Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 571 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN ALI COJIA, NHÀ BUÔN THÀNH BÁTĐA

❊ ❊ ❊

-Tâu hoàng đế, – nàng Sêhêrazát kể – dưới triều đại hoàng đế Harun An-Rasít, ở thành phố Bátđa có một nhà buôn tên là All Côjia. Ông ta tuy không thuộc loại giàu có nhất, cũng chẳng phải hạng bần cùng. Vợ con không có, ông sống một mình trong ngôi nhà cha để lại. Vào thời gian đang sống thoải mái và bằng lòng về những công việc buôn bán của mình, thì ba đêm liền, ông có một giấc mộng giống nhau. Trong mộng, một ông cụ già đáng kính xuất hiện, nghiêm khắc nhìn ông và quở trách về việc ông chưa làm một chuyến hành hương về thánh địa La Mếchcơ.

Giấc mộng ấy xáo động sự yên tĩnh của All Côjia, làm cho ông rất bối rối. Vốn là một người Hồi giáo ngoan đạo, không phải ông không biết trong đời ai cũng bắt buộc phải hành hương về La Mếchcơ, ít nhất là một chuyến. Ngặt vì còn vướng ngôi nhà, đồ đạc và cửa hiệu chẳng biết phó thác cho ai, từ trước tới giờ ông vẫn cho đấy là những khó khăn để tự cho phép mình chưa làm nghĩa vụ và thay vào đó bằng cách siêng năng bố thí và làm những việc phước khác. Nhưng, từ hôm nằm mộng, lương tâm thôi thúc quá mạnh, khiến ông lo có thể xảy ra điều gì bất hạnh chăng, nên đi tới quyết định, thôi không nấn ná chần chừ nữa.

Để có thể làm cuộc hành hương vào năm tới, Ali Côjia bắt đầu bán đồ đạc, tiếp đó bán nốt cửa hiệu cùng phần lớn hàng hóa trong đó, chỉ giữ lại những thứ có thể mang đi buôn bán tại La Mếchcơ; còn ngôi nhà thì cho một người thuê trọ. Mọi việc sắp đặt như vậy rồi, ông sẵn sàng nhập bọn lên đường bất cứ lúc nào có đoàn lữ hành rời Bátđa đi La Mếchcơ.[1] Còn lại mỗi một việc phải làm là cất giấu số tiền một nghìn đồng vàng, mang theo thì có thể làm cho ông lúng túng trong khi hành hương, hơn nữa ông đã giắt theo đủ tiền ăn đường và để trang trải các khoản tiêu pha khác.

All Côjia liền chọn một cái vò lớn vừa phải, bỏ nghìn đồng vàng vào trong, rồi xếp đầy quả ôliu lên trên. Sau khi nút kỹ cái vò, ông mang đến nhà một người bạn cũng làm nghề buôn, và nói:

- Người anh em ạ, bạn đã biết là ít ngày nữa tôi sẽ lên đường hành hương về La Mếchcơ cùng với đoàn lữ hành. Xin bạn vui lòng cho tôi gửi vò ôliu này và giữ hộ cho đến khi tôi trở về.

Nhà buôn kia đáp nhã nhặn:

- Chìa khóa nhà kho của tôi đây, xin bạn hãy cầm lấy, mời bạn thân hành mang cái vò của bạn vào, bạn thấy chỗ nào thuận tiện xin cứ để vào đấy. Tôi xin hứa là bạn để đâu sẽ lại thấy nguyên đấy khi bạn trở về.

Ngày khởi hành của đoàn lữ hành tới, All Côjia cưỡi lên lưng con lạc đà chở những hàng hóa mà ông đã chọn, nhập vào đoàn, và đến La Mếchcơ an toàn vô sự.

Cùng với những người hành hương khác, ông viếng ngôi đền rất nổi tiếng, hằng năm được những người Hồi giáo từ khắp các quốc gia theo đạo này trên thế giới đến thăm, và thực hành đủ mọi lễ tiết quy định. Sau khi làm xong bổn phận của kẻ hành hương, ông mang bày hàng hóa của mình ra, định bán hoặc đổi chác.

Có hai nhà buôn đi qua; trông thấy hàng hóa của Ali Côjia quá đẹp, họ dừng lại ngắm nghía tuy không có nhu cầu mua. Thỏa mãn sự hiếu kỳ rồi, họ bỏ đi, một người nói với người kia: “Nếu vị thương nhân này biết được món tiền lãi sẽ kiếm được ở Cairô với số hàng hóa này, chắc hẳn ông ta sẽ mang hàng tới đó, ai lại dại đi bán ở đây, giá quá rẻ.”

All Côjia nghe được, và xưa nay cũng đã từng nghe nói không biết bao nhiêu lần về những điều kỳ thú bên Ai Cập, ông liền quyết định ngay tức khắc, nhân cơ hội này sang bên ấy một chuyến. Vậy là, sau khi đóng gói lại hòm hàng hóa của mình, ông không trở về Bátđa mà sáp nhập vào một đoàn lữ hành khác sắp sang Cairô, rồi lên đường đi Ai Cập.

Đến Cairô, ông thấy ngay không có gì phải hối tiếc về quyết định của mình. Công việc buôn bán ở đây tốt đẹp đến mức chỉ trong ít ngày ông đã bán hết hàng hóa, với số tiền lãi lớn quá mức mong đợi. Ông lại mua nhiều hàng hóa khác, với ý định mang về bán ở Đamát. Trong khi chờ đợi lập xong một đoàn lữ hành sẽ lên đường trong sáu tuần nữa, ông không chỉ bằng lòng đi xem những gì đáng thăm ở Cairô, mà còn đi viếng cả các kim tự tháp, và ngược dòng sông Nin một chặng khá xa, để xem các thành phố nổi tiếng nhất ở hai bên bờ.

Trong chuyến ghé Đamát, vì thành phố này nằm trên con đường của đoàn lữ hành đi Jerusalem, ông bạn nhà buôn thành phố Bátđa của chúng ta lợi dụng cơ hội ấy viếng ngôi đền vẫn được những người Hồi giáo xem là thiêng liêng nhất sau ngôi đền ở La Mếchcơ, và nhờ đó mà thành phố này cũng được gọi là Thành phố Thánh.

All Côjia thấy thành phố Đamát, với nguồn nước ngọt dồi dào, những thảm cỏ và vườn cây xanh tốt, đúng là một nơi tuyệt diệu, thực tế hơn hẳn những điều vẫn được mô tả trong sử sách mà ông từng được đọc. Ông nán lại đây một thời gian dài. Tuy vậy không quên mình là người Bátđa, cuối cùng ông lại lên đường. Đến thành phố Alép, ông dừng lại ít lâu, rồi từ đây, sau khi sang sông ơphơrát, ông theo đường tới Mútxun, với ý định sẽ xuôi dòng sông Tigrơ đến Bátđa để rút ngắn đường trở về.

Nhưng khi All Côjia đến Mútxun thì các thương nhân người Ba Tư, mà ông đã đánh bạn từ khi cùng nhau rời Alép và rất cảm mến vì thái độ lịch sự và cách chuyện trò khả ái của họ, chẳng khó khăn gì không thuyết phục được ông chớ nên chia tay, mà nên cùng nhau đi tiếp tới Sirazơ, từ Mútxun có thể ghé thăm các thành phố Xuntani, Rây, Cam, Casam, Ixpaham, trước khi đến Sirazơ[2]. Từ thành phố này ông còn vui chân theo bạn đi tới tận Ấn Độ, mới cùng nhau quay trở về Sirazơ.

Như vậy tính cả những thời gian lưu trú ở các thành phố, bảy năm trôi qua kể từ ngày All Côjia rời Bátđa cho đến khi ông quyết định trở về. Suốt thời gian ấy, người bạn mà ông gửi cái vò ôliu nhờ giữ hộ, không hề nghĩ tới ông cũng như tới cái vò. Đúng khoảng thời gian ông lên đường cùng một đoàn lữ hành rời Sirazơ, thì một tối, người bạn thương nhân của ông ăn cơm cùng gia đình, vô tình nhắc tới quả ôliu. Bà vợ chợt tỏ ý thèm, nói rằng đã lâu lắm trong nhà không thấy loại trái cây đó. Ông chồng nói:

- Nhân nói chuyện ôliu, bà làm tôi sực nhớ đến Ali Côjia, cách đây bảy năm trước khi lên đường đi La Mếchcơ, ông ta có gửi cho tôi một cái vò ôliu, tự tay ông mang cất trong kho nhà ta, bảo sẽ lấy lại khi trở về. Nhưng từ chuyến đi ấy, bây giờ All Côjia ở đâu rồi nhỉ? Đúng là sau khi đoàn lữ hành trở về, có người nói với tôi ông ta sang bên Ai Cập. Hẳn ông ta đã chết rồi, bởi bao nhiêu năm không thấy trở về. Từ nay, chắc chúng ta có thể ăn ôliu, nếu nó còn tốt. Nào, hãy đưa cho tôi một cái đĩa với cây đèn, tôi đi lấy và chúng ta thử nếm xem.

- Thôi ông ơi, – bà vợ nói – nhân danh Thượng đế, xin ông chớ có phạm tội hành động đen tối như vậy. Ông bảo rằng đã bảy năm nay, All Côjia đi La Mếchcơ và không thấy trở về; nhưng người ta bảo ông ta đi Ai Cập, ông biết rằng từ Ai Cập, ông ta còn đi đến đâu nữa hay không? chỉ cần chưa có tin ông ta chết, vậy là ông ta có thể trở về ngày một ngày hai. Còn gì xấu hổ hơn cho ông và cả gia đình ta, nếu nay mai ông ta trở về và ông trả lại cái vò không còn nguyên vẹn như khi bạn ông mang đến gửi? Tôi xin nói rõ là tôi không thèm ăn ôliu nữa, và tôi sẽ không ăn. Sở dĩ tôi vừa nhắc đến, là để nói cho vui vậy thôi. Hơn nữa, ông tưởng rằng sau bấy nhiêu năm, những quả ôliu ấy vẫn còn tươi chắc? Nó đã thối và hỏng hết rồi. Và nếu All Côjia trở về, như linh tính tôi báo cho biết, và nhận ra ông đã động tay vào đấy thì ông ta nghĩ thế nào về tình bạn bè và tính thủy chung của ông? Thôi, ông ơi, xin ông hãy bỏ ý định ấy đi, tôi van ông đấy!

Bà vợ phải nói dài dòng như vậy vì thấy ông chồng lộ vẻ nhất quyết ra mặt. Quả vậy, không chịu nghe những lời khuyên đúng, ông cứ đứng dậy, cầm đèn và một cái đĩa, đi vào kho. Bà vợ liền bảo:

- Đã vậy thì ít ra ông hãy nhớ cho là tôi không dính dáng gì đến việc ông sắp làm, để sau này ông khỏi bảo là tại tôi gây nên, nếu như có lúc nào ông phải hối hận về chuyện này.

Người buôn vẫn bỏ lời vợ ngoài tai, và vẫn khăng khăng với ý định của mình. Vào kho, ông sờ đến cái vò, mở nắp ra và nhận ra tất cả quả ôliu đều thối. Để thử xem quả xếp dưới có hỏng như những quả xếp ở bên trên không, ông trút ra đĩa; và lắc mạnh chiếc vò, một vài đồng vàng rơi đánh cạch.

Trông thấy những đồng tiền, người buôn dĩ nhiên háu của và kỹ tính, nhìn vào trong vò và nhận ra mình đã đổ hầu hết quả ôliu ra đĩa, còn lại toàn tiền vàng sáng chóe. Lão ta trút ôliu trở lại vò, đậy nắp và quay vào.

- Bà nó ạ, – lão nói với vợ – bà có lý, tất cả ôliu đã thối, tôi đã đậy nắp lại sao cho All Côjia không nhận ra là mình có động vào, nếu một mai ông ta trở về.

- Giá ông nghe lời tôi mà đừng động vào, có phải tốt hơn không, cầu Thượng đế chớ để xảy ra chuyện gì không may cho ông!

Lão nhà buôn không chút xúc động về những lời lẽ vừa rồi của vợ, cũng như những câu trách móc của bà hồi nãy. Gần suốt cả đêm lão nghĩ cách chiếm đoạt số vàng của All Côjia và làm sao vẫn giữ được số tiền đó, trong trường hợp ông ta trở về và hỏi xin lại chiếc vò.

Sáng hôm sau, thật sớm, lão đi mua những quả ôliu vừa mới hái trong năm. Trở về nhà, lão vứt tất cả những quả thối trong vò của All Côjia đi, lấy hết vàng, cất giấu vào một nơi kín đáo, sau đó, xếp đầy vò những quả ôliu mới mua, đậy nắp lại như cũ, và để nguyên vào chỗ All Côjia mang tới gửi.

Khoảng một tháng sau khi lão nhà buôn có hành động hèn hạ mà rồi lão phải trả giá đắt ấy, All Côjia về đến Bátđa sau một chuyến đi lâu ngày. Vì nhà đã cho thuê trước khi đi, ông mướn phòng nghỉ trọ ở một cái khan, trong khi chờ đợi báo tin cho người thuê nhà biết và để cho người đó có thời giờ tìm một nơi khác.

Ngay hôm sau, All Côjia tìm ông bạn nhà buôn của mình. Lão này ôm ông ta hôn và tỏ nỗi mừng thấy ông trở về sau khi vắng nhà lâu năm đến vậy, khiến cho lão đã bắt đầu mất hết hy vọng – nói theo lời lão – được gặp lại người bạn vàng.

Sau những lời chúc tụng lẫn nhau thường lệ trong một cuộc gặp gỡ như vậy, All Côjia xin lão lái buôn vui lòng cho xin lại cái vò đựng quả ôliu mà ông gửi nhờ trông giùm, đồng thời xin lỗi là đã mạo muội dám làm phiền bạn lâu như vậy. Lão nhà buôn đáp:

- Anh bạn thân mến All Côjia của tôi ơi, sao bạn lại xin lỗi, cái vò của bạn có làm bận bịu gì đến tôi đâu. Vào địa vị tôi trong một trường hợp ấy, hẳn tôi cũng phải nhờ đến bạn như bạn đã nhờ tôi đấy thôi. Đây, chìa khóa nhà kho của tôi, xin bạn hãy cầm lấy và vào lấy lại cái vò bạn để đâu thì nó vẫn còn nguyên ở đấy.

All Côjia vào kho của lão nhà buôn, lấy chiếc vò, và sau khi trả lại chìa khóa và cảm ơn, ông trở về nơi ở trọ.

Mở nắp vò, thò tay vào đến tầm xếp nghìn đồng tiền vàng. Ông ngạc nhiên không thấy tiền. Tưởng mình nhầm, và để mau chóng thoát khỏi nỗi lo âu, ông vội lấy mấy cái đĩa và lọ vẫn mang theo để dùng khi đi đường, trút vội tất cả ôliu ra, vẫn không hề tìm thấy một đồng tiền vàng nào. Ông ngạc nhiên ngồi ngây như phỗng, rồi chắp tay đưa lên trời, kêu lên: “Có thể nào một người mà ta vẫn coi là bạn tốt lại lật lọng vô liêm sỉ đối với ta như vậy.”

Hoảng hốt vì sợ mất số tiền lớn dường ấy, All Côjia trở lại ngay nhà lão buôn:

- Ông bạn của tôi ơi, – ông bảo lão, – xin ông bạn chớ ngạc nhiên sao tôi quay trở lại ngay. Tôi nhận là tôi đã xin lại đúng cái vò mà tôi gửi nhờ trong kho của bạn, nhưng cùng với các quả ôliu, tôi có bỏ vào trong đó một nghìn đồng tiền vàng, mà nay không thấy. Có lẽ bạn đã có lần cần, và đã dùng số tiền ấy vào việc làm ăn chăng? Nếu quả đúng như vậy thì bạn cứ dùng. Tôi xin bạn đỡ cho tôi khỏi băn khoăn, bằng cách viết cho tôi một biên nhận, rồi bạn sẽ hoàn lại cho tôi lúc nào bạn thấy thuận tiện.

Lão buôn vẫn chờ đợi All Côjia trở lại nói như vậy, cho nên đã nghĩ sẵn câu trả lời:

- Này bạn All Côjia của tôi ơi, khi bạn mang cái vò ôliu đến gửi; tôi có động tay đến không? Tôi chẳng giao chìa khóa kho của tôi cho bạn là gì? Và chẳng phải là chính bạn thân hành mang vào cất rồi cũng chính tay bạn lấy lại, và chẳng phải là cái vò vẫn còn nguyên và đậy diêm y như cũ hay sao? Nếu bạn quả có để vàng trong đó, hẳn bạn đã lại tìm thấy. Bạn chỉ bảo với tôi là vò chỉ có đựng ôliu, và tôi đã tin lời bạn. Đó là tất cả những gì tôi biết. Bạn có muốn tin lời tôi hay không thì tùy, chứ tôi không hề động tay vào.

All Côjia cố tìm những lời lẽ mềm mỏng để thuyết phục lão nhà buôn nên nghĩ lại. Ông nói:

- Xưa nay tôi chỉ thích chuyện ôn hòa. Tôi sẽ rất tiếc phải đi tới những việc làm quá đáng, nó chẳng làm rạng rỡ gì danh giá của bạn trên đời, mà về phần tôi cũng sẽ rất khổ tâm nếu phải dùng tới. Bạn nên nhớ rằng những người buôn bán như cánh ta có khi phải từ bỏ mọi lợi ích để giữ tín nhiệm của mình. Một lần nữa, tôi hết sức phiền lòng nếu thái độ khăng khăng của bạn buộc tôi phải thưa vụ này với quan trên dù tôi vốn là người xưa nay thà chịu thiệt chút lợi của mình hơn là phải đưa nhau đến cửa quan.

- All Côjia, – lão nhà buôn đáp – ông nhận rằng có mang đến gửi ở nhà tôi một vò ôliu mà ông đã lấy lại, đã mang đi nơi khác, rồi ông trở lại đòi tôi một nghìn đồng tiền vàng? Ông có bảo cho tôi biết trước có vàng bên trong hay không? Tôi cũng không biết cả trong vò có ôliu hay không nữa, nào ông có trỏ cho tôi xem đâu. Tôi ngạc nhiên sao ông không chỉ đòi tôi vàng, sao ông không đòi tôi cả châu báu hoặc kim cương. Xin ông nghe lời tôi! Hãy về đi, chớ làm người qua đường xúm xít trước cửa hiệu của tôi như vậy!

Một vài người qua đường đã dừng chân. Những lời sau cùng của lão nhà buôn thốt với giọng một người không còn giữ được bình tĩnh, chẳng những càng làm cho thêm đông người xúm lại, mà đến cả các nhà buôn lân cận cũng ra khỏi nhà, sang xem lão và All Côjia cãi nhau việc gì, để tìm cách dàn hòa. Sau khi All Côjia trình bày sự việc, những vị có vai vế nhất hỏi lão nhà buôn trả lời việc đó thế nào.

Lão nhà buôn nhận có giữ hộ All Côjia chiếc vò trong kho, nhưng chối không động tay vào. Lão thề rằng sở dĩ lão biết cái vò đựng ôliu cũng chỉ vì All Côjia bảo cho biết vậy. Lão xin mọi người làm chứng cho việc All Côjia đã đến tận nhà lão, gây nên cho lão điều xúc phạm và sỉ nhục này. All Côjia liền nắm cánh tay lão và nói:

- Điều xúc phạm ấy từ ông gây nên. Nhưng, vì ông đã xử sự xấu xa như vậy, tôi xin viện đến luật của Thượng đế. Thử xem ông có gan nói năng như thế trước mặt pháp quan hay không.

Khi đã có lời đòi hỏi như vậy thì tất cả những người Hồi giáo ngoan đạo đều phải tuân theo, trừ phi là muốn chống lại luật.

Lão nhà buôn không dám cả gan khước từ. Lão nói:

- Nào chúng ta hãy đi, đó cũng là điều tôi đòi hỏi. Thủ xem giữa ông và tôi, ai là người sai trái.

All Côjia dẫn lão nhà buôn đến trước tòa án của pháp quan. Ông tố cáo lão đã chiếm đoạt của ông một nghìn đồng vàng gửi nhờ, qua cách trình bày như chúng ta đã biết. Pháp quan hỏi có người làm chứng hay không. Ông đáp ông đã không tính đến chuyện đó, vì vẫn tin rằng người mình ký thác là một ông bạn, mà cho đến lúc bấy giờ ông vẫn cho là một người trung hậu.

Để bào chữa, lão nhà buôn không nói gì khác hơn những điều lão nói với All Côjia trước mặt hàng phố.

Cuối cùng, lão quả quyết là sẵn sàng thề, không những lão đã không chiếm đoạt một nghìn đồng tiền vàng như người ta vu cho lão, mà cũng không biết gì về khoản tiền đó. Pháp quan buộc lão thề, sau đó cho về, trắng án.

Cực kỳ phiền muộn vì đã để mất toi số tiền lớn như vậy, All Côjia tuyên bố chống án. Ông nói với pháp quan rằng mình sẽ kêu lên hoàng đế Harun An-Rasít, và Người sẽ xử công bằng cho ông. Nhưng pháp quan không hề lấy làm lạ về sự chống án. Ông cho rằng đấy là thái độ thường tình của những người thua kiện. Ông nghĩ mình đã làm tròn bổn phận khi xử trắng án một bị cáo về tội chiếm đoạt, mà bên nguyên lại không dẫn được người làm chứng.

Trong khi lão buôn trở về nhà, hớn hở vì tự dưng có được một nghìn đồng vàng dễ dàng đến vậy, thì All Côjia đi làm một cái đơn khiếu nại, và hôm sau, chờ lúc hoàng đế đến giáo đường cầu kinh trưa trở về, ông đón ở một phố, hai tay dâng lá đơn quá đầu. Một viên quan vốn được giao chuyên trách việc thu đơn thỉnh nguyện của dân, đi trước hoàng đế, trông thấy liền tách ra khỏi hàng nhận đơn dâng lên nhà vua.

All Côjia biết hoàng đế có thói quen vừa về tới cung là xem ngay lá đơn thỉnh nguyện dâng lên kiểu ấy, bèn đi theo xa giá vào hoàng cung, chờ viên quan hồi nấy nhận tờ đơn quay trở ra. Viên quan báo cho ông biết, hoàng đế đã đọc đơn, và hẹn cho ông được vào triều yết ngay ngày mai. Sau khi hỏi tên lão nhà buôn, viên quan cũng cho người đến nhà báo cho lão biết sáng mai đúng vào giờ ấy phải có mặt.

Tối hôm ấy, hoàng đế cùng với tể tướng Giafa và Mêrua, viên trưởng các hoạn nô tất cả đều cải trang đi vòng quanh các phố. Như chúng ta đã biết hoàng đế có thói quen vẫn cải trang vi hành như vậy.

Qua một phố, nghe có tiếng ồn ào, vua rảo bước tới một cái cổng mở vào một cái sân; nhìn qua khe hở ở cổng, vua thấy chừng mươi, mười hai em bé chưa đi ngủ, còn nô đùa dưới ánh trăng.

Tò mò muốn biết các em chơi trò gì, hoàng đế ngồi xuống một phiến đá kê sẵn ở cổng ra vào, và tiếp tục nhìn qua khe hở. Một em bé bộ dạng nhanh nhẹn và thông minh hơn tất cả, nói với cả bọn:

- Chúng ta hãy chơi trò pháp quan xử kiện. Ta đây là pháp quan. Hãy dẫn All Côjia và lão nhà buôn đã chiếm đoạt của ông ta một nghìn đồng tiền vàng vào đây cho ta.

Nghe nói, hoàng đế chợt nhớ tới lá đơn khiếu nại vừa nhận được sáng nay mà vua đã đọc, nên càng chú ý theo dõi hơn, để xem kết quả vụ xử kiện thế nào.

Vì vụ tranh chấp giữa All Côjia và lão nhà buôn vừa xảy ra, đang làm ồn ào cả thành Bátđa, ngay cả trẻ con cũng biết. Bọn trẻ vui vẻ nhận chơi trò đó, và đồng ý phân vai. Không có em nào phản đối em vừa tự nhận vai pháp quan. Khi em này đã ngồi vào chỗ với vẻ đường vệ của một vị quan tòa, một em khác đóng vai quan chức tòa án dẫn tới hai em nữa, và trình đây là All Côjia, còn người kia là nhà buôn bị All Côjia thưa kiện.

Thế là vị pháp quan giả kia lên tiếng trịnh trọng hỏi nhà buôn All Côjia giả:

- All Côjia, ông thưa kiện người buôn kia về việc gì?

Em đóng vai All Côjia giả chắp tay vái, trình bày cặn kẽ đầu đuôi. Kết luận, em xin quan lớn hãy dùng uy quyền của mình mà phán xét để em khỏi chịu sự thiệt thòi lớn như vậy.

Sau khi nghe em đóng vai All Côjia trình bày, em bé đóng vai pháp quan liền quay lại hỏi em đóng vai nhà buôn, tại sao không chịu trả cho All Côjia số tiền ông ta đòi.

Em bé đóng vai nhà buôn lại giãi bày những lý lẽ mà chính lão đã thưa với vị pháp quan thực của thành phố Bátđa, và cũng thề thốt rằng điều mình nói là đúng sự thật.

- Chớ vội vàng thế, – em bé đóng vai pháp quan chặn lại – trước khi nghe lời thề của ông, ta rất muốn xem trong cái vò đựng ôliu. All Côjia, ông có mang theo cái vò tới không?

Được trả lời có, em nói tiếp:

- Vậy hãy đưa vào đây cho ta xem!

Em bé đóng vai All Côjia biến mất trong chốc lát, rồi quay lại làm ra vẻ đặt cái vò trước mặt pháp quan, và thưa đấy chính là cái vò mình đã gửi cho bị cáo và đã lấy về. Không bỏ qua một thủ tục nào, pháp quan hỏi lão nhà buôn có nhận đúng cái vò ấy hay không. Lão ta im lặng, chứng tỏ là không thể phủ nhận. Em bé đóng vai pháp quan liền sai mở nắp. Em bé đóng vai pháp quan lại làm như đang nhìn vào trong đó và nói:

- Chà những quả ôliu ngon quá, để ta thử nếm xem. Em vờ lấy một quả đưa vào miệng ăn, rồi khen:

- Ô liu ngon thật. Nhưng, – em nói tiếp – hình như những quả ôliu cất giữ lâu những bảy năm không thể nào ngon như thế này. Hãy đi mời những người chuyên buôn ôliu đến đây, để hỏi họ xem sao.

Hai em bé được dẫn ra, với tư cách là những người buôn ôliu.

- Các ông có phải là những người chuyên buôn bán ôliu không? – Pháp quan hỏi.

Được trả lời đấy chính là nghề nghiệp của họ, em nói tiếp:

- Các ông hãy cho biết, trong tay những người thành thạo nhất, quả ôliu cất giữ bao lâu thì vẫn còn ăn được?

- Bẩm quan lớn, – các em đóng vai nhà buôn ôliu đáp – dù cố gắng như thế nào chăng nữa, thì sau ba năm ôliu cũng không ăn được nữa. Nó không còn có mùi vị gì, cũng không có màu sắc, chỉ đáng vứt đi thôi.

- Nếu quả đúng như vậy, – em đóng vai pháp quan truyền – các ông hãy xem cái vò kia và nói cho ta biết những quả ôliu trong đó giữ được bao lâu rồi.

Các em giả làm nhà buôn vờ xem xét và nếm ôliu, rồi thưa với quan những quả này mới hái, còn ngon lành lắm. Em đóng vai pháp quan liền nói:

- Các ông nhầm rồi, ông All Côjia bảo ôliu đó đã bảy năm nay cơ mà.

- Bẩm quan lớn, – các em đóng vai người buôn được gọi tới làm nhà chuyên môn thành thạo cãi – chúng tôi chỉ có thể quả quyết là những quả ôliu này vừa mới hái trong năm, và chúng tôi xin bảo đảm là không một nhà buôn ôliu nào trong thành phố Bátđa này lại không chứng thực y như chúng tôi vừa nói.

Em bé đóng vai nhà buôn định mở miệng cãi, nhưng vị pháp quan giả không cho phép em nói:

- Im mồm đi, mày là một tên kẻ cắp! Bay đâu, hãy treo cổ nó lên cho ta!

Thế là các em bé chấm dứt trò chơi một cách cực kỳ vui vẻ, vừa vỗ tay vừa đổ xô tới em đóng vai kẻ phạm tội, làm như thể sắp mang đi treo cổ thật.

Không thể nào diễn tả hết nỗi khâm phục của hoàng đế Harun An-Rasít trước sự khôn ngoan và trí thông minh của em bé vừa phân xử một cách tài giỏi vụ kiện mà chính vua sẽ phải phán xét ngay sáng mai.

Không nhìn qua khe hở nữa, vua đứng lên hỏi tể tướng, cũng vừa chăm chú theo dõi như vua, có nghe những điều em bé phân xử hay không, và ông nghĩ gì về việc ấy.

Tể tướng đáp:

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, thật không thể có ai ngạc nhiên bằng tôi, sao một em bé ít tuổi mà khôn ngoan dường ấy.

- Nhưng, – hoàng đế lại nói – ông có biết sáng mai chính ta cũng phải phân xử về vụ đó, mà chính lão Ali Côjia thật vừa dâng sớ khiếu nại hôm nay?

- Bệ hạ có nói cho tôi rõ. – Tể tướng đáp.

- Vậy, ông có nghĩ rằng ta nên có sự phán quyết nào khác hơn cách chúng ta vừa nghe hay không?

- Nếu sự tình cũng y như vậy, – tể tướng nói – thì tôi nghĩ rằng bệ hạ không có cách hỏi cung nào khác, cũng không thể tuyên án khác hơn.

- Khanh hãy chú ý ngôi nhà này, – hoàng đế bảo, – sáng mai hãy dẫn em bé này đến với ta, để cho em xử vụ ấy ngay trước mặt ta. Hãy cho đòi cả viên pháp quan đã xử trắng án cho lão buôn ăn cắp đến, để cho lão noi gương một em bé mà học cách làm bổn phận và tự sửa chữa sai lầm. Ta cũng muốn rằng ông dặn All Côjia nhớ mang vò ôliu của nó đến và tìm hai người buôn ôliu đến dự phiên tòa.

Hoàng đế ra mệnh lệnh đó trong khi tiếp tục đi vòng quanh các phố, hôm ấy chẳng còn gặp chuyện gì khác đáng chú ý nữa.

Ngay hôm sau, tể tướng Giafa đến ngôi nhà hoàng đế đã xem các em bé đóng trò chơi, hỏi chủ nhà. Ông chủ vừa đi vắng, bà vợ ra tiếp. Tể tướng hỏi bà có con không. Bà đáp mình có ba đứa con, và sai gọi đến ra mắt quan. Tể tướng liền hỏi:

- Các cháu, hôm qua trong lúc chơi đùa, cháu nào đóng vai pháp quan?

Em lớn nhất, và cũng là anh cả, đáp chính em. Vì không hỏi rõ tại sao tể tướng lại hỏi như vậy, em hơi biến sắc. Tể tướng bảo:

- Cháu hãy đi với bác, hoàng đế muốn gặp cháu.

Bà mẹ kinh hoàng khi thấy tể tướng muốn bắt con trai mình đi. Bà hỏi:

- Bẩm quan lớn, có phải hoàng đế muốn bắt con trai tôi chăng?

Tể tướng vừa trấn an bà, vừa hứa sẽ đưa con trai bà trở về nội trong vòng một giờ, lúc ấy bà sẽ rõ vì sao hoàng đế cho gọi em bé vào, và bà sẽ lấy làm bằng lòng.

- Bẩm quan lớn, – bà mẹ lại nói, – nếu quả như vậy thì trước hết xin cho phép tôi mặc cho cháu một bộ quần áo tươm tốt hơn để cháu xứng đáng ra mắt Đấng thống lĩnh các tín đồ.

Và không để mất thời giờ, bà lấy áo quần thay cho con ngay.

Tể tướng dẫn em bé bệ kiến hoàng đế đúng vào giờ hẹn All Côjia và lão buôn đến hầu kiện.

Thấy em bé hơi có vẻ lo lắng, hoàng đế thương tình. Vua bảo:

- Con hãy đến đây, đến gần ta! Có phải chính con hôm qua đã xử vụ All Côjia kiện lão buôn ăn cắp vàng của ông ta không? Ta đã xem và nghe con xử, ta rất hài lòng về con.

Không chút bối rối, em bé khiêm tốn nhận chính mình đã làm việc đó.

Hoàng đế lại bảo:

- Con ạ, hôm nay ta muốn con xem All Côjia thật thà hay lão buôn thật thà.

Thế là hoàng đế cầm tay em bé, bước ra ngồi trên ngai vàng. Sau khi cho em ngồi bên cạnh, vua cho đòi hai bên đương sự. Hai người được lính dẫn vào và xướng tên họ quỳ xuống, dập đầu vào tấm thảm dưới chân ngai. Chờ họ đứng lên, hoàng đế nói:

- Các ngươi hãy trình bày lý lẽ của mình, em bé đây sẽ nghe và phân xử cho các ngươi, nếu có thiếu sót điều gì ta bổ sung.

All Côjia và lão buôn lần lượt nói. Nhưng khi lão buôn đòi thề như lão đã làm trong phiên xử lần trước, em bé bảo rằng chưa đến lúc, việc trước tiên là phải xem xét cái vò ôliu đã.

Nghe nói, All Côjia liền đưa cái vò đến, đặt dưới chân hoàng đế và mở nắp. Hoàng đế nhìn các quả ôliu, lấy một quả ăn thử. Cái vò lại được chuyển cho các nhà buôn thành thạo được mời tới nếm. Sau khi xem xét, họ đều nói ôliu rất ngon, đúng là vừa mới hái trong năm nay. Còn em bé nói All Côjia thì quả quyết đã cho ôliu vào vò bảy năm nay rồi, trong khi các nhà buôn thành thạo đều trả lời giống như các em bé đóng giả đã nói, mà chúng ta đã nghe.

Đến đây, lão bị cáo thấy rõ hai nhà buôn ôliu vừa tuyên án kết tội mình, tuy vậy lão vẫn tỏ ra không muốn nói gì để tự biện bạch. Nhưng em bé đóng vai pháp quan lại giữ mồm không sai đưa lão treo cổ. Em nhìn hoàng đế mà thưa:

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, đây không phải là trò chơi. Chỉ có Người mới có quyền kết tội tử hình một cách nghiêm chỉnh mà thôi, chứ không phải cháu; hôm qua chúng cháu chỉ làm cho vui.

Hiểu rõ dã tâm lão lái buôn, hoàng đế giao lão cho các quan tư pháp đưa đi xử tử. Bản án được thi hành sau khi lão khai ra nơi cất giấu một nghìn đồng vàng, số này được trả lại cho All Côjia. Cuối cùng, hoàng đế công minh và ngay thẳng, bảo viên pháp quan đã xử kiện lúc ấy cũng đang có mặt, rằng nên học hỏi trẻ con để thi hành chức vụ của mình một cách đúng đắn hơn nữa. Rồi vua ôm hôn em bé và cho trở về nhà cùng cái túi đựng một trăm đồng tiền vàng làm quà thưởng.

❀ ❀ ❀

[1] Thời trước, để làm nản lòng bọn cướp đường và đủ sức chống cự nếu cẩn, những người đi xa thường ghép nhau thành đoàn lớn (ND).

[2] Tên các thành phố thuộc Ba Tư.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.