Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 400 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
ALÁTĐANH HAY CÂY ĐÈN KỲ DIỆU (tt)

❊ ❊ ❊

Hoàng đế trở về cung cũng đơn giản như khi đi, không cho Alátđanh được theo tiễn. Tể tướng đã chực sẵn ở hoàng cung. Tâm trí còn tràn trề khâm phục về điều kỳ diệu vừa trông thấy, vua kể lại say sưa đến nỗi tể tướng không những bớt hoài nghi mà càng tin chắc rằng tòa lâu đài chỉ là chuyện ma thuật, như ông đã thổ lộ với vua ngay hôm tòa nhà vừa xuất hiện. Tể tướng muốn lặp lại ý nghĩ đó của mình, song vua đã ngắt lời:

- Khanh ạ, ông đã từng nói với ta điều đó, rõ ràng là ông chưa muốn quên cái đám cưới dở dang giữa con gái ta và con trai ông.

Tể tướng thấy rõ vua đã có định kiến. Ông không muốn nói lại, mặc cho vua giữ ý kiến của mình. Như đã thành lệ, ngày nào cũng vậy, hễ thức dậy là hoàng đế đến ngay một căn buồng từ đấy nhìn rõ toàn bộ dinh phò mã. Trong ngày, thế nào vua cũng đến nơi để ngắm nghía, trầm trồ khen ngợi.

Trong thời gian đó, Alátđanh không ở mãi trong nhà. Chàng chú ý mỗi tuần vài lần đi xem phố hoặc đến đọc kinh, hôm ở nhà thờ này hôm ở nhà thờ khác, thỉnh thoảng lại đến chào thăm tể tướng. Ông này vẫn thích đến chơi với chàng vào những ngày nhất định. Có khi chàng đến thăm các quan đại thần mà chàng vẫn thường mời đến dinh để đãi ngộ. Mỗi lần ra phố, chàng sai hai tên trong đám đông nô lệ theo hầu, hắt những nắm tiền vàng tung ra các phố xá và quảng trường, thưởng cho dân chúng thường tụ tập đông đảo những nơi chàng đi qua. Ngoài ra, chưa từng có một kẻ nghèo khó nào đến gõ cửa dinh quan phò mã mà ra về không hài lòng bởi sự hào phóng của chàng.

Alátđanh sắp xếp thời giờ sao cho tuần nào cũng đi săn được ít ra là một lần, khi thì ở quanh thành phố, khi thì đi xa hơn, và đi qua thôn nào chàng cũng đều tỏ ra rộng rãi như vậy. Tính tình hào phóng ấy làm cho dân chúng hết lời ca ngợi. Chàng không bao giờ nặng lời với một ai. Tóm lại, tuy không muốn làm lu mờ hoàng đế mà chàng chú ý đến chầu đều đặn – ta có thể nói là nhờ phong thái đáng yêu và tính tình hào phóng – chàng được nhân dân rất quý mến, nhìn chung họ còn quý chàng hơn cả nhà vua.

Đi đôi với những đức tính tốt đẹp ấy chàng còn tỏ ra là người có tài năng và hết lòng vì lợi ích nước nhà.

Chàng có dịp tỏ rõ phẩm cách nhân một dịp giặc cướp nổi lên ở biên thúy. Vừa nghe tin hoàng đế cử binh đi tiễu phạt, chàng vội đến xin vua cho phép được cầm đạo binh ấy. Vua bằng lòng ngay. Vừa nắm quyền chỉ huy, chàng đã hành quân thần tốc đến nỗi hoàng đế nhận được tin báo tiệp cho biết giặc đã bị đánh bại, diệt trừ và dẹp xong, cùng một lúc với tin chàng đến nắm quyền chỉ huy quân đội. Chiến công đó làm cho tên tuổi của chàng vang dội khắp cả nước. Nhưng Alátđanh không vì vậy mà kiêu căng. Chiến thắng trở về, chàng vẫn là con người hiền dịu và đáng mến như bất cứ bao giờ.

Alátđanh sống và xử thế theo cách đó trong nhiều năm. Chọt một hôm, lão phù thủy – y đã trở về châu Phi và không ngờ chính y đã đưa lại cho chàng phương tiện để đạt địa vị cao sang ấy – sực nhớ tới chàng. Mặc dù tin chắc là Alátđanh đã bỏ mạng trong hang sâu, lão vẫn cứ nảy ra ý thử tìm hiểu chính xác xem cậu đã chết như thế nào. vốn là một tên có tài bấm độn, lão mang các dụng cụ ra phù phép. Nhìn kết quả, lão phát hiện ra rằng không phải Alátđanh đã chết trong hang sâu dưới mặt đất, mà trái lại, chàng đã thoát ra được và hiện đang sống huy hoàng trên mặt đất, cực kỳ giàu có, lấy con gái vua, được mọi người trọng vọng, kính mến.

Lão phù thủy nhờ pháp thuật vừa biết rõ Alátđanh đang ở vào địa vị rất cao sang, liền nổi cơn tức giận đến điên cuồng. Lão tự bảo:

- Thằng khốn nạn con lão thợ may ấy đã phát hiện ra điều bí mật và quyền năng của cây đèn. Ta tưởng nó chết mất giống rồi, hóa ra nó đang tọa hưởng kỳ thành kết quả công sức tu luyện của ta! Hoặc là ta ngăn không cho nó hưởng thụ, hoặc là ta chết!

Lão không phải mất nhiều thời giờ để suy nghĩ nên hành động như thế nào. Ngay sáng hôm sau, lão dắt con ngựa trong chuồng ra và khởi hành. Lão đi qua không biết bao nhiêu là đường đất. Từ thành phố này sang thành phố khác, hết tỉnh này đến tỉnh nọ, chỉ dừng chân cho ngựa lấy hơi, cuối cùng lão đến được Trung Quốc và tới kinh đô nước mà Alátđanh đang làm phò mã. Ghé một quán trọ, lão xuống ngựa vào hỏi thuê phòng trọ. Lão nghỉ lại một ngày một đêm ở đấy để lấy lại sức sau chuyến đi vất vả gian lao.

Ngày hôm sau, việc đầu tiên của lão phù thủy là tìm hiểu xem dân chúng mới nói những gì về Alátđanh. Lão đi dạo qua các phố xá rồi đi vào nơi nổi tiếng nhất, có nhiều kẻ quyền cao chức trọng lui tới, họ tụ họp ở đây để uống một loại rượu hâm nóng mà lão đã từng được nếm trong chuyến đi trước. Lão vừa ngồi yên chỗ đã có người rót và mang tới một bát rượu. Vừa uống lão vừa lắng tai nghe: lúc ấy người ta đang nói về dinh quan phò mã.

Uống xong bát rượu, lão đến gần một người đang nói chuyện, và chờ lúc thuận tiện, hỏi riêng người đó dinh phò mã như thế nào mà được ca ngợi như vậy.

- Bác từ đâu đến? – Người kia đáp. – chắc hẳn bác là người xứ khác mới đến đây cho nên mới chưa từng trông thấy hay nghe nói đến phò mã Alátđanh (từ ngày chàng kết hôn với công chúa Bađrunbuđua, mọi người đều gọi chàng bằng danh vị ấy). Tôi sẽ không nói với bác đấy là một kỳ quan của thế giới, mà còn nói rằng đấy là kỳ quan duy nhất của thế giới. Chưa từng có ai trông thấy bao giờ một cái gì vĩ đại, quý báu, huy hoàng như vậy. Chắc hẳn bác từ một nơi xa lắm đến đây, cho nên mới chưa nghe nói tới nó. Thật vậy, từ khi tòa lâu đài ấy được cất lên, cả quả đất đều trầm trồ. Bác hãy đến mà xem, rồi bác sẽ thấy lời tôi nói đúng hay không đúng.

- Xin ông hãy bỏ qua cho về sự ngu dốt của tôi. – Lão phù thủy nói. – chả là tôi mới đến đây chiều hôm qua, và đúng là từ rất xa đến, tôi muốn nói từ nơi tận cùng của châu Phi, ở đấy khi tôi ra đi thì tiếng tăm tòa lâu đài này chưa đồn tới. Và bởi vì tôi có việc cần kíp, dọc đường chỉ nghĩ tới chuyện đi sao cho chóng tới nơi, không ghé lại ở đâu và cũng chẳng làm quen với ai, cho nên chẳng rõ được những điều ông vừa cho biết. Nhưng thế nào tôi cũng phải đến xem. Hơn nữa tôi còn quá nôn nóng đến nỗi sẵn sàng đi ngay bây giờ để thỏa mãn tính hiếu kỳ của mình, nếu như ông vui lòng chỉ giúp đường cho.

Người nói chuyện với lão phù thủy vui lòng chỉ cho lão lối đi để tới xem dinh quan phò mã. Thế là lão đứng lên và đi ngay tức khắc. Tới nơi và xem xét kỹ tòa lâu đài ở cả bốn phía, lão càng không ngờ vực chút nào chính Alátđanh đã nhờ cây đèn thần xây cất nên. Chưa nói đến chuyện chàng ta, con một bác thợ may bình thường, không thể nào có đủ tiền của, lão còn biết rằng chỉ có những quỷ thần nô lệ của cây đèn – đã trượt khỏi tay của lão – mới có khả năng làm nên những chuyện kỳ diệu thế này. Ngậm đắng nuốt cay trước hạnh phúc và danh vọng của Alátđanh gần như không kém gì hạnh phúc và danh vọng của hoàng đế, lão phù thủy trở về quán trọ của mình.

Vấn đề là làm sao biết được cây đèn để ở đâu, hoặc là Alátđanh mang theo bên người, hoặc là chàng cất giấu ở một chỗ nào, đó là việc phải nhờ đến phép bấm độn. Vừa về tới nơi nghỉ trọ, lão đã giở bộ đồ nghề mà bất cứ đi đâu lão cũng mang theo. Bấm dẫn xong, lão biết được cây đèn vẫn để ở trong dinh của Alátđanh. Sự phát hiện ấy làm cho lão mừng rơn đến gần như không tự chủ nổi. “Ta sẽ có cây đèn thần; ta thách Alátđanh ngăn không cho ta lấy khỏi tay hắn, rồi ta sẽ đưa hắn trở về địa vị xuất thân hèn hạ như trước khi hắn vươn lên tới đỉnh cao sang thế này.”

Điều không may cho Alátđanh là trong thời gian ấy chàng đang làm một chuyến đi săn lâu tới tám ngày, và chàng mới đi được có ba hôm. Lão phù thủy biết được điều đó là nhờ mánh khóe sau đây.

Sau cái quẻ bấm dẫn đã làm cho lão xiết bao vui mừng, lão đi tìm ngay người trông nom quán trọ, lấy cớ là muốn chuyện trò, và quả là lão có tài về môn tán tỉnh thật. Lão nói với người trông quán rằng lão vừa đi xem dinh quan phò mã; và sau khi đã nói quá lâu về những điều trông thấy mà lão cho là kỳ lạ và đáng chú ý nhất, lão nói tiếp:

- Tính hiếu kỳ của tôi còn đòi hỏi nhiều hơn cơ. Tôi sẽ hài lòng nếu chưa được nhìn thấy chủ nhân của một dinh cơ diệu kỳ dường ấy.

- Việc đó cũng chẳng có khó khăn gì đâu, – người trông nom quán trọ đáp – không ngày nào quan phò mã không đi ra phố. Nhưng đã ba hôm nay ngài đi săn xa, cuộc săn này kéo dài đến tám ngày.

Lão phù thủy không cần biết nhiều hơn. Lão từ biệt người trông quán, và vừa đi vừa tự nhủ: “Đây là thời cơ hành động, ta không được để lỡ mất.”

Lão đến cửa hiệu của một người làm đèn và bán đèn:

- Bác cả ạ, tôi cần một tá đèn đồng, bác có đủ để bán cho tôi không?

Người bán đèn đáp hiện còn thiếu vài chiếc, nhưng nếu khách vui lòng nán cho đến sáng mai, ông ta sẽ giao đủ vào bất cứ lúc nào khách muốn. Lão phù thủy bằng lòng. Lão dặn các cây đèn phải sạch sẽ và bóng lộn, và hứa sẽ trả giá hời, rồi trở về quán trọ.

Ngày hôm sau, người bán đèn giao đủ một tá đèn. Lão phù thủy trả đủ số tiền người đó đòi, không bớt một xu. Lão cho tất cả vào một chiếc thúng mang theo sẵn, rồi cắp chiếc thúng bên nách, đi về phía tòa lâu đài của Alátđanh. Gần tới nơi, lão lớn tiếng rao:

- Ai có đèn cũ muốn đổi lấy đèn mới nào?

Lão vừa tới, thì lũ trẻ con chơi trên quảng trường nghe tiếng rao chạy vội đến vây quanh, rồi reo hò mà nhìn lão như một thằng điên.

Những người qua đường cũng cười cho sự ngốc nghếch của lão. Họ nói: “Lão này hẳn phải mất hết trí khôn cho nên mới mang đèn mới đi đổi lấy đèn cũ!”

Lão phù thủy người Phi chẳng quan tâm đến những tiếng reo hò của trẻ con cũng như tất cả những điều người ta có thể nói về lão. Lão tiếp tục rao:

- Ai có đèn cũ muốn đổi lấy đèn mới nào?

Lão cứ qua qua lại lại trước và quanh tòa lâu đài, và cứ rao mãi, đến nỗi công chúa Bađrunbuđua lúc ấy đang ngồi trong phòng khách hai mươi bốn cửa sổ, cũng nghe tiếng. Nhưng vì nàng không phân biệt rõ lời rao bởi những tiếng hò reo của lũ trẻ con đi theo mỗi lúc một đông hơn, nàng sai một ả nữ tì đứng gần nhất đi nghe cho rõ tiếng ồn ào ấy là gì.

Lát sau người nữ tì trở lại. Ả vào phòng khách vừa đi vừa cười như nắc nẻ, đến nỗi công chúa trông thấy cũng không nhịn được cười.

- Con điên kia, mày có chịu nói ra cho ta rõ vì sao mày cười không nào?

- Thưa công chúa, ai mà có thể nhịn cười được, khi trông thấy một người điên tay cắp một chiếc thúng đựng đầy những cây đèn mới toanh, nhưng không rao bán mà lại đòi đổi lấy đèn cũ? Chính lũ trẻ con đang vây kín lão, hầu như không cho lão đi, và chế giễu lão cho nên mới sinh ra tiếng ồn ào như vậy.

Đến đây, một nữ tì khác nói chen vào:

- Nhân chuyện đèn cũ, không biết công chúa có để ý không, trên nóc cột kia của nhà ta có một chiếc. Ai là chủ của nó chắc sẽ không bất bình về việc đánh đổi nó lấy một chiếc đèn mới. Nếu công chúa bằng lòng, ta có thể mang ra thử xem lão kia có thật là điên không, ai lại đổi đèn mới lấy đèn cũ mà không đòi bù các thêm tí gì bao giờ.

Cây đèn mà ả nữ tì nói đến ấy chính là cây đèn kỳ diệu đã đưa Alátđanh lên tới địa vị cao sang hiện nay. Chàng đã để lên đấy trước khi đi săn để khỏi đánh rơi mất, mỗi khi đi xa chàng vẫn làm như vậy. Nhưng các nữ tì, hoạn nô cho đến công chúa cũng không ai để ý. Ngoài thời gian đi săn, chàng luôn luôn mang theo mình. Chắc có người sẽ bảo Alátđanh cẩn thận như vậy là đúng, song ít ra chàng cũng phải cất kín cây đèn vào một nơi nào chứ. Đúng như vậy, nhưng thời buổi nào người ta chẳng phạm những sơ suất tương tự, bây giờ cũng vậy và mãi mãi sau này cũng thế thôi.

Công chúa Bađrunbuđua không biết cây đèn này quý báu vô cùng, nó quan hệ đến vận mệnh của Alátđanh cũng như bản thân nàng, không được ai đụng đến mà ngược lại phải giữ gìn cẩn thận, cho nên nàng cũng muốn đùa chơi. Nàng truyền cho một hoạn nô mang cây đèn xuống đổi. Viên hoạn nô tuân lệnh đi ra, và vừa ra ngoài dinh đã trông thấy lão phù thủy người Phi. Gã cất tiếng gọi. Lão phù thủy đến gần, viên hoạn nô chỉ cây đèn cũ mà nói: “Hãy đổi cho tôi một cây đèn mới lấy cây đèn này.”

Lão phù thủy biết chắc đấy là cây đèn lão đang tìm kiếm. Không thể có một cây đèn nào khác trong lâu đài của Alátđanh, nơi mà tất cả đồ dùng đều bằng vàng hay bằng bạc. Lão nhanh nhẹn đỡ lấy, nhét sâu vào dưới áo rồi chìa cái sọt cho viên hoạn nô, bảo muốn lấy cây đèn mới nào thì lấy. Viên hoạn nô chọn lấy một chiếc rồi bỏ lão phù thủy ở đấy, mang cây đèn mới lên cho công chúa Bađrunbuđua. Cuộc đổi chác vừa xong, lũ trẻ con đã cười reo ầm ĩ vang cả quảng trường, chúng vừa cười vừa chế giễu cái mà chúng cho là sự ngốc nghếch của lão phù thủy.

Lão cứ để mặc cho chúng tha hồ hò la. Lão không nấn ná quanh dinh thự của Alátđanh nữa, mà lặng lẽ và kín đáo lảng dần, tức là chẳng kêu rao gì sất về chuyện đổi đèn mới lấy đèn cũ. Lão chẳng còn thiết những cây đèn nào khác ngoài chiếc đang mang trong người. Lũ trẻ thấy lão im lặng, cũng lảng xa dần và để yên cho lão đi.

Khi đã đi khá xa quảng trường nằm giữa hai tòa lâu đài, lão lẩn vào những đường phố vắng người qua lại nhất, và vì chẳng còn cần đến đèn đến sọt nữa, lão nhìn trước sau không thấy có ai, liền quang tất cả lại giữa phố, rồi chuồn sang một phố khác và bước gấp cho đến khi tới được cổng thành. Đi một mạch ra ngoại ô vốn cũng khá rộng, lão mua ít nhiều thức ăn rồi đi thẳng ra ngoài kinh thành. Đến nông thôn, lão rẽ ngang vào một nơi vắng vẻ không có ai trông thấy, chờ đến lúc tìm được chỗ thuận tiện để thực hiện ý đồ đã đưa lão từ châu Phi đến. Lão cũng chẳng tiếc con ngựa đã bỏ lại nơi quán trọ. Lão cho rằng cái báu vật lão vừa chiếm đoạt quá đủ đền bù cho lão rồi. Suốt ngày hôm ấy lão ở yên chỗ đó, đợi cho đến đêm, vào lúc trời tối nhất. Lúc ấy lão mới lấy cây đèn từ dưới lần áo ra và miết vào tay. Theo lệnh gọi, thần đèn xuất hiện:

- Ngài cần gì? Cùng với các nô lệ khác của cây đèn, tôi sẵn sàng tuân lệnh ngài cũng như tuân lệnh tất cả những ai cầm đèn ở tay.

- Ta ra lệnh cho ngươi – lão phù thủy nói – ngay tức khắc hãy mang tòa lâu đài mà ngươi và các nô lệ khác của cây đèn đã xây cất lên trong thành phố này, y nguyên như vậy cùng với tất cả những người sống bên trong, chuyển đến châu Phi vào chỗ ấy chỗ ấy…

Không đáp, thần đèn chuyển lão phù thủy và toàn bộ lâu đài đến đúng vào nơi lão chỉ ở châu Phi, trong một thời gian rất ngắn.

Đến đây, chúng ta tạm để lão phù thủy cùng tòa lâu đài và công chúa Bađrunbuđua ở châu Phi, để nói về nỗi kinh ngạc của hoàng đế Trung Quốc.

Theo thường lệ, vừa ngủ dậy hoàng đế đã đến ngay cái buồng trống của mình để ngắm nghía tòa lâu đài của Alátđanh. Nhìn về phía vẫn quen nhìn, vua chỉ thấy một quãng đất trống giống hệt như dạo chưa xây dựng tòa nhà. Ngỡ mình nhầm, vua đưa tay giụi mắt.

Nhưng vẫn không trông thấy gì hơn mặc dù thời tiết lúc này rất tốt, bầu trời quang đãng và mặt trời cũng sắp mọc, cho nên mọi vật đều nhìn rất rõ. Vua nhìn từ cả hai cửa, ở bên phải và bên trái, mà vẫn chẳng trông thấy gì. Vua kinh ngạc đến nỗi đứng sững hồi lâu, mắt không rời phía tòa lâu đài giờ đây không còn nữa, cố nặn óc mà chẳng sao hiểu được, chẳng làm sao biết được do đâu một dinh cơ to lớn, lồ lộ như dinh của Alátđanh, mà từ ngày được xây cất theo phép của vua đến hôm qua hầu như không ngày nào nhà vua không trông thấy, ấy thế mà tự dưng tan biến đi mất không để lại chút dấu vết nào. “Ta không thể nhầm, – vua tự nhủ – tòa lâu đài trước đây ở vào chỗ kia. Nếu nó đổ sụp xuống thì ít ra vật liệu cũng hãy còn thành đống. Nếu nó lún sâu vào lòng đất, thì ít ra cũng có thể nhìn thấy vết chứ.”

Mặc dù chắc chắn tòa lâu đài không còn ở đấy nữa và chẳng biết nó biến mất bằng cách nào, vua vẫn nán chờ một lúc để xem thử có phải mình quáng mắt không. Cuối cùng vua đành bỏ đi, và trước khi đi khuất còn quay lại nhìn một lần nữa, rồi trở về phòng riêng và ra lệnh hỏa tốc triệu tể tướng đến. Trong khi chờ đợi, vua ngồi xuống, đầu óc trăm mối ngổn ngang, không biết nên xử trí thế nào.

Tể tướng vội vàng đến ngay. Ông đi hộc tốc đến nỗi cả ông và tất cả gia nhân tùy tùng đi ngang qua dinh phò mã mà không ai kịp để ý rằng nó không còn ở chỗ cũ nữa. Ngay cả bọn lính canh cổng, lúc mở cổng hoàng thành, cũng không để ý điều đó.

Vừa tới nơi, tể tướng nói:

- Tâu bệ hạ, được lệnh đòi hỏa tốc, thần nghĩ chắc có một việc khẩn cấp lắm vừa xảy ra, bởi vì bệ hạ rõ hôm nay là ngày thiết triều và thế nào trong chốc lát nữa thôi thần cũng phải đến làm phận sự.

- Việc vừa xảy ra thật kỳ lạ, đúng như ông nói, rồi ông sẽ thấy. Hãy cho ta biết, dinh cơ Alátđanh đâu rồi?

- Dinh quan phò mã ư, tâu bệ hạ? – Tể tướng ngạc nhiên đáp – Thì thần vừa đi qua trước đó, và hình như nó vẫn ở nguyên chỗ cũ. Những công trình xây dựng kiên cố loại ấy không thể đổi chỗ dễ dàng như vậy.

- Ông hãy đi đến căn buồng kia mà nhìn xem, rồi trở lại đây cho ta hay có đấy hay không!

Tể tướng đi đến căn buồng trống, và nhận thấy đúng như hoàng đế vừa nói. Khi đã chắc chắn là tòa lâu đài của Alátđanh không còn ở chỗ cũ nữa và cũng chẳng để lại dấu vết nhỏ nào, tể tướng quay trở lại phòng của vua.

- Thế nào, ông có nhìn thấy tòa lâu đài không? – Hoàng đế hỏi.

- Tâu bệ hạ, bệ hạ chắc còn nhớ thần đã từng hân hạnh tâu với Người tòa lâu đài với những của cải bên trong đã từng làm cho bệ hạ khâm phục, chỉ là trò ma phép quỷ của một tên phù thủy, nhưng bệ hạ không buồn để ý đến lời thần.

Không có cách gì bác được điều tể tướng vừa nói, vua càng nổi cơn thịnh nộ, nhất là khi không thể không thừa nhận là mình đã nhầm:

- Tên dối trá, thằng súc sinh ấy đâu rồi, để cho ta ra lệnh chặt đầu!

- Tâu bệ hạ, cách đây mấy hôm, y có đến xin phép bệ hạ được vắng mặt. Ta hãy sai người tìm hỏi y dinh thự của y ở đâu rồi, không có lý gì y không biết rõ.

- Đối xử với nó như vậy thì quá khoan hồng, – vua nói – ông hãy sai ba chục kỵ binh của ta đi bắt và xích cổ nó lại giải về đây cho ta.

Tể tướng truyền lệnh của vua cho các kỵ sĩ, và ra lệnh cho viên võ quan những việc làm cần thiết phòng ngừa Alátđanh trốn mất. Đội kỵ binh lên đường, đến cách kinh thành khoảng năm, sáu dặm thì gặp Alátđanh đi săn trở về. Viên võ quan thưa hoàng đế nóng lòng muốn gặp phò mã, đã sai họ đến đón, trình chàng rõ và rước chàng mau chóng trở về.

Alátđanh không mảy may ngờ vực nguyên cớ thực đưa đội cận vệ của hoàng đế tới đón chàng. Trên đường về chàng vẫn tiếp tục săn bắn ung dung. Nhưng khi chỉ còn cách kinh thành chừng nửa dặm, đội cận vệ vây chặt chàng, rồi viên võ quan cất lời: “Thưa quan phò mã Alátđanh, chúng tôi lấy làm tiếc mà thưa với ngài rằng theo lệnh của hoàng đế, chúng tôi phải bắt và giải ngài về như một quốc tặc, xin ngài hãy thông cảm chúng tôi phải làm phận sự mà tha thứ cho.”

Alátđanh vẫn nghĩ mình vô tội, nghe lệnh hết sức ngạc nhiên, chàng hỏi viên võ quan có biết chàng bị kết tội gì không, song chỉ được trả lời là cả y và lính dưới quyền của y không ai hay biết gì sất.

Alátđanh thấy gia nhân của mình ít hơn nhiều so với đội lính, hơn nữa chúng cũng đang lảng xa dần, chàng liền ngồi xuống ngựa và nói:

- Ta đây, các ngươi hãy thi hành mệnh lệnh được giao. Tuy nhiên ta có thể nói là ta không thấy mình mắc tội gì đối với hoàng đế cũng như đối với triều đình.

Bọn lính lấy sợi xích rất to, rất dài tròng vào cổ chàng rồi trói chặt hai tay vào thân, không cho cử động. Viên chỉ huy đi đầu hàng quân, một tên lính cưỡi ngựa cầm một đầu sợi xích đi bên cạnh, bắt Alátđanh phải đi bộ, và cứ như thế giải chàng về kinh thành.

Tốp kỵ binh vào đến ngoại ô, những người đầu tiên trông thấy Alátđanh bị giải như một tên trọng tội, đều tin chắc chàng bị đưa đi chặt đầu. Chàng vốn được mọi người yêu mến, cho nên dân chúng kẻ cầm gươm kẻ cầm giáo, những ai không có gươm giáo thì vác đá rượt theo bọn kỵ binh. Một vài tên lính đi cuối hàng quay trở lại làm ra vẻ muốn giải tán đám đông. Nhưng, chỉ một lát sau, người ùn ùn kéo đến đông đến nỗi bọn này phải vờ làm như không trông thấy, miễn làm sao về được đến hoàng cung mà không bị họ cướp mất Alátđanh là được.

Để đạt mục đích đó, tùy theo đường phố rộng hay hẹp, bọn lính dàn hàng ngang khi giãn ra, khi thì khép lại cho chật hết lòng đường. Cứ như vậy, khi về đến quảng trường trước hoàng cung, chúng dàn thành hàng một quay mặt lại đám đông dân chúng vũ trang, cho đến khi võ quan cùng tên lính giải Alátđanh vào lọt được trong hoàng thành và bọn lính cấm vệ đã đóng cổng lại, không cho dân tràn vào.

Alátđanh bị giải đến trước mặt hoàng đế. Vua đang cùng với tể tướng đứng chờ trên bao lơn. Vừa trông thấy chàng vua liền truyền cho đao phủ đã được lệnh túc trực ở đây chặt đầu ngay tức khắc mà không buồn hỏi chàng một câu cho sáng tỏ ngọn nguồn.

Đao phủ túm lấy Alátđanh, tháo sợi xích tròng quanh cổ và quanh người chàng. Sau khi trải ra đất một tấm da từng nhuộm máu không biết bao nhiêu tội nhân y đã hành quyết, y bảo chàng quỳ xuống và lấy khăn bịt mắt. Xong đâu đấy, y rút gươm ra khỏi vỏ, lấy thế để chém, ướm thử rồi vung gươm múa ba vòng, quay tít trên đầu, chờ vua ra lệnh là chặt lấy thủ cấp Alátđanh.

Vừa lúc ấy, tể tướng trông thấy đám đông dân chúng đã đẩy lùi được tốp kỵ binh và ùa vào chật cả quảng trường, đang trèo lên hoàng thành ở nhiều nơi, và bắt đầu phá một chỗ làm lối vào. Ông kịp nói, trước khi vua ra hiệu cho đao phủ:

- Tâu bệ hạ, xin hãy nghĩ cho chín điều bệ hạ sắp làm. E rằng có nguy cơ hoàng cung bị tiến công, và nếu sự biến ấy xảy ra, kết quả sẽ rất tai hại.

- Hoàng cung của ta bị tiến công! Kẻ nào dám to gan như vậy?

- Xin hãy nhìn xuống tường hoàng thành và nhìn ra quảng trường, bệ hạ sẽ thấy sự thật.

Nhìn thấy quần chúng xúc động sôi sục, vua khiếp quá vội vàng hạ lệnh ngay cho đao phủ tra gươm vào vỏ, mở khăn bịt mắt cho Alátđanh và ân xá cho chàng. Vua cũng sai lính rao lớn hoàng đế tha tội cho phò mã, truyền cho mọi người ai về nhà nấy.

Thế là những người đã trèo lên tường thành chứng kiến cảnh vừa xảy ra, liền từ bỏ ý định của mình. Chẳng mấy chốc họ xuống hết, và sung sướng vì đã cứu được tính mạng của một con người họ yêu mến thực sự, họ loan truyền tin đó cho những kẻ đứng chung quanh. Tin truyền ra khắp đám đông trong quảng trường cộng với tiếng rao của bọn lính leo lên các chòi cao, giúp cho mọi người đều biết rõ. Tin hoàng đế ân xá Alátđanh làm quần chúng hạ vũ khí, ngừng tiếng ồn ào, và không ai bảo ai, mọi người lục tục trở về nhà.

Được tự do, Alátđanh ngẩng đầu nhìn lên và trông thấy hoàng đế.

- Muôn tâu bệ hạ, – chàng cất lời thảm thiết – cúi xin bệ hạ ban thêm cho một ân huệ nữa, là ngoài việc ân xá vừa rồi, xin cho biết tôi đã phạm tội gì?

- Tội của mày ư, tên khốn nạn! – Vua đáp – Mày không biết sao? Mày hãy lên đây, ta sẽ chỉ cho mày rõ.

Alátđanh lên tới nơi, hoàng đế bảo: “Hãy đi theo ta” rồi vua đi trước mà không thèm nhìn chàng. Vua dẫn chàng đến căn buồng trống, và khi đến trước cửa buồng, vua bảo: “Hãy vào đi, mày hẳn biết rõ dinh thự của mày ở chỗ nào. Hãy nhìn khắp nơi đi rồi nói cho ta biết nó ở đâu rồi.”

Alátđanh nhìn và không trông thấy gì cả.

Chàng nhận rõ đám đất nơi trước đây là tòa lâu đài của mình. Nhưng vì không biết nó đã biến mất như thế nào, hiện tượng bất thường và kỳ dị ấy làm cho chàng hoang mang và kinh ngạc đến nỗi không thể mở miệng trả lời vua một tiếng.

Sốt ruột, vua nhắc lại:

- Hãy nói đi nào, dinh thự của mày và con gái ta ở đâu rồi?

Bấy giờ Alátđanh mới lên tiếng:

- Tâu bệ hạ, xin thú thật là tôi đã nhận ra tòa lâu đài tôi cho xây cất nay không còn ở chỗ cũ nữa, nó đã biến mất và tôi cũng không thể tâu bệ hạ là hiện giờ nó ở chỗ nào, song tôi có thể quả quyết là kẻ này hoàn toàn chẳng dính líu gì đến sự kiện đó.

- Dinh cơ của mày ra sao, ta không cần biết. – Hoàng đế nói. – Con gái ta còn quý hơn một triệu lần. Ta muốn mày tìm ngay công chúa cho ta, nếu không ta sẽ chém đầu mày, và sẽ không ai có thể can ngăn ta không làm việc đó.

- Tâu bệ hạ, cúi xin bệ hạ cho tôi một thời hạn bốn mươi ngày, tôi xin cố hết sức mình. Hết thời hạn đó nếu không đạt được kết quả tôi xin thề sẽ mang đầu tôi đến đặt ngay dưới chân ngai vàng để tùy ý bệ hạ định đoạt.

Hoàng đế nói:

- Ta đồng ý cho bốn mươi ngày. Nhưng mày chớ có lạm dụng lòng tốt của ta mà hòng trốn tránh. Mày có trốn lên trời, ta cũng có cách tìm ra.

Alátđanh từ giã hoàng cung vô cùng tủi nhục. Dáng điệu của chàng trông thật đáng thương, chàng cúi đầu bước qua cái sân không dám ngước mắt nhìn lên. Các đại thần trong triều vốn là bè bạn của chàng và chưa từng có ai bị chàng làm phật ý, nay cũng không một người nào tiến đến gần để an ủi chàng và mời chàng về tạm trú tại nhà mình. Tất cả đều quay mặt đi để khỏi nhìn thấy chàng cũng như để chàng khỏi nhận ra họ.

Nhưng cho dù có ai đến gần chàng để nói lên một vài lời an ủi hoặc hứa giúp đỡ một điều gì, họ cũng không nhận ra Alátđanh nữa. Chàng không còn tự chủ, đầu óc chàng không còn minh mẫn. Điều đó càng lộ rõ khi chàng ra khỏi hoàng thành, chàng ngớ ngẩn vào hết nhà này tới nhà khác và hỏi tất cả những ai gặp trên đường xem có trông thấy lâu đài của chàng ở đâu không, có ai biết tin tức gì về dinh cơ của chàng thì xin cho chàng rõ với.

Những câu hỏi đó làm mọi người cho là Alátđanh đã mất trí. Một số người chỉ cười thôi, nhưng những kẻ biết điều hơn, hoặc đã từng có chút cảm tình hay từng giao thiệp với chàng, đều thực sự lấy làm thương hại. Chàng lang thang ba ngày liền trong thành phố, khi thì đi về hướng này, khi thì chạy sang hướng nọ, ai làm phúc cho được miếng gì thì ăn miếng ấy, mà chẳng biết nên xử trí ra làm sao.

Cuối cùng, không thể chịu nổi cảnh thân tàn ma dại ngay trong thành phố mà mình từng có một thời oanh liệt, chàng quyết định bỏ về nông thôn. Chàng tránh những con đường lớn, và sau khi đi băng qua nhiều cánh đồng với một tâm trạng hoang mang cực độ, cuối cùng vào chập tối chàng đến bên bờ một con sông.

Một ý nghĩ tuyệt vọng nảy ra trong trí. Chàng tự hỏi: “Ta đi tìm dinh thự của ta ở đâu? Ở tỉnh nào, ở nước nào, ở nơi nào trên trái đất, ta có thể tìm tòa lâu đài cũng như nàng công chúa yêu quý của ta như nhà vua đã hỏi? Không bao giờ ta có thể đạt được kết quả, vậy thì tốt hơn là ta nên tự giải thoát khỏi bao nhiêu gian lao vất vả mà rút cuộc chẳng đi tới đâu, giải thoát khỏi những nỗi đau buồn cay đắng đang gặm nhấm người ta.”

Quyết định như vậy rồi, chàng sắp nhảy xuống sông. Nhưng vốn là một người Hồi giáo ngoan đạo, chàng tự thấy không thể quyên sinh khi chưa đọc kinh cầu nguyện. Để sửa soạn làm việc đó, chàng xuống sát mép nước định rửa mặt mũi chân tay, đúng theo tục lệ.

Nhưng vì bờ sông ấy khá dốc và trơn, chàng trượt chân và có lẽ đã lăn xuống nước nếu không kịp bám vào một tảng đá trồi khỏi mặt đất cao chừng hai bộ. May mắn cho chàng, ở ngón tay chàng vẫn còn đeo chiếc nhẫn mà lão phù thủy người Phi đã đưa cho, trước khi sai chàng xuống hang lấy cây đèn thần. Lúc tay chàng bấu vào hòn đá, chiếc nhẫn chạm vào khá mạnh. Lập tức thần nhẫn đã từng hiện lên dưới hang sâu sau khi lão phù thủy lấp hang chôn sống chàng, lại hiện ra trước mặt:

- Ngài cần gì? – Thần nhẫn hỏi. – Cùng với các nô lệ khác của nhẫn, tôi sẵn sàng tuân lệnh ngài cũng như tất cả những ai đeo nhẫn ở tay.

Sự xuất hiện thật quá bất ngờ đối với Alátđanh trong cơn tuyệt vọng, chàng vui mừng đáp:

- Hỡi thần, ngươi hãy cứu sống ta một lần nữa bằng cách nói cho ta rõ tòa lâu đài của ta đâu rồi, hoặc là đưa nó trở về ngay chốn cũ của nó.

- Điều ngài đòi hỏi không thuộc quyền lực của tôi, -thần nhẫn đáp – tôi chỉ là nô lệ của cái nhẫn, ngài hãy hỏi nô lệ của cây đèn.

Alátđanh tiếp:

- Nếu vậy thì ta ra lệnh cho ngươi hãy đưa ta tới nơi có lâu đài của ta, cho dù nó đang ở chốn nào trên mặt đất và hãy đặt ta bên dưới cửa sổ buồng công chúa Bađrunbuđua.

Chàng vừa dứt lời, thần nhẫn đã cắp chàng mang sang châu Phi, đến tòa lâu đài xây dựng giữa một bãi cỏ rộng không xa một thành phố lớn, và đặt chàng đúng ngay vào bên dưới cửa sổ buồng riêng của công chúa. Tất cả những việc đó xảy ra chỉ trong nháy mắt.

Mặc dù đêm tối mịt, Alátđanh vẫn nhận rõ dinh thự của mình và phòng riêng của công chúa. Nhưng vì đêm đã quá khuya và mọi vật trong lâu đài đều yên ắng, chàng lùi xa ra một ít, rồi ngồi dưới một gốc cây. Ở đấy, lòng tràn trề hi vọng, suy nghĩ đến sự may mắn hoàn toàn do tình cờ mà có, chàng cảm thấy tâm hồn yên tĩnh hơn rất nhiều kể từ khi bị bắt giải đến trước hoàng đế và sau đó được tạm tha tội chết. Chàng vui mừng hồi lâu với những ý nghĩ ấy. Nhưng bởi vì đã năm, sáu ngày liền không chợp mắt, buồn ngủ quá không cưỡng được, chàng thiếp đi ngay dưới gốc cây.

Sáng hôm sau, trời vừa rạng, Alátđanh được đánh thức dậy một cách khoan khoái bởi tiếng hót líu lo của muôn ngàn chim chóc ngủ đêm trên cây mà chàng đang nằm dưới gốc và trên các cây cối khác rậm rịt trong vườn lâu đài. Đưa mắt nhìn tòa nhà tráng lệ, chàng cảm thấy một niềm vui không thể nào tả xiết, tưởng như mình sắp lại trở thành chủ nhân, và đồng thời cũng lại là chủ nhân của công chúa Bađrunbuđua yêu quý.

Chàng đứng lên và bước đến gần phòng riêng của công chúa. Chàng đi đi lại lại một lúc bên dưới cửa sổ, chờ cho trong nhà sáng hẳn và có người nhìn thấy chàng. Trong khi chờ đợi, chàng cố nghĩ xem do đâu xảy ra điều bất hạnh. Sau khi suy nghĩ lại kỹ càng, chàng không chút nghi ngờ gì nữa, bao nhiêu điều không may xảy ra chỉ vì chàng đã rời cây đèn. Chàng tự trách mình hờ hững và sơ suất, đáng ra không nên rời cây đèn bất cứ lúc nào. Điều làm cho chàng băn khoăn hơn nữa là không biết ai là kẻ ghen ghét hạnh phúc của mình. Hẳn chàng đã hiểu ra ngay nếu biết được, lúc này đây chàng và tòa lâu đài đang ở trên đất Phi châu. Song thần nhẫn không hề nói chàng rõ điều đó, vả lại chàng cũng không hỏi. Chỉ cần nhắc đến hai tiếng châu Phi thôi đã đủ để gợi lên trong ký ức Alátđanh lão phù thủy người Phi, kẻ thù không đội trời chung với chàng.

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.