Trong một thành phố nọ thuộc nước Ba Tư, có hai anh em nhà kia. Người anh tên là Catxim, người em tên là Ali Baba. Cha họ chết đi, để lại ít của cải, được chia thành hai phần giống nhau; những tưởng số phận họ rồi cũng sẽ giống nhau, không ngờ sự tình cờ lại xui nên khác.
Catxim cưới vợ, người vợ này chẳng bao lâu sau khi kết hôn, được thừa kế một cửa hiệu đàng hoàng cùng một kho đầy hàng hóa tốt, lại thêm nhiều ruộng đất nữa, khiến cho gã trở thành một trong những thương nhân giàu có nhất thành phố.
Ali Baba, ngược lại, lấy một người vợ cũng nghèo như mình, ở nhà cửa tồi tàn. Để kiếm sống và nuôi con, anh ta chẳng có nghề ngỗng gì ngoài việc vào một khu rừng ở gần, chặt củi xếp lên lưng ba con lừa, đó là tất cả sản vật của anh, mang về phố bán.
Một hôm, Ali Baba vào rừng, chặt gần đủ củi cho ba con lừa thồ, thì chọt trông thấy có một đám bụi tung mù đang tiến thẳng về phía mình. Chăm chú nhìn, anh ta nhận ra đấy là một toán người đang cưỡi ngựa phi nước đại tới.
Mặc dù trong vùng chẳng nghe nói đến trộm cướp bao giờ, Ali Baba vẫn nghi những người cưỡi ngựa kia có thể là bọn đạo tặc. Không kịp nghĩ tới mấy con lừa của mình sẽ còn hay mất, anh chỉ tính tới chuyện thoát thân. Anh trèo lên một cây to, thân cây này cách mặt đất không cao lắm phân thành nhiều cành sát nhau, chỉ để hở một chỗ rất hẹp. Anh ta ngồi vào giữa chỗ phân cành ấy, yên trí là không ai có thể trông thấy mình, cây này mọc cạnh một tảng đá cao hơn nhiều, cách biệt các khối đá chung quanh, và hiểm trở đến mức không ai có thể trèo lên đỉnh bằng bất cứ lối nào.
Các kỵ sĩ cao lớn, vạm vỡ, cưỡi những con ngựa tốt và được trang bị vũ khí đầy đủ, đến gần tảng đá thì xuống ngựa. Ali Baba đếm được bốn mươi người. Nhìn vẻ mặt và cách ăn mặc của họ, không nghi ngờ gì nữa, anh cho đấy là những tên cướp. Anh không nhầm: quả vậy, đấy là những tên cướp, nhưng chúng không gây chuyện ở quanh vùng mà đi cướp bóc thật xa và lấy nơi đây làm chỗ hẹn; những điều trông thấy xác nhận ý nghĩ ấy của anh.
Các kỵ sĩ tháo cương, buộc ngựa lại, lấy một túi đại mạch buộc trên lưng treo vào cổ mỗi con vật cho nó ăn, rồi mỗi tên vác một cái hòm của nó. Phần lớn các hòm trông nặng đến nỗi Ali Baba cho rằng đều chứa đầy vàng hoặc bạc.
Kỵ sĩ mà Ali Baba thấy có vẻ là tên cầm đầu cả bọn, cũng vác cái hòm của nó như những tên khác, tiến đến gần tảng đá, sát ngay gốc cây anh đang nấp. Sau khi vạch bụi bỏ đi mấy bước, hắn đọc rất rành mạch mấy tiếng: “Vừng ơi, hãy mở ra.” Tên cầm đầu bọn cướp vừa đọc xong, lập tức một cánh cửa mở. Sau khi chờ cả bọn vào xong, hắn cũng vào và cánh cửa đóng lại.
Bọn cướp ở lại rất lâu đằng sau tảng đá. Ali Baba sợ nếu mình bỏ trốn chẳng may một tên hoặc cả bọn đi ra trông thấy thì chết, đành ngồi yên trên cây và kiên nhẫn chờ đợi. Tuy cũng có lúc anh nảy ra ý muốn đoạt hai con ngựa, cưỡi một con, dắt một con và xua ba con lừa chạy về phố, nhưng cứ phân vân sợ bị bắt, cuối cùng đành giữ đạo ăn chắc.
Cuối cùng, cánh cửa lại mở, bốn mươi tên cướp từ trong hang đi ra. Tên cầm đầu hồi nãy vào sau rốt, nay lại là người ra đầu tiên. Ali Baba trông thấy cả bọn lần lượt đi qua trước mặt tên đầu lĩnh, và tên này đọc:
“Vừng ơi, hãy đóng cửa lại,” thế là cánh cửa đóng lại ngay. Bọn cướp đến tháo dây ngựa của mình. Buộc chiếc hòm lên lưng, rồi lên yên. Khi tên đầu lĩnh thấy cả bọn đã sẵn sàng, hắn đi lên đầu đoàn, và bọn cướp bỏ đi theo con đường cũ.
Ali Baba chưa tụt xuống khỏi ngọn cây ngay, anh tự nhủ: “Biết đâu chúng chẳng quên một thứ gì và quay trở lại; ta sẽ bị chúng bắt được.” Đưa mắt nhìn theo đợi cho đến khi cả bọn đi mất hút, rồi chờ một hồi lâu nữa cho thật yên tâm, anh mới xuống, vẫn còn nhớ câu thần chú tên đầu lĩnh bọn cướp dùng để mở và đóng cánh cửa, anh tò mò muốn thử xem nếu mình đọc thì có được hiệu quả ấy hay không. Anh vạch bụi cây; nhận ra một cánh cửa khuất đằng sau. Anh đến trước cửa và đọc: “Vừng ơi, hãy mở ra,” thế là lập tức cánh cửa mở rộng. Ali Baba nghĩ mình sẽ bước vào một nơi tối tăm, anh ngạc nhiên thấy trước mắt mình là một cửa hang rộng rãi, sáng sủa, do tay người đào, bên trên vòm khá cao, có mở một lỗ thông hơi để lấy ánh sáng từ trên chiếu vào. Trong hang có nhiều thức ăn dự trữ, hàng đống hàng hóa đắt tiền, lụa là, gấm vóc, những tấm thảm quý, và nhất là tiền vàng và tiền bạc đổ thành đống hoặc chứa trong những cái bị túi da xếp chồng lên nhau. Của cải tiền bạc nhiều đến mức anh nghĩ cái hang này được dùng làm sào huyệt của bọn cướp không phải từ nhiều năm mà có lẽ từ nhiều thế kỷ, hết bọn này đến bọn khác kế tục đến đây.
Không chút đắn đo, Ali Baba bước vào hang. Anh vừa vào khỏi, cánh cửa đóng lại ngay, nhưng anh không chút sợ hãi. Anh đã nắm được câu thần chú để mở cửa.
Anh không màng gì đến bạc mà chỉ chú ý đến tiền vàng, đặc biệt những thứ đựng sẵn trong các túi. Anh lấy nhiều túi, mang ra làm nhiều lần, tùy theo sức có thể mang nổi và vừa đủ cho ba con lừa thồ. Anh đi lùa ba con lừa đang tản mát trở về, đưa đến gần tảng đá, xếp các túi vàng lên, rồi lấy củi chất lên trên để che mắt mọi người. Xong đâu đấy, anh đến trước cửa, vừa đọc xong câu thần chú “Vừng ơi, hãy đóng cửa lại,” là cửa đã sập lại ngay, bởi vì mỗi lần có người vào thì cửa tự đóng, còn mỗi khi có người từ trong hang ra thì cửa vẫn để ngỏ.
Làm xong, Ali Baba trở về thành phố. Đến nhà, anh đánh đàn lừa vào sân sau và đóng cổng lại thật cẩn thận. Anh dỡ ít củi xếp bên trên rồi mang các túi vàng vào nhà đặt trước mặt vợ lúc ấy đang ngồi trên một chiếc ghế dài.
Cô vợ nhấc thử các túi, thấy chứa đầy tiền, đâm nghi chồng vừa đi ăn trộm ở đâu đó về; vì vậy khi anh mang hết các túi vào nhà, chị không nhịn được nữa:
- Ali Baba này, sao anh khốn nạn đến mức… Ali Baba vội ngắt lời:
- Ấy, mình ơi, chớ có làm toáng lên vậy. Tôi không phải là đứa ăn trộm, trừ phi là trộm của quân kẻ trộm. Hãy lắng nghe tôi kể hết vận may, mình sẽ thôi nghĩ xấu về chồng.
Anh dốc các túi thành một đống vàng lớn, làm cô vợ lóa cả mắt, xong anh kể lại câu chuyện từ đầu đến cuối, rồi dặn vợ, điều quan trọng hơn hết là phải giữ bí mật.
Người vợ qua cơn lo sợ, cùng với chồng vui mừng về vận may vừa đến. Chị muốn đếm từng đồng một tất cả đống vàng trước mặt. Ali Baba nói:
- Mình ơi, mình chẳng khôn ngoan chút nào, mình định làm gì đấy? Đến bao giờ mình mới đếm xong? Tôi ra đào một cái hố và chôn ngay đi, chúng ta không được để mất thời giờ.
- Giá mà chúng ta ang áng biết là có được bao nhiêu cũng thích. Tôi sang bên nhà hàng xóm mượn cái đấu, tôi sẽ đong trong khi mình đào hầm.
- Mình ạ, – Ali Baba lại nói – việc mình làm chẳng có lợi ích gì đâu, nếu mình tin tôi thì nên nghỉ đi cho khỏe. Nhưng thôi, mình muốn làm gì thì cứ làm, có điều là phải giữ bí mật.
Để thỏa sự mong muốn của mình, vợ Ali Baba đến nhà Catxim, ông anh chồng, cách cũng chẳng xa.
Catxim không có nhà, chị đành hỏi vợ gã, xin cho mượn cái đấu một chốc. Người chị dâu hỏi muốn mượn đấu to hay đấu bé, vợ Ali Baba xin mượn cái bé thôi.
- Rất sẵn lòng, – người chị dâu nói – thím chờ cho một lát, tôi mang ra ngay.
Cái đấu được tìm thấy ngay, nhưng bà chị dâu xưa nay vẫn biết gia đình Ali Baba nghèo, tò mò muốn biết rõ cô em dâu hôm nay mượn đấu về đong hạt gì, liền nghĩ ra cách bôi một ít mỡ bò vào bên dưới đáy. Trở lại đưa cái đấu cho vợ Ali Baba, xin lỗi để thím chờ lâu, vì tìm mãi mới thấy.
Vợ Ali Baba về nhà, để cái đấu lên đống vàng, đong và đổ sang chiếc ghế dài. Đong xong, chị rất hài lòng vì được con số khá lớn, và mách với chồng vừa lúc anh đào xong hố.
Trong khi Ali Baba chôn vàng, chị vợ muốn tỏ cho chị dâu biết mình mau mắn và đúng hẹn, liền mang trả chiếc đấu ngay, nhưng không để ý có một đồng vàng dính vào dưới đáy.
- Chị ạ, chị thấy là em chẳng giữ lâu cái đấu của chị làm gì; em mang trả chị đây, cảm ơn chị lắm.
Vợ Ali Baba vừa sấp lưng đi, người chị dâu đã nhìn vào đáy đấu, và cực kỳ ngạc nhiên khi thấy có một đồng tiền vàng dính ở đó:
- Quái thật! Ali Baba đong vàng bằng đấu! Thằng khố rách ấy đào đâu ra lắm vàng thế nhỉ?
Ông chồng vắng nhà, như chúng ta đã biết, gã đang trông năm cửa hiệu, chiều tối mới về. sốt ruột muốn báo cho chồng hay một cái tin chắc chắn sẽ làm gã ngạc nhiên không kém mình, cô vợ thấy thời gian chờ đợi chồng về lâu bằng cả thế kỷ.
Catxim vừa bước vào nhà, cô vợ đã bảo:
- Anh Catxim à, anh tưởng anh giàu; anh nhầm rồi, Ali Baba muôn vạn lần giàu hơn, nó không đếm từng đồng vàng như anh, nó đong vàng bằng đấu.
Catxim hỏi câu nói khó hiểu đó có ý nghĩa gì, cô vợ thuật chuyện, và khoe mánh của mình dùng để biết sự thật. Thị đưa cho chồng xem đồng tiền vàng dính vào đáy đấu. Đồng tiền vàng xưa đến mức gã không biết cả niên hiệu ông vua đúc trên đó.
Đã không vui mừng vì điều may mắn vừa giúp chú em thoát khỏi cảnh khốn cùng, Catxim thấy dậy lên trong lòng sự ganh tị ghê gớm.
Hầu như suốt đêm gã không chạp mắt. Sáng hôm sau, mặt trời chưa mọc gã đã đến nhà Ali Baba. Gã chẳng coi Ali Baba là em trai mình; gã đã quên mất tiếng em kể từ ngày lấy được người đàn bà góa giàu.
Trông thấy em, gã nói ngay:
- Này Ali Baba, các người làm ăn kín tiếng thật. Các người làm ra vẻ nghèo khổ, bần cùng rách rưới, ấy thế mà các người đong vàng bằng đấu.
- Thưa anh, – Ali Baba đáp – em chẳng rõ anh định nói gì với em. Xin anh giảng giải rõ hơn.
- Chú đừng vờ vĩnh nữa! – Catxim nói.
Và giơ đồng tiền vàng mà vợ gã đưa cho, gã nói tiếp:
- Chú có được bao nhiêu đồng giống hệt đồng này, mà bà nhà tôi tìm thấy dính vào đáy cái đấu cho vợ chú mượn hôm qua?
Nghe nói như vậy, Ali Baba biết hai vợ chồng Catxim đã rõ điều bí mật mà anh cố giữ (mà lại do sự cứng đầu của chính vợ anh gây nên nữa chứ). Nhưng đằng nào việc cũng đã xảy ra rồi, có hối cũng chẳng sửa chữa được. Không để lộ cho ông anh thấy chút gì ngạc nhiên hoặc buồn bã, anh thú thật, và thuật lại cho ông anh nghe, do sự tình cờ thế nào mà phát hiện được sào huyệt của bọn cướp ở chỗ nọ. Anh ngỏ ý, nếu ông anh đồng lòng giữ bí mật, thì sẽ chia cho một phần kho tàng.
Catxim trả lời kiêu kỳ:
- Ta đồng ý như vậy, nhưng ta còn muốn biết chính xác kho tàng ấy ở đâu, dấu hiệu, đặc điểm, và nếu ta thích thì làm thế nào để tự ta vào được trong đó. Nếu không, ta sẽ tố giác chú mày với quan trên. Nếu chú mày từ chối, không những chú mày không hy vọng gì có thêm nữa, mà còn mất cả phần chú mày vừa chiếm được, trong khi ta lại được chia phần vì đã cáo giác chú mày.
Ali Baba, do bản chất tốt chứ không vì sợ hãi lời dọa dẫm láo xược của ông anh vô sỉ, nói cho gã biết đầy đủ những điều gã muốn biết, kể cả câu thần chú nhất định phải dùng đến, nếu ai muốn vào hang cũng như muốn từ đó ra ngoài.
Catxim không hỏi Ali Baba nhiều hơn. Gã từ giã em ra về, và quyết tâm phỗng tay trên. Hy vọng một mình chiếm gọn cả kho tàng, sáng hôm sau gã lên đường thật sớm, trước khi trời rạng, cùng mười con la mang những hòm to tướng mà gã định sẽ chứa đầy vàng; lại còn tính toán, tùy theo số của cải sẽ thấy trong hang, chuyến sau nếu cần thì đưa đi nhiều súc vật hơn nữa để chở.
Theo con đường Ali Ba ba chỉ dẫn, gã đến gần tảng đá và nhận ra những dấu hiệu cùng cây cổ thụ mà Ali Baba đã ẩn nấp. Gã tìm được cái cửa và để mở ra gã niệm thần chú “Vừng ơi, hãy mở cửa ra.” Cửa mở, gã đi vào hang, lập tức cửa đóng lại. Xem xét cái hang, gã lóa mắt khi nhìn thấy quá nhiều của cải, hơn cả sự tưởng tượng của gã khi nghe Ali Baba thuật lại. Niềm thán phục càng tăng khi gã xem xét kỹ từng vật riêng biệt.
Vốn keo kiệt và tham lam của cải, hẳn gã sẽ dành suốt cả ngày để ngắm nghía bao nhiêu là vàng bạc tiền của nếu không chợt nhớ ra, mình đến đây cốt để lấy vàng thồ nặng mười con la mang về chứ không phải chỉ để xem.
Gã liền lấy một số túi, sức bao nhiêu mang ra bấy nhiêu; ra tới cửa, đầu óc còn đang mải nghĩ làm sao mang được nhiều hơn nữa, gã đâm quên khuấy mất câu thần chú. Đáng lẽ phải nói: “Vừng ơi, hãy mở ra”, gã lại niệm: “Đại mạch ơi, hãy mở ra” và rất ngạc nhiên thấy cánh cửa không mở mà cứ đóng im ỉm. Gã gọi tên nhiều loại hạt khác, trừ tiếng vừng, và cửa vẫn không chịu mở ra cho.
Catxim không chờ đợi cơ sự này. Trong cơn nguy cấp, gã đâm kinh hoàng. Và càng cố đập óc để nhớ lại tiếng vừng, gã càng làm cho trí nhớ rối như mớ bòng bong. Chẳng mấy chốc cái tiếng ấy biến mất như cả đời gã chưa từng nghe nói đến nó bao giờ. Gã ném xuống đất những túi tiền vừa lấy, và sải bước đi đi lại lại dọc ngang trong hang đá. Bao nhiêu của cải đổ đống dưới chân không còn làm gã động lòng mảy may.
Chúng ta hãy để cho Catxim khóc than cho số phận gã. Tên bất lương ấy chẳng đáng cho ta thương hại.
Đến trưa, bọn cướp trở lại cái hang; sắp tới nơi, chúng trông thấy đàn la của Catxim gần tảng đá con nào cũng mang hòm. Lo lắng về cảnh tượng mới lạ này, chúng cho ngựa phi nước đại đến, khiến lũ la, mà Catxim đã quên không buộc, sợ hãi chạy tản mác trong rừng, xa đến nỗi mất hút không nhìn thấy nữa.
Bọn cướp không thèm đuổi theo các con la. Điều quan trọng hơn đối với chúng là tìm xem chúng thuộc về ai. Trong lúc vài ba tên lùng sục quanh tảng đá, tên đầu lĩnh cùng cả bọn xuống ngựa, tuốt kiếm cầm tay và đi thẳng tới trước cửa, đọc câu thần chú; cánh cửa liền mở ra.
Catxim ở trong hang nghe tiếng ngựa đến gần, biết chắc bọn cướp trở về, và mình sắp chết đến nơi. Quyết định làm điều may ra thì thoát thân được, gã chờ sẵn để khi cánh cửa vừa mở ra thì lao ra ngoài. Sau khi nghe được tiếng vừng mà gã đã quên khuấy mất và thấy cánh cửa vừa mở, gã lập tức lao ra đột ngột đến nỗi xô ngã cả tên đầu lĩnh. Nhưng gã không thể nào chạy thoát khỏi những tên cướp khác, tên nào cũng lăm lăm kiếm ở tay, và bị chúng giết chết ngay lập tức.
Điều quan tâm đầu tiên của bọn cướp sau khi giết chết Catxim là vào ngay trong hang: chúng thấy ở gần cửa hang những chiếc túi gã bắt đầu mang ra đấy, định xếp lên các con la; chúng liền đưa trở về chỗ cũ mà không để ý nhận thấy thiếu phần Ali Baba đã lấy đi hôm trước. Họp nhau lại để bàn bạc về sự kiện vừa rồi, chúng hiểu ngay vì đâu Catxim không ra được ngoài hang, nhưng không làm sao sáng tỏ bằng cách nào gã vào được đến đây. Cũng có ý kiến gã có thể từ trên nóc hang tụt xuống, nhưng lỗ thông ánh sáng ở quá cao, và phía ngoài tảng đá quá hiểm trở, loại trừ khả năng có thể vào bằng con đường đó. Cả bọn đành chịu không làm sao lý giải được. Bọn chúng không thể tin là gã vào qua cửa trừ phi gã biết được câu thần chú. Bọn cướp chắc chắn là chỉ có bọn chúng mới biết điều bí mật. Ở chỗ này chúng đã nhầm vì không hay là Ali Baba tình cờ nghe trộm được, nên cũng là người biết rõ câu thần chú ấy.
Cho dù sự việc đã xảy ra cách nào chăng nữa thì nó cũng quan hệ tới sự an toàn cho tài sản chung của cả bọn, lũ cướp thỏa thuận xả thây Catxim ra làm bốn mảnh, đặt gần cửa ra vào phía trong hang mỗi bên hai mảnh, để làm khủng khiếp bất kỳ kẻ nào dám to gan làm một việc như thế nữa, trừ phi kẻ đó đến một thời gian rất lâu sau, khi mùi hôi thối của xác chết đã tiêu tan mất hết. Quyết định xong, chúng thực hiện ngay; và khi không còn việc gì cầm chân lại nữa, chúng lên ngựa đến những nơi các đoàn nhà buôn mang hàng hóa thường hay qua lại, để đón đường, đâm chém và cướp bóc như thường lệ.
Trong lúc ấy, vợ Catxim rất lo lắng thấy trời tối mịt rồi mà chồng chưa về. Thị hoảng hốt chạy đến nhà Ali Baba:
- Chú ơi, – thị nói – chắc chú cũng đã biết là anh Catxim của chú đi vào rừng có việc gì rồi. Trời tối đã lâu mà không thấy anh ấy về, tôi lo có việc gì không may xảy ra cho anh ấy chăng.
Ali Baba không lạ gì về chuyến đi của ông anh, sau khi nghe những lời gã thốt ra hôm qua. Chính vì vậy anh cố tình không vào rừng hôm ấy để khỏi làm phiền đến gã. Không tỏ ý trách móc để khỏi xúc phạm đến bà chị dâu hoặc ông anh trai, nếu gã còn sống, anh bảo thị chớ nên quá hoảng hốt, chắc chắn Catxim nghĩ là không nên trở về nhà lúc đầu hôm đó thôi.
Vợ Catxim tin ngay, và càng dễ tin bởi vì thị biết chồng thị phải hành động bí mật là điều cực kỳ quan trọng. Thị trở về nhà, kiên nhẫn chờ đợi cho đến nửa đêm. Nhưng sau nửa đêm, thị càng hoảng hốt, càng đau khổ hơn, nhất là vì biết rõ mình không được phép khóc lóc kêu la ầm ĩ làm kinh động hàng xóm. Thế là, nếu lỗi lầm của thị là vô phương cứu chữa, thì thị lấy làm hối hận về tính tò mò rồ dại của mình, vì sự ganh tị đáng chê trách, đã đi sâu vào chuyện làm ăn của em trai và em dâu. Thị khóc suốt đêm, vừa tảng sáng, chạy vội tới nhà báo tin cho em rõ bằng nước mắt hơn là lời nói.
Ali Baba không chờ chị dâu phải nhờ anh chịu khó đi tìm xem ông anh ra sao rồi. Anh vội thắng con lừa, rồi sau khi khuyên giải chị dâu chớ quá buồn phiền, anh đi thẳng vào rừng. Không gặp trên đường đi người anh hoặc đàn la, tới gần tảng đá, nhận thấy có vết máu gần cửa hang, anh biết đây là dấu hiệu không hay rồi.
Anh đến trước cửa hang, đọc câu thần chú; cửa mở, và quang cảnh đáng buồn hiện ra trước mắt: thi thể ông anh bị xả thành bốn mảnh vứt ở hai nơi.
Không chút do dự, quên đi cách đối xử tàn tệ của anh đối với mình, Ali Baba tính ngay tới chuyện làm lễ mai táng. Anh tìm trong hang những thứ có thể gói bốn mảnh thi thể, buộc lên lưng một con lừa rồi xếp củi lên trên để che mắt thế gian. Anh lại vội vã xếp lên lưng hai con lừa kia những túi đầy vàng, rồi cũng lại chất củi lên, giống hệt như lần trước, xong đâu đấy, niệm thần chú đóng cửa hang lại và tìm đường trở về nhà. Anh chỉ đánh hai con lừa chở vàng vào nhà mình và sau khi giao cho vợ việc cất dỡ hàng, cũng như khi nói vắn tắt về việc gì đã xảy ra cho Catxim, anh đánh con lừa kia sang nhà chị dâu.
Ali Baba gõ cửa, người ra mở cửa là Mocjian, một người ở gái lanh lợi, sáng ý và giàu mưu mẹo, có thể làm đến nơi đến chốn những công việc khó khăn nhất; xưa nay Ali Baba từng biết vậy. Vào trong sân, anh dỡ củi và hai túi kia xuống rồi gọi riêng Mocjian ra bảo:
- Mocjian à, điều đầu tiên ta yêu cầu ở cô là tuyệt đối giữ bí mật. Cô sẽ thấy nó cần thiết đến mức nào cho chủ của cô cũng như cho ta. Kia là thi hài chủ cô trong hai cái gói. Chúng ta cần phải chôn cất thi thể anh ấy như thể anh ấy qua đời một cách tự nhiên vậy. Cô hãy để ta bàn chuyện với chủ cô, và chú ý lắng nghe những điều ta nói.
Mocjian đi báo cho bà chủ hay. Ali Baba theo chân cô vào nhà. Người chị dâu nôn nóng hỏi:
- Thế nào chú? Chú có mang tin gì của anh về cho chị đấy? Xem vẻ mặt chú thì chẳng phải là tin vui.
- Chị ạ, tôi không thể nói gì với chị nếu chị không hứa sẽ lắng nghe tôi từ đầu chí cuối mà không mở miệng nói một lời nào. Trong cơ sự này, điều quan trọng không kém đối với tôi, vì lợi ích của chị cũng như sự yên ổn của tôi, là phải hết sức bí mật.
- Ôi! – Người chị thốt lên, nhưng không cao giọng – Qua câu mở đầu này tôi biết là anh ấy không còn nữa, nhưng đồng thời tôi cũng nhận ra cần phải giữ bí mật như lời chú dặn. Thôi đành phải nén lòng vậy, chứ biết làm sao; chú nói đi, tôi nghe đây.
Ali Baba kể cho chị dâu nghe đầu đuôi câu chuyện cho tới khi lấy được xác Catxim về, rồi nói tiếp:
- Chị ạ, việc đã xảy ra quả là đau buồn cho chị, nhất là vào lúc chị không chờ đợi chút nào. Mặc dù điều bất hạnh chẳng có gì bù đắp được, nhưng nếu có điều gì khả dĩ an ủi chị chừng nào, ấy là tôi khuyên chị nên lấy tôi, để có thể gộp phần của cải của trời vừa cho tôi vào tài sản của chị; tôi bảo đảm là vợ tôi sẽ không ghen tuông, và hai người rồi sẽ sống hòa thuận. Nếu chị chấp nhận điều đó thì chúng ta phải nghĩ cách cho ông anh tôi có vẻ như qua đời một cách tự nhiên. Việc này chị có thể tin tưởng ở Mocjian; về phần mình, tôi sẽ hết sức góp phần cho được việc.
Đối với người vợ góa của Catxim, còn đám nào tốt hơn điều Ali Baba vừa đề nghị: Cùng với những tài sản người chồng cũ để lại, lấy được một người chồng mới giàu có hơn, thậm chí với kho tàng vừa phát hiện, còn có thể giàu nhiều hơn. Thị không khước từ, ngược lại còn cho đấy là một cái lý phải chăng để mang lại những niềm an ủi. Thị lau khô nước mắt vừa tuôn lã chã và nén những tiếng gào la thông thường của đàn bà khi chồng mất, chừng ấy đủ chứng tỏ cho Ali Baba biết thị chấp nhận lời anh cầu hôn.
Sau khi dặn dò Mocjian sắm thật tốt vai tuồng, anh để người vợ góa của Catxim lại đó, và đánh lừa về nhà mình.
Mocjian không chậm trễ; cô đi ra cùng một lúc với Ali Baba, đến nhà một thầy lang vẫn bốc thuốc trong vùng. Cô gõ cửa hỏi mua một thứ thuốc viên rất công hiệu dùng trong những căn bệnh hiểm nghèo. Thầy lang nhận tiền, giao thuốc, và hỏi ở nhà chủ cô ai là người ốm nặng vậy. Mocjian thở dài:
- Ôi! Chính là Catxim, ông chủ hiền từ của tôi, chứ còn ai nữa! chẳng biết ông ấy mắc bệnh gì, mà chẳng nói năng ăn uống được gì sất.
Nói xong, cô mang thuốc về nhà, mà thực tế Catxim không còn dùng được nữa.
Ngày hôm sau, lại chính Mocjian đến đập cửa vẫn nhà thầy lang ấy, và nước mắt lưng tròng, hỏi mua một loại thuốc nước mà người ta vẫn dùng cho những người ốm thập tử nhất sinh uống, nếu loại thuốc này mà không công hiệu, thế là biết chẳng hy vọng gì cứu chữa nữa.
- Chao ôi! – Cô buồn rầu nói khi nhận chai thuốc trong tay – Tôi e rằng thứ thuốc nước này rồi cũng chẳng công hiệu gì hơn loại thuốc viên hôm qua. Ôi! Tôi đến bỏ mất một ông chủ tốt bụng xiết bao!
Mặt khác, bà con làng xóm thấy suốt ngày hai vợ chồng Ali Baba nhiều lần qua lại nhà Catxim, vẻ mặt âu sầu. Bởi vậy tối đến chẳng ai ngạc nhiên khi nghe tiếng khóc than thảm thiết của vợ Catxim và nhất là của Mocjian, báo tin gã đã qua đời.
Ngày hôm sau, rất sớm, ngay khi trời vừa bắt đầu rạng, Mocjian vốn biết ở gần chợ có một người thợ chữa giày rất già bao giờ cũng mở hiệu đầu tiên, sớm hơn tất cả mọi người, liền đến tìm ông ta. Cô đến gần, cất tiếng chào, và cúi đầu giúi vào tay ông một đồng tiền vàng.
Baba Muxtafa, đó là tên thường gọi của ông thợ chữa giày, bản tính vui nhộn, bao giờ cũng tìm được một câu hóm hỉnh, nhìn kỹ đồng tiền, bởi vì trời chưa thật sáng tỏ, sau khi nhận ra đúng là vàng, liền nói:
- Quà mở hàng tốt đẹp làm sao! Nào, có việc gì nào? Thân già này sẵn sàng làm giúp.
- Cụ Baba Muxtafa ạ, cụ hãy cầm những thứ cần thiết để khâu, và nhanh chóng đi theo cháu, nhưng với một điều kiện là đến một nơi nào đó, cụ phải để cho cháu bịt mắt cụ lại.
Nghe vậy, Baba Muxtafa làm ra vẻ khó dễ:
- Ô! Ô! Cô lại muốn già này làm một việc gì trái với lương tâm hay danh dự của già chăng?
Mocjian giúi thêm một đồng tiền vàng nữa vào tay ông và nói:
- Nói có trời chứng giám, cháu đâu dám đòi hỏi cụ làm việc gì trái với lương tâm. Xin cụ hãy đến đây, chớ sợ gì sất!
Baba Muxtafa đồng ý để cô dẫn đi, tới một nơi đã định, cô lấy khăn bịt mắt ông già lại rồi dắt đến phòng ông chủ vừa quá cố của mình; cô đưa thẳng ông vào phòng để xác chết, đã xếp bốn mảnh lại cho giống nguyên hình, rồi mới mở băng bịt mắt. Xong, cô nói:
- Cụ Baba Muxtafa, chính để khâu bốn mảnh kia lại với nhau mà cháu dẫn cụ tới đây. Xin cụ chớ để mất thời giờ, chừng nào cụ làm xong, cháu sẽ gửi cụ một đồng vàng nữa.
Baba Muxtafa khâu xong, Mocjian bịt mắt ông già ngay trong phòng, rồi sau khi trả cho ông đồng vàng thứ ba như đã hứa và dặn giữ bí mật, cô dẫn ông lão trở lại nơi bịt mắt lúc đến, mở khăn tay và để ông trở về. Cô còn cẩn thận đứng trông theo cho đến khi ông mất hút, để đề phòng ông lão nảy ra ý tò mò quay trở lại quan sát chính cô ta chăng.
Mocjian đã cho đun sẵn nước để rửa thi hài Catxim, bởi vậy khi Ali Baba đến, vừa lúc cô quay trở về, thì đã có thể lau rửa người, xức nước hương và khâm liệm ông theo đúng phong tục. Người thợ mộc, theo lời đặt hàng của Ali Baba, cũng vừa mang quan tài đến.
Để thợ mộc không nhận thấy điều gì khác thường, Mocjian đón nhận chiếc quan tài ở cổng; sau khi trả tiền và cho người thợ trở về, giúp Ali Baba đặt thi hài và đóng nắp quan tài xong, cô ra giáo đường báo tin mọi việc đã sẵn sàng để làm lễ an táng. Người của giáo đường chuyên lo việc lau rửa thi thể và khâm liệm, xin được làm công việc của họ, nhưng cô trả lời mọi sự đã xong xuôi.
Mocjian vừa quay về đến nhà, đã thấy giáo trưởng và các chức việc khác của giáo đường tới nơi. Bốn người hàng xóm vác quan tài lên vai, và theo sau viên giáo trưởng vừa đi vừa cầu kinh, đưa ra nghĩa địa. Mocjian, với tư cách là con ở của người quá cố, để đầu trần, nước mắt đầm đìa và bứt tóc; sau nữa là Ali Baba cùng những người hàng xóm, những người này thỉnh thoảng lại tách ra để lên đổi vai cho bốn người đang khiêng quan tài, cứ như vậy cho tới nghĩa địa.
Còn người vợ của Catxim, theo phong tục, ở lại nhà mà kêu la than khóc cùng bà con hàng xóm đến dự lễ tang, các bà cùng với người vợ góa lớn tiếng khóc than, làm buồn bã cả vùng.
Bằng cách đó, cái chết bất đắc kỳ tử của Catxim được che giấu và ngụy trang khéo léo giữa bốn người: Ali Baba cùng vợ, người vợ góa của Catxim và Mocjian, khiến cho không một ai trong thành phố hay biết chút gì mà thậm chí chẳng một ai gạn chút ngờ vực.
Ba bốn ngày sau khi chôn cất, Ali Baba chuyển số đồ đạc ít ỏi của mình cùng số tiền lấy được trong kho tàng của bọn cướp – tiền này chỉ chuyển vào ban đêm – sang nhà bà chị dâu góa, để ở đấy luôn, và báo tin cho xóm giềng bè bạn biết mình lấy bà chị dâu. Và, bởi vì những đám cưới kiểu ấy không phải là chuyện lạ trong tục lệ đạo Hồi, chẳng ai lấy việc đó làm ngạc nhiên.
Còn về cái cửa hiệu của Catxim, Ali Baba vốn có một đứa con trai lâu nay vẫn cho học việc ở một nhà buôn lớn và vẫn được người này khen là đức hạnh tốt. Anh cho luôn cậu con trai cái cửa hiệu ấy và còn hứa nếu con tiếp tục ăn ở cho phải đạo, thì sẽ cưới cho một cô vợ thật ra trò, xứng đáng với địa vị của cậu.
Chúng ta hãy để Ali Baba yên hưởng những ngày đầu tiên trong vận may của anh, mà nói về bốn mươi tên cướp. Chúng trở lại hang ổ trong rừng cùng vào lúc đã thỏa thuận với nhau, và đều ngạc nhiên hơn nữa khi thấy số túi vàng giảm bớt. Tên đầu lĩnh nói:
- Thế là chúng ta đã bị phát giác, và sẽ chết tất nếu không phòng bị. Nếu chúng ta không mau mau tìm ra phương sách đối phó, thì vô tình chúng ta để mất bao nhiêu của cải mà tổ tiên chúng ta và chúng ta đã vất vả gian nan biết bao mới có được. Căn cứ vào tình trạng thiệt hại ở đây thì rõ ràng tên kẻ cắp đã bất chọt biết được câu thần chú để mở cửa hang, và may mắn sao chúng ta trở về đúng lúc nó sắp ra. Nhưng nó không phải chỉ có một mình, một tên khác nữa cũng biết câu thần chú. Xác của nó được đưa đi và kho tàng chúng ta giảm bớt là những bằng chứng không thể chối cãi, và bởi vì không có dấu hiệu gì cho thấy có hơn hai đứa nắm được điều bí mật, vậy thì sau khi giết được một tên, chúng ta phải sát hạ nốt tên kia. Các bạn nghĩ sao, hở các trang hảo hán? Các bạn có đồng ý như kẻ này chăng?
Ý kiến của tên đầu lĩnh được cả bọn cho là hợp lý, chúng đều tán thưởng và đi đến thỏa thuận là phải bỏ công chuyện khác để lo riêng vụ này, và sẽ chưa thôi chừng nào chưa làm xong dự định. Tên đầu lĩnh lại nói:
- Tôi hoàn toàn tin tưởng ở sự dũng cảm và lòng gan dạ của các bạn, nhưng trước tất cả mọi sự, cần có một người trong các bạn gan góc, lanh lợi và tháo vát, vào thành phố không mang theo vũ khí và hóa trang thành một du khách từ nơi khác đến. Người ấy phải giở hết tài tháo vát của mình ra để dò hỏi xem trong phố người ta có bàn tán về cái chết bất thường của người nào không? Người ấy chính là kẻ chúng ta đã trừng trị một cách đích đáng, và phải dò xem nhà nó ở đâu. Đó là điều quan trọng chúng ta cần biết trước tiên, để khỏi có hành động gì rồi làm chúng ta hối hận, khi xuất đầu lộ diện ở một nơi đã từ lâu không ai hay biết hành tung chúng ta, mà chúng ta lại rất cần giữ nguyên tình trạng ấy vì lợi ích của mình. Nhưng, để khích lệ trang hảo hán trong số các bạn ở đây sẽ tình nguyện nhận làm việc ấy, và phòng ngừa vị đó nhầm lẫn báo với anh em một địa điểm sai có thể đưa đến nguy cơ tiêu diệt tất cả bọn, tôi xin cân nhắc xem trong trường hợp đó, vị ấy có nên tự ghép mình vào tội chết hay không.
Không chờ đợi cả bọn tỏ ý kiến, một tên cướp đứng ra nói:
- Tôi xin nhận và tôi lấy làm vinh quang xả thân vào chốn gian nguy để làm bổn phận. Nếu tôi làm không được việc, xin các bạn ít ra cũng nhớ cho là kẻ này không phải thiếu nhiệt tâm cũng như dũng khí, vì lợi ích chung của toàn đội.
Sau khi nhận lời khen nồng nhiệt của tên đầu lĩnh và của chúng bạn, tên cướp cải trang để không ai nhận được mặt. Từ giã đồng đội, nó ra đi trong đêm, và tính toán sao cho tới thành phố đúng vừa rạng sáng. Nó đến gần chợ, trông thấy chỉ một cái quán mở, ấy là quán của Baba Muxtafa.
Baba Muxtafa ngồi trên chiếc ghế xếp, tay cầm dùi sẵn sàng làm nghề. Tên cướp đến gần định cất tiếng chào, chạt nhận ra tuổi tác cao của lão, nó nói:
- Cụ già làm việc sớm thế. Lẽ nào cao tuổi như cụ mà mắt còn sáng vậy. Tôi e rằng khi trời sáng tỏ thì mắt cụ không còn đủ tốt để khâu nữa.
- Cho dù ngài là ai, – Baba Muxtafa đáp – đúng là ngài chưa biết rõ lão này. Tôi già thế này nhưng mắt tôi còn sáng lắm. Ngài không thể ngờ là cách đây chưa lâu, tôi đã khâu một xác chết ở một nơi còn kém sáng sủa hơn lúc này.
Tên cướp rất mừng là vừa tới nơi, nói chuyện với người đầu tiên, đã biết được điều khiến nó cất công đến tìm hiểu, mà không cần dò hỏi.
- Một xác chết ư? – Nó ngạc nhiên thốt lên. Và để khích ông già nói tiếp, nó lại hỏi: – Sao lại khâu một xác chết? Hẳn là cụ muốn nói khâu một tấm vải liệm người chết?
- Không, không, – Baba Muxtafa đáp – tôi biết tôi nói gì. Ngài muốn tôi mở miệng, nhưng ngài chẳng biết được gì thêm đâu.
Tên cướp không cần được giải thích sáng tỏ hơn nữa để tin chắc nó đã phát hiện được điều muốn tìm hiểu.
Nó rút ra một đồng tiền vàng đặt vào tay Baba Muxtafa và nói:
- Tôi chẳng muốn đi sâu vào điều bí mật của cụ làm gì mặc dù tôi có thể quả quyết với cụ là tôi sẽ chẳng cho ai biết nếu cụ tâm sự với tôi. Điều duy nhất tôi muốn nhờ cụ là hãy vui lòng cho tôi hay, hoặc dẫn tôi đến và chỉ cho tôi thấy ngôi nhà mà cụ đã khâu xác chết ấy.
Ông già nắm đồng tiền trong tay, sẵn sàng đưa trả lại:
- Cho dù có muốn thỏa mãn điều ngài nhờ, tôi xin quả quyết là không thể làm được, xin ngài hãy tin cho như vậy. Lý do là thế này: Người ta đưa tôi đến một chỗ bịt mắt tôi lại, mới dẫn tôi đến nhà; ở đấy tôi làm xong việc người ta lại bịt mắt và đưa tôi về chỗ cũ. Ngài thấy rõ tại sao tôi không có cách nào giúp ngài.
- Ít ra cụ cũng còn nhớ mang máng con đường mà người ta bịt mắt cụ rồi dắt đi chứ. Xin cụ hãy đi với tôi, tôi sẽ bịt mắt cụ đúng chỗ ấy, rồi hai chúng ta cùng đi theo con đường và rẽ những khúc quanh mà cụ còn nhớ được. Và bởi vì việc làm giúp nào cũng đáng được thưởng công đấy, xin biếu cụ một đồng vàng nữa. Nào, xin cụ hãy giúp cho tôi việc tôi nhờ!
Vừa nói, nó vừa giúi một đồng tiền nữa vào tay cụ già.
Hai đồng tiền vàng hấp dẫn Baba Muxtafa. Lão lặng yên ngắm nghía hai đồng tiền trong lòng bàn tay, vừa cố nghĩ xem nên làm thế nào. Cuối cùng, lão rút hầu bao của mình ra, bỏ hai đồng vàng vào đấy, và nói với tên cướp:
- Tôi không thể nói dứt khoát với ngài rằng tôi nhớ chính xác con đường người ta dẫn tôi đi. Nhưng vì ngài đã muốn như vậy thì chúng ta cùng đi, tôi sẽ cố gắng hết sức nhớ lại xem.
Baba Muxtafa đứng lên, khiến tên kẻ cướp rất bằng lòng. Không cần đóng cửa quán bởi vì cũng chẳng có gì đáng giá để mà sợ mất, lão dẫn tên cướp đến chỗ lần trước Mocjian đã bịt mắt lão. Tới nơi, lão nói:
- Chính chỗ này đây, người ta bịt mắt tôi ở đây, rồi tôi quay về phía ngài đang đứng đây này.
Tên cướp đã sắp sẵn một chiếc khăn tay, liền bịt mắt lão lại, rồi cặp kè dắt lão đi bên cạnh, nửa để cho lão dẫn đường, nửa tự nó dẫn đường lão; đi cho đến nơi lão dừng lại và nói:
- Có lẽ lão đi không quá chỗ này.
Quả thật lão đang đứng trước cửa nhà Catxim, nơi hiện Ali Baba ở. Trước khi cất chiếc khăn bịt mặt lão, tên cướp nhanh nhẹn đưa viên phấn cầm sẵn ở tay, đánh đấu vào cửa. Sau khi tháo khăn, hỏi lão có biết nhà này của ai không. Baba Muxtafa nói lão không phải là người cùng khu phố, cho nên không thể trả lời.
Tên cướp không thể moi gì hơn nữa từ miệng của Baba Muxtafa, liền cảm ơn lão đã chịu khó vì mình. Cho lão trở lại quán của lão, nó tìm đường dông lên rừng, bụng tin chắc là sẽ được đồng bọn hoan nghênh.
Ít lâu sau khi tên cướp và Baba Muxtafa chia tay nhau, Mocjian ra khỏi nhà có việc gì đấy. Lúc trở lại, thấy dấu phấn mà tên cướp vừa vẽ lên cửa, liền dừng lại để xem cho kỹ:
- Cái dấu ấy nghĩa là thế nào? – Cô tự hỏi – Có ai muốn làm hại chủ ta, hay là họ làm như vậy vì nghịch ngợm thôi? Dù với ý đồ nào đi nữa, thì ta cẩn tắc vô áy náy.
Cô liền lấy viên phấn, và bởi vì cửa mấy nhà liền đều giống hệt nhau, cô đánh dấu luôn mấy cái, vào cùng một nơi tương tự, rồi vào nhà mà chẳng nói gì với ông chủ hay bà chủ.
Trong thời gian đó, tên cướp vẫn tiếp tục đi, nó lên tới rừng và gặp đồng bọn rất sớm. Đến nơi, nó thuật lại chuyến đi thành công của mình, còn nói quá đi về sự may mắn là ngay từ phút đầu tiên đã gặp một con người cho biết sự việc đang điều tra, mà chắc chắn ngoài ông lão ra, chẳng còn ai có thể hay biết. Cả bọn lấy làm hài lòng. Sau khi khen ngợi sự nhanh nhảu của nó, tên đầu lĩnh cất lời nói với cả bọn:
- Các bạn ạ, chúng ta không được để mất thời giờ. Hãy lên đường, vũ trang đầy đủ, nhưng lại làm sao cho người ta khỏi thấy là chúng ta mang theo vũ khí. Chúng ta lại phải vào trong thành phố từng nhóm một, kẻ trước người sau, để đừng gây nên sự ngờ vực. Nơi hẹn gặp nhau là ở quảng trường lớn. Một số anh em đứng mạn bên này, một số khác đứng phía bên kia. Trong lúc ấy, tôi sẽ cùng anh bạn vừa mang tin tốt lành về với chúng ta đây đi nhận dạng ngôi nhà, để quyết định xem nên ra tay cách nào là hay nhất.
Lời tên đầu lĩnh được cả bọn nhiệt liệt tán thưởng.
Chẳng mấy chốc cả bọn sẵn sàng lên đường, chúng đi thành từng tốp hai, ba tên một, đi cách nhau khá xa, và vào gọn trong thành phố chẳng để ai ngờ vực. Tên đầu lĩnh và tên buổi sáng đã tới đây, vào sau rốt. Tên này dẫn chỉ huy của nó tới phố có nhà của Ali Baba. Đến trước ngôi nhà có đánh dấu phấn của Mocjian, nó bảo chính là nhà này đây. Nhưng, tiếp tục đi một quãng nữa để khỏi bị nghi ngờ, tên đầu lĩnh để ý thấy ngôi nhà tiếp theo cũng được đánh dấu ở cửa, vào cùng một chỗ ấy. Nó liền chỉ cho tên dẫn đường thấy và hỏi, vậy là nhà này hay nhà kia. Tên đưa đường bối rối, không biết trả lời thế nào, nhất là khi cùng với tên đầu lĩnh, nó thấy những bốn, năm nhà liền đều có vạch phấn giống nhau. Nó thề rằng nó chỉ đánh dấu mỗi một mà thôi, và nói tiếp:
- Tôi không rõ ai là người đánh dấu các nhà kia mà giống hệt nhau như vậy. Thú thật là tôi hoang mang chẳng nhận ra được mình đã đánh dấu nhà nào.
Tên đầu lĩnh thấy mưu đồ của mình đã bị ung từ trong trứng, liền đến quảng trường, gặp một tên đồng bọn. Nó sai báo cho tất cả biết, cả đội đã vất vả một chuyến vô ích, giờ chỉ còn có việc đi tìm đường tháo lui thôi. Chính nó rút trước, cả bọn lần lượt theo sau, vẫn với cung cách như lúc đến.