Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 554 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN BÊĐE, HOÀNG TỬ NƯỚC BA TƯ VÀ GIAUHA, CÔNG CHÚA CON VUA THỦY TỀ

❊ ❊ ❊

Nước Ba Tư chiếm diện tích rộng mênh mông trên trái đất, rộng đến nỗi các quốc vương Ba Tư vẫn ngạo nghễ tự phong mình danh hiệu Vua của các nhà vua. Không kể những nước chư hầu mới bị chinh phục, đế quốc Ba Tư có bao nhiêu tỉnh thì có bấy nhiêu vị phó vương. Những ông này không chỉ nộp cống vật cho vị đại đế mà họ còn chịu thần phục mọi bề, chẳng khác gì các quan thống đốc tỉnh phục tùng quốc vương các nước khác vậy.

Thời xưa, có một nhà vua Ba Tư mở đầu triều đại mình bằng nhiều cuộc chinh phục lớn thắng lợi, rồi tiếp tục trị vì nhiều năm trong hạnh phúc và thanh bình.

Ông tự lấy làm hài lòng hơn tất cả mọi quân vương khác. Duy có mỗi một điều vua cho mình còn bất hạnh. Ấy là ông đã khá cao tuổi, thế mà trong bao nhiêu hoàng hậu và cung phi, không có một người nào sinh hạ được một hoàng tử để nối ngôi khi ông qua đời. Ông có những hơn một trăm bà, bà nào cũng được ở nhà riêng lộng lẫy, có nhiều nô tì hầu hạ, nhiều hoạn nô canh phòng cẩn mật, ấy thế mà không một bà nào đáp ứng được lòng mong mỏi của nhà vua. Các quan còn cung tiến cho vua nhiều mỹ nữ từ những xứ xa xôi nhất gửi về. Hễ trông vừa mắt thì đắt bao nhiêu vua cũng trả tiền mua chẳng buồn mặc cả, lại còn ban thưởng cho những nhà buôn nô lệ không biết bao là vinh dự, ân huệ và lời ngợi khen, để thu hút các nhà buôn khác cũng sẽ làm như vậy. Vua hi vọng cuối cùng rồi một bà phi nào đó sẽ sinh hạ được quý tử. Không có việc thiện nào mà vua không làm để động tới lòng trời. Vua bố thí những khoản tiền khổng lồ cho những người nghèo đói. Cúng tiến thật rộng rãi cho các vị tu hành. Lại lập nhiều giáo đường mới thật sang trọng trong khắp vương quốc, những mong các nhà tu hành sẽ cùng cầu nguyện cho mình đạt được điều ước vọng.

Một hôm, vua họp cả triều đình, có tất cả các sứ thần và những người nước ngoài có vai vế trong kinh thành cùng tham dự. Theo lệ cũ các tiên vương để lại, các cuộc hội họp này không chỉ bàn về quốc gia đại sự mà còn đàm đạo về khoa học, lịch sử, văn học, thi ca và tất cả những gì có thể làm cho tinh thần sảng khoái. Hôm đó, một viên hoạn nô vào báo có một nhà buôn từ một nước rất xa xôi đến có mang theo một nữ nô lệ. Ông ta muốn xin phép được dâng người con gái ấy lên nhà vua.

- Hãy cho người ấy vào và chỉ chỗ cho anh ta đợi! Vua truyền. – Ta sẽ hỏi chuyện sau khi bãi triều.

Người ta cho nhà buôn vào hoàng cung và cho ngồi ở một nơi y có thể thoải mái nhìn và nghe vua nói chuyện thân mật với những người thân cận.

Vua Ba Tư vốn có thói quen xử sự theo cách ấy với tất cả những người ngoại quốc xin triều yết. Vua cố ý xếp đặt như vậy để họ quen nhìn mặt vua, nghe vua nói chuyện hiền từ với người này, người khác, từ đó mà thêm lòng tự tin khi được tiếp xúc với vua chứ không vì ngỡ ngàng trước cảnh tráng lệ, uy nghiêm của chốn cung đình mà sợ hãi quá đến nỗi không thốt lên lời. Với các sứ thần, vua cũng đối xử như thế. Trước hết, vua mời họ dùng yến, rồi trong bữa ăn, ân cần hỏi thăm sức khỏe, hỏi về chuyến đi và những nét đặc sắc của đất nước họ. Thái độ đó làm cho họ tin cậy. Sau đấy vua mới cho vào bái yết chính thức.

Sau khi bãi triều, mọi người đã ra về, chỉ còn lại một mình nhà buôn. Ông này phủ phục trước ngai vàng, úp mặt xuống đất và chúc tụng vua vạn sự như ý. Chờ cho ông ta đứng lên, vua hỏi có đúng là ông ta đem theo một nữ nô lệ như vua vừa được nghe tâu, và người nô lệ ấy có thật xinh đẹp hay không.

- Tâu bệ hạ, – nhà buôn đáp – kể từ ngày người ta tìm kiếm giai nhân khắp nơi để mang về đây cung tiến, tôi tin chắc Người hẳn đã có nhiều cung phi xinh đẹp tuyệt trần. Nhưng tôi có thể quả quyết rằng nếu Người nhìn thấy nét mặt, thân hình cân đối cùng tất cả vẻ đẹp hoàn hảo và toàn bích của người nữ nô lệ này, thì Người sẽ thấy không một ai có thể sánh bằng.

- Vậy người ấy đâu rồi? – Vua hỏi. – Hãy đưa vào đây cho ta!

- Tâu bệ hạ, – nhà buôn đáp – hồi nãy tôi giao cho một viên quan hoạn trông giữ, Người có thể truyền cho vị ấy đưa vào.

Người nữ nô lệ được dẫn tới. Vừa trông thấy thân hình đẹp đẽ, nở nang của cô gái, nhà vua thích quá liền sang ngay một buồng riêng ở bên cạnh, chỉ cho phép nhà buôn cùng mấy viên hoạn nô theo vào. Người nữ nô lệ mang một tấm mạng che mặt bằng sa tanh đỏ có kẻ sọc. Nhà buôn kéo tấm mạng. Vua nhìn thấy một mĩ nhân đẹp hơn tất cả những cung phi mà mình có từ xưa tới nay. Ngay lập tức, vua đâm ra mê mẩn, liền hỏi ngay nhà buôn muốn bán lấy bao nhiêu tiền.

- Tâu bệ hạ, – nhà buôn đáp – tôi mua nó với giá một nghìn đồng vàng đã ba năm nay. Và kể từ khi lên đường tới triều đình của quý quốc, tôi đã phải tiêu pha thêm ngần ấy nữa. Không dám nói chuyện mua bán với một đấng quân vương vĩ đại như bệ hạ, tôi chỉ cúi xin Người nhận cho như một món quà biếu, nếu nó vừa lòng Người.

- Ta cảm ơn ông lắm. – Vua Ba Tư đáp. – Nhưng ta không quen xử sự như vậy với các nhà buôn đã cất công từ những chốn xa xôi đến đây với mục đích làm cho ta vui lòng. Bởi vậy, ta sẽ trả cho ông mười nghìn đồng vàng. Ông bằng lòng chứ?

- Tâu bệ hạ, – nhà buôn đáp – nếu được Người nhận nó như quà biếu, tôi đã tự cho mình vô cùng hạnh phúc. Tuy nhiên, tôi đâu dám khước từ lòng hào hiệp rộng như trời bể của Người. Tôi xin loan truyền rộng rãi chuyện này ở nước tôi cũng như ở khắp mọi nơi tôi sẽ đi qua.

Số tiền trên được giao cho nhà buôn trước khi người ấy lui về, vua còn ban thưởng thêm cho ông ta một chiếc áo gấm vàng.

Vua cho người nữ nô lệ xinh đẹp ở trong một căn nhà sang trọng nhất sau căn nhà vua ở, lại phái đến nhiều bà già cùng vũ nữ để hầu hạ. Vua truyền đưa nàng đi tắm rồi cho mặc chiếc áo đẹp nhất. Lại còn sai mang đến những chuỗi ngọc ngà, kim cương, châu báu tuyệt đẹp, đắt tiền nhất để cho nàng lựa chọn, thứ gì vừa ý nhất thì cứ lấy mà trang điểm.

Các cung tần đã luống tuổi không có sự quan tâm nào khác là làm đẹp lòng vua. Hơn nữa tự các bà cũng hân hoan thán phục sắc đẹp của người nữ nô lệ. Vốn đã thông thạo công việc hầu hạ như thế, họ tâu với vua:

- Tâu bệ hạ, nếu Người kiên nhẫn chờ thì chỉ ba ngày thôi, chúng tôi nguyện sẽ dâng tới một con người đẹp hơn gấp bội, đến nỗi Người sẽ không nhận ra được cho mà xem.

Khó khăn lắm nhà vua mới chịu được sự chờ đợi lâu đến vậy. Vua nói:

- Ta đồng ý, miễn là các bà phải giữ đúng lời.

Kinh đô của nước Ba Tư hồi ấy lập trên một hòn đảo và hoàng cung rất tráng lệ được xây dựng ngay sát bờ biển. Cung của vua trông ra biển. Chỗ người nữ nô lệ xinh đẹp ở cũng vậy, và cách cung vua không xa. Còn thích thú hơn nữa, là sóng biển gần như vỗ ngay vào chân tường nhà nàng ở.

Ba ngày sau, người nữ nô lệ xinh đẹp được trang sức cực kì lộng lẫy, ngồi một mình trong phòng riêng, trên một chiếc sập kê dựa vào cửa sổ trông ra biển. Nhà vua được báo là đã có thể gặp nàng, liền bước vào. Nghe có tiếng chân người đi vào phòng, khác với tiếng chân quen thuộc của bọn đàn bà vẫn hầu hạ hàng ngày, người nữ nô lệ quay đầu lại xem ai. Nàng nhận ra ngay nhà vua. Nhưng, hoàn toàn không lộ vẻ ngạc nhiên, thậm chí cũng chẳng buồn đứng lên chào hỏi và tiếp đón, và làm như thể đấy là một con người tuyệt nhiên chẳng dính dáng gì tới mình, nàng vẫn bình thản nhìn ra cửa sổ như trước.

Vua Ba Tư cực kì kinh ngạc. Sao một người nữ nô lệ xinh đẹp và trông có vẻ con nhà thế gia lại không hiểu biết chút gì về cách xử thế. Vua cho sở dĩ nàng có khiếm khuyết thế này là do ít được dạy dỗ, nhất là vì người ta đã không chú ý bày cho nàng biết thế nào là phong nhã hào hoa. Vua tiếp tục bước tới gần cửa sổ và mặc dù có sự lạnh nhạt trong thái độ tiếp đón vừa rồi, người nô lệ vẫn để cho vua tha hồ ngắm nghía, thậm chí vuốt ve, hôn hít.

Đang âu yếm, vua chợt dừng tay, ngắm nàng một cách say đắm và thốt lên:

- Hỡi nàng tiên xinh đẹp tuyệt trần của ta, hãy nói cho ta biết, ta van nàng, nàng từ đâu đến, ai là cha mẹ nàng, những người đã cho ra đời một tuyệt tác thiên nhiên kì lạ dường này? Ta yêu nàng và sẽ yêu nàng mãi mãi. Tình cảm của ta đối với nàng hiện nay chưa bao giờ ta thấy có đối với bất kỳ một người đàn bà nào khác. Ấy thế mà trong đời ta đã từng gặp và đang gặp không biết bao nhiêu là đàn bà. Chưa bao giờ ta thấy bấy nhiêu vẻ kiều diễm cùng một lúc hội tụ ở một con người như nàng, khiến cho ta đắm say, mê mẩn. Hỡi cô nàng yêu dấu, sao chẳng trả lời ta, sao chẳng biểu lộ cho ta thấy một dấu hiệu cỏn con chứng tỏ nàng xúc động trước mối tình đắm say tột đỉnh của ta? Sao nàng chẳng buồn quay mặt lại để cho ta có thể nhìn đôi mắt, và để qua đôi mắt ta, nàng thấy rõ ta yêu nàng đến mức nào? Do đâu mà nàng có vẻ trang nghiêm, đúng hơn là có sự phiền muộn đang làm ta băn khoăn? Nàng nhớ quê hương, cha mẹ, bạn bè ư? Lạ chưa? Một nhà vua của nước Ba Tư đang quý yêu, đang say đắm nàng, nhà vua ấy không thể an ủi nàng, không thể thay thế mọi thứ khác trên đời chăng?

Mặc cho vua Ba Tư bằng mọi cách thổ lộ tâm tình, mặc cho vua nói gì đi nữa để moi cho được một câu từ miệng nàng, người nữ nô lệ vẫn giữ thái độ dửng dưng kì lạ. Đôi mắt vẫn cúi xuống, chứ không ngước lên nhìn nhà vua, và tuyệt nhiên chẳng hề nói một lời.

Hài lòng vì đã tậu được một con người xinh đẹp, vua Ba Tư không nài ép nữa, hi vọng sự đối xử hậu hĩnh của mình rồi sẽ làm cho nàng thay đổi thái độ. Vua vỗ tay, lập tức các người hầu vào. Vua truyền dọn bữa ăn chiều. Khi thức ăn đã bày ra bàn, vua bảo người nữ nô lệ:

- Hỡi cô nàng thân yêu, hãy ngồi xích lại gần đây, hãy cùng ăn tối với ta!

Nàng rời khỏi chỗ đang ngồi, đến ngồi đối diện với vua. Vua lấy thức ăn mời nàng, và trước khi dùng món nào, vua cũng lại tự tay lấy mời nàng như vậy. Người nô lệ cũng ăn như vua, nhưng đôi mắt vẫn nhìn xuống. Nàng cũng không buồn đáp một lời khi vua hỏi các món ăn có hợp khẩu vị của nàng hay không.

Để thay đổi câu chuyện, vua hỏi nàng tên gì, nàng có hài lòng về áo quần đẹp đẽ và trang điểm ngọc ngà chăng. Nhưng hỏi gì thì hỏi, nàng vẫn một mực lặng thinh, làm cho vua không biết nên nghĩ thế nào. Vua tự hỏi hay là nàng câm, nhưng rồi tự nhủ: “Lẽ nào Thượng đế đã tạo nên một con người xinh đẹp, hoàn chỉnh tuyệt diệu thế này, lại bắt chịu một tật nguyền nặng nề như vậy? Nếu thế thì đáng tiếc biết bao. Nhưng cho dù như vậy, ta cũng sẽ không thể không yêu nàng”.

Sau bữa ăn, nhà vua rửa tay ở một bên trong khi người nữ nô lệ rửa tay ở phía bên kia. Nhà vua nhân dịp này hỏi những người hầu đang bưng chậu nước và dâng khăn mặt, có bao giờ nàng nói chuyện với họ hay không. Một người hầu cất lời, đáp:

- Tâu bệ hạ, chúng tôi chưa bao giờ trông thấy hoặc nghe nàng nói năng, lúc nào nàng cũng hoàn toàn lặng thinh như bây giờ. Chúng tôi đã hầu hạ lúc nàng vào nhà tắm. Chúng tôi đã chải tóc, vấn khăn, mặc áo cho nàng trong phòng riêng, nhưng chưa lần nào nàng mở miệng nói với chúng tôi một tiếng, đại thể như “Được đấy, ta hài lòng”. Chúng tôi hỏi: “Thưa cô nương, cô có cần gì nữa không ạ? Xin cô nương cứ sai bảo, cứ ra lệnh cho chúng tôi”. Nàng vẫn lặng thinh, chúng tôi không rõ ấy là do khinh khi, phiền muộn, ngớ ngẩn, hay là tại nàng câm. Chúng tôi không moi được một lời nào. Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể tâu trình bệ hạ.

Nghe vậy, vua Ba Tư lại càng ngạc nhiên hơn trước. Vì cho là người nữ nô lệ đang có điều gì phiền muộn, vua cố làm cho nàng vui lên, liền cho tụ tập tất cả cung nữ lại. Họ đến. Những ai biết đàn sáo thì đánh đàn thổi sáo, những người khác thì múa hoặc hát hoặc vừa hát vừa múa. Tóm lại họ bày ra lắm trò vui để nhà vua giải trí. Chỉ có người nữ nô lệ là không tham dự các cuộc vui chơi ấy. Nàng vẫn ngồi yên ở chỗ cũ, mắt vẫn lạnh lùng nhìn xuống, khiến tất cả cung nữ cũng như nhà vua đều lấy làm kinh ngạc. Cuối cùng mọi người lui về phòng riêng, còn lại nhà vua một mình với người nữ nô lệ.

Sáng hôm sau, vua Ba Tư thức dậy, lấy làm hài lòng hơn tất cả mọi lần khác và vì vậy càng say đắm cô nữ nô lệ xinh tươi hơn cả hôm trước. Vua quyết định từ nay chỉ quyến luyến có một mình nàng thôi và thực hiện ngay ý định đó. Ngay ngày hôm ấy, vua cho phép tất cả các cung phi khác ra về, mang theo áo quần sang trọng, ngọc ngà, châu báu và đồ trang sức khác mà họ vẫn dùng. Mỗi người lại được ban thêm một món tiền lớn, và cho họ được tự do, ai muốn lấy chồng thì lấy. Vua chỉ giữ lại những cung tần và người hầu đứng tuổi giúp việc săn sóc người nữ nô lệ xinh tươi. Suốt một năm ròng, nàng không hề cho vua được chút an ủi là được nghe nàng ngỏ một lời. Mặc dù vậy, vua vẫn không xa nàng một bước, vẫn hết sức chiều chuộng, vẫn luôn luôn bày tỏ với nàng tình yêu cực kì mãnh liệt.

Một năm trôi qua. Một hôm, ngồi bên cạnh người đẹp nhà vua tâm sự với nàng, rằng tình yêu của mình cùng với thời gian đã không giảm mà ngày càng nồng nhiệt hơn. Vua nói:

- Hoàng hậu của ta ơi, ta không thể đoán nàng nghĩ gì về điều ta nói. Tuy nhiên không có gì đúng sự thật hơn khi ta thề rằng ta không ao ước gì khác kể từ ngày ta có được niềm hạnh phúc kết bạn cùng nàng. Tất cả vương quốc của ta rộng lớn như vậy, nhưng ta coi chỉ bằng hạt bụi, kể từ khi ta gặp nàng và có thể nói với nàng rất nhiều lần rằng ta yêu nàng. Ta yêu nàng. Ta không muốn ép nàng phải tin những lời ta nói. Nhưng nàng có thể không chút hoài nghi về việc đó, sau khi, vì sắc đẹp của nàng, ta đã cho giải phóng phần lớn cung tần trong hoàng cung. Nàng có thể nhớ lại chứ? Đã một năm qua kể từ khi ta cho phép họ trở về nhà, ta không hề hối tiếc, lúc đang nói với nàng đây cũng như lúc ta cho họ ra về, và ta sẽ không bao giờ hối tiếc. Ta sẽ lấy làm thỏa mãn và hoàn toàn vui mừng nếu nàng nói một tiếng, để tỏ rằng nàng cũng có hiểu cho lòng ta được chừng nào. Nhưng làm sao nàng làm được như vậy? Vì nàng bị câm. Thương ôi! Ta chỉ lo điều ta vừa nghĩ đó là sự thật. Mà sao không lo sợ được, sau một năm ròng ngày nào ta cũng xin nàng hãy nói với ta một lời và lần nào nàng cũng vẫn lặng thinh, làm phiền lòng ta biết đến chừng nào! Nếu nàng không thể mang lại cho ta niềm an ủi đó, thì cầu trời ít ra nàng cũng cho ta một đứa con trai để nối ngôi sau khi ta qua đời. Càng ngày ta càng cảm thấy mình tới gần cõi thọ. Ngay từ giờ ta đã thấy cần có một hoàng tử giúp ta trông nom công việc trị nước. Trở lại điều mong muốn của ta được nghe nàng nói, có một cái gì đó khiến ta linh cảm rằng không phải nàng câm. Nàng hỡi, ta van nàng, hãy làm ơn đừng khăng khăng nữa, hãy nói với ta chỉ một lời thôi, sau đó thì dù có chết ta cũng cam lòng!

Người nữ nô lệ xinh đẹp xưa nay vẫn có thói quen im lặng, bỗng mỉm cười, và nhẹ nhàng cất tiếng nói:

- Tâu bệ hạ, thiếp quả có lỗi rất nhiều. Không riêng gì bệ hạ, thiếp đây cũng buồn tủi và lo lắng để chờ đợi cái giây phút ngày hôm nay. Xin tạ tội với bệ hạ vì đã để bệ hạ quá lo nghĩ về thiếp. Thiếp biết rõ tình cảm của bệ hạ đối với thiếp, muôn đời thiếp cũng không bao giờ đền đáp được.

Nhà vua, sung sướng liền cúi xuống nâng tay người nữ nô lệ xinh đẹp lên, rồi ôm chầm lấy nàng và ngắt lời nàng:

- Thôi, nàng đừng nói nữa! Ta chỉ biết yêu nàng mà không đòi nàng đền đáp.

Nhưng người nữ nô lệ xinh đẹp vẫn tiếp tục:

- Thiếp phải chờ đợi giây phút này mới báo tin mừng cho bệ hạ: nhờ hồng phúc của Người thời gian tới đây Thượng đế sẽ ban cho Người một hoàng tử để nối nghiệp. Nếu không có tin mừng này, có lẽ thiếp sẽ yên lặng suốt đời, sẽ sống cạnh Người như một chiếc bóng để rồi cam chịu bị sa thải như bao người khác. Hôm nay, thiếp đã có đủ sức cất tiếng nói vì thật ra thiếp cũng rất yêu bệ hạ.

- Trời ơi! Sao mãi đến bây giờ nàng mới cho ta được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao mà ta tưởng chẳng bao giờ có được? Nàng sẽ cho ta một đứa con ư?

Nhà vua không còn làm chủ được mình nữa.

Trong niềm vui bồng bột, vua Ba Tư không nói gì thêm với người nữ nô lệ xinh đẹp nữa. Vua đi ra, nhưng tỏ ý sẽ trở lại ngay tức khắc. Vì muốn trăm dân cùng chia sẻ niềm vui, vua nói cho các quan hầu biết và sai đi tìm tể tướng. Tể tướng đến, vua sai phân phát một vạn đồng vàng cho các giáo chức đạo Hồi, các nhà thương làm phúc và những người nghèo khó, để tạ ơn Thượng đế ý muốn của vua được thi hành ngay tức khắc. Truyền xong lệnh, vua Ba Tư trở lại bên cạnh người nữ nô lệ xinh đẹp và nói:

- Xin thứ lỗi cho ta vừa bỏ đi đột ngột; như vậy cũng là vì nàng. Nhưng ta sẽ nói rõ việc này vào một dịp khác. Giờ ta muốn nghe nói những chuyện quan trọng hơn nhiều. Hỡi cô nàng thân yêu, ta van nàng, hãy nói cho ta rõ, do đâu suốt một năm ròng, ngày nào nàng cũng trông thấy ta, cũng nghe ta nói, cũng cùng ăn, cùng ngủ với ta, mà vẫn khăng khăng không gì lay chuyển nổi, chẳng hề mở miệng nói với ta một lời, thậm chí không buồn tỏ cho ta thấy nàng hiểu hay không hiểu những lời ta nói với nàng? Ta không rõ nổi tại sao nàng có thể bắt mình phải làm như vậy, chắc hẳn là có nguyên nhân gì kì lạ lắm đây.

Để thỏa mãn sự hiếu kì của nhà vua, người nữ nô lệ xinh đẹp đáp:

- Tâu bệ hạ, phải đem thân làm nô lệ, xa quê hương xứ sở và không chút hi vọng một mai có thể trở về, trái tim tan nát vì mãi mãi xa cha mẹ đẻ, anh trai, bà con, bạn bè, đó chẳng phải là những nguyên do chính khiến cho thiếp giữ vẻ lặng thinh mà Người từng lấy làm lạ hay sao? Tình yêu xứ sở cũng tự nhiên không kém tình phụ tử. Và bất cứ ai đủ trí khôn để hiểu giá trị của tự do thì làm sao chịu đựng nổi khi thấy mình mất tự do. Thể xác có thể bị lệ thuộc quyền hành của một người chủ nắm trong tay sức mạnh và quyền uy, nhưng nghị lực không để người khác làm chủ, thì bao giờ cũng vẫn ỵ nguyên không suy suyển. Bệ hạ có thể nhìn thấy qua con người thiếp một tấm gương về điều đó. Thiếp đã không thể bắt chước vô vàn người đàn ông và đàn bà khốn khổ mà lòng yêu tự do đã khiến họ tìm tới cái chết bằng nghìn cách khác nhau. chết đúng là một quyền tự do mà chẳng ai có thể cấm đoán họ. Giữ được không tự kết liễu cuộc đời mình đi, đối với thiếp đã là quá nhiều.

Vua Ba Tư đáp:

- Ta hoàn toàn tin những điều nàng vừa nói. Nhưng cho đến bây giờ ta vẫn cho rằng một con người kiều diễm, mạnh mẽ, khôn ngoan và thông minh như nàng, do số phận không may buộc làm nô lệ, hẳn phải tự cho mình hạnh phúc khi gặp được người chủ là nhà vua ta chứ.

- Tâu bệ hạ, – người nữ nô lệ xinh đẹp nói – như thiếp vừa giãi bày, cho dù người nô lệ ấy là ai, thì một ông vua cũng không làm chủ được tâm hồn của họ. Người vừa nói một kẻ nô lệ ở vào địa vị thấp hèn may mắn được một đấng quân vương để mắt tới và đem lòng thương yêu, như vậy là đã có thể tìm thấy hạnh phúc trong niềm bất hạnh của mình. Nhưng hạnh phúc nào cơ chứ? Người nô lệ ấy vẫn không thể quên mình bị tước đoạt khỏi vòng tay của cha mẹ đẻ và có thể, của một tình nhân mà mình nguyện sẽ yêu thương trọn đời. Hơn nữa, nếu người nữ nô lệ ấy không thua kém gì về địa vị xã hội nhà vua vừa bỏ tiền ra mua được mình, thì xin Người hãy tự suy xét lấy số phận, lòng phiền muộn và nỗi đau đớn của người ấy, cũng như những việc mà nàng đã có gan liều lĩnh!

Ngạc nhiên về những lời vừa nghe, vua Ba Tư hỏi lại:

- Nàng bảo sao, hỡi nàng? Qua những điều ta vừa nghe, phải chăng nàng cũng thuộc dòng dõi đế vương? Xin hãy vui lòng cho ta sáng tỏ về điểm ấy, xin chớ làm cho ta thêm sốt ruột. Xin hãy nói cho ta biết ai là thân phụ và thân mẫu đã có phúc sinh ra một con người kiều diễm dường này. Ai là các anh, các chị, là bà con của nàng? Và trước hết nàng tên họ là chi?

Lúc này người nữ nô lệ mới nói:

- Tâu bệ hạ, tên thiếp là Gunna của biển;[1] phụ thân đã quá cố là một trong những vua thủy tề hùng cường nhất. Cha thiếp qua đời, vương quốc của Người truyền lại cho anh trai thiếp tên là Xalêch[2] và cho mẹ thiếp cùng trị vì. Bà vốn cũng là công chúa con gái một vua thủy tề khác cũng rất hùng cường. Cả gia đình đang sống yên ổn trong vương quốc thanh bình của mình thì chợt một kẻ thù ghen ghét hạnh phúc của vương triều Xalêch, cử một đạo binh rất mạnh tiến vào xâm chiếm kinh đô. Cả gia đình chỉ còn đủ thì giờ thoát thân cùng một số võ quan trung thành đến ẩn nấp ở một nơi kín đáo không có ai vào ra được.

Ở nơi ẩn náu này, anh trai thiếp vẫn không quên tìm cách đánh đuổi kẻ thù đang xâm chiếm nước nhà. Một hôm anh thiếp gọi riêng thiếp ra và bảo: “Em ơi, vận nước xảy ra chưa biết lành dữ thế nào. Anh có thể ngã xuống trong công cuộc mà anh đang theo đuổi để khôi phục nước nhà nhưng anh sẽ không buồn nếu điều không may ấy chỉ xảy ra cho anh chứ không cho em. Để phòng ngừa bất trắc và giữ cho em được bình yên vô sự, anh muốn gả chồng cho em trước khi anh khởi sự. Nhưng, trong cảnh ngộ gia đình ta hiện nay, anh không thấy có cách nào se duyên em với hoàng tử một nước thủy tề. Anh mong em vui lòng hiểu thấu lòng anh. Anh muốn cho em kết hôn cùng một hoàng tử trên mặt đất. Anh sẽ hết lòng chăm lo việc đó. Với nhan sắc của em, chắc chắn không có một nhà vua nào dù hùng mạnh tới đâu, mà không lấy làm hân hoan được cùng em chia sẻ ngai vàng”.

Những lời đó của anh trai thiếp đã làm cho thiếp nổi giận. Thiếp nói: “Anh ơi, về bên nội cũng như bên ngoại, anh em ta đều sinh ra từ dòng dõi các quốc vương và hoàng hậu thủy tề. Xưa nay em chẳng có chút liên hệ gì với các nhà vua trên mặt đất. Từ ngày lớn lên, có đôi chút hiểu biết về nguồn gốc lâu đời và cao sang của dòng họ ta, em đã nguyện không bao giờ kết hôn với ai khác ngoài các hoàng tử thủy tề. Cảnh ngộ không may của chúng ta hôm nay không làm cho em thay đổi ý định. Nếu anh có bỏ mình trong khi thực hiện sứ mệnh thiêng liêng thì em sẵn sàng được chết với anh, còn hơn là làm theo một lời khuyên mà em không hề chờ đợi ở anh chút nào”.

Vẫn giữ ý định của mình, anh thiếp muốn giảng giải cho thiếp rõ trên mặt đất cũng có những nhà vua không kém gì các vua thủy tề. Điều đó càng làm cho thiếp giận hơn. Thiếp càng giận, anh thiếp càng nói năng nghiêm khắc, và cuối cùng là thiếp cho là mình bị lăng nhục. Hai anh em chia tay nhau, đều không hài lòng. Trong cơn buồn bực thiếp lao xuống đáy biển và tìm tới một hòn đảo gọi là đảo Mặt trăng.

Mặc dù do bực mình mà phải lánh đến hòn đảo vắng, thiếp vẫn hài lòng sống ở đấy. Thiếp tìm đến những nơi vắng vẻ nhất. Tuy nhiên cẩn thận là thế mà vẫn không ngăn được một người có ít nhiều địa vị, có đông đầy tớ đi theo, một hôm xông vào nhà trong lúc thiếp đang ngủ. Ông ta bắt đưa thiếp về nhà ông ta.

Người đàn ông ấy tỏ ra yêu thiếp tha thiết. Ông không từ nan bất cứ việc gì để thuyết phục thiếp đáp lại mối tình đó. Thấy cách mềm mỏng không xong, ông ta nghĩ rằng dùng sức mạnh cưỡng ép thì được việc hơn. Nhưng thiếp đã làm cho ông ta hối hận về việc làm láo xược ấy, khiến ông ta nổi giận và quyết định đưa thiếp ra chợ bán cho một người lái buôn. Người này đã mang thiếp tới dâng hoàng thượng. Nhà buôn này là một con người khôn ngoan, hiền lành và nhân đạo. Thiếp luôn luôn ca ngợi cách cư xử tốt của ông đối với thiếp suốt dọc đường.

Còn về phần bệ hạ, – công chúa Gunna nói tiếp – nếu bệ hạ đã không có sự trọng thị mà thiếp rất hàm ơn, nếu Người không nhiều lần tỏ rõ tình yêu và sự chân thành mà thiếp không chút hoài nghi, nếu Người không vì thiếp cho đuổi hết bọn cung tần mĩ nữ về nhà thì – không dám giả dối đâu – thiếp đã không cùng sống với Người. Có thể ngay từ hôm đầu tiên, khi Người đến với thiếp trong căn phòng này thiếp đã lao xuống biển qua khung cửa sổ kia. Có thể thiếp đã tìm lại được ông anh trai, mẹ và họ hàng của thiếp. Có thể thiếp vẫn còn giữ ý định ấy và thực hiện nó, nếu sau một thời gian thiếp không hi vọng mình thụ thai. Nhưng, trong hoàn cảnh hiện nay, thiếp sẽ không làm như thế nữa. Quả vậy, cho dù thiếp có giãi bày thế nào với anh trai và mẹ thiếp, thì anh và mẹ thiếp cũng sẽ không tin là thiếp đã làm nô lệ một nhà vua như bệ hạ. Không bao giờ anh và mẹ thiếp tha thứ cho thiếp tội đã bằng lòng cam chịu để mất danh dự. Như vậy là, tâu bệ hạ, dù cho một hoàng tử hay một công chúa sẽ ra đời thì đó vẫn là tín vật ràng buộc thiếp mãi mãi với Người. Hi vọng Người sẽ không coi thiếp như một nô lệ, mà là một công chúa không đến nỗi không xứng đáng làm bạn với Người.

Công chúa Gunna kết thúc câu chuyện của mình bằng những lời lẽ như vậy. Nghe xong, vua Ba Tư thốt lên:

- Hỡi công chúa xinh đẹp, hỡi công chúa yêu kiều của ta, nhờ có lòng hiếu kì mà ta vừa nghe được những điều kì diệu khôn xiết, những điều kì thú dường nào! Nhưng trước hết xin cảm ơn nàng đã có lòng tốt và sự kiên nhẫn thủ thách tình yêu chân thành chung thủy của ta. Trước đây, ta vẫn nghĩ không thể nào còn yêu thiết tha hơn như ta đã yêu nàng. Sau khi được biết nàng là một công chúa vĩ đại ta càng yêu nàng nồng nhiệt hơn trước gấp nghìn lần. Công chúa ư? Sao lại nói vậy thưa bà? Bà không còn là công chúa nữa, bà đã là hoàng hậu của ta, hoàng hậu nước Ba Tư, như ta là quốc vương nước ấy vậy. Tước vị ấy của bà chẳng bao lâu nữa sẽ vang lừng khắp nước. Thưa bà, ngay từ ngày mai, cả kinh thành sẽ rõ tin. Sẽ có những hội hè chưa từng thấy bao giờ, để công bố nàng là chính cung hoàng hậu của ta. Điều này chắc đã xong từ lâu, nếu nàng cho ta biết sớm hơn, bởi vì ngay từ phút đầu tiên gặp gỡ, ta đã cảm thấy giống như lúc này đây, là yêu nàng mãi mãi và chỉ có mãi mãi yêu nàng.

Trong khi chờ đợi trả lại cho nàng những gì nàng xứng đáng được hưởng, và qua đó mà thỏa mãn đầy đủ mong muốn của chúng ta, xin hãy nói thêm cho ta rõ về quốc gia và dân chúng các nước thủy tề, mà ta chưa từng được biết. Đúng là ta cũng từng nghe nói tới những người sống dưới nước, nhưng vẫn nghĩ rằng đấy chẳng qua là truyện cổ tích hay ngụ ngôn. Ấy thế mà hóa ra không có gì đúng sự thật hơn, sau những điều nàng vừa kể. Chứng cớ chắc chắn là con người nàng đây, công chúa một nước thủy tề đã vui lòng làm vợ ta. Về mặt ấy trên trái đất quả không một ai có thể tự hào hơn ta. Duy có một nỗi làm ta băn khoăn, xin nàng hãy vui lòng giúp làm sáng tỏ, ấy là không thể hiểu được sao các người có thể sống, làm việc và cử động ở dưới nước mà không bị chết đuối. Trần thế chúng ta cũng có nhiều người có tài ở lâu dưới nước, nhưng tùy theo sức lực và tài nghệ từng người, sau mấy phút buộc phải lên bờ nếu không sẽ chết đuối.

- Tâu bệ hạ, – hoàng hậu Gunna đáp – thiếp vui lòng thỏa mãn điều Người muốn biết. Người thủy tề chúng tôi đi lại dưới đáy biển như người trần đi trên mặt đất. Chúng tôi thở dưới nước như người ta thở trên không. Nước không làm chúng tôi ngạt như đối với người trần, mà nước đã góp phần vào sự sống của chúng tôi. Có một điều đáng chú ý, là đối với chúng tôi nước không làm ướt. Khi cần lên trên mặt đất, chúng tôi chẳng phải hòng khô quần áo. Ngôn ngữ chúng tôi cũng vẫn là ngôn ngữ đã được dùng để viết nên Kinh Thánh và khắc lên dấu ấn của Đấng đại tiên tri Xalômông, con trai vua Đavít[3].

Không thể bỏ qua mà không nói rằng nước dưới đáy biển không ngăn chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Chúng tôi vẫn mở mắt như bình thường mà chẳng thấy khó chịu chút nào. Mắt chúng tôi tốt, cho nên mặc dù biển rất sâu, dưới nước chúng tôi vẫn nhìn tỏ tường như trên mặt đất. Ban đêm cũng vậy. Đáy biển vẫn có mặt trăng soi sáng, các tinh tú đều không bị che lấp. Về các vương quốc thủy tề, vì biển rộng hơn nhiều so với mặt đất, cho nên ở dưới biển có nhiều quốc gia hơn, và các nước thủy tề đều rộng lớn hơn các quốc gia trên mặt đất. Nước được chia thành nhiều tỉnh, mỗi tỉnh có nhiều thành phố đông dân. Cuối cùng cũng có không biết cơ man là bộ tộc, với phong tục và tập quán khác nhau, giống hệt như trên mặt đất vậy.

Cung điện của các quốc vương và các hoàng tử thủy tề đều nguy nga lộng lẫy, được xây dựng bằng cẩm thạch đủ màu sắc và bằng thủy tinh hoặc bằng xà cừ, san hô và những vật liệu quý giá nhất vốn rất sẵn dưới biển. Vàng, bạc và các thứ châu báu dưới ấy dồi dào hơn trên mặt đất nhiều. Không nói tới ngọc trai, những viên ngọc trai to nhất trên mặt đất, thì ở các nước thủy tề người ta chẳng buồn ngó ngàng tới, chỉ các nhà trưởng giả học đòi làm sang mới chịu trang sức bằng các thứ ấy mà thôi.

Bởi vì người dưới thủy tề nhanh nhẹn đến kì diệu, muốn đi đến đâu là đến nơi đó ngay trong nháy mắt, cho nên chẳng cần có ngựa xe. Tuy nhiên, không nhà vua nào là không có những chuồng nuôi ngựa biển, nhưng ngựa thường chỉ để dùng trong các buổi hội hè, lễ chạp hoặc vui chơi của dân chúng. Người ta luyện ngựa để cưỡi chơi và phô bày tài nghệ trong các cuộc đua. Những người khác thì thắng ngựa vào trong các cỗ xe làm bằng xà cừ, được trang trí nhiều vỏ sò, vỏ ốc màu sắc rực rỡ. Các cỗ xe ấy không có mái, để cho mọi người nhìn rõ mặt vua mỗi lần vua muốn ra mắt trăm dân.

Các nhà vua tự điều khiển lấy cỗ xe của mình, không cần có người hầu. Xin khỏi nói tới ngàn vạn đặc điểm rất lạ lùng khác ở các vương quốc thủy tề, – hoàng hậu Gunna nói tiếp – chắc cũng có thể làm vui tai bệ hạ. Song xin phép bệ hạ cho lui việc đó lại vào một dịp rỗi rãi khác, để cho phép thiếp lúc này được bày tỏ một việc trọng yếu hơn nhiều. Ấy là tâu bệ hạ, người thủy tề ở cữ khác hẳn người trên mặt đất. Thiếp lo những bà đỡ của nước ta sẽ không giúp cho thiếp được mẹ tròn con vuông. Hẳn bệ hạ cũng quan tâm đến việc ấy không kém gì thiếp. Nếu được bệ hạ cho phép, thiếp nghĩ rằng vì sự bình yên của thiếp lúc lâm bồn, xin cho được mời mẹ thiếp cùng các chị em họ của thiếp tới đây, đồng thời với ông anh trai thiếp, mà thiếp muốn anh em làm lành với nhau. Những người ấy sẽ hân hoan gặp lại thiếp, nhất là khi được biết thiếp hiện nay đã là hoàng hậu nước Ba Tư hùng cường. Cúi xin bệ hạ cho phép thiếp được làm việc đó. Gia đình thiếp cũng sẽ rất vui lòng được đến chào bệ hạ. Thiếp có thể hứa trước rằng bệ hạ sẽ hài lòng khi đón tiếp họ.

- Thưa bà, – vua nước Ba Tư đáp – bà là người chủ, bà muốn làm gì xin tùy ý. Ta sẽ cố gắng đón tiếp gia đình bà với tất cả nghi thức xứng đáng. Nhưng ta muốn biết, bằng cách nào nàng báo tin cho họ biết và bao giờ họ có thể tới, để ta ra lệnh chuẩn bị đón tiếp cho trọng thể. Tự ta cũng sẽ thân hành đi đón nữa.

- Tâu bệ hạ, – hoàng hậu Gunna nói – chẳng cần những nghi thức ấy, vì họ sẽ có mặt ở đây trong chốc lát, và rồi tự bệ hạ sẽ thấy họ đến bằng cách nào. Xin mời bệ hạ hãy quá bộ sang phòng nhỏ và nhìn sang đây qua bức mành.

Vua nước Ba Tư bước sang căn phòng nhỏ. Hoàng hậu Gunna sai mang đến một cái hỏa lò đã cho đốt lửa cho người hầu lui ra rồi đóng cửa lại. Còn lại một mình, nàng lấy một miếng trầm hương đựng trong chiếc hộp, bỏ vào hỏa lò. Khói bốc lên, nàng đọc những câu thần chú lạ lẫm với vua nước Ba Tư đang chăm chú quan sát từ buồng bên. Nàng đọc chú chưa dứt lời thì mặt biển chợt cuộn sóng. Ngồi trong buồng, vua có thể qua bức mành nhìn rõ những việc diễn ra trên biển.

Cuối cùng mặt biển mở ra, và ngay sau đó xuất hiện một chàng trai trẻ cao lớn khôi ngô, có bộ ria mép màu xanh nước biển. Một phu nhân đã đứng tuổi nhưng dáng dấp đường bệ cũng trồi lên sau chàng, cùng với năm thiếu phụ nhan sắc không hề thua kém hoàng hậu Gunna. Ngay lập tức hoàng hậu Gunna bước tới gần cửa sổ. Nàng nhận ra nhà vua anh trai của mình, mẫu hậu cũng như những người chị em họ. Những người mới xuất hiện cũng đã nhận ra nàng. Toán người này tiến tới như lướt trên mặt nước chứ không cần phải bước. Khi lên tới bờ, họ lần lượt nhảy một cách nhẹ nhàng qua cửa sổ nơi hoàng hậu Gunna đang đứng. Nàng hơi lùi về sau nhường chỗ cho họ lần lượt bước vào. Quốc vương Xalêch, thái hậu và những người chị em họ ôm hôn nàng, nước mắt rưng rưng.

Sau khi được hoàng hậu đón tiếp hết sức trọng vọng và đã ngồi yên trên sập, thái hậu cất lời:

- Con gái của ta ơi, – bà nói – mẹ rất vui mừng được gặp lại con sau một thời gian dài xa cách. Mẹ tin chắc anh con và các chị của con đây cũng nghĩ như mẹ. Con bỏ đi mà chẳng hề nói với ai một lời, khiến cho mẹ, anh và các chị con buồn phiền không thể nào tả xiết. Thật mẹ không thể nói với con là đã tuôn rơi bao nhiêu nước mắt. Mẹ và các anh, các chị con không hiểu có việc gì khác nữa đã khiến con bỏ đi một cách kì lạ ngoài câu chuyện va chạm nhỏ giữa hai anh em, như lời anh con cho mẹ biết. Lời anh con khuyên con hồi đó quả là có lợi cho việc con lập gia thất, trong cảnh ngộ gia đình ta lúc bấy giờ. Đáng lẽ ra con không nên giận dỗi trước một lời khuyên dù con không vừa ý. Mẹ phải nói thật với con rằng, đáng ra con không nên xử sự như cách đó. Nhưng thôi, ta hãy gác chuyện ấy lại, gợi lại làm chi một câu chuyện khiến chúng ta buồn phiền; tất cả chúng ta cần quên đi. Con hãy kể cho chúng ta nghe những gì đã xảy ra với con từ ngày xa cách. Hiện nay con ra sao? Trước tất cả mọi sự, hãy cho mẹ, anh và các chị con đây biết con có được hài lòng hay không.

Hoàng hậu Gunna chạy đến quỳ dưới chân mẹ, rồi đứng lên hôn bàn tay bà và thưa:

- Thưa mẫu hậu, con đã phạm tội lớn, xin thú thật như vậy, và con cảm ơn mẹ đã từ tâm tha thứ cho con. Để vâng lời mẹ, điều con có thể thưa với mẹ là, thông thường ghét của nào trời trao của ấy. Bản thân con đã thử nghiệm rằng, điều mà con trước đây chống lại gay gắt tức là việc lấy chồng người trên mặt đất, thì chính số phận đã đưa đẩy con vào, mặc dù con không muốn.

Thế là nàng kể lại mọi việc, bắt đầu từ chuyện vì bực bội, nàng trồi lên khỏi biển để lên sống trên mặt đất cho tới việc nàng bị bán cho quốc vương Ba Tư làm nô lệ, và hiện đang ở trong cung nhà vua ấy. Vua thủy tề liền bảo nàng:

- Em ơi, tại em cho nên em mới phải chịu đựng bấy nhiêu điều xúc phạm. Em chỉ có thể tự trách mình mà thôi. Em có cách để tự giải thoát. Anh lấy làm ngạc nhiên sao em lại kiên nhẫn chịu làm nô lệ lâu đến như vậy. Thôi em hãy đứng lên, hãy cùng mẹ và anh trở về nước nhà, mà anh đã chiếm lại được từ tay kẻ thù hung bạo đã mang quân xâm lược trước đây.

Từ buồng bên, nghe những lời nói đó, vua nước Ba Tư vô cùng hoảng hốt. Vua tự nhủ:

- Chết rồi, và chắc chắn ta sẽ chết thôi, nếu hoàng hậu của ta, nàng Gunna của ta nghe theo lời khuyên ấy. Nếu nàng bị bắt đi, thì ta không thể nào sống được vì thiếu nàng!

Nhưng hoàng hậu Gunna không để cho vua phải lo sợ lâu. Nàng mỉm cười nói:

- Thưa anh, lời anh vừa nói càng cho em hiểu thêm lòng anh thương em chân thành xiết bao. Trước đây em không chịu được lời anh khuyên nên kết hôn với một hoàng tử trên trái đất. Bây giờ, thiếu chút nữa thì em đâm giận anh vì anh khuyên em hãy từ bỏ lời giao ước với Đấng hùng cường và nổi tiếng nhất trong các hoàng tử ở thế gian. Em không nói về lời giao ước của một nữ nô lệ với chủ của mình. Chúng ta dễ dàng hoàn lại thôi số tiền một vạn đồng vàng mà người chủ đó đã phải bỏ ra để mua em. Em muốn nói tới lời giao ước giữa vợ với chồng, lời giao ước của người vợ không có mảy may nguyên cớ để giận dỗi với chồng, một đấng quân vương ngoan đạo, khôn ngoan, từ tốn, đã đem lòng yêu em đằm thắm nhất. Người đã có những biểu hiện sâu sắc của mối tình duy nhất đối với riêng em ngay từ hôm đầu tiên hạnh ngộ. Người đã cho các cung tần mỹ nữ ra về mà chỉ giữ lại có một mình em. Em là vợ của Người, và Người vừa mới tuyên bố em là hoàng hậu nước Ba Tư, có đầy đủ tư cách tham dự công việc triều chính, hơn nữa em nói là em đã thụ thai. Ơn trời, nếu em sinh hạ được một đứa con trai thì đấy lại thêm một sợi dây nữa ràng buộc em với Người, không có gì chia cắt được.

Như vậy là, thưa anh, – hoàng hậu Gunna nói tiếp – em không thể làm theo lời anh khuyên. Mà xét những điều em vừa giãi bày, chắc anh cũng thấy là không những em phải yêu vua nước Ba Tư như Người đang yêu em mà em còn phải ở lại đây sống suốt đời với Người vì lòng biết ơn hơn là bổn phận. Em hi vọng rằng mẹ, anh và các chị sẽ chấp thuận ý định của em, không chê trách em về việc hôn nhân em đã lựa chọn, nó đem lại danh giá cả cho các đấng quân vương dưới thủy tề cũng như trên mặt đất. Xin mẹ, anh và các chị tha thứ cho em đã dám làm phiền mời các vị từ đáy biển sâu tới đây để cho em được vui sướng nhìn thấy mặt, sau một thời gian xa cách lâu ngày.

- Em ơi, – vua Xalêch đáp – sở dĩ anh khuyên em nên trở về nước, sau khi nghe thuật lại bấy nhiêu khổ ải em đã phải chịu đựng, làm anh cũng đau lòng, ấy là để chứng tỏ với em rằng mẹ, anh và các chị đây đều thương em vô hạn. Riêng anh lúc nào cũng hết sức quý trọng em. Đối với mẹ, các chị và anh đây, không có gì quan trọng hơn việc góp phần làm cho em được hạnh phúc. Cũng bởi những lẽ đó mà về phần anh, sau khi nghe em giãi bày về quốc vương Ba Tư, người chồng mà em hàm ơn rất nhiều, anh chỉ có thể đồng tình với ý định hợp lí và cao cả của em. Anh chắc thái hậu, mẹ chúng ta cùng chung ý nghĩ với anh.

Thái hậu xác nhận những điều vua Xalêch vừa nói.

- Con gái của mẹ ơi, – bà nói với hoàng hậu Gunna -mẹ rất hân hoan thấy con hạnh phúc. Mẹ chẳng có gì nói thêm ngoài những điều anh trai con vừa bày tỏ. Nếu con không thật sự tỏ rõ lòng biết ơn đối với một đấng quân vương yêu con tha thiết như vậy, người đã ban cho con biết bao ân huệ lớn lao, thì chính mẹ đây sẽ là người đầu tiên trách con đấy.

Ngồi ở phòng bên, vua nước Ba Tư hồi nãy càng âu sầu bao nhiêu vì sợ mất hoàng hậu Gunna, thì bây giờ nghe nàng ngỏ ý dứt khoát không xa mình, vua càng mừng rỡ bấy nhiêu. Sau khi nghe những lời giãi bày rành mạch như vậy, làm sao còn có thể nghi ngờ hoàng hậu không yêu mình. Bởi vậy vua càng thấy quý nàng gấp bội, và tự hứa sẽ tìm mọi cách, với quyền lực của mình, để chứng tỏ lòng biết ơn đối với nàng. Trong khi vua Ba Tư đang tự mình suy tính với mình như vậy, thì hoàng hậu Gunna vỗ tay ra lệnh cho bọn người hầu sửa soạn tiệc rượu. Tiệc bày ra, nàng mời thái hậu, quốc vương và các chị em họ tới dùng. Nhưng tất cả mọi người đều có chung một ý nghĩ là mình đang có mặt mà không xin phép trước tronệ cung điện của một nhà vua hùng cường chưa quen biết. Ấy thế mà cùng nhau ngồi vào bàn ăn uống trong khi không có mặt chủ nhà thì thật là khiếm nhã quá. Họ cùng đỏ mặt. Sự xúc động ấy làm cho lửa lòe ra khỏi miệng và mũi, mắt họ cũng rực sáng lên.

Trông thấy cảnh tượng ấy, vua Ba Tư hết hồn vì không chút chờ đợi và cũng chẳng rõ nguyên nhân. Hoàng hậu Gunna thấu hiểu ý nghĩ của các người thân trong gia đình, liền đứng lên, nói sẽ trở lại ngay. Nàng sang phòng bên. Sự có mặt của nàng làm yên lòng vua Ba Tư.

- Tâu bệ hạ, – nàng nói – chắc bệ hạ hài lòng về điều em quyết định vừa rồi để đền đáp thịnh tình của Người. Thực ra, em hoàn toàn có thể nghe theo lời khuyên của anh trai em, và cùng với anh và mẹ trở về nước nhà. Nhưng em không thể nào ăn ở bội bạc với ngài, nếu như vậy thì tự em cũng chê trách mình.

- Ôi! Hoàng hậu của ta ơi! – Vua Ba Tư thốt lên. – Xin đừng nói tới ơn nghĩa và thịnh tình. Nàng chẳng có gì phải hàm ơn ta, ngược lại chính ta mới đội ơn nàng nhiều, và chẳng bao giờ ta có thể tỏ rõ đầy đủ lòng biết ơn đối với nàng. Trước đây, ta không tin nàng yêu ta tới mức như nàng vừa giãi bày, bởi vậy ta càng thêm xúc động.

- Ồ, làm sao em có thể không yêu bệ hạ? – Hoàng hậu Gunna đáp. – Sau bao nhiêu vinh dự được bệ hạ ban cho, sau biết bao việc tốt lành bệ hạ đã làm vì em, sau vô vàn biểu hiện yêu đương mà thiếp không thể không xúc động, làm sao thiếp có thể không hết lòng yêu Người? Nhưng, tâu bệ hạ, – nàng nói tiếp – chúng ta hãy tạm gác câu chuyện ấy lại để cho em được chuyển đến tình thân hữu chân thành của thái hậu mẹ em và quốc vương anh trai em đối với Người. Mẹ em và anh trai em đang nôn nóng muốn được gặp bệ hạ để bày tỏ tình thân hữu ấy. Thậm chí em nghĩ là đã sơ suất làm cho anh trai và mẹ em bất bình, vì muốn mời các vị một tiệc rượu nhẹ trước khi các vị được yết kiến bệ hạ. Vậy, cúi xin bệ hạ hãy vui lòng bước sang phòng bên cho mẹ và anh em được làm quen.

- Thưa bà, – vua nước Ba Tư đáp – ta rất thích thú được chào những vị thân nhân của nàng, nhưng ánh lửa lóe ra khỏi mũi và miệng họ làm cho ta sợ.

- Tâu bệ hạ, – hoàng hậu cười đáp – xin bệ hạ chớ bận tâm, những ánh lửa lóe lên ấy không chứng tỏ gì khác niềm băn khoăn của họ tùy tiện dùng tiệc trong cung điện của Người. Xin bệ hạ hãy ban cho họ vinh dự được gặp mặt và cùng dự tiệc với Người.

❀ ❀ ❀

[1] Gunna, tiếng Ba Tư, có nghĩa là Hoa hồng, hoặc Hoa lựu.

[2] Xalêch, tiếng A Rập có nghĩa là Tốt lành.

[3] Tức là tiếng A Rập (ND).

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.