Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 697 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NUARÊTĐIN VÀ NGƯỜI ĐẸP BA TƯ (tt)

❊ ❊ ❊

Trong khi Sêch Ibơrahim cạn chén xong, đang ăn nốt nửa quả táo, thì Người Đẹp Ba Tư đã rót một chén nữa, lần này lão uống không từ tốn như chén đầu. Đến chén thứ ba, nàng vừa đưa lão đã cạn luôn, chẳng chút khách khí. Lão định uống chén thứ tư thì Nuarếtđin thôi không giả vờ ngủ, chàng nhỏm đậy, nhìn lão cười ha hả:

- Này cụ Sêch Ibơrahim ơi, tôi bắt quả tang rồi đấy nhé, cụ vừa nói với tôi cụ đã từ rượu, thế mà cụ vẫn uống.

Sêch Ibơrahim không chờ đợi cơ sự này. Lão hơi đỏ mặt. Tuy nhiên, không vì vậy mà lão không cạn chén. Uống xong, lão nói:

- Thưa ngài, nếu việc tôi làm là có tội thì tội ấy không phải tại tôi mà tại phu nhân đây gây nên. Trước một con người xiết bao kiều diễm thế này, làm sao có thể không khuất phục được cơ chứ?

Người Đẹp Ba Tư làm ra vẻ bênh lão:

- Cụ Sêch Ibơrahim ạ, cứ để mặc anh ta nói, chớ có ngại, mời cụ cứ tiếp tục uống và vui chơi.

Lát sau, Nuarếtđin rót rượu cho chàng và Người Đẹp. Thấy chàng không rót rượu cho mình, Sêch Ibơrahim cầm cái chén đưa ra và nói:

- Còn tôi? Ngài tưởng tửu lượng tôi không bằng ngài sao?

Nghe câu đó, Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư cùng phá lên cười. Nuarếtđin rót rượu cho lão, rồi ba người cùng tiếp tục vui đùa, cười cọt và uống cho tới gần nửa đêm. Lúc này, Người Đẹp Ba Tư chợt nhận ra từ nãy đến giờ bàn rượu chỉ được thắp sáng bằng mỗi một cây nến thôi. Nàng tiên nói với lão già gác cổng:

- Cụ Sêch Ibơrahim này, cụ mang lại đây cho chúng tôi chỉ mỗi ngọn đèn, mà kia có bao nhiêu là nến tốt? Xin cụ hãy vui lòng đốt tất cả lên cho sáng sủa.

Rượu đã ngà ngà, và đang nói chuyện dở với Nuarếtđin, lão không buồn giữ lễ nữa, lão đáp:

- Muốn sáng thì cô hãy tự đi mà thắp lấy, việc đó hợp với một người trẻ trung như cô. Nhưng chú ý chỉ nên thắp năm, sáu cây là đủ.

Người Đẹp Ba Tư đứng lên, lấy một cây nến châm vào ngọn đang cháy trên bàn, rồi lần lượt thắp sáng hết tám mươi cây nến, chứ không chỉ năm, sáu cây như lời Sêch Ibơrahim dặn.

Lát sau, trong khi lão đang mải nói chuyện với Người Đẹp về một chuyện gì đó, Nuarếtđin xin lão hãy thắp vài ba bộ đèn treo. Sêch Ibơrahim đáp:

- Cậu hẳn lười biếng lắm, hoặc là không mạnh khỏe bằng lão, thì mới không tự mình thắp được. Nào, hãy đi mà thắp các bộ đèn treo nhưng chỉ được thắp ba chùm thôi nhé.

Nuarếtđin thắp không chỉ ba, mà là tất cả tám mươi bộ đèn treo, và mở hết cửa sổ ra. Sêch Ibơrahim mải nói chuyện với Người Đẹp Ba Tư cũng chẳng có ý kiến gì. Lúc ấy hoàng đế Harun An-Rasít chưa đi nghỉ. Vua đang ngồi trong một phòng khách ở hoàng cung xây sát bờ sông Tigrơ, mặt quay về hướng khu vườn có Cung Hội họa. Tình cờ mở cửa sổ, vua cực kì ngạc nhiên thấy Cung Hội họa sáng choang. Thậm chí vừng sáng ấy lúc đầu còn làm vua ngỡ có một đám cháy nào trong thành phố. Lúc ấy tể tướng Giafa đang hầu cạnh vua. Ông đang chờ vua đi nghỉ để ông còn được trở về nhà. Hoàng đế giận dữ hỏi:

- Này, ông tể tướng chểnh mảng kia, hãy đến đây, hãy xích lại gần đây mà xem Cung Hội họa, và hãy nói cho ta biết tại sao vào giờ này khi không có ta ở đó, đèn lại thắp sáng như vậy.

Nghe nói, tể tướng đã bắt đầu run, ông sợ điều vua phán là đúng sự thật. Ông tới gần, và càng run lẩy bẩy khi thấy quả đúng như vậy. Tuy nhiên, phải tìm cho được một cái cớ gì để mau mau làm giảm bớt cơn thịnh nộ của Người. Ông nói dối:

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, thần không thể tâu bệ hạ một điều khác, ngoài chuyện cách đây bốn hoặc năm ngày, Sêch Ibơrahim có đến gặp thần cho biết lão có ý định tập hợp các chức việc trong giáo đường của lão, để cử hành một lễ vẫn được Người cho phép cử hành trong thời buổi thịnh trị này. Thần hỏi lão có muốn được giúp đỡ gì về buổi lễ này không, lão nhờ thần xin Người cho phép được hội họp và làm lễ ngay trong Cung. Thần cho lão, bảo lão có thể làm việc đó, thần sẽ tâu bệ hạ xin phép cho lão nhưng thần đã quên khuấy mất, xin bệ hạ tha thứ cho. Có lẽ Sêch Ibơrahim chọn hôm nay để làm lễ, và chắc là trong giáo đường, lão muốn cho họ được thưởng thức cảnh đẹp cho nên đã cho đốt nến lên chăng.

- Giafa à, – hoàng đế nói, giọng đã có vẻ nguôi nguôi – theo như ông vừa nói, ông đã phạm một lúc ba tội không thể tha thứ: Một là, đã cho phép Sêch lbơrahim cử hành buổi lễ trong cung của ta, một anh canh cổng bình thường đâu phải là một vị đại thần để được hưởng vinh dự lớn đến như vậy; hai là, đã không tâu cho ta rõ; và thứ ba là đã không hiểu rõ ý định thực của lão ấy. Quả vậy, ta tin lão gặp ông là có ý đồ xem có xin được món bổng lộc đỡ cho việc chi phí không. Ông đã không nghĩ tới điều đó cho nên lão trả thù bằng cách phung phí một món còn lớn hơn là thắp sáng tất cả đèn nến thế này. Và ta cho lão làm như vậy cũng chẳng phải sai.

Đại tể tướng Giafa nhẹ hẳn người khi thấy hoàng đế xoay câu chuyện sang giọng ấy. Ông vui mừng xin nhận về mình tất cả tội lỗi, và thẳng thắn thú nhận là mình đã sai khi không ban cho Sêch Ibơrahim một vài đồng vàng. Hoàng đế mỉm cười nói tiếp:

- Cơ sự đã như vậy, thì phạt ông về những lỗi lầm đã mắc là sự công bằng. Nhưng hình phạt này cũng sẽ nhẹ nhàng thôi. Ấy là đêm hôm nay ông phải thức cùng ta, và cùng ta đến chơi với những người ấy, ta muốn gặp họ. Trong khi ta mặc áo quần như thể mình là một trưởng giả, ông hãy cùng Mêrua cải trang đi. Xong, hai người trở lại đây cùng với ta.

Tể tướng Giafa định nói là đêm đã khuya, có lẽ những người hội họp sẽ về trước khi vua tới, song hoàng đế trả lời là mình nhất quyết muốn xem. Bởi vì việc hội họp chẳng qua là do tể tướng vừa bịa ra, nên ông cực kì tuyệt vọng khi nghe vua nhất quyết đòi đi bằng được, nhưng đành phải vâng lời, đâu có được phép cãi lại vua.

Vậy là hoàng đế ra khỏi cung, ăn vận như trưởng giả, có tể tướng Giafa và trưởng hoạn nô Mêrua theo hầu. Ba người đi bộ qua các đường phố của Bátđa tới khu vườn. Cổng vườn mở toang, bởi Sêch Ibơrahim đã sơ ý không đóng khi đi mua rượu về. Hoàng đế hết sức bất bình về chuyện đó:

- Giafa à, – vua nói – cổng mở toang hoang vào giờ này có nghĩa là thế nào? Có phải là Sêch Ibơrahim vẫn có thói quen để ngỏ cổng ban đêm thế này sao? Ta hi vọng là chỉ vì bối rối với buổi lễ cho nên lão mới sơ ý lần này là một mà thôi.

Hoàng đế bước vào vườn, đến gần cung, nhưng không muốn vào phòng khách khi chưa biết có chuyện gì trong ấy. Vua hỏi ý kiến tể tướng xem có nên leo lên các cây cao ở gần đó để nhìn vào hay không. Nhưng nhìn vào cửa phòng khách, tể tướng thấy nó hé mở, liền báo cho nhà vua biết. Quả là Sêch Ibơrahim đã để hé như vậy, khi lão bị Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư khẩn khoản mời vào cho bằng được để cùng uống rượu với nhau.

Hoàng đế bỏ ý định trước, vua nhẹ nhàng bước lên phòng khách. Cửa phòng khách hè mở, có thể đứng ở ngoài nhìn vào trong mà không bị những người bên trong nom thấy. Vua cực kì ngạc nhiên khi thấy một phu nhân xinh đẹp có một không hai đang ngồi cùng một chàng trai vào loại tuấn tú nhất, còn lão Sêch Ibơrahim thì chễm chệ ngồi uống rượu với họ. Lúc ấy Sêch Ibơrahim đang nâng li nói với Người Đẹp Ba Tư:

- Thưa cô nương xinh đẹp, một người sành rượu không bao giờ cạn chén mà trước khi uống không hát đôi ba câu. Xin cô nương vui lòng lắng nghe cho, bài tôi sắp hát đây là một trong những bài tình ca đẹp nhất.

Lão hát thật. Hoàng đế càng hết sức ngạc nhiên; cho đến lúc bấy giờ vua không biết lão già này nát rượu mà vẫn cho đấy là một con người khôn ngoan, trịnh trọng, như bộ dạng hàng ngày của lão. Vua cẩn thận lùi xa, bước xuống mấy bậc thềm nói với tể tướng Giafa đang đứng ở đấy:

- Hãy lên đây, và nhìn thử xem bên trong có phải là các chức sắc giáo đường hay không, như lời ông nói với ta.

Nghe giọng vua, tể tướng biết cơ sự rõ ràng không hay cho mình rồi. Ông bước lên, nhìn qua khe cửa, và run lên cho tính mạng của mình khi thấy cảnh tượng ba người nghênh ngang trong phòng khách của vua. Trở lại hết sức hoang mang, tể tướng không biết tâu với vua thế nào. Hoàng đế nói:

- Thật lộn xộn quá! Người ta dám cả gan đến vui chơi trong vườn và trong cung của ta. Lão Sêch Ibơrahim đã cho phép họ vào, lại cùng vui đùa với họ nữa chứ! Tuy nhiên ta nghĩ rằng thật khó có một chàng trai và một cô gái nào lại khôi ngô, xinh đẹp và xứng đôi vừa lứa hơn. Trước khi nổi cơn thịnh nộ, ta muốn biết rõ hơn họ là ai và đến đây nhân dịp gì.

Vua lại bước lên gần cửa để quan sát. Tể tướng đi theo, đứng đằng sau trong khi vua chăm chú nhìn. Cả vua và tể tướng cùng nghe Sêch Ibơrahim đang nói với Người Đẹp Ba Tư:

- Cô nương đáng yêu ơi, để cho niềm vui của chúng ta tối hôm nay được trọn vẹn, cô có ước mong một điều gì chăng?

Người Đẹp Ba Tư đáp:

- Tôi nghĩ rằng mọi việc sẽ càng tốt đẹp hơn nếu cụ có một nhạc cụ nào đó mà tôi biết chơi, thì cụ vui lòng mang giúp lại đây cho tôi mượn.

- Cô có biết chơi đàn tì bà không, thưa cô nương? -Sêch Ibơrahim hỏi.

- Cụ mang đến đây, rồi cụ sẽ thấy. – Người Đẹp Ba Tư đáp.

Chẳng cần phải đi đâu xa, Sêch Ibơrahim lôi trong một cái tủ ra một cây tì bà đưa cho Người Đẹp Ba Tư. Nàng bắt đầu so dây. Hoàng đế liền quay lại nói với tể tướng Giafa:

- Giafa à, cô gái trẻ này sắp chơi đàn tì bà, nếu nó chơi hay ta sẽ tha tội cho nó, cũng như vì nó mà ta tha tội cho chàng trai. Còn ông thì ta không thể tha, mà cho treo cổ.

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, – tể tướng Giafa đáp – nếu quả như vậy thì tôi cầu xin Thượng đế cho cô ấy chơi tồi.

- Tại sao vậy? – Hoàng đế hỏi.

- Vì được chết cùng lúc với người đẹp và tươi vui thế kia cũng được an ủi phần nào. – Tể tướng đáp.

Vốn thích những câu bông đùa, vua phá ra cười. Rồi quay về phía cửa mở hé, vua lắng nghe Người Đẹp Ba Tư chơi đàn.

Nàng bắt đầu dạo nhạc. Chỉ nghe qua mấy cung, hoàng đế đã biết ngay cô này là một tay chơi nhạc vào bậc thầy. Tiếp đó nàng vừa đàn vừa hát, giọng hay tuyệt vời. Nàng trình bày đầy nghệ thuật và điêu luyện đến nỗi hoàng đế cũng phải say mê.

Người Đẹp hát xong. Hoàng đế xuống cầu thang. Tể tướng theo sau. Vua bảo ông:

- Đời ta chưa từng được nghe một người nào hát giọng hay và chơi đàn giỏi như vậy, Ixăc, người mà ta vẫn cho là người đánh đàn giỏi nhất thế gian, chắc cũng còn kém xa. Ta hài lòng đến nỗi muốn vào để nghe cô ấy đánh đàn trước mặt ta. Cái chính là ta nên vào bằng cách nào đây.

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, – tể tướng Giafa nói – nếu ngài bước vào lúc này và Sêch Ibơrahim nhận ra ngài thì lão ta sẽ chết vì khiếp đảm.

- Đó chính là điều làm ta băn khoăn, – vua nói – ta không muốn gây nên cái chết của lão sau khi lão đã hầu hạ ta một thời gian dài như vậy. Ta vừa nảy ra một ý, có thể được việc. Ông hãy ở lại đây cùng Mêrua, và chờ ta ở đầu lối đi thứ nhất ở trong vườn.

Vì khu vườn ở sát bờ sông Tigrơ, hoàng đế đã cho xây một hồ đẹp, thông với sông, cá sông Tigrơ thường đến trú trong hồ. Những người đánh cá đều biết vậy và rất muốn đến đánh cá ở đây, nhưng hoàng đế đã ra lệnh cho Sêch Ibơrahim dứt khoát cấm không cho một ngư phủ nào bén mảng tới. Tuy nhiên, đêm hôm đó, sau khi hoàng đế vào và vẫn để ngỏ cổng như cũ, thì một người đánh cá nhân cơ hội lẻn vào trong vườn, tới tận hồ nước. Anh ta buông lưới, sắp sửa kéo lên, thì hoàng đế đến. Thấy Sêch Ibơrahim chểnh mảng không đóng cổng, vua biết ngay thế nào cũng có người vào trộm cá, cho nên muốn nhân đó thực hiện ý định của mình. Mặc dù vua đã cải trang, người đánh cá vẫn nhận ra được, anh ta vội quỳ mọp xuống dưới đất van xin tha tội, nói rằng vì quá nghèo đói cho nên trót làm càn. Vua đáp:

- Hãy đứng lên, chớ sợ gì cả! Và cứ kéo lưới đi, để ta xem có cá hay không!

Yên tâm, người đánh cá vội vàng làm theo lời vua phán, và kéo lên được năm, sáu con cá thật đẹp. Vua chọn hai con to nhất, sai bẻ cành cây xâu lại với nhau.

Tiếp đó vua bảo người đánh cá:

- Hãy đưa chiếc áo của anh cho ta mượn và hãy mặc áo của ta vào!

Việc đổi áo làm xong trong nháy mắt. Hoàng đế đã cải trang thành ngư phủ, từ đôi dép dưới chân cho tới chiếc khăn đội đầu. Vua bảo người đánh cá:

- Hãy cầm lấy lưới và đi chỗ khác làm tiếp công việc của mày!

Người đánh cá hớn hở vì vận may. Anh ta vừa đi khỏi, hoàng đế xách hai con cá trở lại tìm tể tướng Giafa và Mêrua. Vua đến trước mặt, Giafa chưa nhận ra:

- Mày định xin xỏ cái gì? Hãy đi đi! – Ông đuổi. Hoàng đế phá ra cười. Tể tướng lúc này mới nhận ra:

- Có thể nào chính bệ hạ đó ư, tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ? Tôi thật không nhận ra Người, xin miễn thứ cho tội bất kính. Bây giờ Người đã có thể vào trong phòng khách, mà không sợ Sêch Ibơrahim nhận ra nữa.

- Hai ông cứ đứng đây, – vua bảo tể tướng Giafa và Mêrua – trong khi ta đóng vai người đánh cá.

Hoàng đế bước lên, đập cửa phòng khách. Nuarếtđin nghe, bảo cho Sêch Ibơrahim biết hình như có ai hỏi lão đấy.

Hoàng đế mở cửa, và chỉ bước một chân vào phòng khách đủ cho mọi người trông thấy thôi, vua nói:

- Cụ Sêch Ibơrahim ạ, tôi là Kêrim dân chài đây mà. Tôi vừa đánh được hai con cá rất ngon. Thấy cụ tiếp đãi bạn bè, tôi vào hỏi cụ có cần cá hay không.

Cả Nuarếtđin lẫn Người Đẹp Ba Tư đều mừng rơn khi nghe nói có cá. Nàng nói:

- Cụ Sêch Ibơrahim ạ, xin cụ vui lòng cho anh ta vào để chúng tôi được xem cá của anh ta.

Sêch Ibơrahim không còn đủ minh mẫn để hỏi người đánh cá làm sao và từ đâu vào được tận đây. Lão chỉ còn nghĩ tới chuyện làm vui lòng Người Đẹp. Vất vả lắm lão mới xoay mình được về phía cửa. Vì đã quá chén, lão lắp bắp hỏi nhà vua, mà lão vẫn ngỡ là người chài:

- Hãy vào đây, thằng ăn trộm kia, hãy vào đây, cho chúng ta xem cá của mày!

Hoàng đế tiến lên, bắt chước rất khéo dạng điệu của người dân chài, đưa trình hai con cá.

- Mấy con cá ngon quá. – Người Đẹp Ba Tư nói. – Tôi sẵn lòng dùng nếu được nấu nướng cho tươm tất vào.

- Cô nương nói có lí. – Sêch Ibơrahim nói. – Cá còn sống như thế này thì mày bảo chúng ta dùng làm gì? Mày hãy đưa đi nấu rồi mang lại đây cho chúng ta, trong nhà bếp có đủ mọi thứ cần thiết đấy.

Hoàng đế trở lại nói với tể tướng Giafa:

- Giafa à, họ đón tiếp ta tử tế lắm, nhưng đòi ta phải nấu cá cơ.

- Xin ngài để tôi làm, chỉ một lát là xong ngay thôi mà. – Tể tướng nói.

- Ta muốn sắm vai của mình cho đến cùng, cho nên tự ta sẽ nấu lấy. Ta đã sắm thật đạt vai ngư phủ, thì ta cũng phải sắm được vai đầu bếp chứ. Thời còn trẻ, ta vẫn làm bếp mãi, ta nấu nướng không xoàng đâu.

Nói đến đây, vua đi xuống căn nhà nhỏ của Sêch Ibơrahim. Tể tướng và Mêrua đi theo.

Cả ba người cùng bắt tay vào việc, tuy căn bếp của nhà Sêch Ibơrahim không rộng nhưng có đủ sẵn mọi thứ họ cần, chẳng bao lâu họ nấu xong món cá. Hoàng đế mang đĩa cá lên, sau khi bày ra bàn, vua còn để trước mặt mỗi người một quả chanh, ai cần thì dùng. Ba người ăn ngon lành, đặc biệt là Nuarếtđin và Người Đẹp Ba Tư. Trong khi đó hoàng đế vẫn kiên nhẫn đứng hầu.

Ăn xong, Nuarếtđin nhìn hoàng đế nói:

- Bác đánh cá ạ, không thể có món cá nào ngon hơn thế này, bác đã làm cho chúng tôi hết sức hài lòng. Vừa nói chàng vừa cho tay vào người lôi ra túi tiền đựng ba mươi đồng vàng, phần còn lại trong số bốn mươi đồng mà Xanjia, quan hầu của Banxôra, đã cho trước khi chàng lên đường.

- Hãy cầm lấy, – chàng nói – giá mà có thì tôi còn trả cho bác nhiều hơn nữa, giá bác gặp tôi trước khi tôi tiêu tán gia tài điền sản, thì tôi đã giúp cho bác thoát khỏi cảnh nghèo. Tuy nhiên bác hãy vui lòng nhận lấy món tiền nhỏ, cứ coi như thể nó to lớn hơn thế này nhiều.

Hoàng đế đón lấy túi tiền, cảm ơn, và cảm thấy trong túi có vàng, vua nói với Nuarếtđin:

- Thưa ngài, tôi không cảm tạ được hết tấm lòng hào hiệp của ngài. Gặp được những con người lịch sự như các vị thật là cả một niềm hạnh phúc. Tuy vậy trước khi lui về, tôi có một lời cầu xin, mong ngài chớ khước từ. Trông thấy cây đàn tì bà kia, tôi nghĩ thế nào cô nương đây cũng biết đàn. Nếu ngài nói giúp được, xin cô nương vui lòng cho nghe một khúc, thì tôi thật hả hê mà ra về, xưa nay tôi vốn mê nghe đàn tì bà.

- Người Đẹp Ba Tư à, – Nuarếtđin liền nói ngay với nàng – xin nàng hãy ban cho tôi ân huệ ấy, mong nàng không chối từ.

Nàng cầm cây đàn, sau khi so dây, vừa hát vừa tự đệm đàn. Hát xong, nàng vẫn tiếp tục dạo nhạc, tài hoa đến nỗi hoàng đế mê mẩn.

Người Đẹp Ba Tư đàn dứt, hoàng đế kêu lên:

- Chao! – Giọng hát, tay đàn và nghệ thuật mới tuyệt diệu làm sao. Chưa bao giờ có ai hát hay hơn, chưa bao giờ có ai chơi đàn tì bà hay hơn thế. Chưa bao giờ có ai được nghe và xem cảnh tượng như thế này.

Vốn quen nếp biếu không những vật mình có cho bất cứ ai ngỏ lời ngợi khen, Nuarếtđin liền nói:

- Bác chài ạ, tôi xem bác cũng là người sành sỏi đấy. Vì bác đã tỏ ý thích cô nương đây đến như vậy, thì tôi biếu bác, cô ta thuộc về bác rồi đấy. Vừa nói chàng vừa đứng lên cầm chiếc áo ngoài lúc nãy vừa cởi ra, định mặc vào và bỏ đi nơi khác để cho hoàng đế mà chàng vẫn cho là một ngư phủ, được làm chủ Người Đẹp Ba Tư.

Cực kì ngạc nhiên trước sự hào phóng của Nuarếtđin, Người Đẹp ngăn chàng lại, âu yếm nhìn và nói:

- Ngài định đi đâu, thưa ngài? Hãy gượm, thiếp van ngài, xin mời ngài hãy yên vị, và hãy nghe thiếp đàn và hát khúc hát này!

Chàng làm theo lời nàng. Thế là tay nâng đàn, nước mắt rưng rưng, nàng ứng khẩu hát một bài ngụ ý trách móc chàng không yêu mình cho nên mới dễ dàng biếu không một cách tàn nhẫn như vậy cho Kêrim, một người dân chài – cũng như chàng, nàng không biết đấy là hoàng đế – Hát xong, nàng đẩy cây đàn sang bên rồi rút khăn che mặt, khóc nức nở.

Trước những lời trách móc ấy, Nuarếtđin vẫn không nói năng. Thái độ lặng im của chàng chứng tỏ chàng không hối hận là đã biếu nàng cho người đánh cá. Nhưng hoàng đế ngạc nhiên vì những điều vừa nghe, liền hỏi lại:

- Thưa ngài, theo như tôi thấy đây, cô nương cực kì xinh đẹp, rất hiếm có, rất đáng thán phục, mà ngài hào hiệp biếu tôi, là nô lệ của ngài. Vậy ra ngài là chủ nhân?

- Đúng như vậy đó, Kêrim ạ, – Nuarếtđin đáp – và rồi bác sẽ càng ngạc nhiên nhiều hơn nữa nếu biết rõ tất cả những điều không may xảy đến cho ta từ ngày có cô nương này đây.

- Ồ, thế thì ngài làm ơn kể đi. – Hoàng đế vẫn đóng rất khéo vai ngư phủ. – Xin ngài hãy vui lòng cho tôi được nghe câu chuyện của ngài.

Nuarếtđin vừa biếu nhà vua một thứ của cải quý báu hơn nhiều, chàng còn tiếc gì mà không vui lòng thỏa mãn lời cầu xin này. Chàng thuật lại, bắt đầu từ việc tể tướng cha chàng mua Người Đẹp Ba Tư để dâng vua Banxôra, và không bỏ qua một chi tiết nào về những việc đã xảy ra sau đó, cho đến khi chàng cùng nàng chạy đến Bátđa.

Chàng thuật xong, nhà vua hỏi:

- Vậy bây giờ ngài định đi đâu?

- Tôi đi đâu ư? – Nuarếtđin đáp. – Tôi chỉ còn biết nhắm mắt đưa chân, tùy trời đất run rủi.

- Nếu ngài tin lời tôi, – hoàng đế nói – thì ngài chớ đi đâu nữa. Ngược lại, ngài nên trở về Banxôra. Tôi sẽ viết cho ngài một bức thư, ngài sẽ đưa cho nhà vua, bảo là thư của tôi. Ngài sẽ thấy là sau khi đọc thư, vua sẽ đón tiếp ngài tử tế và chẳng ai dám nói ngài gì đâu.

- Bác Kêrim à, – Nuarếtđin nói – điều bác nói với tôi thật quá đỗi lạ lùng. Có bao giờ một người đánh cá như bác lại thư từ đi lại với một nhà vua!

- Xin ngài chớ ngạc nhiên, – hoàng đế đáp – thuở nhỏ nhà vua ấy với tôi cùng học chung một thầy. Chúng tôi xưa nay vẫn là những người bạn chí cốt. Đúng là số phận chúng tôi không giống nhau. Trời cho ông ấy làm vua còn tôi là người đánh cá. Mặc dù kẻ sang người hèn, tình bạn giữa chúng tôi vẫn không giảm sút. Ông ta đã nhiều lần hết sức nồng nhiệt muốn giúp đỡ tôi thoát khỏi cảnh nghèo hèn. Đáp lại sự ân cần ấy tôi chỉ xin ông ta đừng chối từ bất cứ điều gì khi tôi có việc cần nhờ ông giúp đỡ bạn bè. Xin ngài cứ để mặc tôi làm. Rồi ngài sẽ thấy kết quả cho mà xem.

Nuarếtđin chấp thuận điều hoàng đế muốn. Vì trong phòng khách có đủ những thứ cần thiết, vua biên ngay cho quốc vương Banxôra một bức thư. Phía trên bức thư, gần sát góc phải trang giấy vua ghi thêm dòng sau đây, chữ thật bé: “Nhân danh Thượng đế bác ải vô cùng”. Đó là câu ước lệ để nói rõ hoàng đế muốn tuyệt đối được tuân lệnh.

THƯ CỦA HOÀNG ĐẾ HARUN AN-RASÍT GỬI QUỐC VƯƠNG BANXÔRA

“Harun An-Rasít, con trai của Matđi, gửi thư này tới Môhamét Zinơbi, em họ của tôi. Chừng nào Nuarểtđin con trai tể tướng Khacan, người mang thư này tới đưa cho chú và chú đã đọc xong, ngay lập tức chú cởi ảo hoàng bào ra, mặc cho người đỏ và mời người đỏ ngồi lên ngai vàng thay chú. Phải chấp hành ngay.

Chào vĩnh biệt”.

Hoàng đế viết xong, gấp lại và niêm phong bức thư, đưa cho Nuarếtđin. Vua không cho chàng biết nội dung thư mà chỉ dặn:

- Hãy cầm lấy, và xuống tàu, đi ngay chuyến sắp khởi hành, hôm nào cũng có một chuyến nhổ neo vào giờ này. Ngài sẽ ngủ đêm trên tàu.

Nuarếtđin cầm thư lên rồi lên đường với ít tiền còn lại trong số tiền Xanjia cho hôm trước, trong khi Người Đẹp Ba Tư hết sức buồn bã về việc chàng ra đi, ngồi thu lu vào một góc sập và khóc như mưa.

Nuarếtđin vừa ra khỏi phòng khách, thì Sêch Ibơrahim nãy giờ vẫn im lặng, đưa mắt nhìn hoàng đế, mà lão vẫn ngỡ là anh chài Kêrim, và bảo:

- Hãy nghe đây, Kêrim, anh mang đến hai con cá chỉ đáng giá nhiều lắm là hai mươi lăm đồng tiền kẽm. Ấy thế mà người ta trả cho anh cả một túi tiền và một nữ nô lệ, anh nghĩ rằng tất cả cái đó là phần anh hết sao? Ta nói cho anh biết, ta đòi chia một nửa con nô lệ. Còn về túi tiền, hãy đưa cho ta xem bên trong đựng gì, nếu là bạc, thì cho anh cầm lấy một đồng, nếu là vàng thì ta lấy hết và cho anh vài đồng kẽm hiện còn trong túi của ta kia.

Muốn hiểu rõ sự tình sắp xảy ra, ta cần nhớ trước khi bưng món cá vào phòng khách, hoàng đế sai đại tể tướng Giafa mau mau trở lại hoàng cung, gọi bốn tên hầu mang một bộ trang phục của vua đến chờ ở phòng bên, đợi lúc nào vua vỗ tay ra hiệu thì mang vào. Tể tướng đã thi hành mệnh lệnh đó, lúc này đang cùng Mêrua và bốn tên hầu đứng chờ ở nơi quy định. vẫn đóng vai người đánh cá, hoàng đế mạnh dạn đáp lời Sêch Ibơrahim:

- Này cụ Sêch Ibơrahim, tôi không biết có gì trong túi tiền, bất kì là bạc hay vàng, tôi đều vui lòng chia cho cụ một nửa, còn về người nô lệ, tôi muốn dành riêng cho mình thôi. Nếu cụ không bằng lòng điều kiện ấy thì cụ chẳng được gì sất.

Nổi giận về sự láo xược của một tên chài đối với mình, Sêch Ibơrahim vớ ngay một chiếc đĩa sứ trên bàn, ném vào đầu hoàng đế. Nhà vua chẳng khó khăn gì mà không tránh được vật do một người say rượu ném, cái đĩa va vào tường, vỡ tan. Ném hụt, Sêch Ibơrahim còn nổi nóng hơn, lão cầm một cây đèn sẵn trên bàn để soi đường, rồi đứng lên chân nam đá chân chiêu loạng choạng theo một cầu thang ngách, đi tìm cây gậy.

Thừa cơ, hoàng đế vỗ tay. Đại tể tướng Mêrua cùng bốn tên hầu đồng loạt bước vào. Trong nháy mắt những người hầu giúp vua cởi bộ quần áo dân chài và mặc hoàng bào vào. Họ chưa làm xong việc, đang còn xúm xít chung quanh nhà vua, lúc đó vừa ngự lên chiếc ngai có sẵn trong phòng khách, thì Sêch Ibơrahim bị món lợi thôi thúc bước vào, tay cầm một cái gậy tướng. Lão định nện cho tên chài một trận ra trò. Không thấy người chài đâu, chỉ thấy bộ quần áo của anh ta vứt trên mặt đất, trong khi hoàng đế lại ngự trên ngai vàng, hai bên có tể tướng và Mêrua đứng chầu. Trước cảnh tượng đó lão đứng khựng lại, không biết mình đang thức hay đang ngủ. Thấy vẻ kinh ngạc của lão, hoàng đế phá ra cười:

- Này Sêch Ibơrahim, lão cần gì? Lão tìm ai?

Lão già không nghi ngờ gì nữa, trước mặt mình chính là hoàng đế, vội vàng quỳ mọp, dập mặt cùng bộ râu dài xuống đất.

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, – lão thốt lên – kẻ nô lệ hèn hạ này đã xúc phạm Người, cúi xin Người đại xá cho.

Lúc ấy bọn người hầu đã giúp vua mặc xong áo. Vua bước xuống ngai và nói:

- Hãy đứng lên, ta tha tội cho lão.

Hoàng đế quay lại nói với Người Đẹp Ba Tư. Lúc này nàng đang cố nén nỗi đau khi hiểu ra khu vườn và cung điện này thuộc về nhà vua, chứ không phải của Sêch Ibơrahim như lão nói dối, và chính nhà vua cũng đã cải trang thành người dân chài. Hoàng đế bảo nàng:

- Hỡi Người Đẹp Ba Tư, hãy đứng lên và đi theo ta! Sau những điều vừa thấy hẳn nàng đã rõ ta là ai, hẳn địa vị ta không phải là không xứng đáng được Nuarếtđin biếu không nàng với lòng hào phóng chưa từng thấy. Ta đã đưa chàng sang Banxôra để làm vua bên ấy, rồi sẽ cho nàng trở về làm hoàng hậu chừng nào chuẩn bị xong những nghi thức cần thiết để làm lễ đăng quang cho chàng. Trong khi chờ đợi, ta cấp cho nàng một căn nhà trong hoàng cung, ở đó nàng sẽ được đối xử xứng đáng với danh vị hoàng hậu của nàng.

Những lời lẽ đó làm cho Người Đẹp Ba Tư yên lòng và vui mừng rõ rệt. Nàng đổi buồn làm vui khi được biết Nuarếtđin mà nàng yêu tha thiết, vừa được cất nhắc lên một địa vị cao sang. Hoàng đế thực hiện lời hứa với nàng. Vua còn gửi gắm nàng cho hoàng hậu Zôbêít, sau khi nói cho hoàng hậu biết vua trọng dụng Nuarếtđin như thế nào.

Chuyến trở về của Nuarếtđin thuận lợi và nhanh chóng hơn mong ước của chàng. Đến Banxôra, chàng không hề gặp người quen hoặc bạn bè. Chàng vào thẳng hoàng cung, vừa lúc nhà vua đang cho triều yết. Chàng nâng cao bức thư, rẽ đám đông mà vào. Mọi người dạt ra nhường chỗ cho chàng dâng thư lên vua. Nhà vua đón nhận, mở ra đọc xong thì biến sắc. Vua hôn thư ba lần, và sắp thực hành mệnh lệnh của hoàng đế thì chợt nảy ra ý trao cho Xaoui, kẻ thù không đội trời chung của Nuarếtđin, xem.

Xaoui đã nhận ra Nuarếtđin và đang rất lo lắng tự hỏi không biết chàng trở về đây nhằm mục đích gì. Lão cũng hết sức kinh ngạc không kém nhà vua, khi biết rõ mệnh lệnh viết trong thư. Vì việc này ít nhiều cũng có liên quan đến lão, ngay tức khắc lão tìm cách để khỏi phải thi hành. Giả vờ như chưa xem được kĩ, lão đọc lại một lần nữa, và quay người sang một bên, như để có ánh sáng hơn. Thế là trong lúc mọi người chẳng ai để ý, lão khéo léo bứt câu ghi chú ở góc trên của thư, nói rõ mệnh lệnh này của hoàng đế phải được tuyệt đối tuân phục, cho mẩu giấy vào mồm nhai và nuốt luôn. Sau khi làm xong công việc xấu xa ấy, Xaoui quay lại trả bức thư cho nhà vua, và nói thầm:

- Tâu bệ hạ, vậy ý đồ của Người thế nào?

- Thi hành mệnh lệnh của hoàng đế. – Vua đáp.

- Xin ngài chớ làm như vậy, – viên tể tướng gian thần lại nói – đúng là nét chữ hoàng đế nhưng thiếu câu ước lệ.

Lúc nãy nhà vua có đọc dòng ghi chú nhưng trong cơn thảng thốt, giờ không thấy có nó nữa, vua ngỡ lúc nãy mình nhầm, Xaoui nói tiếp:

- Tâu bệ hạ, chắc hoàng đế cho Nuarếtđin bức thư này để tống khứ nó đi cho khuất mắt, sau khi nghe nó khiếu nại về Người và tôi, nhưng Người không muốn bệ hạ thực hiện những điều viết trong thư. Hơn nữa, không thể nghĩ rằng hoàng đế viết bức thư này mà không có chiếu chỉ kèm theo, không có chiếu chỉ thì bức thư trở thành vô hiệu. Người ta không thể phế truất một đấng quân vương như Người chỉ bằng một bức thư. Đừng nói Nuarếtđin, một kẻ khác cũng có thể làm như vậy với một bức thư giả mạo. Xưa nay chưa có ai làm như vậy bao giờ. Tâu bệ hạ, xin Người cứ yên trí theo lời tôi, tôi xin nhận mọi điều không hay có thể xảy đến.

Quốc vương Zinơbi nghe lời, giao Nuarếtđin cho Xaoui xử lí, lão sai bắt giải chàng về nhà. Vừa tới nơi, lão sai đánh đòn cho tới khi chàng gần chết, mới ném vào ngục trong tình trạng ấy. Chàng bị nhốt vào hầm sâu nhất. Người canh tù được lệnh chỉ cho chàng ăn bánh nhạt cùng nước lã.

Khi Nuarếtđin, mình mẩy ê ẩm, tỉnh lại trong hầm tối, chàng kêu to, khóc than cho số phận khốn khổ của mình:

- Hỡi lão chài, mi đã đánh lừa ta, sao mà ta dễ tin lời mi đến thế? Có thể nào ta phải chịu số phận độc ác thế này, sau khi đã làm cho mi bao nhiêu việc tốt lành? Tuy nhiên, ta vẫn cầu Thượng đế phù hộ mi, ta không thể tin mi có ý đồ độc địa, và ta kiên nhẫn chờ tai qua nạn khỏi.

Chàng Nuarếtđin khổ não sống mười ngày liền trong tình cảnh đó, và lão tể tướng Xaoui lại không quên chính lão đã tống giam chàng vào đấy. Lão rất muốn bắt chàng chết một cách nhục nhã, nhưng lại không dám tự ý mình làm việc đó. Để thực hiện ý đồ xấu xa, lão sai nhiều nô lệ mang theo tặng phẩm đắt tiền rồi dẫn tới ra mắt nhà vua:

- Tâu bệ hạ, – lão hiểm độc nói – đây là những thứ vị tân vương muốn Người vui lòng nhận cho, sau khi ông ta đăng quang.

Nhà vua hiểu ý Xaoui định nói gì.

- Thế nào? – Vua hỏi lại. – Tên khốn nạn ấy còn sống ư?

- Tâu bệ hạ, tôi đâu có quyền ra lệnh giết một ai, đó là quyền của Người.

- Ông hãy sai chặt đầu nó, – vua đáp – ta cho phép.

Thừa dịp, Xaoui nói thêm:

- Tâu bệ hạ, tôi vô cùng đội ơn Người đã đối xử công minh. Nhưng, như Người đã biết, Nuarếtđin đã nhục mạ tôi trước công chúng, cúi xin ngài cho phép tôi được ra lệnh hành quyết nó trước hoàng cung, và xin cho được rao báo khắp thành phố, để cho trăm dân biết tội nó xúc phạm tôi, nay đã bị trừng trị.

Nhà vua chấp thuận. Thế là nhiều sứ giả được phái đi làm bổn phận. Họ gieo rắc tin buồn khắp thành phố. Mọi người còn nhớ như in đạo đức cao dày của người cha, vì vậy ai cũng căm phẫn khi thấy người con sắp bị giết hại một cách nhục nhã do lòng độc ác và sự dèm pha của tể tướng Xaoui.

Lão này thân hành đến nhà giam, có hai mươi tên thủ túc đi theo. Nuarếtđin bị giải tới. Lão sai đặt chàng lên một con ngựa dữ không yên cương. Vừa thấy mình bị giao phó vào tay kẻ thù, Nuarếtđin nói:

- Lúc này mày thắng, mày lạm dụng chức quyền, nhưng ta tin tưởng điều này ghi trong Kinh Thánh đạo ta: “Nếu ngươi xét xử bất công thì chẳng bao lâu chính ngươi cũng sẽ bị xét xử”.

Tể tướng Xaoui trong lòng cực kì hân hoan, đáp:

- Sao? Lúc này mà mày còn dám phỉ báng ta ư? Hãy đi đi, ta tha tội cho mày đó, rồi có ra sao cũng được, miễn là ta trông thấy mày bị chém đầu trước mắt toàn thành phố Banxôra. Mày hẳn cũng đã biết một câu khác trong Kinh Thánh chứ: “Có sá gì nếu ngày mai ta cũng sẽ chết y như cái chết của kẻ thù ta hôm nay”. Lão gian thần mặt sắt đen sì vì độc ác và thù hận, chung quanh có một đám đông nô lệ tay thước tay đao, sai dẫn Nuarếtđin đi trước, theo hướng về hoàng cung. Dân chúng căm phẫn, gần như sắp bổ nhào vào đánh lão. Lúc này giá có một người nào đó khởi xướng, có lẽ mọi người sẽ xé xác lão. Đến trước hoàng cung, Xaoui giao Nuarếtđin cho đao phủ giữ. Lão vào nơi làm việc của vua, mời nhà vua ra cùng ngắm cảnh đầu rơi máu chảy sắp diễn ra.

Quân cấm vệ của nhà vua và bọn nô lệ của tể tướng Xaoui vây quanh Nuarếtđin, vất vả lắm mới kìm được dân chúng đang hết sức cố gắng, tuy không có kết quả, phá vòng vây để cứu chàng. Viên đao phủ tiến tới gần chàng và nói:

- Thưa ngài, xin ngài hãy tha thứ cho tôi tội chém ngài. Tôi chỉ là một tên nô lệ không thể không làm bổn phận của mình. Nếu ngài còn cần gì nữa thì xin ngài hãy sẵn sàng, nhà vua chắc sắp truyền cho tôi lệnh khai đao.

Chàng Nuarếtđin buồn bã quay sang hai bên và hỏi:

- Trong giờ phút đau đớn này, có ai đủ từ tâm và vui lòng cho tôi một ngụm nước uống cho đỡ khát?

Lập tức người ta mang đến cả một vò nước, chuyền tay nhau đưa đến cho chàng. Trông thấy sự lần chần, tể tướng Xaoui lúc ấy đứng ở cửa sổ phòng làm việc của vua, thét bảo đao phủ: “Mày còn chờ đợi gì? Hãy chém mau!”.

Nghe câu nói dã man, vô nhân đạo ấy, cả quảng trường ồ lên những tiếng la ó. Nhà vua cũng bất bình về việc lão dám qua mặt vua mà ra lệnh đó, trong khi chính vua đang ở đây, liền cất tiếng bảo hãy chờ. Còn một lí do khác nữa, ấy là khi ngẩng đầu nhìn thấy con đường lớn trước quảng trường, chạy thẳng về hoàng cung, vua thấy một đội kị sĩ đang phi nước đại tới. Vua liền bảo Xaoui:

- Tể tướng, cái gì kia? Hãy nhìn xem!

Xaoui đã thoáng ngờ điều có thể xảy ra, càng thúc giục vua hãy ra lệnh cho đao phủ ra đao.

- Không, – nhà vua đáp – ta muốn biết những kị sĩ kia là ai hẵng.

Đấy chính là đại tể tướng Giafa thân hành từ Bátđa đến cùng một đoàn tùy tùng, theo lệnh hoàng đế Harun An-Rasít.

Muốn rõ vì sao vị đại thần này tới Banxôra, ta cần biết rằng sau khi Nuarếtđin cầm bức thư ra đi, hôm sau và cả ngày tiếp đó nữa hoàng đế vẫn quên bẵng chuyện gửi tiếp theo chiếu chỉ, mà vua đã từng nói với Người Đẹp Ba Tư. Hôm ấy, vua đang ở trong cung riêng, gần cung dành cho các cung phi, chợt nghe một giọng hát rất hay. Vua dừng lại, thoảng nghe lời ca than vãn về sự biệt li, liền quay lại hỏi viên quan hoạn đang theo hầu, ai là người đàn bà trong cung này. Viên quan hoạn ấy đáp đó chính là vợ chàng trai trẻ mà Người vừa phái đi Banxôra, để làm vua nước ấy thay Môhamét Zinơbi.

- Ôi tội nghiệp Nuarếtđin, con trai của Khacan, – vua thốt lên – ta quên khuấy đi mất. Quân hầu đâu, hãy mời Giafa đến đây ngay lập tức!

Tể tướng đến, hoàng đế phán:

- Giafa à, ta đã quên không ban chiếu chỉ công nhận Nuarếtđin làm vua xứ Banxôra. Không còn đủ thì giờ để xuống chiếu nữa, ông hãy lấy người, ngựa khẩn trương đến ngay Banxôra. Nếu Nuarếtđin không còn ở đấy nữa, người ta đã giết chàng rồi, thì ông hãy treo cổ ngay Xaoui. Nếu chàng chưa chết thì hãy đưa chàng về đây cùng với nhà vua và tể tướng xứ ấy.

Tể tướng Giafa chỉ còn kịp thời gian lên ngựa ra đi cùng với một số đông quan quân lấy từ dinh của ông. Ông đến Banxôra đúng vào lúc như ta vừa thấy. Ông vừa vào tới quảng trường, mọi người giãn ra lấy lối cho ông đi và kêu van ông hãy khoan hồng cho Nuarếtđin. Ông vẫn để ngựa phi nước đại phóng thẳng vào hoàng cung, tận chân tam cấp, mới xuống ngựa.

Quốc vương Banxôra, nhận ra tể tướng của hoàng đế liền thân ra đón, mời vào cung. Tể tướng hỏi ngay Nuarếtđin còn sống hay không, nếu chàng còn sống, xin cho mời lại đây. Nhà vua đáp chàng còn sống và truyền đưa chàng tới. Chàng được dẫn tới ngay, nhưng bị trói và cùm. Giafa sai mở trói, cho chàng được tự do, và sai bắt giữ tể tướng Xaoui và trói lão lại bằng chính sợi dây ấy.

Đại tể tướng Giafa chỉ ngủ lại một đêm ở Banxôra. Sáng hôm sau, ông lên đường, và thừa lệnh hoàng đế dẫn theo Xaoui, quốc vương Banxôra và Nuarếtđin. Đến Bátđa, ông đưa họ ra mắt hoàng đế. Sau khi nghe tể tướng tâu trình về chuyến đi, đặc biệt về tình cảnh của Nuarếtđin, cách thức chàng bị hành hạ do sự dèm pha và lòng thù hận của Xaoui, hoàng đế cho phép Nuarếtđin được tự tay chặt đầu tể tướng Xaoui. Nhưng chàng đáp:

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, cho dù con người độc ác kia đã gây cho tôi biết bao đau khổ, cũng như y từng cố gây nên cho phụ thân đã quá cố của tôi, tôi sẽ tự cho mình là một con người đáng chê trách nhất trên đời nếu để tay mình nhuốm máu lão.

Hoàng đế hiểu được tấm lòng hào hiệp của Nuarếtđin, liền sai đao phủ hành quyết.

Hoàng đế muốn đưa Nuarếtđin sang trị vì xứ Banxôra, nhưng chàng kêu xin vua miễn cho.

- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, – chàng nói – sau những việc đã xảy ra, thành phố Banxôra đối với tôi có mối hận quá lớn, cúi xin hoàng thượng vui lòng cho phép tôi được giữ vẹn lời thề là suốt đời không bao giờ đặt chân trở lại đấy nữa. Nếu được Người hạ cố thì suốt đời tôi nguyện lấy làm vinh hạnh được hầu hạ cạnh Người.

Hoàng đế nhận chàng vào hàng ngũ những cận thần tin cẩn nhất, sai trả Người Đẹp Ba Tư cho chàng và ân thưởng cho nhiều của cải để họ cùng sống với nhau tới lúc đầu bạc, trong niềm hạnh phúc vô biên.

Còn về phần quốc vương Banxôra, hoàng đế chỉ nhận xét vua quá chểnh mảng trong việc lựa chọn các đại thần, rồi lại cho trở về tiếp tục trị vì vương quốc của ông ta.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.