Nghìn Lẻ Một Đêm (Toàn tập)

Lượt đọc: 421 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHUYỆN NÀNG ZÔBÊÍT

❊ ❊ ❊

Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, chuyện tôi sắp kể hầu bệ hạ đây là một trong những chuyện kỳ lạ nhất chưa bao giờ ai nghe nói tới. Hai con chó cái đen và tôi là ba chị em sinh cùng cha mẹ, và tôi sẽ kể do tai biến kỳ quặc như thê nào mà họ bị hóa thành chó cái.

Hai người đàn bà cùng sông với tôi và hiện đang có mặt ở đây, cũng là những em gái tôi nhưng cùng cha khác mẹ.

Cô ngực đầy vết sẹo tên là Amin, cô kia là Xaphi, còn tôi là Zôbêít.

Sau khi cha tôi qua đời, gia tài người để lại được chia đều cho chúng tôi. Hai cô này, sau khi lĩnh phần của mình rồi, liền từ giã tôi, trở về sống với mẹ đẻ. Hai người chị kia và tôi ở cùng với mẹ tôi. Sau đấy mẹ tôi qua đời, để lại cho chúng tôi mỗi người một nghìn đồng xơcanh.

Chúng tôi lĩnh phần của mình xong thì hai chị tôi – tôi là em út – thành gia thất. Các chị đi theo chồng, để tôi ở lại một mình. Lấy nhau được ít lâu, người chồng chị cả bán tất cả tài sản và đồ đạc, rồi mang số tiền anh ta có cộng với số vốn riêng của chị tôi, hai người sang ở bên châu Phi. Ở đấy, chồng chị tôi tiêu pha xài phí vào rượu chè, trai gái hết nhẵn tài sản của anh ta và cả vốn liếng chị tôi mang theo. Tiếp đó, thấy mình trở thành khánh kiệt, anh ta kiếm ra một cái cớ để bỏ vợ và đuổi chị tôi đi.

Chị tôi trở lại Bátđa, không khỏi trải qua bao nhiêu khổ ải do một cuộc hành trình xa xôi như vậy gây nên. Chị tôi đến ẩn náu ở nhà tôi trong tình trạng thảm thương đến mức có thể làm xúc động những tấm lòng sắt đá nhất. Tôi đón chị với tất cả tình thương yêu mà chị tôi có thể trông chờ. Tôi hỏi làm sao chị lâm vào tình cảnh khốn đốn như vậy. Chị tôi vừa khóc vừa kể cho tôi nghe tính hạnh xấu xa của chồng và cách anh ta đối xử tồi tệ với chị. Tôi cũng xúc động về điều không may của chị. Hai chị em cùng khóc với nhau. Sau đó, tôi dẫn chị tôi đi tắm rửa, đưa quần áo sạch của tôi cho chị tôi thay và nói: “chị ạ, chị là chị cả, em coi chị như mẹ. Trong thời gian chị đi xa, em đã dùng số tiền ít ỏi được chia làm việc chăn tằm kéo tơ, và cũng được trời ngó lại. Chị hãy coi tất cả tài sản của em đây như là của chị, chị muốn dùng vào việc gì thì dùng.” Hai chị em tôi chung sống thuận hòa với nhau trong nhiều tháng, chúng tôi thường nói chuyện về người chị hai của tôi và đều ngạc nhiên sao không nhận được tin tức gì của chị ấy. Chợt một hôm, chị ấy trở về, cũng trong tình cảnh giống y như chị cả chúng tôi lần trước, chồng chị ấy cũng đối xử tàn tệ với chị ấy như vậy, và tôi đón tiếp chị ấy cũng thân yêu nồng hậu như đối xử với chị cả trước đây.

Ít lâu sau, hai chị tôi ngỏ ý muốn đi lấy chồng, viện cớ không muốn để cho tôi phải tốn kém. Tôi đáp: “Nếu các chị không có lý do nào khác hơn là sợ tốn kém cho em, thì các chị có thể yên tâm mà ở lại đây. Gia sản của em đủ cung ứng cho cả ba chị em ta sống một cuộc đời xứng đáng.” Tôi nói thêm: “Nhưng em e rằng hai chị thực sự lạ. Muốn đi bước nữa. Nếu quả như vậy, thú thật em rất lấy làm lạ. Sau kinh nghiệm chẳng vui vẻ gì về mặt chồng con, sao hai chị còn có thể nghĩ tới việc đó một lần nữa nhỉ? Các chị biết rằng khó tìm được một ông chồng trung hậu hoàn toàn. Các chị hãy nghe lời em, chúng ta hãy tiếp tục cùng sống với nhau một cách ấm êm nhất.” Tất cả những gì tôi nói ra với họ đều vô ích. Họ đã quyết tâm tái giá và thực hiện ý định ấy.

Nhưng mấy tháng sau, hai chị tôi trở lại tìm tôi. Hai chị hết lời xin lỗi vì đã không nghe theo lời khuyên của tôi. Họ nói: “Em là em út, nhưng em khôn ngoan hơn các chị. Nếu em vui lòng nhận cho hai chị vào nhà em một lần nữa và coi hai chị như nô tì, thì hai chị sẽ không phạm lại một sai lầm như vậy nữa đâu.”

- Các chị thân yêu ơi, – tôi đáp – từ lần cách xa hai chị vừa rồi cho đến nay, lòng em đối với các chị chẳng có gì thay đổi. Các chị hãy trở lại, hãy cùng chung hưởng với em những gì em có!

Tôi ôm hôn họ và chúng tôi lại sống với nhau như những ngày trước.

Ở với nhau được một năm hoàn toàn hòa thuận, thì tôi nảy ra ý muốn làm một chuyến đi biển. Tôi muốn thủ bước vào con đường thương mại xem sao. Bởi vì nhờ trời vốn liếng của tôi cũng đã khá lên. Nhằm mục đích đó, tôi cùng hai chị đến Banxôra[1] mua một chiếc tàu với đầy đủ trang bị, xếp đầy hàng hóa đưa từ Bátđa tới. Chúng tôi lên đường thuận buồm xuôi gió, chẳng mấy chốc đã ra khỏi vịnh Ba Tư. Ra khơi chúng tôi cho tàu chạy về phía Ấn Độ. Sau hai mươi ngày thì trông thấy đất. Đấy là một ngọn núi khá cao, dưới chân núi là một thành phố từ ngoài nhìn vào rất đẹp. Được gió, chúng tôi đến bến cảng khá sớm. Tàu buông neo tại đấy.

Tôi không đủ kiên nhẫn chờ hai chị tôi kịp sửa soạn để cùng đi. Tôi lên bờ một mình, đi thẳng vào thành phố. Tôi trông thấy một số đông người ngồi và những người khác đứng, tay mỗi người đều cầm một cái gậy. Diện mạo họ xấu xí đến nỗi tôi phát khiếp. Tuy vậy, nhận thấy họ đều đứng yên không nhúc nhích, tôi đến gần và nhận ra tất cả đều đã hóa đá.

Tôi vào trong thành và đi qua nhiều phố xá, đó đây gặp nhiều người trong những tư thế khác nhau, song tất cả đều không cử động bởi đều đã hóa đá. Ở khu phố các nhà buôn, phần lớn các cửa hiệu đều đóng cửa, tôi nhìn thấy mọi người cũng đều thành đá. Nhìn lên các ống khói không thấy có khói bay ra tôi suy ra rằng, ở trong nhà cũng như ở ngoài, mọi vật đều đã biến thành đá cả rồi.

Đến một quảng trường rộng ở chính giữa thành phố, tôi thấy một cái cổng lớn dát những tấm vàng ròng, hai cánh để ngỏ. Phía trước có một tấm rèm bằng lụa rủ xuống. Trên cửa có một ngọn đèn treo. Sau khi nhìn kỹ ngôi nhà, tôi tin chắc đây là cung điện của nhà vua trị vì nước này. Nhưng rất ngạc nhiên vì không gặp một người còn sống nào, tôi đến tận nơi, may ra có gặp được ai chăng. Tôi nâng bức rèm và điều tôi càng ngạc nhiên hơn là ở dưới tiền đình, cũng chỉ có mấy người gác cổng hay vệ sĩ kẻ đứng, người ngồi hoặc nửa nằm nửa ngồi, nhưng đều đã hóa đá.

Tôi đi qua một cái sân rộng có đông người. Kẻ này có vẻ đang đi, người kia hình như đang lại, tuy nhiên ai nấy đều đứng yên không nhúc nhích, bởi vì họ cũng đều đã hóa đá cả rồi như tất cả những ai tôi đã gặp. Tôi đi sang một cái sân thứ hai, rồi thứ ba, đâu đâu cũng đều một cảnh vắng vẻ và im lìm khủng khiếp ấy.

Đến cái sân thứ tư, tôi thấy đằng trước có một tòa nhà rất đẹp, tấm lưới chăng cửa sổ đúc bằng vàng ròng. Tôi đoán rằng đó là cung của hoàng hậu. Tôi bước vào trong một căn buồng, có nhiều hoạn nô da đen đã hóa đá. Tôi lại sang tiếp một căn buồng khác, đồ đạc rất sang trọng, ở đây một người đàn bà cũng hóa đá. Tôi nhận ra đúng là hoàng hậu, nhờ ở chiếc mũ miện bằng vàng đội trên đầu và một chuỗi ngọc hạt rất tròn và cỡ đều to hơn quả dẻ đeo ở cổ. Tôi nhìn kỹ, thật khó có những viên ngọc nào đẹp hơn.

Tôi ngắm nghía một lúc những của cải và sự tráng lệ của căn buồng ấy, nhất là tấm thảm trải nhà, cái gối tựa và chiếc sập bọc vải Ấn Độ nền vàng, thêu hình người và hình súc vật bằng ngân tuyến, rất công phu.

Từ căn buồng của hoàng hậu hóa đá, tôi sang nhiều căn phòng khác và những căn buồng sạch sẽ, sang trọng dẫn tới một gian nhà rộng khác thường, ở đây có một chiếc ngai bằng vàng khối đặt trên bệ cao mấy bậc và khảm bằng mấy viên hồng ngọc lớn. Bên trên ngai là một chiếc giường phủ vải rất sang, nạm ngọc sáng chói. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là một thứ ánh sáng long lanh tỏa ra từ trên chiếc giường ấy. Tò mò muốn biết cái gì phát sáng như vậy, tôi leo lên, thò đầu nhìn và thấy một chiếc giá con đặt một viên kim cương lớn bằng quả trứng đà điểu, hoàn hảo đến mức không nhận ra một tì vết nào. Nó sáng chói đến mức mắt tôi không chịu nổi khi nhìn thẳng vào viên ngọc. Ở đầu giường, mỗi bên có thắp một cây đuốc sáng không rõ dùng để làm gì. Tuy vậy quang cảnh đó làm cho tôi suy ra rằng hẳn còn có người nào còn sống trong cung điện đẹp đẽ này, bởi vì không thể tin là các ngọn đuốc lại tự nó thắp sáng lên được. Nhiều nét đặc biệt khác làm tôi dừng chân lại ở căn phòng mà riêng viên kim cương vừa nói đã làm cho nó trở thành vô giá.

Vì tất cả các cửa đều để ngỏ hoặc chỉ cần đẩy nhẹ là mở ra, tôi đi qua nhiều căn buồng khác cùng đẹp như vậy. Tôi đến tận các nhà bếp và những nơi xếp bàn ghế, chứa đầy vô số của cải. Tôi mải mê xem xét tất cả những điều kỳ diệu ấy đến nỗi quên khuấy cả công việc của bản thân mình. Tôi chẳng còn nghĩ gì đến con tàu và các chị tôi, mà chỉ nghĩ đến việc thỏa mãn sự tò mò của mình: Trong khi đó, trời tối dần làm tôi chợt nhớ ra đến lúc phải trở về. Tôi muốn trở lại bằng con đường mới đến, nhưng không dễ gì tìm ra được. Tôi lạc lối trong các căn phòng. Khi trở lại được gian nhà rộng có chiếc ngai, cái giường, viên kim cương lớn và các ngọn đuốc thắp sáng, tôi quyết định nghỉ đêm ở đó, sáng hôm sau sẽ trở về tàu sớm. Tôi lên giường nằm không khỏi lo sợ thấy có mỗi một mình giữa một nơi vắng lặng đến thế này. Có lẽ chính nỗi lo ấy làm cho tôi không sao ngủ được.

Vào khoảng nửa đêm, tôi nghe như có tiếng người nào đọc kinh Côran với cái giọng đúng như giọng chúng ta vẫn quen dùng trong các đền thờ đạo Hồi ta. Điều đó làm cho tôi mừng rỡ. Tôi trở dậy ngay, rồi cầm một cây đuốc soi đường, tôi đi từ phòng này sang phòng khác, về phía có tiếng cầu kinh. Tôi dừng lại trước cửa một căn phòng mà tôi tin chắc là tiếng cầu kinh từ trong đó vọng ra. Đặt cây đuốc xuống đất, tôi nhìn qua một khe hở, thấy căn phòng giống như một nơi giảng kinh. Quả vậy, ở trong ấy cũng có, như trong các đền của chúng ta, một cái khám để tín đồ hướng vào mà đọc kinh, nhiều ngọn đèn treo thắp sáng và hai chân đèn cắm những cây nến trắng lớn cũng đang cháy sáng.

Tôi cũng nhìn thấy một tấm thảm nhỏ trải sẵn, theo cách như chúng ta vẫn trải để ngồi lên cầu kinh. Một người đàn ông trẻ ngồi lên tấm thảm ấy, chăm chú đọc cuốn kinh Côran đặt trên một chiếc giá nhỏ trước mặt. Thấy vậy, lòng tràn trề khâm phục, tôi tự hỏi làm sao lại có mỗi một người còn sống trong một thành phố mà tất cả các sinh vật đều đã hóa đá, chắc hẳn có một chuyện gì rất kỳ diệu ở đây.

Cánh cửa chỉ cần đẩy nhẹ là mở ra. Tôi bước vào đứng giữa cái khám xướng to: “Ngợi ca Thượng đế đã ban cho chúng con thuận buồm xuôi gió! Xin Người hãy ban phúc lành, hãy che chở cho chúng con như vậy cho đến khi chúng con trở về tới nước nhà! Xin Thượng đế hãy nghe và hãy thỏa lời cầu nguyện của chúng con.”

Chàng trẻ tuổi ngước nhìn tôi và nói: “Thưa bà, xin bà hãy cho tôi biết bà là ai và việc gì đưa bà đến thành phố ảm đạm này? Để đáp lại, tôi sẽ thưa để bà rõ tôi là ai, việc gì đã xảy ra cho tôi, căn nguyên vì sao thành phố này bị lâm vào tình trạng như bà trông thấy đấy, và tại sao chỉ còn mỗi mình tôi an toàn vô sự qua một cơn tàn phá kinh khủng như thế này.”

Tôi kể vắn tắt tôi từ đâu đến, điều gì thôi thúc tôi làm chuyến đi này và đã cập bến thuận lợi ra sao, sau hai mươi ngày trên biển. Nói xong, tôi xin chàng vui lòng thực hiện lời hứa. Tôi nói rõ là mình hết sức xúc động trước cảnh bi thảm gặp trên mọi nẻo đường vừa qua.

Chàng liền nói: “Thưa bà quý mến, xin bà vui lòng chờ cho một lát.”

Nói xong, chàng gấp cuốn kinh Côran, cho vào một cái túi quý và đặt vào trong khám. Nhân thời gian ấy, tôi cẩn thận ngắm chàng và thấy chàng có duyên và xinh đẹp đến nỗi trong lòng tôi cuộn lên những cảm xúc chưa từng thấy bao giờ. Chàng mời tôi ngồi xuống bên cạnh. Trước khi chàng cất lời, tôi không thể nào cầm lòng không nói với chàng với thái độ biểu lộ những tình cảm mà chàng gợi lên trong tôi: “Hỡi chàng trai kính mến, không ai có thể nôn nóng hơn tôi muốn được sáng tỏ về biết bao nhiêu điều kỳ lạ đập vào mắt, kể từ khi tôi đặt chân vào thành phố của chàng. Tôi mong sự hiếu kỳ của tôi sớm được thỏa mãn. Chàng hãy nói đi. Tôi van chàng hãy cho tôi biết nhờ sự thần kỳ nào mà chàng còn sống sót giữa bao nhiêu người chết một cách dị thường.”

- Thưa bà, – chàng trẻ tuổi đáp – qua lời cầu nguyện của bà vừa rồi, tôi rõ là bà đã biết đến đấng Thượng đế chân chính. Bà sắp nghe đây một câu chuyện biểu hiện oai phong và quyền lực của Người. Tôi xin nói, thành phố này là thủ đô của một vương quốc hùng mạnh mà vua cha tôi mang tên. Nhà vua, tất cả triều thần và dân cư thành phố này cũng như cả nước này đều thờ thần Lửa và thần Nácđun, nguyên là chúa tể của những con quỷ khổng lồ chống lại Thượng đế.

Mặc dù sinh ra từ cha mẹ theo tà giáo, tôi may mắn hồi còn thơ ấu có thầy dạy là một bà Hồi giáo ngoan đạo. Bà thuộc lòng kinh Côran và giảng kinh rất giỏi. Bà thường bảo tôi: “Hoàng tử ạ, chỉ có một Thượng đế chân chính mà thôi. Hoàng tử nhớ không được thừa nhận và tôn thờ những đấng khác.” Bà dạy tôi đọc chữ A Rập. Cuốn sách tập đọc đầu tiên của tôi là cuốn kinh Côran. Khi tôi bắt đầu có trí khôn, bà giảng cho tôi mọi điều trong cuốn tuyệt tác ấy. Bà dạy tôi nắm vững tinh thần giáo lý, mà không để cho cha tôi và mọi người hay biết. Bà đã qua đời, nhưng cũng kịp dạy cho tôi tất cả những gì cần thiết để tôi có thể hoàn toàn tin tưởng vào chân lý của đạo Hồi. Sau khi bà mất, tôi vẫn thường xuyên giữ được lòng tin về những điều bà dạy bảo. Tôi rất khinh ghét tà thần Nácđun và tục tôn thờ thần Lửa.

Cách đây ba năm mấy tháng, bỗng dưng có một tiếng rao ầm ầm vang động khắp thành phố, nhưng rất rành mạch, không một người dân nào không nghe rõ: “Hỡi nhân dân, hãy từ bỏ sự thờ phụng Nácđun và thần Lửa, hãy tôn thờ Thượng đế bác ái duy nhất nhân từ!

Tiếng rao đó vang lên suốt ba năm liền, nhưng không một ai quy theo chính đạo. Thế là đến ngày cuối cùng của năm thứ ba, bốn giờ sáng, tất cả dân cư không loại trừ ai trong giây lát đều hóa đá, mỗi người trong tư thế mình đang làm lúc đó. Vua cha tôi cùng chịu chung số phận ấy. Người bị biến thành một tảng đá đen hiện còn ở một nơi trong cung này. Mẹ tôi cũng chịu chung số kiếp tương tự.

Tôi là người độc nhất Thượng đế tha cho khỏi sự trừng phạt ghê gớm. Từ hôm ấy, tôi tiếp tục tôn thờ Thượng đế nhiệt tâm hơn bao giờ hết. Thưa bà xinh đẹp của tôi, tôi tin chắc rằng Người đưa bà đến đây là để an ủi tôi, bởi vì xin thú thật nỗi cô đơn thật là đáng chán.”

Tất cả câu chuyện ấy, và đặc biệt những lời cuối cùng làm cho tôi càng cảm thấy tình cảm nồng nhiệt đối với chàng. Tôi nói: “Thưa hoàng tử, không nên hoài nghi gì nữa, chính Đấng tối cao run rủi cho tôi đến hải cảng của chàng và tạo cơ hội giúp chàng rời xa một nơi tang tóc. Chiếc tàu mà tôi vừa rời để lại đây có thể chứng tỏ cho chàng thấy tôi cũng có ít nhiều địa vị ở Bátđa. Tôi còn để lại ở đấy nhiều tài sản lớn. Tôi xin đường đột hiến chàng một nơi tạm trú cho đến khi Đấng thống lĩnh hùng mạnh các tín đồ, vị đại diện của Đấng tiên tri vĩ đại[2] nhận ra chàng và ban cho mọi vinh dự mà chàng xứng đáng được hưởng. Nhà vua nổi tiếng ấy ngự ở Bátđa. Một khi Người được tin chàng đã đến kinh đô, lập tức Người sẽ tỏ cho chàng thấy, không một ai cầu xin sự ủng hộ của Người mà không thỏa được mong ước. Làm sao chàng có thể ở lâu hơn nữa trong một thành phố mà mọi vật đều làm cho chàng không sao chịu đựng nổi? Chiếc tàu của tôi là để hầu hạ chàng, chàng tuyệt đối có quyền sử dụng nó.”

Hoàng tử nhận lời, suốt phần đêm còn lại chúng tôi trò chuyện với nhau về việc xuống tàu.

Trời vừa tảng sáng, chúng tôi ra khỏi hoàng cung đi đến bến cảng. Ở đấy các chị tôi, viên thuyền trưởng và bọn nô lệ đang rất lo lắng cho tôi. Sau khi giới thiệu các chị tôi với hoàng tử, tôi kể cho các chị nghe điều gì đã cản trở tôi hôm trước không kịp về tàu, sự gặp gỡ hoàng tử, câu chuyện của chàng và nguyên nhân gây tai họa cho một thành phố đẹp như vậy.

Các thủy thủ mất nhiều ngày để bốc dỡ những hàng hóa tôi đưa đến. Rồi họ lại mất nhiều ngày để xếp lên tàu ngọc ngà, vàng bạc, tất cả những gì quý báu nhất trong cung điện. Chúng tôi đành bỏ lại bàn ghế và vô số đồ dùng bằng vàng bạc vì không thể nào mang đi hết. Có lẽ cần phải có nhiều chuyến tàu nữa thì mới có thể chở về Bátđa tất cả những của cải chúng tôi trông thấy ở đây.

Sau khi xếp lên tàu những đồ vật muốn mang theo, chúng tôi lấy thêm thức ăn và nước ngọt cần thiết cho cuộc hành trình, về thức ăn, vẫn còn lại nhiều thứ mang đi từ Banxôra. Cuối cùng, chúng tôi khởi hành với cơn gió thuận lợi như mong ước.

Hoàng tử, các chị tôi và tôi sống với nhau thoải mái. Nhưng than ôi! Sự thuận hòa kéo dài chẳng được bao lâu. Hai chị tôi đâm ghen tị khi nhận thấy giữa hoàng tử và tôi có sự thông cảm. Một hôm các chị tôi hỏi tôi một cách tinh quái rằng chừng nào về đến Bátđa, chúng tôi sẽ làm gì hoàng tử.

Tôi biết rõ các chị hỏi câu ấy là để thăm dò tình cảm của tôi. Vì vậy, làm như câu chuyện đang nói là chuyện bông đùa, tôi đáp tôi sẽ cưới hoàng tử làm chồng. Tiếp đó quay sang phía chàng, tôi nói: “Thưa hoàng tử, tôi xin chàng hãy đồng ý. Bao giờ chúng ta tới Bátđa, ý định của tôi là hiến dâng cho chàng, tôi nguyện trở thành một kẻ nô lệ rất hèn mọn của chàng, để hầu hạ chàng và coi chàng như người chủ tuyệt đối của mình.”

- Thưa bà, – hoàng tử đáp – tôi không biết có phải bà nói đùa không, nhưng về phần tôi, tôi xin tuyên bố rất nghiêm chỉnh trước mặt các bà chị của bà đây, rằng từ lúc này tôi vui lòng nhận lời, không phải để coi bà như một kẻ nô tì mà là phu nhân của tôi, bà chúa của tôi. Tôi xin hứa sẽ không làm trở ngại đến các hoạt động của bà.

Nghe câu nói đó, mặt các chị tôi biến sắc. Tôi cảm nhận từ giờ phút ấy, tình cảm các chị đối với tôi không còn được như trước nữa.

Chúng tôi đang ở trong vịnh Ba Tư và gần đến Banxôra. Với cơn gió vẫn thuận, tôi hy vọng ngày hôm sau chúng tôi sẽ tới cảng này. Nhưng ngay đêm hôm đó, các chị tôi đã đang tâm ném tôi xuống biển khi tôi đang ngủ. Họ cũng làm như vậy đối với hoàng tử. Chàng bị chết đuối. Còn tôi, may thay, hay đúng hơn là nhờ có sự thần kỳ, tôi bơi được ít lâu thì chân chạm đất. Tôi tiến về một đám đen đen mà trong đêm tối mịt mù, tôi đoán là một cù lao. Quả nhiên tôi lên được bờ. Sáng ra, tôi nhận rõ tôi đang ở trên một hoang đảo nhỏ cách Banxôra chừng hai mươi hải lý. Tôi hòng khô áo quần dưới nắng. Trên đường đi, trông thấy có nhiều loại trái cây và có cả nước ngọt nữa, tôi hy vọng ít nhiều là có thể sống sót.

Tôi đang ngồi nghỉ ở bóng râm thì chọt trông thấy một con rắn có cánh, khá to và dài, bò tới phía tôi, mình lảo đảo, lưỡi thè ra. Tôi đoán chắc nó đang gặp phải việc gì nguy hiểm. Tôi đứng lên và thấy nó bị một con rắn to hơn đuổi theo cắn lấy đuôi, và đang cố sức để nuốt chửng nó. Vì thương hại, tôi thành ra bạo gan. Nhặt một hòn đá tình cờ thấy bên cạnh, tôi ráng hết sức ném vào đầu con rắn to. Hòn đá đập nát đầu nó. Con rắn nhỏ thấy mình được tự do, liền giương cánh bay đi. Tôi nhìn theo hồi lâu như nhìn một vật kỳ lạ. Khi không còn trông thấy nữa tôi mới ngồi xuống bóng râm ở một chỗ khác và ngủ thiếp đi.

Xin bệ hạ hãy tưởng tượng nỗi ngạc nhiên của tôi lúc tỉnh dậy, thấy bên cạnh mình có một người đàn bà da đen nét mặt sắc sảo và đáng mến, tay ròng sợi dây buộc cổ hai con chó cái cũng màu đen. Tôi đứng phắt dậy và hỏi người đàn bà ấy là ai. Bà ta đáp: “Ta là con rắn vừa được cô giải thoát khỏi kẻ thù hung bạo của ta cách đây không lâu. Ta nghĩ rằng không có cách nào đền đáp cô tốt hơn bằng hành động ta vừa mới làm. Ta biết rõ sự phản bội của hai chị cô. Để trả thù cho cô, khi vừa mới được tự do nhờ có cô cứu giúp, ta đã gọi ngay các bạn bè của ta, cũng đều là thần tiên đến. Chúng ta đã chuyển tất cả hàng hóa trên tàu cất vào các kho của cô ở Bátđa. Sau đấy đánh chìm tàu. Hai con chó cái đen ấy là chị của cô, mà ta bắt phải hóa thành kiếp chó. Nhưng sự trừng phạt này chưa đủ. Ta muốn rằng cô sẽ đối xử với chúng theo cách mà ta sẽ nói sau đây.”

Nói đến đây, bà tiên cắp chặt tôi vào một bên nách, bên kia cắp hai con chó cái, bà đưa chúng tôi bay trở về nhà ở Bátđa. Đến đây tôi trông thấy tất cả của cải chở trên tàu đã được xếp vào kho. Trước khi từ giã, bà tiên giao cho tôi hai con chó cái và bảo: “Nhân danh Đấng có quyền uy tối thiêng liêng, ta truyền cho cô mỗi đêm phải đánh mỗi chị cô một trăm roi để trừng phạt chúng về tội chúng gây ra cho bản thân cô và cho hoàng tử trẻ đã bị chúng làm chết đuối. Nếu không làm đúng lời ta dặn, cô cũng sẽ bị hóa thành chó như chúng.” Tôi bắt buộc phải hứa là sẽ thực hiện đúng mệnh lệnh của bà.

Từ buổi ấy, tối nào tôi cũng phải lấy làm tiếc mà đối xử với hai chị tôi theo cách bệ hạ từng chứng kiến. Bằng nước mắt của mình, tôi muốn tỏ cho các chị tôi thấy tôi làm một phận sự tàn ác mà lòng xiết bao đau đớn. Bệ hạ đã thấy rõ tôi đáng thương hơn đáng trách. Nếu còn có điều gì có liên quan đến tôi mà bệ hạ muốn biết rõ hơn thì em Amin tới đây sẽ làm sáng tỏ qua câu chuyện về cô ấy.

Sau khi đã lắng nghe hết câu chuyện của nàng Zôbêít với lòng mến phục, hoàng đế thông qua lời tể tướng, truyền cho nàng Amin hãy vui lòng cho biết vì sao người nàng đầy vết sẹo. Và nàng Amin, hướng về phía hoàng đế, bắt đầu kể câu chuyện về nàng như sau:

❀ ❀ ❀

[1] Banxôra:Thành phố thuộc Irắc, thành lập năm 636 ở gần nơi hợp lưu của hai con sông Tigrơ và sông Ơphơrát (ND).

[2] Chỉ hoàng đế Harun An-Rasít

Phan Quang dịch và giới thiệu
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Antoine Galland

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.