cụ già hàng bạc – nuôi họ được bao lâu. Họ sống như vậy trong mấy năm, chỉ thỉnh thoảng Alátđanh mới phải nhờ đến cây đèn.

Trong thời gian ấy, Alátđanh lớn lên vẫn không quên lui tới gặp gỡ thường xuyên những người giàu có ở các hiệu buôn dạ vàng, dạ bạc, lụa là, gấm vóc và kim hoàn lớn nhất, thỉnh thoảng bắt chuyện với họ. Dần dần cậu trở nên khôn ngoan và vô tình bắt chước kiểu cách của hạng người sang trọng. Đặc biệt chính tại các hiệu buôn đồ ngọc mà cậu vỡ lẽ ra mình đã hiểu sai về các thứ trái cây trong suốt hái trong khu vườn khi đi lấy cây đèn, đấy không phải là thủy tinh màu mà chính là châu báu rất đắt tiền. Nhìn mãi người ta mua đi bán lại những thứ ấy trong các hiệu buôn, cậu biết được tên gọi và giá cả. Vì không hề thấy có những viên ngọc nào đẹp và to bằng những viên của mình, cậu hiểu rằng cậu sở hữu cả một kho tàng vô giá, chứ không phải là những cục thủy tinh mà cậu từng coi như những thứ vớ vẩn. Cậu cẩn thận không nói cho ai biết, kể cả mẹ đẻ, và rõ ràng sự kín tiếng của cậu đã giúp cho cậu vươn lên địa vị cao sang mà chúng ta sẽ thấy sau này.

Một hôm, đang đi dạo trong khu phố, Alátđanh nghe có lời rao to lệnh của hoàng đế truyền cho mọi nhà cửa quán xá đều phải đóng cửa, ai nấy đều phải ở trong nhà. Chờ cho đến sau khi công chúa Bađrunbuđua, con gái của vua, đi ngang qua phố để đến nơi tắm và tắm xong trở về.

Lời rao ấy làm Alátđanh nảy ra sự tò mò muốn nhìn công chúa tận mặt. Nhưng cậu chỉ có thể làm được việc đó bằng cách nấp vào một nhà quen rồi nhìn qua khe cửa. Mà cậu lại không bằng lòng như vậy, bởi vì công chúa theo phong tục sẽ phải mang mạng che mặt khi đến nhà tắm. Để thỏa mãn tính tò mò, cậu nghĩ ra một cách rất hay. Cậu đến nấp sau cửa nhà tắm, và tìm lối đứng thế nào có thể nhìn thẳng mặt công chúa khi nàng đi tới. Alátđanh không phải chờ lâu. Công chúa xuất hiện.

Cậu có thể nhìn rõ qua một khe cửa khá rộng mà không bị lộ. Một đám đông nàng hầu và hoạn nô quây quần hai bên và theo sau công chúa. Đến cách cửa nhà tắm chừng ba, bốn bước, nàng bỏ tấm mạng che mặt cho khỏi vướng, thành thử tạo điều kiện cho Alátđanh tha hồ nhìn ngắm cho thỏa thuê vì nàng đi thẳng về phía cậu đang nấp.

Cho đến lúc ấy, Alátđanh chưa bao giờ trông thấy mặt một người đàn bà nào không đeo mạng ngoài mẹ đẻ, bà đã già và nét mặt hồi trẻ cũng không xinh đẹp gì để cho cậu nghĩ rằng những người phụ nữ khác có thể đẹp hơn. Hẳn cậu cũng đã từng có lần được nghe nói có người nọ người kia xinh đẹp tuyệt trần, song cho dù có dùng lời lẽ đến thế nào chăng nữa để ca ngợi sắc đẹp thì vẫn không bao giờ gây được ấn tượng mạnh mẽ như chính mắt nhìn thấy người đẹp.

Trông thấy công chúa Bađrunbuđua, Alátđanh mất ngay ý nghĩ vẫn cho rằng tất cả phụ nữ đều na ná giống như mẹ cậu. Cảm xúc của cậu khác hẳn, và tim cậu không thể không rung động trước sắc đẹp đang làm cậu say đắm. Quả vậy, công chúa là một người con gái có mái tóc đen đẹp nhất trần thế. Đôi mắt nàng to, không sâu, tinh nhanh và trong sáng. Cái nhìn dịu dàng và khiêm tốn. Mũi nàng cân xứng tuyệt vời. Miệng nàng nhỏ, môi đỏ như son và đều đặn trông thật đáng yêu. Tóm lại, mọi đường nét trên khuôn mặt nàng đều hết sức cân đối. Thêm vào nhan sắc ấy, thân hình nàng nở nang, dáng đi và điệu bộ oai vệ làm cho bất cứ ai thoạt nhìn cũng đều phải đem lòng kính trọng.

Công chúa đã vào trong nhà tắm rồi, Alátđanh vẫn còn đứng ngẩn hồi lâu như mê mẩn, cố hình dung lại và khắc sâu vào tâm trí hình dáng một con người làm cậu đắm đuối và yêu dấu đến tận đáy lòng. Cuối cùng cậu chợt tỉnh, và hiểu rằng công chúa đã đi qua rồi, dù cho cậu cố đứng đây chờ nàng tắm xong trở ra cũng vô ích thôi, bởi lẽ nàng quay lưng lại phía cậu và sẽ đeo mạng che mặt, vì vậy cậu quyết định ra về.

Về nhà, Alátđanh không thể giấu không để lộ cho mẹ thấy nỗi băn khoăn tư lự của mình. Bà ngạc nhiên thấy con trai buồn bã và mơ màng trái với thói quen. Bà hỏi có việc gì xảy ra, hay là cậu khó ở chăng. Nhưng Alátđanh không đáp lại một tiếng, cậu hờ hững buông mình xuống phản, và ngồi yên một chỗ, mê mải hình dung bóng dáng yêu kiều của công chúa Bađrunbuđua. Bà mẹ mải bận thổi cơm chiều cũng không gặng hỏi thêm. Cơm chín, bà dọn ra cạnh Alátđanh rồi cùng ngồi xuống cạnh phản. Thấy con không mảy may chú ý, bà nhắc con đi ăn, và cậu có vẻ như vất vả lắm mới quay lại được. Cậu ăn ít hơn hẳn so với lúc bình thường, mắt vẫn luôn luôn nhìn xuống và miệng vẫn câm như thóc, đến nỗi bà không thể nào cạy ra được một lời nào, mặc cho bà hỏi dồn để cố tìm hiểu vì sao có sự thay đổi khác thường như vậy.

Sau bữa cơm, bà mẹ lại muốn hỏi cho rõ vì đâu có nỗi buồn da diết đến thế nhưng cũng chẳng biết gì thêm. Alátđanh quyết định đi ngủ chứ không chịu hé răng ra cho mẹ hay biết một tí gì.

Chẳng cần biết rõ anh chàng Alátđanh cảm sắc đẹp và si vẻ yêu kiều của công chúa Bađrunbuđua đêm hôm ấy đã ngủ nghê như thế nào, chúng ta chỉ cần chú ý là ngày hôm sau lúc ngồi trên bức phản đối diện với mẹ đang kéo sợi như thường lệ, cậu nói với bà:

- Mẹ ơi, con nói cho mẹ rõ, chứ không thể im lặng như từ hôm qua đến bây giờ. Sự im lặng của con chắc làm mẹ phiền lòng, con biết lắm. Hôm qua, con không ốm như mẹ tưởng đâu, và bây giờ cũng vậy. Nhưng con có thể nói với mẹ rằng điều con cảm thấy hôm qua và bây giờ cũng vẫn đang cảm thấy là một cái gì còn tệ hơn cả ốm đau. Con không rõ cái bệnh ấy là gì, song con tin rằng những điều mẹ sắp nghe đây sẽ làm cho mẹ rõ.

- Ở khu phố ta, – Alátđanh nói tiếp – không ai được biết, và bởi vậy mẹ không sao biết được là hôm qua công chúa Bađrunbuđua, con gái của hoàng đế, đi tắm sau bữa ăn trưa. Con biết được tin ấy khi đi dạo ngoài phố. Lệnh truyền cho dân chúng đóng các cửa hiệu và ai trở về nhà nấy để tỏ lòng kính trọng công chúa và để cho quang vắng các phố nàng sẽ đi tới nhà tắm. Lúc ấy con ở không xa nhà tắm, sự tò mò muốn nhìn tận mặt công chúa đã khiến con nảy ra cái ý đến nấp sau cửa ra vào, con nghĩ rằng chắc nàng sẽ cất tấm mạng che mặt khi sắp bước vào nhà tắm. Mẹ đã biết vị trí của cái cửa ra vào đấy, mẹ có thể hình dung là con sẽ tha hồ mà ngắm nàng nếu như sự việc xảy ra đúng như con dự tính. Quả nhiên, khi bước vào, nàng cất tấm mạng che mặt và con có được niềm hạnh phúc ngắm nghía thỏa thuê nàng công chúa yêu kiều ấy. Thưa mẹ, đấy là nguyên nhân khiến cho con bần thần và im lặng cho đến bây giờ. Con yêu công chúa mãnh liệt lắm, không thể nào nói hết lời, mối tình nồng cháy và thiết tha, từng giờ từng phút càng thêm nồng cháy, con nghĩ rằng nó chỉ được thỏa mãn chừng nào con lấy được nàng công chúa Bađrunbuđua đáng yêu, vì vậy con quyết định nhờ người hỏi xin hoàng đế gả nàng cho con.

Bà mẹ Alátđanh lắng nghe con trai khá chăm chú cho đến hết. Khi nghe con ngỏ ý muốn hỏi công chúa làm vợ, bà không nén khỏi phá lên cười làm cậu phải ngừng lại. Alátđanh muốn nói tiếp, nhưng bà lại ngắt lời:

- Này, con ơi, con mơ màng gì thế? Con hẳn mất trí đi rồi, cho nên mới nói với mẹ những điều như vậy.

- Mẹ ạ, con có thể quả quyết với mẹ rằng con không mất trí, – Alátđanh đáp – con hoàn toàn minh mẫn. Con đã biết trước rằng mẹ trách mắng con là điên cuồng và lập dị. Mặc dù vậy nó vẫn không ngăn con nói với mẹ một lần nữa rằng con quyết tâm xin hoàng đế gả công chúa Bađrunbuđua cho con.

- Thật ra, mẹ không thể không nói rằng con đã hoàn toàn mất trí, con ạ. – Bà mẹ nói rất nghiêm trang. – Và cho dù con có muốn thực hiện quyết định ấy đi nữa, mẹ không rõ ai sẽ là người có gan đến gặp hoàng đế để thay con ngỏ lời cầu hôn công chúa.

- Mẹ chứ còn ai nữa? – Cậu con trai đáp không chút chần chừ.

- Mẹ ư? – Bà mẹ thốt lên vừa bất ngờ vừa kinh ngạc. -Mẹ đến gặp hoàng đế? chao ôi, mẹ chẳng bao giờ dám dấn thân vào một việc như vậy. Con ơi, con là ai, mà dám cả gan tơ tưởng đến con gái hoàng đế? Phải chăng con đã quên mất bố con là một người thợ may, loại hèn mọn nhất trong kinh đô của Người, và dòng dõi ông cha của mẹ con đây cũng chẳng chút cao sang hơn? Con có biết không, rằng các bậc hoàng đế không thèm gả con gái của mình cho ngay cả những hoàng tử mà không có hy vọng một ngày kia sẽ lên ngôi báu trị vì như họ.

- Mẹ ơi, con đã thưa với mẹ là con đã đoán trước tất cả những điều mẹ vừa nói. Cho dù mẹ có bảo gì đi nữa, con cũng chỉ đáp lại một lời ấy mà thôi. Mọi lời trách mắng của mẹ không làm con đổi ý. Con đã thưa với mẹ là con sẽ nhờ mẹ ra đi hỏi công chúa Bađrunbuđua cho con. Vì quý mẹ cho nên con mới nhờ mẹ giúp cho việc đó. Con van mẹ chớ có khước từ, trừ phi là mẹ muốn cho con chết chứ không muốn đẻ ra con một lần nữa.

Bà mẹ Alátđanh rất bối rối khi thấy con khăng khăng giữ mãi ý nghĩ chẳng biết điều chút nào.

- Con ơi, – bà lại nói – mẹ là mẹ con, mẹ đã đứt ruột đẻ ra con, nếu mẹ sẵn sàng làm việc đó thì cũng là điều hợp tình hợp lý đối với mẹ cũng như đối với con thôi. Giá như đây là chuyện đi hỏi con gái một gia đình nào hàng xóm với nhà ta, mà gia cảnh cũng giống nhà ta hoặc hơn kém chút ít, thì mẹ đã chẳng nề hà khó nhọc, mẹ sẽ hết lòng cố gắng và tìm đủ mọi cách lo liệu cho con.

Đấy là chưa nói, muốn đạt được kết quả, con phải có ít nhiều tài sản hay lợi tức, hoặc là biết một nghề nghiệp nào đó. Khi những kẻ nghèo khó như chúng ta muốn lập gia đình, điều đầu tiên phải nghĩ tới là lấy gì mà sống sau này. Ấy thế mà con chẳng suy nghĩ gì sất đến dòng dõi hèn hạ của mình, đến việc mình chẳng hề có tiếng tăm hoặc của cải, mà lại đi mơ ước tận đỉnh cao danh vọng, lại tính đến chuyện đi hỏi lấy con gái vua về làm vợ. Con gái của Người, mà chỉ cần phán một lời là đủ tống con xuống vực hay xéo nát thân con. Mẹ để riêng những việc có liên quan đến con, mặc cho con suy nghĩ lo liệu lấy, nếu con còn có chút trí khôn. Mẹ chỉ nói đến điều có liên quan đến mẹ. Làm sao con có thể nảy ra cái ý kỳ quặc là muốn cho mẹ đến gặp hoàng đế xin Người gả công chúa cho con? Nói giả dụ mẹ dám láo xược – chứ đừng nói là bạo gan – đến gặp hoàng đế để tâu xin một việc kỳ dị như vậy đi nữa, thì thử hỏi mẹ biết nhờ ai dẫn mẹ vào? Con có ý nghĩ là người đầu tiên mẹ ngỏ ý nhờ việc ấy sẽ cho mẹ là một con điên và đánh đuổi mẹ đi, mà như thế cũng chẳng phải oan ức gì! Lại giả dụ nữa, rằng mẹ không gặp khó khăn gì và vào được đến nơi hoàng đế thiết triều. Mẹ biết là người ta vẫn có thể vào được đến nơi để kêu van hoàng đế xét cho một nỗi oan ức nào đó và Người sẵn sàng minh xét. Mẹ cũng biết nữa rằng, khi có ai đến xin vua một ân huệ nào đó, Người vui lòng ban cho nếu xét thấy kẻ đó đã và đáng được hưởng. Nhưng con có thuộc vào trường họp ấy không? Có phải con tin là con đáng được hưởng đặc ân mà con muốn mẹ tâu xin cho? Con có xứng đáng không? Con đã làm được việc gì cho hoàng đế hay cho nước nhà? Con đã có công lao về những mặt nào? Nếu con chưa hề làm gì để đáng hưởng đặc ân đó và hiện bây giờ con cũng không xứng đáng, vậy thì làm sao mẹ dám cả gan đi tâu xin cho con? Làm sao mẹ có thể mở miệng tâu với hoàng đế chuyện đó? Chỉ cần trông thấy hoàng thượng uy nghiêm với tất cả triều đình lộng lẫy là mẹ đã câm như hến. Ngay đối với bố con xưa kia, mỗi lần muốn hỏi xin bố con một điều gì, mẹ cũng run cầm cập nữa là.

Còn một điều khác nữa mà con chưa nghĩ tới, là không bao giờ người ta đến gặp các bậc vua chúa để cầu xin một việc gì đó mà không có lễ vật cầm tay. Có lễ vật ít ra cũng có cái lợi là, dù hoàng đế có từ chối không ban ân vì những lý do gì đó, Người cũng sẽ lắng nghe trình bày mà chẳng lấy làm khó chịu. Nhưng con thì có lễ vật gì dâng lên hoàng đế nào? Mà cho dù con có biện được một lễ gì đáng cho hoàng thượng hạ cố chút nào, thì thử hỏi cái lễ vật ấy có xứng với lời cầu xin con định tâu lên hoàng đế hay không? Con ơi, hãy tỉnh trí lại. Con hãy hiểu rằng ước mơ của con không thể nào thực hiện được.

Alátđanh rất bình tĩnh lắng nghe tất cả những lời mẹ cố thuyết phục cậu từ bỏ ý đồ của mình. Sau khi suy nghĩ về những nhận xét của bà, cuối cùng cậu đáp:

- Mẹ ạ, con nhận ra thật quá bạo gan cho nên mới dám có những ước mong cao xa như vậy. Và con cũng đã thiếu suy nghĩ khi quá nôn nóng và thiết tha nhờ mẹ đi gặp hoàng đế để hỏi công chúa cho con mà không lo trước những thứ cần thiết để mẹ được phép vào triều yết và được hoàng đế vui vẻ tiếp. Xin mẹ tha lỗi cho. Nhưng xin mẹ chớ ngạc nhiên sao con chưa tính toán hết tất cả những gì có thể giúp cho con toại nguyện. Mẹ không thể tưởng tượng được con yêu công chúa Bađrunbuđua đến mức nào, hay đúng hơn là con sủng ái nàng. Con vẫn nhất quyết giữ ý định là sẽ kết hôn cùng nàng cho bằng được. Đó là một điều con đã dứt khoát và quyết tâm. Con cảm ơn mẹ về những điều mẹ vừa chỉ bảo cho, con coi đó là bước cố gắng đầu tiên để đạt kết quả mà con quyết giành cho bằng được.

Mẹ bảo không có lệ vào triều yết vua mà không có lễ vật cầm tay, và con chẳng có gì xứng đáng để dâng lên hoàng đế ư? Con đồng ý với mẹ về cái chuyện lễ vật, thú thật là con đã không nghĩ tới. Còn về cái điểm mẹ nói con chẳng có gì đáng dâng lên vua, vậy thì những thứ con mang về hôm con thoát được một cái chết đã cầm chắc mười mươi, như mẹ đã biết đấy, liệu mẹ có cho là đủ làm thành một lễ vật sẽ khiến cho hoàng đế bằng lòng không? Con muốn nói đến những thứ con mang về trong hai cái túi và giắt trong người, mà cả hai mẹ con ta đều tưởng là những cục thủy tinh xanh đỏ. Bây giờ con đã hiểu ra và xin nói để mẹ rõ, mẹ ạ, đấy là những châu ngọc vô giá chỉ đáng cho những bậc đế vương lớn nhất dùng mà thôi. Con biết rõ giá trị của nó nhờ hay lui tới các hiệu buôn vàng bạc, mẹ có thể tin lời con. Tất cả những châu ngọc mà con trông thấy ở các hiệu buôn vàng ngọc ở ta không thể so sánh với những viên ngọc của nhà ta cả về cỡ lớn cũng như về vẻ đẹp. Ấy thế mà họ lại đặt những giá cao quá sức tưởng tượng.

Thật ra, mẹ cũng như con chúng ta làm sao biết được những viên ngọc của chúng ta đáng giá bao nhiêu. Nhưng dù thế nào chăng nữa, dựa vào chút kinh nghiệm ít ỏi của con, con tin tưởng chắc chắn rằng lễ vật này chỉ có thể làm hoàng đế vui lòng. Mẹ có một chiếc bình sứ khá to và hình dáng thích họp để đựng ngọc. Mẹ hãy lấy ra đây, chúng ta hãy xem sau khi xếp loại các viên ngọc theo màu sắc, trông sẽ đẹp như thế nào.

Bà mẹ Alátđanh đi tìm chiếc bình sứ, và Alátđanh lấy các viên ngọc đựng trong hai cái túi ra xếp vào bình. Dưới ánh sáng ban ngày, các viên ngọc khác màu sắc, ngời lên lấp lánh rực rỡ đến nỗi làm cho hai mẹ con gần như lóa mắt. Họ đều rất ngạc nhiên bởi vì trước đây chỉ nhìn từng viên dưới ánh sáng của ngọn đèn dầu. Đúng là Alátđanh đã từng nhìn thấy các viên ngọc ấy mắc lên cây như quả và cảnh tượng đó thật mê ly, song dạo ấy cậu còn là một đứa trẻ con, cậu chỉ nhìn những viên ngọc như là những đồ trang trí chỉ có thể dùng làm đồ chơi, và cậu hái về cũng chỉ nhằm thế thôi chứ chẳng hay biết gì hơn nữa.

Sau khi ngắm nghía một lát vẻ đẹp của tặng phẩm ấy, Alátđanh nói với mẹ:

- Mẹ ơi, mẹ không còn có thể thoái thác không đi gặp hoàng đế với cái cớ là không kiếm được lễ vật để dâng lên Người nữa nhé. Cái lễ vật này, theo ý con, sẽ làm cho mẹ được đón tiếp một cách tử tế nhất.

Bà mẹ Alátđanh tuy có nhận thấy lễ vật đẹp và rực rỡ thật, song vẫn không tin rằng nó đắt tiền đến mức con bà nói. Tuy nhiên, bà vẫn nghĩ là nó sẽ được chấp nhận, và biết là không thể cãi lại con ở điểm này.

Nhưng bà vẫn trở lại chuyện Alátđanh muốn bà nhận việc dâng lễ vật này mà tâu xin hoàng đế. Bà vẫn rất ngại ngùng về chuyện ấy:

- Con ơi, mẹ cũng đồng ý là lễ vật này sẽ có tác dụng, hoàng đế chắc sẽ nhìn mẹ với con mắt thiện cảm, nhưng con hãy miễn cho mẹ cái việc con đòi mẹ phải tâu xin Người, mẹ e rằng mẹ sẽ không đủ sức nói, mẹ sẽ im thin thít mất thôi. Như vậy, không những mẹ sẽ lúng túng mà còn mất không cả lễ vật, mà con cho là cực kỳ quý báu, và rồi mẹ trở về bối rối nói với con rằng con chẳng còn mảy may hy vọng nữa đâu. Mẹ đã nói với con, con phải tin chắc cơ sự sẽ diễn ra như vậy cho mà xem.

Nhưng, – bà nói tiếp – mẹ muốn cố ép mình phải chiều ý con, và cứ cho là mẹ có gan tâu xin việc con muốn mẹ làm đi nữa, thì chắc chắn mười mươi hoặc là hoàng đế sẽ chế giễu mẹ và đuổi mẹ như đuổi một con điên, hoặc là Người sẽ nổi cơn thịnh nộ thật sự, làm cho mẹ con ta đến phải tội mất thôi.

Bà mẹ Alátđanh còn nói với con thêm nhiều lý lẽ khác hòng làm cậu thay đổi ý kiến, song vẻ kiều diễm của công chúa Bađrunbuđua đã khắc vào lòng cậu một ấn tượng quá ư mãnh liệt đến nỗi không có cách gì lay chuyển cậu. Alátđanh vẫn khăng khăng đòi mẹ làm việc cậu đã quyết. Và phần vì thương con, phần thì e con phẫn chí mà dại dột liều thân chăng, bà đành cố vượt qua mọi ngại ngần để chiều ý con trai.

Lúc ấy đã quá muộn, hết giờ vua thiết triều rồi, công việc đó đành gác sang hôm sau. Từ bấy cho đến hết ngày, hai mẹ con chẳng nói gì khác ngoài chuyện ấy. Alátđanh tìm đủ mọi cách làm cho mẹ giữ quyết tâm sẽ đi đến gặp hoàng đế. Mặc cho con trai trình bày đủ lý lẽ, bà vẫn không thể nào tin tưởng là mình có thể thành công trong việc này. Thật ra, phải nhận rằng bà có lý để nghi ngờ như vậy. Bà hỏi Alátđanh:

- Con ơi, nếu hoàng đế tiếp mẹ tử tế được như mẹ mong muốn, nếu Người bình tĩnh nghe hết lời mẹ trình bày đúng theo ý của con, sau buổi tiếp đón tốt đẹp ấy, nếu Người muốn hỏi xem của cải, tài sản và vương quốc của con ở đâu – bởi vì trước hết Người sẽ hỏi về những điều đó chứ không phải hỏi con là người tốt xấu ra thế nào – mẹ nhắc lại, nếu hoàng đế hỏi mẹ như vậy, thì con bảo mẹ nên trả lời ra sao?

- Mẹ ơi, – Alátđanh đáp – xin mẹ chớ nên vội lo về một điều chưa chắc đã xảy ra. Trước hết, chúng ta hãy chờ xem hoàng đế sẽ tiếp mẹ như thế nào và sẽ trả lời điều mẹ cầu xin ra làm sao. Nếu đúng là Người muốn biết về những gì mẹ vừa nói với con đấy, lúc ấy con sẽ tính đến câu trả lời. Và con tin tưởng là cây đèn, nhờ có nó mà mẹ con ta sống được mấy năm nay, sẽ không để cho con thiếu thốn thứ gì.

Bà mẹ Alátđanh chẳng còn biết đáp lại con thế nào. Bà nghĩ chắc là cây đèn cậu nói đến ấy còn có thể giúp cho mẹ con bà những điều kỳ diệu lớn lao hơn là mỗi một việc kiếm cho hai người đủ sống. Ý nghĩ đó khiến bà vui lòng, làm tiêu tan mọi khó khăn có thể khiến cho bà nản, không muốn đến tâu xin hoàng đế cho con trai cái việc đã hứa. Alátđanh hiểu thấu ý nghĩ của mẹ, liền bảo bà:

- Mẹ ơi, ít ra mẹ cũng cần nhớ là phải kín tiếng. Đó là điều quyết định sự thành công mà mẹ con ta trông chờ đấy.

Hai mẹ con chia tay nhau đi nghỉ. Nhưng mối tình say đắm và những dự định to tát về một cuộc đời phú quý vinh hoa cứ quay cuồng trong đầu óc cậu con trai, không cho cậu ngủ bình yên như mong muốn. Tảng sáng cậu đã trở dậy và đánh thức mẹ, giục bà mặc áo quần thật nhanh vào và đến chực sẵn ở cổng hoàng cung để khi cổng mở là vào ngay cùng một lúc với tể tướng, các quan thượng thư, và tất cả các vị đại thần đến chầu ở điện thiết triều, nơi hoàng đế bao giờ cũng đích thân tham dự.

Bà mẹ Alátđanh làm tất cả những gì con trai muốn. Bà mang theo cái bình sứ đựng ngọc làm lễ vật, bọc trong hai lần vải, một lần vải mịn màng, sạch sẽ, lần vải kia thô hơn, rồi buộc chéo bốn góc lại cho dễ xách.

Cuối cùng, bà ra đi, theo đường dẫn đến hoàng cung. Alátđanh rất lấy làm bằng lòng.

Khi bà tới cổng hoàng cung, thì quan tể tướng, có các quan thượng thư và các vị đại thần xuất sắc nhất trong triều đi theo, đã vào rồi. Rất đông dân chúng có việc muốn vào tới điện thiết triều, cổng mở, bà theo đám đông đi vào.

Đó là một đại sảnh rất đẹp vừa sâu vừa rộng, lối vào thênh thang và đẹp đẽ. Bà dừng lại và tìm chỗ đứng sao cho có thể nhìn thẳng vào hoàng đế cùng tể tướng và các đại thần chầu hai bên tả hữu. Quan hầu lần lượt gọi tên những người đến kêu với vua, theo thứ tự các đơn họ đưa lên, và những công việc đó được tâu trình, bào chữa và phán xét cho đến giờ bãi triều theo như thường lệ.

Thế là hoàng đế đứng lên, truyền cho các quan ra về rồi đi vào tư cung, chỉ có tể tướng được theo vào. Các quan thượng thư và đại thần lui về. Tất cả dân chúng đến chầu chực vì việc riêng cũng đã về, người thì vui mừng vì được kiện, người thì không bằng lòng về lời phán xét đối với mình, và người khác nữa thì hy vọng phiên sau sẽ được vua xét đến.

Bà mẹ Alátđanh trông thấy hoàng đế đứng lên lui về tư cung và mọi người đều ra về, bà hiểu rằng ngày hôm nay vua sẽ không trở ra nữa. Bởi vậy bà cũng quyết định trở về nhà. Alátđanh trông thấy mẹ về mà vẫn mang theo lễ vật định dâng lên hoàng đế, không biết chuyến đi đạt kết quả thế nào. Lo rằng mẹ mang tin buồn về chăng, cậu không đủ sức mở miệng ra hỏi mẹ sự tình ra làm sao. Bà mẹ hiền từ chưa bao giờ đặt chân vào cung điện và cũng không hề hay biết tí gì về những công việc ở đấy, nói một cách rất thật thà, làm cho cậu con trai hết lo âu:

- Con ạ, mẹ đã nhìn thấy đức vua và mẹ chắc chắn là Người cũng nhìn thấy mẹ. Nhưng hình như Người quá bận với những kẻ ở hai bên tả hữu, ai cũng tranh nhau nói với Người, đến nỗi mẹ đâm thương hại không hiểu tại sao đức vua lại chịu vất vả và kiên nhẫn lắng nghe như vậy. Công việc cứ thế diễn ra rất lâu. Cuối cùng mẹ nghĩ chắc là đức vua mệt lắm bởi vì bất thần Người đứng lên và bỏ đi khá đột ngột, không muốn nghe những người sắp đến lượt trình bày. Việc đó làm cho mẹ khá thú vị. Quả vậy, mẹ cũng đã bắt đầu sốt ruột và hết sức mệt vì phải đứng lâu. Nhưng không hề gì, sáng mai mẹ nhất định trở lại. Có lẽ đức vua ngày mai sẽ không quá bận rộn như hôm nay.

Dù si tình đến bao nhiêu, Alátđanh cũng đành bằng lòng với lời phân trần của mẹ và đành phải kiên nhẫn thôi. Ít ra cậu cũng hài lòng thấy mẹ đã chịu được bước khó khăn nhất là dám đến trước mặt đức vua. Cậu hy vọng là theo gương những người đã tâu với vua trước mặt bà, bà cũng sẽ không do dự mà làm công việc được cậu ủy thác khi nào có cơ hội thuận tiện.

Ngày hôm sau, bà mẹ Alátđanh lại trở dậy rất sớm như hôm trước và lại mang cái lễ vật toàn châu báu đến hoàng cung. Nhưng việc làm của bà không được ích lợi gì. Cổng điện đóng kín. Người ta cho bà biết cứ hai ngày hoàng đế mới thiết triều một lần, như thế là ngày hôm sau bà lại phải đến nữa. Bà trở về nói cho con biết như vậy, và cậu con trai cũng đành phải cố kiên nhẫn thôi. Bà đi đến hoàng cung nhiều lần nữa, vào những ngày có thiết triều, chẳng có kết quả gì hơn. Có lẽ bà sẽ đến một trăm lần cũng đều vô ích như vậy nếu như hoàng đế không để ý thấy phiên triều nào bà cũng đứng đối diện với mình. Điều đáng lạ nữa là chỉ thấy những người có việc đến kêu với vua lần lượt theo thứ tự xếp hàng tiến lên trình bày, còn bà mẹ Alátđanh lại không làm như vậy.

Ngày hôm ấy, sau khi bãi triều và trở về hậu cung, hoàng đế bảo tể tướng:

- Ít lâu nay ta để ý thấy một người đàn bà phiên triều nào cũng đến rất đều đặn, mang theo một vật gì buộc trong tấm vải. Bà ta đứng suốt từ đầu cho đến lúc bãi triều và bao giờ cũng cố ý đứng trước mặt ta. Khanh có biết bà ta kêu xin việc gì không?

Tể tướng cũng chẳng rõ gì hơn hoàng đế, tuy vậy không muốn tỏ ra không biết.

- Tâu bệ hạ, – ông đáp – bệ hạ lạ gì bọn đàn bà thường hay kêu ca về những việc chẳng đâu vào đâu. Có lẽ thị này kêu lên hoàng thượng về việc bị người ta bán bột mì xấu cho hoặc là một việc nhỏ nhặt nào đại loại như vậy.

Hoàng đế không bằng lòng với câu trả lời ấy. Vua phán:

- Ngày thiết triều đầu tiên sắp tới đây, nếu người đàn bà ấy lại đến, khanh nhớ gọi lên để ta nghe thị nói.

Tể tướng không đáp mà chỉ hôn bàn tay và đặt lên đầu để tỏ ý rằng mình sẽ chịu mất đầu nếu dám quên lệnh đó.

Bà mẹ Alátđanh đã quá quen đến chầu chực các buổi vua thiết triều, bà chẳng nề hà vất vả miễn là tỏ cho con trai thấy bà không từ nan một việc gì có thể làm được, để cho cậu vui lòng. Bởi vậy, bà lại vào cung vua ngày vua thiết triều, và lại đứng ở trước điện đối diện với hoàng đế như thói quen của bà. Tể tướng chưa kịp bắt đầu một việc gì thì vua đã nhìn thấy bà mẹ Alátđanh. Xúc động về sự kiên nhẫn của bà, vua truyền cho tể tướng:

- Trước hết mọi sự, để khanh khỏi quên mất, ta nhắc lại. Kia người đàn bà ta nói với khanh hôm nọ. Hãy gọi thị đến, chúng ta hãy bắt đầu nghe và giải quyết công việc của thị trước!

Lập tức tể tướng trỏ bà cho viên thị vệ trưởng đang đứng chờ lệnh, và sai gã xuống dẫn bà lên.

Viên thị vệ trưởng đến gần bà mẹ Alátđanh. Theo hiệu của gã, bà đi theo đến tận chân ngai vàng. Gã để bà lại đấy và lui về chỗ cũ bên cạnh tể tướng. Bà mẹ Alátđanh đã học được cách thức của bao nhiêu người có việc tâu với vua mà bà trông thấy. Bà quỳ lạy dập đầu xuống tấm thảm phủ các bậc cấp dưới chân ngai và cứ phủ phục như vậy cho tới khi hoàng đế truyền bảo đứng lên. Bà đứng lên, hoàng đế liền phán:

- Bà già kia, đã lâu ta trông thấy bà cứ đến buổi triều là đến đứng ở lối đi lên điện từ đầu cho đến hết buổi. Bà đến đây có việc gì vậy?

Nghe lời phán hỏi, bà mẹ Alátđanh lại phủ phục một lần nữa rồi ngẩng lên đáp:

- Tâu lạy cửu trùng, trước khi trình bày với hoàng thượng nguyên do kỳ lạ và hầu như khó tin nữa đã khiến con đến trước ngai vàng tôn kính, cúi xin tha thứ cho con cái tội đã dám cả gan, nếu không nói là hỗn xược, đến cầu xin bệ hạ việc này. Nó đặc biệt quá, nên con run sợ và xấu hổ không dám tâu lên hoàng đế.

Để cho bà được tự do giãi bày, vua ra lệnh cho tất cả mọi người hãy lui ra ngoài điện, chỉ để lại một mình vua cùng tể tướng, sau đó bảo bà cứ việc tâu bày, không phải sợ hãi.

Bà mẹ Alátđanh chưa vừa lòng về thái độ của hoàng đế đã vui lòng miễn cho bà nỗi ngại ngùng phải nói ra trước đông người; bà còn lo nhà vua có thể nổi cơn thịnh nộ khi nghe lời cầu hôn bất ngờ. Bà nói tiếp:

- Tâu bệ hạ, con muốn cầu xin bệ hạ để được yên tâm trước, là Người sẽ tha thứ và xá tội cho, nếu như lời yêu cầu của con có chút nào xúc phạm đến oai danh của Người.

- Dù việc đó là thế nào chăng nữa, – hoàng đế đáp -ngay từ giờ ta tha tội cho bà, bà sẽ không phải chịu bất cứ một tội vạ nào. Bà cứ bạo dạn nói đi.

Sau khi đã cẩn thận rào đón trước sau, đúng như mọi người đàn bà sợ nhà vua nổi cơn thịnh nộ khi phải tâu trình một việc tế nhị như vậy, bà kể lại trung thành chuyện Alátđanh nhìn trộm công chúa Bađrunbuđua trong trường hợp như thế nào, mối tình nồng nhiệt nảy ra do cái nhìn vụng trộm ấy, những lời cậu nói với bà về mối tình si và tất cả những điều bà giảng giải cho con trai để hy vọng cậu từ bỏ mối tình đắm đuối xúc phạm đến hoàng thượng cũng như xúc phạm đến công chúa.

- Nhưng, – bà nói tiếp – không những cháu đã không nghe ra và thừa nhận mình quá to gan mà lại còn cứng đầu cứng cổ, khăng khăng đến mức dọa sẽ liều thân nếu con không chịu đến tâu xin bệ hạ gả công chúa cho cháu. Thật đúng là sau khi dằn vặt mình hết sức, con mới đành chiều theo ý cháu. Bởi vậy, một lần nữa xin dập đầu kêu bệ hạ mong Người tha tội không những cho con mà cả cho cháu đã dám có ý nghĩ táo tợn là tơ tưởng đến một bậc cao sang như công chúa.

Hoàng đế rất dịu dàng và nhân hậu lắng nghe bà, không chút tỏ vẻ giận dữ hay phẫn nộ, cũng chẳng chế giễu lời cầu hôn của bà. Nhưng, trước khi đáp lời bà già hiền hậu vua hỏi bà mang theo vật gì bọc trong vải. Lập tức bà lấy cái bình sứ bà đã đặt xuống chân ngai vàng trước khi quỳ lạy, mở ra và dâng lên hoàng đế.

Không thể nào diễn tả được sự ngạc nhiên và kinh lạ của nhà vua khi nhìn thấy để dồn trong chiếc bình ấy bấy nhiêu châu ngọc, quá nhiều, quá quý báu, quá hoàn hảo, quá rực rỡ, viên nào cũng quá to mà vua chưa từng trông thấy bao giờ. Người khâm phục đến nỗi ngồi im sững sờ một lúc lâu. Cuối cùng chợt tỉnh, vua nhận lễ vật từ tay bà mẹ Alátđanh trao, và vui sướng thốt lên:

- Chao! Thật đẹp làm sao! Thật đẹp làm sao!

Sau khi ngắm nghía và mân mê từng viên một gần như hết lượt cả số ngọc ấy, vua quay sang tể tướng, chỉ cho ông xem chiếc bình và nói:

- Hãy xem đây, khanh có đồng ý là trên thế giới không ở đâu có vật quý báu hơn, hoàn hảo hơn thế này không?

Tể tướng cũng rất lấy làm thú vị. Hoàng đế nói tiếp:

- Nào, khanh nghĩ sao về món tặng phẩm này? Có phải nó xứng đáng với công chúa con gái ta; và có phải với cái giá này ta có thể gả nó cho người đến cầu hôn?

Những lời của vua làm cho tể tướng hết sức xúc động. Cách đây ít lâu, hoàng đế có để lộ cho ông biết ý định sẽ gả công chúa cho một người con trai của ông. Ông e rằng – và nỗi lo sợ này không phải là vô căn cứ – hoàng đế bị lóa mắt trước món lễ vật quá quý báu và quá kỳ lạ thế này, sẽ thay đổi ý kiến chăng. Ông tiến đến gần rỉ tai vua:

- Tâu bệ hạ, không ai có thể nói là lễ vật này không xứng đáng với công chúa. Nhưng cúi xin bệ hạ thư cho thần ba tháng trước khi Người quyết định. Thần hy vọng rằng, trước khi hết hạn ấy thì con trai thần, mà bệ hạ đã có lần tỏ ý là có thể hạ cố, chắc sẽ dâng được lên Người một tặng vật có giá trị hơn tặng vật của Alátđanh, một kẻ bệ hạ chưa hề biết.

Mặc dù tin chắc tể tướng sẽ không thể nào tìm được cho con trai một tặng phẩm có giá trị như thế này để dạm hỏi công chúa, hoàng đế vẫn lắng nghe và chuẩn y lời thỉnh cầu đó. Bởi vậy, quay sang bà mẹ Alátđanh, Người nói:

- Bà già kia, bà hãy trở về nhà, và nói cho con trai bà biết là ta chấp nhận lời bà vừa xin cho nó, nhưng ta không thể cho công chúa thành gia thất trước khi sắm sanh đồ đạc trong nhà cho cháu, công việc này phải mất ba tháng mới xong. Vậy ba tháng nữa, bà hãy trở lại.

Bà mẹ Alátđanh trở về rất vui mừng vì nghĩ rằng với địa vị của mình, từ đầu vẫn tưởng như không thể nào gặp được hoàng đế, ấy thế mà lại nhận được một câu trả lời tốt đẹp, chứ không phải là một lời ruồng rẫy, nó sẽ làm cho bà vô cùng bối rối. Thấy mẹ trở về, Alátđanh chú ý hai điều làm cho cậu tin là bà mang về tin vui: một là, bà trở về sớm hơn thường lệ và hai là, nét mặt bà rạng rỡ.

- Thế nào, thưa mẹ? Con có nên hy vọng chăng hay là phải chết vì tuyệt vọng?

Cất tấm mạng che mặt và ngồi xuống phản bên cạnh con trai, bà từ tốn đáp:

- Con ơi! Để cho con đỡ phải sốt ruột, mẹ nói ngay rằng con không phải nghĩ đến chuyện chết. Ngược lại con có lý do để mà hài lòng.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.