——Câu chuyện của Hứa An Mai
Một
Hôm qua, con gái tôi nói với tôi rằng: "Mẹ ơi, cuộc hôn nhân của con... tiêu đời rồi."
Bây giờ, con bé đành trân trân nhìn nó tiêu đời. Nó nằm trên giường khám của bác sĩ tâm lý, khóc lóc không dứt.
Con bé chỉ cất cao giọng kêu la: "Hết cách rồi, hết cách rồi!" Nó không biết rằng, lẽ ra nó nên cố gắng thử lại lần nữa, nếu không làm thế, nó sẽ vĩnh viễn đánh mất cơ hội.
Còn tôi thì hiểu rõ quá, bởi vì tôi lớn lên theo lối sống của người Trung Quốc; tôi được rèn giũa để sống thanh tâm quả dục, nuốt trôi những trái đắng do người khác gieo và do chính mình trồng. Đúng như câu nói, dẫu rụng răng đi chăng nữa, thì ngậm cả máu lẫn răng mà nuốt vào bụng.
Mặc dù đối với con gái mình, tôi hoàn toàn áp dụng một phương pháp giáo dục ngược lại, nhưng có lẽ vì nó do tôi sinh ra, lại vừa khéo là con gái, thế nên trên người nó vẫn bộc lộ cái sự do dự, thiếu quyết đoán đặc trưng của người phụ nữ phương Đông.
Chúng tôi giống như những bậc thềm, hết bậc này nối tiếp bậc kia.
Tôi biết cách giữ im lặng, cách quan sát và lắng nghe thế giới này, cuộc đời vốn dĩ là một giấc chiêm bao.
Khi bạn không muốn nhìn cái gì, bạn có thể nhắm mắt lại. Nhưng nếu bạn không thích nghe cái gì, thì bạn có thể làm sao đây? Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn nghe thấy phân cảnh diễn ra hơn sáu mươi năm trước.
Lần đó, ở nhà cậu ruột tại Ninh Ba, lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ của mình. Đối với tôi, bà giống như một người xa lạ.
Nhưng tôi cứ cảm thấy bà chính là mẹ ruột của mình, bởi vì tôi có thể cảm nhận được nỗi đau đớn của bà.
Hồi đó mợ đã cảnh cáo tôi rằng: "Con đừng có thèm đếm xỉa gì tới người phụ nữ đó, bà ta đã vứt cả cái thể diện của mình xuống biển sâu rồi, bà ta còn chút tâm can nào nữa chứ? Chỉ là một cái túi da thối mà thôi!"
Thực tế thì mẹ tôi hoàn toàn không đến mức tồi tệ như lời họ miêu tả. Tôi rất muốn nhẹ nhàng chạm vào khuôn mặt của bà, trông bà rất giống tôi.
Chỉ thấy bà mặc những bộ đồ ngoại quốc kỳ lạ, khi bị mợ mắng mỏ bằng những lời cay độc, bà không hề cãi lại. Còn cậu tôi, chỉ vì bà gọi một tiếng "anh", liền tát cho bà một bạt tai, thế mà bà cũng chẳng kêu một tiếng, chỉ cúi gằm đầu xuống thấp hơn.
Lúc ngoại qua đời, bà khóc lóc thảm thiết, mặc dù nhiều năm về trước, chính ngoại là người đã đuổi bà ra khỏi nhà. Tang sự của ngoại vừa dứt, bà liền nghe lời cậu, lập tức quay về Thiên Tân. Đến đó, làm người vợ lẽ thứ tư của người ta, hoàn toàn đi ngược lại với đạo lý thông thường là "một phụ nữ không thờ hai chồng".
Tại sao bà không dẫn tôi đi cùng? Nhưng tôi không thể hỏi. Tôi chỉ là một đứa trẻ, tôi chỉ có thể nghe nhiều hỏi ít.
Ngay đêm trước khi rời nhà, bà ôm chặt tôi vào lòng, úp đầu tôi vào ngực bà, giống như muốn bảo vệ tôi tránh khỏi một tai họa vô hình nào đó. Bà cứ để tôi rúc trong ngực như thế, rồi kể cho tôi nghe một câu chuyện thế này.
"An Mai, con có thấy con rùa chúng ta nuôi trong hồ nước không?"
Tôi gật đầu. Tôi thường hay dùng một khúc gỗ nhỏ gõ vào mặt nước ở bờ hồ, dụ con rùa đang ẩn nấp dưới đáy đá bơi ra.
"Lúc mẹ bằng tuổi con, con rùa ấy đã ở đó rồi." Mẹ tôi nói, "Hồi đó, mẹ rất thích ngồi bên hồ nước, nhìn nó nổi lên mặt nước, vươn cái miệng nhọn hoắt ra để hít khí trời, đó là một con rùa rất rất già rồi."
"Con rùa này rất có tính linh." Mẹ tôi nói tiếp, "Có một hôm, khi ấy mẹ cũng chỉ chừng tuổi con, ngoại rất nghiêm khắc bảo với mẹ rằng, mẹ không còn là một đứa trẻ nữa, thế nên không được phép lang thang chạy nhảy khắp nơi, cũng không được bắt dế đào trứng chim, gặp chuyện không như ý thì không được gào khóc, mẹ buộc phải vâng lời người lớn, nếu không, sẽ cạo trọc đầu đưa vào am ni cô để làm ni cô.
"Ngoại mắng mẹ một trận như thế rồi bỏ đi. Mẹ hớt hải chạy ra bờ ao nhỏ, cuối cùng không kìm được mà khóc òa lên.
Lúc này, mẹ thấy con rùa đó nổi lên, chỉ thấy nó chúm cái miệng nhọn lại, nuốt từng giọt nước mắt của mẹ rơi xuống mặt nước vào bụng, ba giọt, bốn giọt, năm giọt... Sau đó nó chậm chạp bò khỏi ao nhỏ, leo lên một tảng đá phẳng lì, rồi cất tiếng nói chuyện.
"Con rùa đó nói: 'Ta đã nuốt nước mắt của ngươi, cho nên ta cũng biết ngươi đang chịu khổ, nhưng ta phải cảnh cáo ngươi, nếu ngươi cứ thường xuyên khóc lóc như thế, thì cả đời ngươi sẽ phải chịu đựng rất nhiều đau khổ và sầu muộn!'
"Rồi con rùa há miệng ra, khạc ra một, hai, ba... tổng cộng bảy quả trứng to bằng hạt trân châu, sau đó vỏ trứng lách tách nứt ra từng quả, từ bên trong chui ra bảy chú chim nhỏ. Vừa ra khỏi vỏ là chúng bắt đầu ríu rít cất tiếng hót ngân vang, vô ưu vô lo. Nhìn cái bụng trắng muốt cùng tiếng hót êm tai ấy, mẹ đoán chừng chúng là chim ác là, cái loài chim chuyên mang tin mừng đến cho mọi người. Khi mẹ vươn tay định bắt lấy một con, chúng đều vỗ cánh bay vút đi từng con một, để lại trên bầu không khí một chuỗi âm thanh vui vẻ.
"'Bây giờ thì con xem này!' Con rùa vừa nói vừa thong thả bò trở lại hồ nước, 'Khóc lóc thì có ích gì chứ? Nước mắt của con chẳng thể tẩy sạch nỗi buồn của con, ngược lại còn nuôi dưỡng niềm vui của kẻ khác, cho nên, con bắt buộc phải học cách nuốt đi nước mắt của chính mình!'"
Nhưng sau khi mẹ tôi kể xong câu chuyện này, tôi thấy chính bà cũng đang rơi nước mắt, điều đó khiến tôi cũng khóc theo, đây chính là vận mệnh của chúng tôi, giống như hai con rùa nuôi ở đáy nước, cách nhau bởi mặt nước gợn sóng, như thể dùng đôi mắt đẫm lệ để nhìn nhận thế giới này.
Sáng hôm sau, tôi bị đánh thức bởi những tiếng mắng chửi la hét lớn — chứ không phải tiếng chim ác là ríu rít — tôi lập tức chồm tới ô cửa sổ.
Ở cái sân bên ngoài, chỉ thấy mẹ đang quỳ ở đó, đôi tay tuyệt vọng cào cấu trên con đường nhỏ lát đá dăm, đứng thẳng tắp ngay trước mặt bà là anh trai của bà, cũng chính là cậu tôi. Ông ấy đang nổi trận lôi đình ở đó.
"Mày muốn dẫn con bé đi à? Mày muốn hủy hoại nó chắc?" Ông ta tức giận dậm chân liên hồi nói, "Mày đáng lẽ phải chết quách đi từ lâu rồi!"
Mẹ chỉ phục rạp trên mặt đất, không nói một lời. Tấm lưng của bà bất động cúi rạp ở đó, giống y như cái mai tròn vo của con rùa trong hồ nước. Bà mím chặt môi để bản thân không khóc phát ra tiếng, tôi cũng mím chặt môi, nuốt thứ nước mắt mặn đắng vào trong bụng.
Tôi vội vàng mặc quần áo, chạy ù xuống cầu thang ra đến sảnh trước, mẹ tôi đã chuẩn bị sẵn sàng để rời đi, một người ở đang giúp bà khiêng hành lý ra ngoài. Còn mợ thì nắm tay em trai tôi đứng một bên theo dõi.
"Mẹ!" Tôi bật thốt lên.
"Xem mày kìa," Cậu giật thót hét lên, "dạy hư cả con gái rồi!"
Mẹ cúi đầu liếc nhìn tôi một cái, hốc mắt tôi không kìm được mà nóng lên, nước mắt tuôn rơi. Tôi nghĩ, chắc chắn mẹ đã thấy tôi khóc, thế nên bà ưỡn ngực lên, trông có vẻ còn cao hơn cả vóc dáng của cậu, bà vươn hai tay về phía tôi, tôi lập tức cắm cổ chạy về phía bà. Bà dùng một giọng điệu ôn tồn dịu dàng nói với tôi rằng: "An Mai, mẹ không ép buộc con, mẹ chỉ nói với con rằng, mẹ sắp về Thiên Tân rồi, con có muốn đi cùng mẹ không?"
Cậu tức thì nghiến răng nghiến lợi nói: "Đi theo mày á? Để con bé này giống mày phết à? An Mai, đừng có tưởng mày được nhìn thấy cái thế giới mới mẻ gì. Mày ngồi trên một cỗ xe ngựa hoàn toàn mới, nhưng kẻ kéo xe ở đằng trước, vẫn là con lừa già ấy thôi, cả đời mày, cũng giống như con lừa già trước mặt mày thế này thôi!"
Những lời đó của cậu càng khiến tôi kiên định quyết tâm phải đi. Bởi vì tôi biết rõ một cách thiết thực rằng, trước mắt tôi có thể nhìn thấy, chính là cái ngôi nhà tối tăm u ám ngột ngạt khó chịu của cậu, nơi đó tràn ngập những nỗi sợ hãi kỳ quái muôn đời tôi không thể nào lý giải nổi. Tôi chậm rãi quay đầu lại nhìn mẹ.
Cậu tiện tay vớ lấy một chiếc bình hoa sứ: "Mày thực sự định đi theo nó à? Cả đời mày sẽ không bao giờ ngẩng đầu lên nổi đâu." Vừa nói, vừa ném mạnh chiếc bình hoa xuống đất, "Choang" một tiếng, mảnh vỡ văng tung tóe khắp sàn, tôi sợ hãi giật mình run lẩy bẩy, mẹ nhẹ nhàng kéo tôi vào lòng.
Bàn tay của bà rất ấm áp. "Đi thôi, An Mai, chúng ta phải mau lên." Bà nói, ngước nhìn sắc trời.
"An Mai!" Mợ cất tiếng gọi đầy bi thương từ đằng sau tôi. "Thôi đi!" Cậu lập tức cắt ngang lời mợ. "Thôi đi", trong tiếng Trung Quốc, chính là có ý nghĩa đã tiêu đời, "Nó đã thay đổi từ lâu rồi."
Khi tôi sắp sửa bước sang một cuộc sống hoàn toàn mới, tôi bắt đầu hoài nghi những gì cậu nói: rằng tôi sẽ mãi mãi không ngẩng đầu lên nổi.
Thế là, tôi thử ngẩng đầu lên, và tôi đã ngẩng lên được.
Lúc này, ánh mắt tôi chạm phải người em trai đang bị mợ nắm trong tay, nó đang gào khóc thảm thiết ở một bên. Mẹ không dám dẫn em theo. Một đứa con trai, vĩnh viễn không thể bước vào nhà của bất kỳ người họ khác nào, nếu không, điều đó sẽ thực sự hủy hoại nó. Nhưng tôi biết giờ phút này em ấy vẫn chưa nghĩ đến những điều đó, sở dĩ nó khóc lóc thảm thiết, chỉ vì bị hoảng sợ, vì cảm thấy tủi thân, vì mẹ không dẫn nó đi cùng.
Lời của cậu không hề nói sai, khi tôi nhìn thấy đứa em trai khóc đến đứt hơi, đầu tôi rốt cuộc không thể ngẩng lên nổi nữa.
Chúng tôi thuê một chiếc xe kéo, vội vã chạy ra ga xe lửa. Trên xe, mẹ khóc nhỏ nói với tôi: "An Mai đáng thương của mẹ, chỉ có con là hiểu được nỗi khổ trong lòng mẹ." Nghe xong, tôi cảm thấy vô cùng tự hào.
Cho đến khi lên tàu hỏa, tôi mới hiểu ra rằng, cuộc sống mới vẫn còn cách tôi rất xa, điều này khiến tôi vô cùng hoảng sợ bất an.
Chúng tôi mất tổng cộng bảy ngày bảy đêm trên đường: một ngày tàu hỏa, sáu ngày đường thủy. Suốt dọc đường, tôi cứ liên tục ngoảnh đầu nhìn lại con đường dần lùi xa bị bỏ lại phía sau, vừa lắng nghe mẹ hứng khởi kể về Thiên Tân.
Bà kể lể đủ loại món ăn ngon trên những gánh hàng rong: bánh trôi tàu, đậu phộng luộc v.v.. Mà món mẹ thích ăn nhất, là một loại bánh kếp tráng mỏng đập một quả trứng ở giữa, sau đó phết lên trên một lớp sốt đậu đen đặc quánh, rồi cuộn tròn nó lại, cứ thế nóng hổi cầm trên tay mà ăn!
Bà còn tỉ mỉ miêu tả cho tôi nghe về thành phố cảng này cùng những món hải sản ngon miệng của nó, đồng thời cho rằng nó vượt trội hơn hẳn những gì chúng ta có thể ăn được ở Ninh Ba. Thịt nghêu, tôm sú, cua to béo tươi ngon, cùng đủ loại cá biển và cá nước ngọt, hoàn toàn là loại thượng hạng, nếu không, sao lại có nhiều người nước ngoài đến thành phố cảng này thế chứ?
Mà trong thành phố cảng này, còn có các khu tô giới của người nước ngoài: người Nhật Bản, người Bạch Nga, người Mỹ, người Đức... nhưng ai nấy đều tự lo việc nấy, không qua lại với nhau. Họ duy trì những thói quen sinh hoạt khác nhau: có người chú trọng vệ sinh sạch sẽ, có người lếch thếch lộn xộn, thậm chí kiểu dáng nhà ở của họ cũng hoàn toàn khác biệt, hình dáng màu sắc muôn hình vạn trạng: có căn được sơn màu hồng phấn, cũng có căn trông giống như chiếc váy dài thời kỳ Victoria, lại có cả những mái nhà chạm trổ bằng gỗ sơn màu trắng, trông hệt như mái nhà làm bằng ngà voi vậy.
Vào mùa đông, tôi sẽ được nhìn thấy tuyết thật sự. Mẹ nói, chỉ vài tháng nữa thôi, sẽ là tiết hàn lộ. Khi đó trời sẽ mưa, rồi dần dần, những hạt mưa sẽ biến thành từng phiến hoa tuyết trắng muốt, đó chính là tuyết. Nhưng không sao cả, bà sẽ bọc tôi trong chiếc áo khoác viền lông thú, bọc cho thật ấm áp.
Ngày thứ năm, con tàu bắt đầu tiến sát cảng Thiên Tân, những con sóng nước đục ngầu thỉnh thoảng vỗ oàm oạp vào mạn tàu, theo sự đến gần của cảng Thiên Tân, màu sắc của sóng nước bắt đầu sậm lại, cuối cùng biến thành màu đen quánh, hơn nữa, thân tàu bắt đầu lắc lư dữ dội. Tôi cảm thấy sợ hãi, lại buồn nôn. Dòng nước đen kịt dơ bẩn này, khiến tôi nhớ lại lời mợ từng nói: vứt bỏ thể diện của chính mình vào biển lớn.
Dòng nước đục ngầu ấy, bẩn thỉu nhường nào, hôi thối nhường nào, con người một khi dính phải nó, làm sao có thể rửa sạch được chứ? Mợ từng nói, điều đó sẽ làm nhơ nhuốc tôi, tôi rất sợ lời mợ nói sẽ ứng nghiệm. Tôi nằm trên giường, hoảng sợ trừng trừng nhìn mặt nước, tôi phát hiện sắc mặt mẹ bỗng chốc trở nên âm trầm. Bà chỉ quay đầu nhìn đăm đăm ra mặt biển tối như mực, trong lòng tôi càng thêm nặng nề và hoang mang.
Dòng nước đen đục ấy thực sự đã thay đổi mẹ. Vốn dĩ, mẹ đang mặc một bộ đồ tang phục theo kiểu Trung Quốc, thế nhưng khi sắp cập bến, lúc bà quay lại phòng sinh hoạt ở boong tàu cao nhất, thì trông cứ như đã biến thành một con người hoàn toàn khác. Bà vẽ một đôi lông mày thật đậm, hất ngược cao lên tận hai bên thái dương, còn đánh cả viền mắt đen sì, tôn lên khuôn mặt ấy lại càng thêm phần tái nhợt, lại phối thêm đôi môi đỏ như máu, trông hoàn toàn giống như một người phụ nữ xa lạ. Bà đội một chiếc mũ phớt nhỏ màu nâu, vành mũ cài ngang một chiếc lông vũ màu nâu, trước trán xõa xuống hai hàng mái cắt bằng tăm tắp, nhìn từ xa hệt như một cặp đồ mỹ nghệ điêu khắc bằng sơn mài, trên người mặc một chiếc váy dài màu nâu có viền cổ áo đính ren trắng kéo thẳng xuống tận eo, ngay eo cài một bông hoa hồng bằng lụa màu đỏ.
Đây là điều cực kỳ cấm kỵ, bởi vì chúng ta vẫn đang để tang cơ mà! Nhưng tôi chỉ là một đứa trẻ, tôi có thể nói gì được chứ? Sao tôi lại có thể trách cứ mẹ của mình cơ chứ? Nhìn bà ăn vận lộng lẫy phô trương chẳng kiêng nể gì như thế, tôi cảm thấy xấu hổ thay cho bà.
Lúc này, mẹ lấy ra một chiếc hộp giấy lớn màu kem đưa cho tôi. "Mở ra xem đi!" Tôi thấy trên hộp in dòng chữ "Thời trang đủ loại tinh chế của Anh - Thiên Tân". Mẹ cứ thế không lên tiếng mà nhìn chằm chằm tôi cười: "Nhanh lên nào!" Mãi cho đến tận nhiều năm sau này, khi tôi dùng chiếc hộp giấy màu vàng sữa này để lưu trữ thư từ và ảnh chụp, trong lòng tôi vẫn vô cùng khó hiểu, thuở ấy, sau khi cách xa tôi lâu đến thế, sao mẹ lại có thể chắc chắn rằng tôi sẽ đi theo cô, mà khi tôi đi theo cô, tôi lại cần mặc một bộ quần áo mới hoàn toàn khác biệt cơ chứ?
Vừa mở hộp ra, mọi sự bất an và cảm giác xấu hổ vì mẹ trong tôi lập tức tan biến sạch. Trong hộp là một bộ váy màu hồng phấn hoàn toàn mới, ngoài ra, còn đi kèm một đôi tất dài bằng lụa trắng, một đôi giày da trắng và một chiếc nơ lụa lớn màu trắng.
Thế nhưng, mọi thứ trong hộp đối với tôi lại hơi rộng một chút. Bờ vai của tôi suýt nữa thì thò hẳn ra khỏi cổ áo, phần eo rộng đến mức có thể nhét vừa hai đứa tôi. Nhưng tôi chẳng bận tâm điều đó, và cô cũng mặc kệ. Tôi giơ hai tay đứng thẳng tắp, cô lấy kim chỉ khâu thu nhỏ phần rộng lại, lại nhét giấy mềm vào mũi giày da của tôi. Khoác lên mình bộ trang phục mới tinh như thế, tôi có cảm giác như bản thân cũng mọc ra đôi tay mới và đôi chân mới, hơn nữa, cần phải bước đi bằng một dáng đi hoàn thế mới.
Nhưng ngay lập tức sắc mặt mẹ lại chuyển sang âm trầm. Bà khoanh chân ngồi đó, lặng lẽ phóng tầm mắt nhìn ra bến tàu đang đến gần.
"An Mai, con phải chuẩn bị để sống một cuộc sống mới, con sẽ được ở trong một ngôi nhà mới, con sẽ có một người cha mới, rất nhiều chị em mới, và cả một cậu em trai nhỏ. Con sẽ được mặc đồ đẹp, ăn đồ ngon, có vui không?"
Tôi chỉ gật đầu, không lên tiếng, tôi nhớ đến đứa em trai còn ở tận Ninh Ba, nó khóc thương tâm biết nhường nào! Mẹ tôi bỗng ngậm miệng lại, không hề nhắc nhở gì về cái gia đình mới mà tôi sắp phải đối mặt nữa, bởi vì lúc này tiếng chuông đã vang lên, tiếp viên trên tàu thông báo tàu đã cập bến. Mẹ nhanh chóng gọi người khuân vác, chỉ điểm cho anh ta hai chiếc vali nhỏ của chúng tôi, đồng thời trả tiền boa cho họ. Thao tác của bà thuần thục đến mức như thể ngày nào cũng làm, đã vô cùng quen tay hay việc với khoản này. Sau đó, bà lại cẩn thận mở một chiếc hộp khác ra, tôi nhìn thấy bên trong nằm năm, sáu con cáo chết, chúng há cái miệng nhỏ, trừng trừng một đôi mắt sáng lấp lánh, phía sau kéo lê một chiếc đuôi xù bông. Thế nhưng mẹ lại quàng cái thứ đáng sợ ấy quanh cổ mình, rồi nắm chặt tay tôi theo dòng người đi xuống boong tàu.
“An Mai, theo sát vào, sao con đi chậm thế!” Bà liên tục nói với tôi. Tôi cố hết sức lê đôi chân theo sau, nhưng đôi giày quá rộng khiến tôi cảm thấy vô cùng chật vật. Đám đông hỗn loạn nhốn nháo, mọi người xách những chiếc va li mây hoặc bọc hành lý nặng trịch, vừa hô hoán vừa tranh đường giữa đám đông, cũng có những người phụ nữ ngoại quốc ăn mặc giống hệt mẹ, tay trong tay khuỷu tay với chồng bước đi đầy căng thẳng; những phu nhân giàu có lớn tiếng mắng nhiếc những người hầu gái và tiểu tư đi theo sau bọn họ...
Trời đã gần trưa, tuy bên ngoài rất ấm áp, nhưng bầu trời lại phủ đầy những tầng mây xám xịt, chồng chất lên nhau.
Chúng tôi đứng bên vệ đường đợi một hồi lâu, những chiếc xe cộ và xe kéo tấp nập ngược xuôi liên tục lướt qua trước mắt, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng ai đến đón chúng tôi cả. Mẹ đành bất lực thở dài, tự mình vẫy một chiếc xe kéo.
Mẹ mặc cả với phu xe hồi lâu, cuối cùng chúng tôi cũng lên xe. Suốt dọc đường, bà không ngớt cằn nhằn về bụi bay mù mịt, mùi hôi thối trên phố, mặt đường lồi lõm gập ghềnh, thời gian bị trì hoãn và cả chứng bệnh đau dạ dày của bà, rồi bà lại lái câu chuyện cằn nhằn sang phía tôi: trên bộ quần áo mới của tôi đã có một vết bẩn, tóc tai thì bù xù rối tung, lại thêm cả đôi tất dài vẹo vọ như con rắn của tôi nữa. Tôi tìm cách chuyển chủ đề của bà, nên chốc chốc lại xen ngang cắt lời, lúc thì chỉ vào một công viên nhỏ hỏi bà đó là nơi nào, lúc thì chỉ vào chiếc xe điện kéo theo hai toa dài...
Bà càng thêm mất kiên nhẫn: “Ngồi cho đàng hoàng vào, An Mai! Đừng có hóng chuyện vui. Mẹ không dẫn con ra ngoài để hóng chuyện đâu, chúng ta chỉ đang về nhà thôi.”
Đến khi chúng tôi cuối cùng cũng về đến nhà, thì cả hai người đều đã kiệt sức.
Hai
Ngay từ đầu, tôi đã đoán được rằng cái gia đình mới của tôi tuyệt đối không phải là một gia đình bình thường nhỏ bé nào cả, mẹ đã sớm nói với tôi từ trước, người đàn ông tên Ngô Thanh đó là một thương nhân rất giàu có, chuyên kinh doanh thảm. Ông ta sống trong một ngôi nhà lớn ở khu tô giới Anh, đó là phân khu thượng hạng bậc nhất ở thành phố Thiên Tân, cách Mã Tràng Đạo không xa.
Căn nhà đó do người nước ngoài xây dựng. Ngô Thanh rất chuộng phong cách phương Tây, thích đồ ngoại, bởi vì chính người nước ngoài đã mang lại cho ông ta khối tài sản kếch xù, thế nên tại sao mẹ tôi cũng bắt buộc phải mặc trang phục theo kiểu Tây. Những kẻ mới phất ở Trung Quốc, đều thích thể hiện ra một vẻ giàu sang khác người.
Thế nhưng khi tôi thực sự đặt chân đến trước cổng nhà Ngô Thanh, tôi vẫn bị choáng ngợp bởi khí thế ấy.
Cổng lớn nhà ông ta hoàn toàn là vòm cổng kiểu Trung Quốc xây bằng đá, cánh cửa lớn sơn mài đen bóng loáng, phối hợp với một cái ngưỡng cửa cao ngất. Cái sân bên trong đã thực sự mở mang tầm mắt cho tôi. Trong sân chẳng có lấy một gốc liễu hay hoa quế thơm ngát, lại càng chẳng thấy lầu các đình đài hay hồ hoa sen nào cả, chỉ thấy dọc theo hai bên lối đi rộng rãi được lát bằng gạch đá là hai hàng cây hoàng dương lùn xanh mướt rậm rạp, phía sau cây hoàng dương lần lượt là một thảm cỏ xanh mướt như nhung và đài phun nước, tận cùng lối đi là một căn biệt thự kiểu Tây ba tầng lầu, mỗi tầng đều nhô ra một chiếc ban đôn bằng sắt dài, xung quanh mái nhà nhô lên bốn ống khói.
Một người hầu gái trẻ tuổi đon đả đón ra: “Thưathái thái (thái thái), ngài đã về rồi ạ! Không ngờ tới đấy!” Giọng nói lanh lảnh chói tai làm màng nhĩ tôi ê ẩm. Đây là thím Dương, người hầu cận bên cạnh mẹ. Cô ta mở miệng ngậm miệng đều gọi mẹ là “thái thái”, đây là danh xưng tôn kính dành cho người chủ gia đình ở Trung Quốc, gọi như vậy khiến mẹ trông có vẻ như chính thất đường đường chính chính của nhà họ Ngô, chứ không phải giống như vợ lẽ.
Thím Dương vừa lớn tiếng gọi những người ở khác ra giúp chúng tôi xách hành lý, pha trà và chuẩn bị nước tắm, vừa vội vã biện bạch với mẹ: “Nhị thái thái từng nói, ít nhất phải một tuần nữa ngài mới về cơ mà. Xem kìa, rốt cuộc lại chẳng có ai ra đón ngài cả! Nhị thái thái bọn họ đi Bắc Kinh thăm họ hàng rồi. Á chà, đây là con gái của ngài phải không? Xinh đẹp quá đi, trông y đúc ngài luôn, con bé ngại ngùng kìa. Đại thái thái cùng con gái của bà ấy thì đi chùa thắp hương rồi. Còn có...”
Đồ đạc bài trí trong nhà vô cùng tinh xảo khiến tôi hoa mắt chóng mặt: Một chiếc cầu thang uốn cong hình vòng cung lớn rất có phong cách kéo dài vươn lên trên. Trên trần nhà được chạm trổ tinh xảo đủ mọi hoa văn. Hành lang ngoằn ngoèo khúc khuỷu dẫn đến các căn phòng, phòng này nối tiếp phòng kia. Ngay bên phải tôi là một căn phòng lớn, bên trong đặt đầy đồ nội thất bằng gỗ thông và ghế sô-pha, mà căn phòng lớn này lại thông sang một căn phòng dài và hẹp khác, cũng được bày biện đủ loại đồ cổ nội thất, hết khung cửa này đến khung cửa khác khiến tôi quay cuồng cả đầu óc. Trong phòng thỉnh thoảng lại có vài bóng người lướt qua lại, thím Dương liền đứng một bên giới thiệu: “Kia kìa, người phụ nữ trẻ tuổi kia là nhũ mẫu cận thân của Nhị thái thái, còn người kia chẳng là gì cả, chỉ là con gái của trợ lý đầu bếp lớn mà thôi, người đàn ông này là người quản lý khu vườn...”
Chúng tôi lên lầu, đi đến một phòng sinh hoạt lớn, rồi rẽ trái xuyên qua sảnh đợi, bước vào một căn phòng khác. “Đây chính là phòng của mẹ cô,” thím Dương tự hào nói với tôi, “cô sẽ ngủ ở đây.”
Thứ đầu tiên thu hút tầm mắt tôi trong phòng là một chiếc giường sang trọng, trông nó vừa nặng nề vừa thanh thoát, bên trên rủ xuống những chiếc rướng mùng màu hồng phấn, bốn góc chống bốn cây cột trụ hình rồng bằng gỗ sẫm màu bóng loáng, chân đế cột rồng là bốn con sư tử đang cuộn mình phục kích.
Tôi nhào đầu vào tấm ga trải giường mát rượi, cười ha hả vì quá đỗi vui mừng, tôi phát hiện tấm đệm mềm mại này còn mềm hơn cả giường ở Ninh Ba gấp mười lần.
Ngồi trên một chiếc giường như thế, tôi cảm thấy mình đã biến thành một nàng công chúa nhỏ. Trong phòng có một cửa sổ kính sát đất thông thẳng ra ban công, trước cửa sổ là một chiếc bàn tròn bằng gỗ cùng một bộ với chiếc giường. Một người hầu đã sớm chuẩn bị sẵn trà và đồ ngọt, lúc này, cậu ta đang khom lưng nhóm lò sưởi ấm cho chúng tôi, đó là một loại lò sưởi nhỏ đốt bằng than.
Nơi này không hề nghèo nàn túng thiếu như nhà cậu ở Ninh Ba của chúng tôi, thực sự quá mức xa hoa giàu có. Tôi không hiểu nổi, mẹ đã gả cho một người đàn ông giàu có nhường này, tại sao cậu lại còn mắng bà là không biết xấu hổ cơ chứ?
Đang lúc tôi thắc mắc khó hiểu, bỗng nghe thấy một tiếng leng keng trong trẻo giòn giã, tiếp theo đó vang lên một khúc nhạc, âm thanh đó phát ra từ một chiếc đồng hồ gỗ gụ lớn đối diện giường, chỉ thấy cửa đồng hồ bỗng nhiên bật mở, bên trong hiện ra một căn phòng nhỏ chật cứng khách khứa, một gã râu xum xuê đội chiếc mũ nhọn đang ngồi bên bàn uống súp: một, hai, ba... ở bên cạnh, một cô gái mặc áo xanh cũng liên tục cúi người châm thêm súp cho hắn: một, hai, ba... Mà một cô gái khác mặc váy và áo khoác ngắn thì cứ ngả người tới lui kéo đàn vi-ô-lông, cô ta cứ kéo đi kéo lại một giai điệu nghe không mấy vui vẻ cho lắm, đến mức tận nhiều năm sau này, tôi vẫn có thể nhớ rõ giai điệu ấy: Ni — hơ! La, la, la, la — ni — ha!
Mấy ngày đầu, tôi thực sự cảm nhận được niềm vui vô bờ bến, khi tôi cùng mẹ nằm trên chiếc giường lớn rộng rãi và mềm mại này, tôi lại nhớ đến người em trai nhỏ bị bỏ lại ở Ninh Ba, trong lòng cảm thấy vô cùng tiếc nuối xót xa cho em ấy, thế nhưng, mỗi một món đồ mới mẻ trong căn phòng này lại nhanh chóng phân tán tâm trí tôi.
Tôi kinh ngạc nhìn vòi nước vừa mở là nước nóng liền ào ào chảy ra. Bồn cầu xả nước cũng khiến tôi cảm thấy mới lạ, chỉ cần xả nước là được, không cần người hầu phải cọ rửa chúng. Từng căn phòng ở đây đều tinh xảo cầu kỳ giống như phòng của mẹ vậy. Thím Dương lần lượt giới thiệu cho tôi biết: căn nào là của Đại thái thái, căn nào là của Nhị thái thái, có một số phòng thì chỉ đơn giản là phòng cho khách mà thôi.
Nhưng chẳng mấy chốc, tôi lại cảm thấy tất cả những thứ mới mẻ đều không còn mới mẻ nữa, tôi nhanh chóng phát ngấy. “Hơ, món ăn này hôm trước con vừa ăn rồi cơ mà.” “Món điểm tâm ngọt này con ăn đến ngán rồi!” Tôi chốc chốc lại cằn nhằn với thím Dương.
Mẹ lại trở nên vui vẻ trở lại. Bà mặc chiếc sườn xám kiểu Trung Quốc viền ren trắng, đó là bộ đồ tang mặc để chịu tang ngoại.
Ban ngày, bà chỉ cho tôi xem một số thứ mà tôi chưa từng thấy bao giờ, đồng thời dạy cho tôi tên gọi của chúng: bồn tắm, máy ảnh Bronica, nĩa ăn salad, khăn ăn trà v.v.. Buổi tối, chúng tôi quây quần bên lò sưởi trò chuyện phiếm, bàn tán về từng người hầu: người này thông minh, người kia chăm chỉ, người nọ trung thành tận tụy v.v.. Chúng tôi nướng trứng, nướng khoai lang trên lò sưởi, trong không khí tỏa ra một mùi hương ngọt ngào.
Có thể nói cho đến tận lúc đó, tôi chưa từng trải qua những ngày tháng nào vui vẻ và thoải mái hơn thế: không phiền muộn, không sợ hãi, cũng chẳng có dục vọng gì, cuộc sống của tôi ấm áp và thoải mái hệt như chiếc đệm giường màu hồng phấn kia vậy. Thế nhưng chẳng bao lâu sau, tôi không còn vui vẻ nữa.
Đúng hai tuần sau đó, vào một ngày, tôi đang đá bóng ở khu vườn phía sau, thì bỗng nghe thấy từ xa văng vẳng tiếng còi ô tô, hai con chó trong vườn lập tức vứt bỏ tôi, vừa sủa vui mừng vừa chạy tút ra ngoài.
Mẹ vẫn luôn ngồi bên cạnh tôi nhìn tôi chơi đùa bỗng biến sắc mặt, chỉ thấy bà đứng phắt dậy, vội vã bước nhanh vào nhà. Tôi chạy ra theo, thì thấy ở cổng lớn đang đỗ hai chiếc xe kéo đen bóng, phía sau là một chiếc ô tô màu đen. Một người hầu nam bận rộn dỡ hành lý trên xe kéo xuống, từ chiếc xe kéo khác, một nữ tỳ trẻ tuổi nhảy phốc xuống.
Những người hầu đều đổ ra vây quanh chiếc ô tô, thân xe bóng loáng phản chiếu khuôn mặt khiêm nhường cung kính của từng người một.
Tài xế mở cửa xe, người đầu tiên nhảy xuống là một cô gái trẻ tuổi, cô ta cắt tóc ngắn, đằng sau uốn mấy lọn sóng xoăn. Nhìn cô gái này có vẻ không lớn hơn tôi là bao, thế nhưng toàn thân lại diện trang phục của phụ nữ trưởng thành, phối với đôi tất lụa dài và giày cao gót. Tôi cúi xuống nhìn bộ váy trắng dính đầy nhựa cỏ màu xanh vàng của mình, cảm thấy vô cùng ngượng ngùng.
Tiếp theo đó, đám người hầu từ từ đỡ một người đàn ông to lớn bước xuống, vóc dáng ông ta không cao, nhưng lại rất béo phì, thở hồng hộc, nhìn có vẻ già hơn mẹ tôi nhiều. Trán ông ta bóng nhẫy, ngay cánh mũi có một nốt ruồi đen lớn. Chỉ thấy ông ta mặc một chiếc áo khoác kiểu Tây, bên trong là chiếc áo len sát nách ôm sát người, chiếc quần ngược lại lại rất rộng thùng thình. Chỉ thấy ông ta chật vật bước xuống đất, kiêu ngạo bước thẳng vào trong nhà, chẳng thèm đếm xỉa đến những người đang cung kính đứng chờ đón ông ta. Mọi người tranh nhau mở cửa cho ông ta, cũng có người giúp ông ta xách túi, kẹp chiếc áo khoác dài, rầm rộ kéo nhau đi theo đuôi ông ta. Còn cô gái trẻ tuổi kia thì nở nụ cười đắc ý sát bên cạnh ông ta, chốc chốc lại ngoảnh đầu đánh giá đoàn tùy tùng phía sau, cứ như thể sự ân cần và tôn kính của bọn họ đều là hiến dâng cho cô ta vậy. Cô ta vừa bước vào trong, tôi liền nghe thấy một người hầu đang bàn tán: “Tam thái thái còn trẻ thật đấy, ngoài một vú em ra thì cô ta chẳng có nổi người hầu nào khác cả.”
Tôi thỉnh thoảng ngẩng đầu lên, chỉ thấy mẹ đang đứng bên khung cửa sổ phóng tầm mắt quan sát, tất cả mọi thứ bà đều đã nhìn thấy, Ngô Thanh lại cưới thêm người vợ lẽ thứ năm. Mẹ chẳng hề ghen tị với cô gái này chút nào. Bà chẳng cần thiết phải làm thế. Mẹ không hề yêu Ngô Thanh, ở Trung Quốc, một cô gái thường kết hôn không phải vì tình yêu, mà là vì địa vị. Nhưng tôi sau đó mới biết được, địa vị của mẹ tôi ở nhà họ Ngô lại là thấp kém nhất.
Kể từ khi Ngô Thanh dẫn Ngũ thái thái về nhà, mẹ ngày nào cũng đóng cửa không ra ngoài, vùi đầu vào thêu thùa. Thỉnh thoảng buổi chiều lại dẫn tôi ngồi xe ra khỏi thành, mục đích là để tìm kiếm một loại chỉ thêu có màu sắc nào đó, hoặc giả là chính bà cũng không nói rõ nổi màu sắc của nó, giống như việc bà cũng không thể nói rõ mọi phiền muộn và khó chịu của chính mình vậy.
Cho nên mặc dù mọi chuyện thoạt trông vẫn bình yên vô sự, nhưng tôi biết rằng, đây chỉ là một thứ giả tượng mà thôi. Chắc bạn sẽ cảm thấy kỳ lạ, sao một đứa trẻ mới tròn chín tuổi cũng có thể cảm nhận được cơ chứ? Giờ nghĩ lại, đến chính tôi cũng cảm thấy kỳ lạ. Nhưng tôi dường như sinh ra đã có một loại năng lực đặc biệt có thể tiên đoán trước tai họa, mười lăm năm sau, cũng chính năng lực ấy đã giúp tôi nghe được tiếng bom do người Nhật ném ở nơi xa, từ đó biết rằng một cuộc chiến tranh tàn khốc là điều không thể tránh khỏi đã bắt đầu.
Vài ngày sau khi Ngô Thanh trở về, vào một đêm khuya muộn, tôi bị mẹ nhẹ nhàng lay tỉnh.
"An Mai, đứa con ngoan," bà mệt mỏi nói, "qua phòng thím Dương ngủ đi con."
Tôi ngái ngủ dụi dụi đôi mắt, nhìn thấy một bóng đen lướt vào trong phòng, đó chính là Ngô Thanh, tôi khóc òa lên.
"Đừng khóc, không có gì đâu, mau qua phòng thím Dương đi con," mẹ nhẹ nhàng nói, bế tôi đặt xuống nền nhà lạnh ngắt, chiếc đồng hồ bằng gỗ kia lại bắt đầu cất tiếng hát, Ngô Thanh làu bàu cằn nhằn về thời tiết lạnh giá này. Tôi được dẫn sang phòng thím Dương.
Sáng hôm sau, tôi nhìn thấy Ngũ thái thái đang xị mặt, y hệt như tôi vậy. Trên bàn ăn, trước mặt bao nhiêu người, cơn giận của cô ta bùng nổ, chỉ thấy cô ta thô lỗ lớn tiếng mắng nhiếc người hầu thao tác quá chậm chạp, Ngô Thanh liền liếc cô ta một cái đầy nghiêm khắc như người cha, thế là cô ta liền nức nở khóc. Nhưng sau đó vào khoảng giữa trưa, Ngũ thái thái lại cười khúc khích, mặc một bộ quần áo mới và đôi giày mới, đắc ý vênh váo đi lại khắp nơi.
Chiều hôm đó, tôi và mẹ lại lên xe kéo đi mua chỉ thêu, lần này là lần đầu tiên mẹ trút bầu tâm sự với tôi những nỗi u uất đè nén trong lòng: "Con thấy đó, mẹ sống nhục nhã biết bao!" Cô vừa khóc vừa nói, "Con xem mẹ không có chút địa vị nào trong cái nhà này cả, cái cô vợ lẽ mới mà hắn dẫn về là một người phụ nữ hạ đẳng, da ngăm đen lại chẳng biết quy củ gì cả! Hắn chỉ bỏ ra mấy đồng bạc mua cô ta từ một gia đình thợ gạch dưới quê lên. Buổi tối khi cô ta không thể làm hắn thỏa mãn, hắn liền chạy đến chỗ mẹ, mẹ ngửi thấy cái mùi nhà quê của con tiện nhân đó phát ra từ người hắn.
"Bây giờ con thấy rồi đấy, cái cô tư thái thái này của mẹ chính là không bằng ngũ thái thái, An Mai, con phải khắc ghi điều này trong lòng.
"Mẹ từng là một người vợ được cưới hỏi đàng hoàng, vợ của một trí thức. Mẹ của con sinh ra không phải để làm một người vợ lẽ."
Chữ “tư” (bốn) đó, nghiến răng nghiến lợi thốt ra từ kẽ răng của bà, từ đó nghe cứ như phát âm của chữ “tử” (chết) vậy, khiến tôi chỉ thấy da gà da vịt nổi lên khắp người. Điều này khiến tôi nhớ lại, ngoại từng nói, “tư” là một con số vô cùng xui xẻo, bởi vì nếu bạn thốt ra chữ này bằng một giọng điệu phẫn nộ, nghe sẽ khá giống cái từ mang vận rủi kia.
Tiết hàn lộ đã đến, thời tiết càng trở nên lạnh giá hơn, nhị thái thái và tam thái thái mang theo con cái và người hầu của họ đã trở về Thiên Tân. Ngô Thanh đồng ý để chiếc ô tô mới của ông ta ra ga tàu hỏa đón họ, đương nhiên, một chiếc ô tô sao có thể chở hết một đại đội nhân mã này chứ? Thế nên nối đuôi đằng sau ô tô là một hàng dài xe kéo, trông giống như một chuỗi dế mèn đang béo búp đi theo một con bọ cánh cứng khổng lồ vậy.
Mẹ đứng đằng sau tôi nghênh đón bọn họ. Một người phụ nữ mặc bộ âu phục bình thường dẫn theo ba đứa con gái, trong đó có một cô bé trạc tuổi tôi.
"Đây là tam thái thái và ba cô con gái của cô ấy." Mẹ giới thiệu.
Ba đứa con gái đó còn nhút nhát hơn cả tôi, chỉ cúi gằm đầu nép sát vào mẹ chúng. Thế nhưng tôi vẫn dán chặt mắt đánh giá bọn họ, bọn họ cũng mộc mạc giản dị hệt như mẹ của họ vậy, ai nấy đều có hàm răng hô, đôi môi dày và cặp lông mày rậm, trông hệt như hai con sâu róm lớn. Tam thái thái nhiệt tình xã giao với chúng tôi, còn đồng ý để tôi giúp cô ấy xách một gói đồ.
"Còn nữa, đây là nhị thái thái," tôi rõ ràng cảm nhận được đôi bàn tay đang đặt trên vai tôi của mẹ bỗng trở nên cứng đờ. "Nhưng con phải gọi cô ấy là đại nương đấy nhé." Cô khẽ nói với tôi.
Tôi nhìn thấy một người phụ nữ mặc chiếc áo khoác lông thú dài màu đen vô cùng thời thượng, trong ngực cô ta đang ôm một cậu con trai nhỏ bụ bẫm khoảng hai tuổi.
"Nó chính là tiểu đệ, em trai út của con đấy." Mẹ nói với tôi. Chỉ thấy cậu con trai nhỏ ấy đội một chiếc mũ da nhỏ y hệt như chiếc áo khoác lông thú của mẹ nó, một tay đang nghịch chuỗi trân châu rủ trước ngực cô ấy. Tôi vô cùng kinh ngạc không hiểu sao cô ấy lại có đứa con nhỏ đến thế, mặc dù nhị thái thái rất xinh đẹp, trông có vẻ cũng rất khỏe mạnh, nhưng tuổi tác của cô ấy cũng đã có hạn, ít nhất cũng phải ngoài bốn mươi lăm rồi.
Cô ấy mỉm cười gật đầu với tôi, bộ áo khoác lông thú sang trọng lấp lánh theo từng bước đi thướt tha uyển chuyển của cô ấy, sau khi cô ấy đánh giá tôi một lượt thật kỹ lưỡi, chỉ thấy đôi bàn tay thon thả uyển chuyển vung lên một cái, liền tháo chuỗi trân châu trên cổ xuống tròng vào cổ tôi.
Ối chà, báu vật thế này, đây là lần đầu tiên tôi được chạm vào đấy. Nó hoàn toàn theo kiểu phương Tây, là một chuỗi dài, mỗi hạt trân châu đều có kích thước lớn nhỏ bằng nhau, hạt nào hạt nấy đều căng tròn sáng bóng, dùng một chiếc khóa cài bằng bạc nối liền hai đầu lại với nhau.
Mẹ lập tức từ chối: "Nó vẫn còn là một đứa trẻ, món quà thế này quý giá quá, quý giá quá rồi! Nó sẽ làm đứt vỡ chúng mất, thậm chí là làm thất lạc mất thôi."
Nhị thái thái chỉ nhạt nhẽo cười một tiếng, nói: "Một cô bé xinh xắn thế này, nên được chưng diện ăn mặc cho thật đẹp chứ!"
Tôi tức thì nhận ra, sắc mặt mẹ tỏ vẻ không mấy vui vẻ. Cô không thích nhị thái thái. Tôi phải chú ý mới được, không thể để mẹ cảm thấy nhị thái thái đã lôi kéo được tôi về phe cô ta, thế nhưng ở sâu thẳm trong nội tâm, tôi vẫn không kìm nén được mà dành một thiện cảm đặc biệt cho nhị thái thái.
"Cảm ơn đại nương ạ!" Tôi nói với nhị thái thái, trên mặt vẫn nở nụ cười rạng rỡ vui vẻ.
Buổi chiều khi cùng mẹ ăn bánh uống trà trong phòng, mẹ nói với tôi: "Cẩn thận đấy, An Mai, cái cô nhị thái thái này có bản lĩnh che tay gọi mây, lật tay gọi mưa đấy nhé. Cô ta đang mua chuộc con đấy!" Tôi biết là cô đang giận rồi.
Tôi chỉ im thin thít ngồi đó, mặc cho những lời của mẹ lọt tai này ra tai kia.
"Đưa chiếc vòng cổ đây cho mẹ." Đột nhiên, cô bảo tôi.
Tôi nhìn cô, không nhúc nhích.
"Nếu con không tin lời mẹ, thì đưa chiếc vòng cổ đây cho mẹ, mẹ sẽ không đời nào để cô ta dùng cái giá rẻ mạt thế này để mua chuộc con đâu."
Tôi vẫn bất động tại chỗ, cô liền đứng phật dậy giật phắt lấy sợi dây chuyền đó. Chưa kịp để tôi ngăn cản, cô đã ném sợi dây chuyền xuống đất rồi dùng giày da giẫm mạnh chân lên, thoáng chốc, một hạt trong chuỗi trân châu gần như đã mua chuộc cả thể xác lẫn tâm hồn tôi này đã bị giẫm nát bét, hóa thành một đống mảnh thủy tinh vụn.
Sau đó cô vẫn bắt tôi đeo chuỗi vòng cổ này vào, cô bắt tôi đeo liền một tuần lễ, để tự nhắc nhở bản thân, sao lại suýt chút nữa không phân biệt được tốt xấu, nhận giả làm thật, suýt chút nữa bán rẻ cả chính mình. Tiếp đó, cô mở hộp trang sức của mình ra: "Bây giờ, để mẹ cho con thấy thế nào là trân châu bảo vật thực sự nhé!"
Bà lấy ra một chiếc nhẫn saphia nặng trịch đặt vào lòng bàn tay tôi, chính giữa viên ngọc, lóe lên một tia hàn quang hình ngôi sao.
Chẳng bao lâu sau, đại thái thái cũng từ Bắc Kinh trở về, ở Bắc Kinh bà sống cùng hai cô con gái chưa chồng trong một cỗ quán khác của Ngô Thanh. Đại thái thái vừa về đến nơi là nhị thái thái liền im thin thít không dám ho hé. Đại thái thái chính là thủ lĩnh, quy chuẩn và pháp luật ở cái nơi này.
Nhưng đại thái thái thực ra chẳng có chút uy hiếp quá lớn nào đối với nhị thái thái cả. Bà ta đã già nua sa sút, bó chân, mặc những trang phục lỗi thời, khuôn mặt đầy nếp nhăn trông ngược lại vô cùng mộc mạc chân chất. Giờ nghĩ lại, thực ra bà ta cũng không hẳn là quá già, tính ra thì chắc cũng trạc tuổi Ngô Thanh, tầm năm mươi tuổi gì đó thôi.
Vừa mới gặp đại thái thái, tôi còn tưởng bà ta bị mù. Trông bà giống như chẳng nhìn thấy tôi, cũng chẳng nhìn thấy Ngô Thanh, chẳng nhìn thấy mẹ tôi. Trong mắt bà chỉ có hai cô con gái của mình, hai cô gái lỡ thì chưa chịu gả chồng, họ đã ít nhất là hai mươi lăm tuổi rồi. Ngoài ra, bà ta chỉ nhìn thấy hai con chó.
"Mắt của đại thái thái bị làm sao thế nhỉ? Sao có lúc thị lực tốt thế, mà có lúc lại trông như người mù vậy." Một hôm tôi hỏi mẹ.
"Đại thái thái nói rằng, bà ấy chỉ nhìn thấy Phật quang, nhìn thấy sự hiển linh của Bồ Tát, còn đa số những tội nghiệt chốn hồng trần, thì bà ấy đều làm như không thấy." Thím Dương nói. Thím Dương còn kể cho tôi nghe, sở dĩ đại thái thái giữ thái độ nhắm mắt cho qua đối với thế gian là vì cuộc hôn nhân bất hạnh của bà ta. Bà ta đã bái thiên địa với Ngô Thanh, cho nên, họ thuộc diện cưới hỏi đàng hoàng, kết hôn theo lệnh của cha mẹ. Nhưng một năm sau khi kết hôn, bà ta sinh ra một đứa con gái có đôi chân dài ngắn khác nhau. Sự bất hạnh này khiến đại thái thái đam mê thắp hương bái Phật, bố thí quyên góp, cầu xin Bồ Tát mở lòng từ bi, để đôi chân của con gái trở lại bình thường. Bồ Tát động lòng trắc ẩn, lại ban cho bà ta một tiểu thư thiên kim, tiểu thư thiên kim này có đôi chân hoàn toàn bình thường, thế nhưng ngặt một nỗi, trên khuôn mặt lại có một vết bớt lớn bằng bàn tay.
Cứ thế, đại thái thái lại càng đam mê ăn chay niệm Phật hơn. Ngô Thanh đặc biệt mua cho bà ta một căn nhà gần Thiên Phật Lĩnh và rừng trúc Phao Tuyền, thế nên mỗi năm hai lần, chỉ có hai mùa đông hè, bà ta mới trở về chỗ chồng ở Thiên Tân, chịu đựng đủ loại tội nghiệt thế tục để hành hạ thị lực của mình. Ngay cả khi đã về nhà, bà ta cũng chỉ ở lì trong phòng ngủ của chính mình, ngồi kiết già như một vị Bồ Tát, hút thuốc phiện, lẩm bẩm một mình, đến ăn cơm cũng chẳng xuống lầu. Bà ta thường xuyên trai giới, hoặc chỉ ăn một chút đồ chay. Ngô Thanh mỗi tuần chỉ đến phòng bà ta một lần, thường là đi trước bữa trưa, rồi uống một chén trà ở đó, trò chuyện dăm ba câu xã giao thăm hỏi. Ban đêm, ông ta chưa bao giờ đến làm phiền bà ta.
Theo lý mà nói, người phụ nữ lớn tuổi giống như bóng ma ban ngày này sẽ không đến mức khiến mẹ tôi bất an, trên thực tế, bà ta chỉ chôn vùi mọi thứ sâu thẳm trong lòng mình. Nhưng mẹ tôi lại cho rằng bà ta đã chịu đủ mọi sự đày đọa giày vò trong cái gia đình này, trừ phi bà ta có một ngôi nhà thuộc về riêng mình, ngôi nhà này có lẽ không nên đặt ở Thiên Tân, mà nên ở phía đông Thiên Tân một chút, chính là ở Bắc Đái Hà! Đó là một khu nghỉ mát ven biển vô cùng quyến rũ, đâu đâu cũng là những căn biệt thự xinh đẹp, là nơi sinh sống của những góa phụ giàu có.
Vào một ngày mùa đông tuyết bay trắng trời, những bông hoa tuyết trắng muốt lặng lẽ rơi lả tả, dày đặc phủ kín xung quanh căn nhà của chúng tôi. Mẹ mặc chiếc áo choàng lụa viền lông thú màu xanh ngọc, vui vẻ nói với tôi rằng: "Chúng ta sắp chuyển đến ngôi nhà của chính mình rồi. Nó không lớn bằng nơi này đâu, nhỏ nhỏ thôi nhưng rất tinh tế, mà đó sẽ là thế giới của riêng chúng ta, chỉ có thím Dương và vài người hầu quen thuộc thôi, Ngô Thanh đã đồng ý với mẹ rồi."
Chúng tôi đều đã phát ngấy cái mùa đông giá rét băng tuyết, gió lạnh căm căm này, dù là người lớn hay trẻ nhỏ, đều không dám tùy tiện ra ngoài trời. Thím Dương cảnh cáo tôi, gió lớn lạnh thế này sẽ cắt trên người tôi hàng ngàn hàng vạn vết rách đấy. Thường xuyên nghe thấy mấy người hầu bàn tán với nhau rằng: cửa sau của cửa hàng nọ, lại bị một tên ăn mày chết cóng chặn cứng lại. Mùa đông thế này, rất hay có những kẻ ăn mày gục chết đầu đường xó chợ. Thân thể bẩn thỉu của họ, được phủ lên một lớp tuyết trắng trong suốt, từng hạt sương giá đều đang lấp lánh tỏa sáng.
Cho nên ngày nào chúng tôi cũng ở lỳ trong nhà, nghĩ ra đủ mọi cách để giết thời gian trong mùa đông dài đằng đẵng này. Mẹ ngày này qua ngày khác lật giật các tạp chí thời trang nước ngoài, cắt những kiểu dáng ưng ý xuống, rồi đi xuống lầu bàn bạc với thợ may.
Tôi không thích chơi với con gái của tam thái thái, bọn họ quy củ câu nệ hệt như mẹ của họ vậy. Bọn họ ăn no rửng mỡ cả ngày, chẳng có việc gì làm, chỉ biết ngẩn ngơ đứng bên cửa sổ ngắm mặt trời mọc rồi lại lặn, chỉ thế mà thôi. Còn thím Dương thì bầu bạn cùng tôi nướng hạt dẻ trên lò sưởi, chuyện trò cười đùa. Thỉnh thoảng cô ấy còn dùng một giọng điệu giả tạo để nhại lại giọng điệu xướng kịch của nhị thái thái. Nhị thái thái rất thích hát kịch Kinh Hồ, mỗi lần nhà có khách tiệc tùng, cô ta thế nào cũng phải ngâm nga vài câu, mặc kệ người ta có thích nghe hay không.
"Hai mươi năm trước, cô ta từng là một ca nữ hồng phấn ở Sơn Đông, một người phụ nữ rất được sủng ái, đặc biệt là đối với những người đàn ông đã có gia đình hay lui tới quán trà. Mặc dù cô ta không xinh đẹp, nhưng lại rất thông minh quyến rũ, những khúc tiểu khúc của cô ta hát rất đỗi lay động lòng người, lại còn phối thêm đủ loại động tác khêu gợi lòng người, khiến những vị nam khách nghe đến mức mê mẩn mềm nhũn cả người. Ngô Thanh cưới cô ta, không phải vì tình yêu, mà chỉ vì một sự hư vinh tranh giành vị trí thứ nhất. Mà cô ta đi theo ông ta, cũng là vì khối tài sản và cái bà đại thái thái vô dụng kia.
"Ngay từ đầu, nhị thái thái đã biết cách thao túng tiền tài của ông ta. Cô ta biết ông ta sợ ma, hơn nữa cũng biết việc dùng cái chết ra uy hiếp là một thủ đoạn vô cùng hiệu quả. Thế nên có một lần khi ông ta từ chối đưa tiền cho cô ta, cô ta liền giả vờ nuốt thuốc phiện sống tự tử, Ngô Thanh hết cách, đành phải đưa cho cô ta một số tiền lớn.
"Cứ tự tử nhiều lần như thế, cô ta liền chiếm được phòng ngủ đẹp nhất trong căn ngôi nhà này, cũng có xe hơi dùng riêng cho mình, thậm chí vì cha mẹ đẻ của mình, cô ta cũng tranh thủ được một căn nhà.
"Nhưng có một chuyện mặc cho cô ta quậy phá thế nào cũng vô dụng, đó chính là con cái. Cô ta biết Ngô Thanh vô cùng khao khát sinh được một đứa con trai để nối dõi tông đường nhà họ Ngô. Thế là một người thông minh như cô ta đã tranh thủ mở lời trước khi Ngô Thanh cất lời: 'Em đã sớm chọn giúp anh hai người vợ lẽ rất phù hợp rồi, cô ấy chắc chắn sẽ sinh cho anh một đứa con trai. Hơn nữa cô ta vẫn còn là một cô gái tân nương đấy.' Câu này ngược lại là thật, chỉ có điều tam thái thái vô cùng khó coi, thậm chí còn chẳng bó chân.
"Từ đó về sau tam thái thái tự nhiên răm rắp vâng lời nhị thái thái, hai người vợ lẽ chung sống vô cùng hòa hợp. Tam thái thái sinh cho Ngô Thanh ba cô con gái. Nhưng Ngô Thanh lại muốn có con trai, và lấy cái cớ đó để tiếp tục ong bướm bên ngoài. Thế là, nhị thái thái lại tìm giúp Ngô Thanh người vợ lẽ thứ tư, đó chính là mẹ của cô."
"Nhị thái thái đã dùng thủ đoạn gì, mới khiến mẹ em gả cho Ngô Thanh vậy ạ?" Tôi rụt rè hỏi.
"Đồ con nít ranh, đừng có hỏi mấy chuyện đó!" Thím Dương sầm mặt nói. Nhưng chẳng mấy chốc, tự cô ấy lại khơi mào kể tiếp: "Mẹ cô á, thực ra quá tốt với cái nhà này rồi. Năm năm trước, cha cô vừa qua đời mới được một năm, cô và tôi đến tháp Lục Hòa ở Hàng Châu. Bởi vì cha cô là một học giả nổi tiếng, hơn nữa lại sùng kính sáu đức hạnh mà tòa tháp đó thờ phụng. Cho nên mẹ cô đã thề trước cổ tháp này, đảm bảo sẽ tuân thủ phụ đạo, trinh tiết hiền dịu, nhẫn nại và không tham lam tiền tài. Ngay lúc chúng tôi đang đi dạo Tây Hồ, chúng tôi đã tình cờ gặp một đôi vợ chồng, đó chính là Ngô Thanh và nhị thái thái.
"Ngô Thanh lập tức bị mê hoặc bởi vẻ đẹp của cô ấy. Hồi đó mẹ cô thực sự rất xinh đẹp, đặc biệt là làn da, trắng trẻo mịn màng, cho dù cô ấy vì để tang chồng mà không thể trang điểm lộng lẫy chưng diện, nhưng cái vẻ đẹp trời phú ấy của cô ấy vẫn cứ tỏa sáng rực rỡ. Thế nhưng ở Trung Quốc, góa phụ là những kẻ thấp kém hơn người, cô ấy không thể tái giá.
"Nhưng nhị thái thái rất nhanh đã bày ra một cái bẫy lừa đảo. Cô ta trước tiên tìm cách tiếp cận mẹ cô, sau đó mời cô ấy đến chùa Linh Ẩn ăn cơm chay, sau bữa cơm, lại hẹn mẹ cô cùng chơi mạt chược đến tận đêm khuya. Lúc này, cô ta liền ân cần khuyên nhủ mẹ cô cứ ở lại phòng cô ta qua đêm. Nửa đêm mẹ cô tỉnh giấc, phát hiện bên cạnh mình đang nằm Ngô Thanh.
"Sáng sớm hôm sau, mẹ cô đẫm nước mắt rời đi, nhị thái thái lại đi khắp nơi kể lể với mọi người rằng, một người góa phụ đã quyến rũ chồng cô ta là Ngô Thanh. Một người góa phụ, cô ấy còn có thể biện minh thế nào nữa đây? Cách duy nhất, chính là làm vợ lẽ thứ tư cho Ngô Thanh, để nối dõi tông đường cho ông ta. Mẹ cô quay về quê nhà Ninh Ba, dập đầu ba cái trước mặt anh trai để từ biệt, kết quả là anh trai thì đá cô ấy, mẹ ruột thì mắng nhiếc cô ấy, hơn nữa còn vĩnh viễn đuổi cô ấy ra khỏi cửa. Cứ thế, mẹ cô đành phải làm vợ lẽ thứ tư. Ba năm sau, cô ấy sinh ra một đứa con trai, bị nhị thái thái ôm nuôi mất rồi. Thế là tôi cũng đi theo mẹ cô sang bên này luôn."
Kể từ sau khi nghe câu chuyện này của thím Dương, tôi đã hiểu ra rất nhiều chuyện.
Cuối cùng tôi cũng nhìn thấu bản chất của nhị thái thái rồi.
Cô ta thường xuyên giả vờ nhiệt tình, đi cùng Ngũ thái thái về quê nhà nghèo khó của cô ta để “lên mặt oai phong”, rồi quay ngoắt một cái, lại miêu tả thật sinh động trước mặt Ngô Thanh về sự nghèo nàn và thô tục của người nhà mẹ đẻ Ngũ thái thái, chế giễu Ngô Thanh sao lại có thể bị một cô gái nghèo như thế mê hoặc cơ chứ.
Cô ta ân cần chu đáo với đại thái thái hết mực, cung cấp cho bà ta một lượng lớn thuốc phiện, lại còn tự tay châm thuốc hút thuốc cho bà ta, lúc này tôi mới hiểu ra, tại sao nghiện thuốc phiện của đại thái thái ngày càng nặng, hơn nữa thân thể lại ngày càng suy nhược.
Nhị thái thái bế con trai của mẹ tôi vào lòng, hôn hít cậu bé ngay trước mặt mẹ tôi, nói rằng: "Con trai ngoan, có mẹ là ta đây, kiếp này của con sẽ là vinh hoa phú quý hưởng không hết. Tương lai sau này khi con lớn lên, ta sẽ giao toàn bộ cái nhà này lại cho con, để con lo tuổi già cho ta đấy."
Còn ngôi nhà mà mẹ vẫn hằng mong ước, cuối cùng lại vì một vụ tự tử khác của nhị thái thái mà tan thành mây khói. Nhị thái thái dùng việc nuốt thuốc phiện ra uy hiếp Ngô Thanh phải thu hồi lại lời hứa đó.
Tôi thật sự thấy xót xa thay cho mẹ, tôi hy vọng bà hãy lớn tiếng trách mắng Ngô Thanh, trách mắng nhị thái thái, đồng thời cũng nên trách mắng cả thím Dương nữa — cô ấy không nên kể cho tôi nghe sự thật đó. Mẹ thế nào cũng nên đứng lên nói điều gì đó... Nhưng bà không hề làm thế, bà thậm chí còn chẳng có quyền làm như vậy!
Đêm hai mươi ba tháng Chạp âm lịch, trời còn chưa sáng, thím Dương đã vừa khóc vừa lay tôi dậy. "Mau, mau dậy đi con!"
Tôi ngái ngủ đi theo cô ấy vào phòng mẹ, chỉ thấy trong phòng đèn đuốc sáng trưng, bà nằm trên giường tay chân co giật, lưỡi cứng đờ. Ngô Thanh, thím Dương, nhị thái thái, tam thái thái, ngũ thái thái và bác sĩ vây quanh giường bà.
"Tỉnh lại đi mẹ ơi." Tôi khóc nức nở.
"Cô ấy uống quá liều thuốc phiện rồi," thím Dương vừa khóc vừa nói, "bác sĩ nói, hết cách rồi."
Xung quanh tĩnh lặng như tờ, duy chỉ có chiếc đồng hồ gỗ lớn kia, bên trong thò ra cô gái kéo đàn vi-ô-lông nọ, tấu lên một chuỗi âm thanh lặp đi lặp lại khiến tôi phát ngấy.
Mẹ vẫn tiếp tục co giật trong đau đớn, tôi nghĩ lúc này, đáng lẽ tôi nên nói những lời giúp cả thể xác lẫn linh hồn bà được bình yên, nhưng tôi lại chẳng thốt nổi một chữ nào, chỉ ngây người đứng như khúc gỗ. Tôi lại nhớ đến câu chuyện con rùa mà mẹ từng kể. Bà từng dặn tôi rằng, khóc là việc vô tích sự nhất, tôi cố nuốt đi những giọt nước mắt mặn chát của mình, từng giọt, từng giọt một, nhưng nước mắt của tôi quá nhiều, mặt mũi đầm đìa nước mắt nước mũi, cuối cùng tôi gục khóc xuống đất.
Trong cơn mơ màng, tôi cảm thấy mình cũng biến thành một con rùa nhỏ trong hồ nước, hàng ngàn con ác là đang mổ nước trong hồ, những làn nước đó, toàn là nước mắt của tôi.
Sau đó vú Dương nói với tôi rằng, mẹ tôi là nghe theo lời xúi giục của Nhị di thái, nuốt nha phiến sống để tự tử giả vờ, kết quả lại thành thật. Không phải vậy, hoàn toàn không phải vậy, bà mới không thèm mắc lừa kẻ xấu này. Tôi biết, mẹ thực sự không muốn sống tiếp nữa. Bà đã cố ý chọn đêm Hai mươi tháng Chạp để tự tử. Cái chết đối với bà, đã biến thành một loại vũ khí. Bà đã trộn độc dược vào bánh trôi rồi nuốt xuống. Nhớ lúc ăn bánh trôi, bà còn đầy cảm thán mà nói rằng: "Ây, cuộc đời rốt cuộc là thế nào? Chính là một chuỗi dài những đau khổ ăn hoài không hết"
Bánh trôi đã giữ chặt độc dược trong cơ thể bà, bà không thể cứu vãn được nữa. Vào đêm Hai mươi tháng Chạp hôm đó, họ đặt thi thể bà lên một tấm ván gỗ ở hành lang, bà được khâm liệm vô cùng lộng lẫy, còn xa hoa thể diện hơn cả lúc sinh thời, đội chiếc vương miện kết bằng vàng ròng và ngọc lưu ly bạch ngọc, đầu mũi giày mỗi bên đính hai hạt trân châu to lớn.
Lúc vĩnh biệt lần cuối với bà, tôi lao đến ôm chầm lấy mà khóc lớn. Đôi mắt bà từ từ mở ra, tôi hoàn toàn không hề sợ hãi.
Tôi biết bà không yên tâm về tôi. Tôi dùng tay nhẹ nhàng khép đôi mắt bà lại, trong lòng thầm nói với bà rằng: "Con sẽ trở nên mạnh mẽ."
Theo phong tục, ngày thứ ba sau khi người chết qua đời, linh hồn sẽ quay về đòi nợ oan gia, mẹ mất vào đêm Hai mươi tháng Chạp, linh hồn của bà, sẽ vào ngày mùng Một Tết đến cửa đòi nợ. Thế nên ngày hôm đó, Ngô Thanh có chút sắc mặt bồn chồn bất an, anh ta mang tang nặng, hứa hẹn sẽ coi tiểu đệ và tôi như con chính xuất, cũng hứa hẹn sẽ đối đãi với mẹ như người vợ cưới hỏi đàng hoàng.
Tôi cũng mặc kệ luôn rồi. Dù sao thì hôm đó, tôi đã cho Nhị di thái xem chuỗi vòng cổ ngọc trai giả bị mẹ giẫm nát. Tóc của bà ta, chính là bắt đầu bạc đi từ ngày hôm đó.
Cũng từ ngày hôm đó, tôi học được cách lớn tiếng phản kháng.
Ba
Làm người, phải chấn chỉnh lại tinh thần.
Con gái à, con không cần cái gọi là bác sĩ tư vấn tâm lý nào cả. Loại bác sĩ này không kêu con chấn chỉnh lại tinh thần, ngược lại còn khiến con sống mụ mị hồ đồ hơn. Thực tế mà nói, loại bác sĩ này chính là được nuôi béo lên nhờ nước mắt của đám người các con.
Mẹ của tôi, bà chịu đựng đủ mọi cay đắng, mất hết thể diện. Bà dùng đủ mọi trăm phương ngàn kế để che giấu tất cả những điều này, để rồi cuối cùng, tất cả những điều ấy lại tụ họp thành nỗi đau lớn hơn đè bẹp bà. Đó chính là Trung Quốc của ngày trước. Họ không có sự lựa chọn, không thể phản kháng, cũng chẳng nơi trốn chạy, tất cả mọi thứ đều cho là do số mệnh định sẵn. Nhưng bây giờ họ đã khác rồi, đây là báo chí Trung Quốc gần đây nói vậy, họ đã đứng lên làm chủ rồi.
Cái đám kẻ chuyên sống nhờ nước mắt của người dân để nuôi thân ấy, từ nay không dám ngồi mát ăn bát vàng nữa. Nhân dân Trung Quốc đã đứng lên đuổi cổ bọn chúng.
Bác sĩ điều trị tâm lý của con, sau khi nghe xong đoạn này của mẹ, sẽ nói những gì đây?