——Câu chuyện của Cung Lâm Đạt
Một
Tôi đã hy sinh cả đời mình, chỉ để thực hiện một lời hứa mà cha mẹ đã đưa ra. Đối với bạn, điều này có lẽ sẽ khiến bạn thấy dửng dưng. Bởi vì đối với bạn, việc hứa hẹn chẳng đáng là bao. Con gái nhận lời đi ăn, nhưng nếu nó nhức đầu, hoặc kẹt xe, hay có lẽ TV đang phát một bộ phim mà nó không muốn bỏ lỡ, thì lúc đó đối với nó, lời hứa sẽ không còn tồn tại nữa.
Hôm đó bạn không thể đến, vì không muốn bỏ lỡ bộ phim ấy, thế là tôi cũng nhân tiện xem thử bộ phim đó. Người lính Mỹ trong phim đã hứa sau này sẽ quay về kết hôn với cô gái nợ. Lúc đó cô ấy cảm động đến mức bật khóc, còn anh ta thì cứ liên mồm nói: "Anh thề, anh thề! Em yêu. Lời hứa của anh quý như vàng vậy!" Sau đó, anh ta đẩy cô ấy ngã lên giường. Thế nhưng, anh ta đi một đi không trở lại, còn vàng của anh ta, cũng giống như thứ bạn đeo trên cổ vậy — chỉ có mười bốn K.
Đối với người Trung Quốc mà nói, vàng mười bốn K không tính là vàng thật. Hãy sờ vào vòng tay của tôi xem, chúng chắc chắn là vàng hai mươi tư K, vàng nguyên chất mười tuổi.
Bây giờ có kể những điều này với bạn, hình như đã quá muộn, không còn kịp để thay đổi bạn nữa, nhưng tôi vẫn muốn lải nhải với bạn vài câu. Bởi vì tôi thật sự lo lắng cho đứa con của bạn. Tôi vẫn luôn sợ có một ngày, con gái bạn sẽ nói với tôi rằng: "Bà ngoại, cảm ơn chiếc vòng tay bằng vàng của bà, con sẽ mãi mãi nhớ đến bà." Nhưng sau đó, nó sẽ quên sạch sành sanh những gì mình đã nói, nó sẽ quên mất rằng nó từng có một người bà ngoại.
Hai
Sau đó, người lính Mỹ ấy trở về quê hương, cầu hôn một cô gái khác. Cô gái ấy mắt phượng cúi thấp, mặt đầy vẻ thẹn thùng, bởi vì trước đó cô ấy chưa từng nghĩ tới điều này. Cuối cùng, cô hạ thấp hai mí mắt, cô hiểu ra rằng mình đã đem lòng yêu anh ta. Cô đã đồng ý, và thế là, họ không bao giờ rời xa nhau nữa.
Nhưng cuộc hôn nhân của tôi lại hoàn toàn là một chuyện khác. Khi bà mối trong thôn đến nhà dạm hỏi, tôi mới chỉ có hai tuổi.
Chưa từng có ai nhắc đến chuyện này với tôi, nhưng tôi lại có thể nhớ rõ mồn một cảnh tượng lúc đó. Đó là một ngày hè oi bức, cái nắng gay gắt nướng mặt đường cứng ngắc nứt nẻ, bụi bay cuồn cuộn. Ngay cả ve sầu cũng nóng đến mức kêu mệt mỏi không ngừng. Chúng tôi ngồi dưới bóng râm trong vườn cây, những người ở và các anh đang bận rộn hái lê. Tôi được ôm trong lòng người mẹ đẫm mồ hôi. Lúc này, có hai người phụ nữ đi tới. Giọng nói của một trong số họ rất kỳ lạ, lúc nói chuyện cứ như ngậm một ngụm nước trong miệng vậy.
Lớn lên tôi mới hiểu ra, đó là giọng Bắc Kinh.
Hai người phụ nữ ấy ngắm nghía tôi một lúc. Người phụ nữ có giọng Bắc Kinh kia trang điểm nhạt, trông rất ôn hòa.
Thế nhưng khuôn mặt của người phụ nữ kia lại thô ráp y như vỏ cây nứt nẻ, bà ta nhìn tôi, lại nhìn người phụ nữ có giọng Bắc Kinh nọ.
Đương nhiên, bây giờ tôi biết rằng, người phụ nữ có khuôn mặt như vỏ cây ấy chính là bà mối trong thôn. Còn vị kia, chính là bà Hồng, là mẹ của cậu bé, cái cậu bé mà theo lời mai mối tôi nhất định phải gả cho. Cái gọi là con gái là món hàng lỗ vốn của người Trung Quốc, kỳ thực cũng không hẳn là hoàn toàn như vậy, điều đó còn phải tùy thuộc vào đó là loại con gái nào. Con gái giống như tôi đây, lại là một "thiên kim" bằng xương bằng thịt, tựa như một miếng bánh ngọt thơm phức hấp dẫn khiến người ta thèm thuồng.
Bà mối cứ không ngớt ca ngợi tôi với bà Hồng: "Nhìn xem, chẳng khác nào tuấn mã phối với yên vàng, xứng đôi biết bao, đúng là ứng với câu môn đăng hộ đối rồi." Bà ta vừa nói, vừa nắn bàn tay nhỏ bé của tôi vỗ nhẹ để trêu chọc tôi, nhưng tôi lại đẩy tay bà ta ra. Còn bà Hồng thì đứng một bên nhằn một câu lẩm bẩm bằng giọng uốn lưỡi nặng nề, cho rằng tính khí của tôi có lẽ khá bướng bỉnh, thế nhưng bà mối lại cười nói: "Nào có, nào có! Nhìn cô tiểu thư lớn lên khỏe mạnh thế này, sau này có thể đảm đương đại sự rồi đấy, đợi khi tuổi cao sức yếu, cô ấy sẽ chăm sóc ngài chu đáo cho mà xem."
Bà Hồng chỉ trầm ngâm nét mặt, cúi đầu áp sát ngắm nghía tôi từ trái sang phải, giống như đang đong đếm xem, một khi kết mối lương duyên này sẽ là phúc hay họa? Cả đời tôi cũng không quên được vẻ mặt khi ấy của bà, một đôi mắt láo liên mở to tròn vo, cứ lướt qua lướt lại trước mặt tôi, sau khi quan sát tôi thật kỹ lưỡng một hồi, cuối cùng bà ta nhếch miệng cười, một chiếc răng vàng lóe sáng làm mắt tôi đau nhói, nhìn cái điệu bộ nhe răng trợn mắt ấy của bà ta, cứ như hứa hẹn muốn nuốt chửng tôi vào bụng ngay lập tức vậy.
Cứ như thế, tôi đã đính hôn với con trai của bà Hồng. Sau này tôi mới biết, cậu ta còn nhỏ hơn tôi lúc đó một tuổi, chỉ là một đứa trẻ sơ sinh đỏ hỏn còn nằm trong nãnh. Cậu ta tên Thiên Dư, chữ "Thiên" kia, đủ để cho thấy cậu ta tôn quý và quan trọng đến nhường nào, còn "Dư", chính là ý nghĩa còn sót lại. Bởi vì lúc cậu ta ra đời, đúng vào lúc cha cậu ta lâm bệnh nặng, người trong nhà sợ cậu ta sẽ chết, mà Thiên Dư, sẽ giữ gìn nguyên thần chưa tan hết của cha cậu ta. Nào ngờ bệnh của cha cậu ta sau đó lại khỏi. Bà nội của cậu ta lo lắng những tiểu quỷ cõi âm không chịu buông tha, sẽ đòi mạng đền mạng trên người Thiên Dư, cho nên vô cùng nâng niu cậu ta, ngậm trong miệng sợ tan, nâng trên tay sợ thổi, tóm lại là trăm bề chiều chuộng cậu ta, cậu ta hoàn toàn bị cưng chiều hư hỏng rồi.
Cho dù sau này tôi biết mình sẽ gả cho một người đàn ông tồi tệ như vậy làm vợ, nhưng tôi lại không dám kháng cự, chỉ đành phó mặc cho số phận. Bây giờ tôi mới hiểu ra, những gia đình nông thôn thủ cựu kiểu cũ lúc bấy giờ, chính là như thế. Nhịp sống của gia đình chúng tôi, luôn chậm hơn những người khác vài nhịp, tuân thủ những lề thói cũ kỹ ngu xuẩn. Vào thời điểm đó ở một số thành phố, đàn ông đã có thể tự do lựa chọn vợ của mình, đương nhiên cuối cùng vẫn phải được sự cho phép của cha mẹ. Nhưng trào lưu tư tưởng mới này chẳng có duyên gì với gia đình chúng tôi cả.
Cho nên đối với đủ loại hơi thở thời đại mới ở các thành phố khác hoàn toàn không có cách nào ngửi thấy, cho dù có nghe được chút ít lời ong tiếng ve, thì cũng bị chỉ trích là những lời bàn tán suy đồi phong hóa. Khắp chòm xóm đều lưu truyền những câu chuyện đại loại thế này, kể về việc những đứa con trai đã chịu sự xúi giục của vợ như thế nào, bất chấp lời cầu xin khẩn khoản của cha mẹ già, đuổi họ ra khỏi cửa. Do đó, các bà mẹ Thái Nguyên thà tuân theo lề thói cũ là tự mình chọn con dâu, chọn một người có thể quản lý tốt chồng mình, lại hiếu thảo với cha mẹ chồng, có thể nối dõi tông đường nhà chồng.
Bởi vì tôi đã được hứa gả làm con dâu nhà họ Hồng, cho nên trong nhà dường như đã coi tôi là người mang họ khác rồi. Mỗi khi tôi bâng quơ nâng bát cơm lại gần mình một chút, mẹ sẽ nói: "Nhìn xem, tướng ăn của con dâu nhà họ Hồng kìa!"
Mẹ tôi không yêu tôi. Cái gọi là con gái gả đi như nước hắt đi, sớm muộn gì tôi cũng là người nhà khác, cho nên bà đã không còn đặt bất kỳ kỳ vọng nào vào tôi nữa.
Kỳ thực, tôi là một đứa trẻ vô cùng nghe lời, chỉ là đôi khi, nếu tôi cảm thấy trong người quá nóng, hoặc chỗ nào không thoải mái thậm chí là bị ốm, tôi sẽ tỏ ra phờ phạc, mặt mày ủ rũ, mỗi khi thế này, sẽ rước lấy một tràng cằn nhằn của mẹ tôi. "Nhìn cái bộ dạng khó coi của nhà mày kìa, nhỡ nhà họ Hồng đổi ý, thì thể diện của cả nhà chúng ta, không biết giấu đi đâu cho hết." Thế là, miệng tôi trề ra, thế là khóc, như thế, tôi lại càng khó coi hơn.
"Chúng ta không sợ," mẹ tôi cứ thế nói tiếp, "chúng ta đã đính hôn rồi, chuyện này không lật lọng được đâu." Lúc này, tôi càng khóc to hơn.
Đến tận năm tám, chín tuổi, tôi mới gặp được vị hôn phu của mình. Thế giới của tôi lúc bấy giờ, chính là một cái sân ở ngôi làng ngoại ô thành phố Thái Nguyên, tôi sống ở đó. Nhà chúng tôi ở là một tòa nhà lầu hai tầng bình thường, cộng thêm hai gian nhà phía sau, đó là nhà bếp và phòng ở của người ở. Sân nhà chúng tôi nằm trên một sườn đồi nhỏ, sườn đồi đó, chúng tôi gọi là "Tam Trọng Thiên", kỳ thực, đó chẳng qua là một gò đất nhỏ được tích tụ bằng cát do dòng nước sông Phần xối xuống mà thành. Ở bức tường phía đông sân nhà tôi, chính là dòng sông Phần uốn lượn chảy qua. Cha nói, nó cực kỳ thích nuốt chửng trẻ con, có một lần, nó đã nuốt chừng cả thành Thái Nguyên! Con sông này, vào mùa hè thì vàng đục, đến mùa đông, ở những nơi lòng sông hẹp nước chảy xiết, là một màu xanh lam, những nơi khác, thì đóng một lớp băng trắng xóa, tỏa ra sự lạnh giá bức người.
Tôi đến nay vẫn còn nhớ, trước thưa năm, trong nhà bắt được rất nhiều rất nhiều cá sống. Bắt cá chỉ cần đập thủng lớp băng là được, bởi vì chúng đang ngủ yên dưới lớp băng, cho nên cực kỳ dễ đánh bắt, con nào con nấy đều sống nhảy tưng tưng, cho dù có mổ bụng chúng ném vào chảo dầu thì cái đuôi vẫn cứ quẫy không ngừng.
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy vị hôn phu của mình, cậu ta đang gào khóc thảm thiết, đó là bị pháo đùng dọa sợ. Cậu ta trề môi gào khóc thật to, mặc dù cậu ta không còn là một đứa trẻ sơ sinh nữa.
Lại gặp lại cậu ta lần nữa, là trong tiệc đầy tháng của nhà nào đó, cậu ta ngồi trên đùi bà nội, tôi nghĩ, vóc dáng như cậu ta sẽ làm xương cốt già cỗi của bà nội vỡ vụn mất, cậu ta đáng lẽ đã qua cái tuổi ngồi đùi từ lâu rồi. Hơn nữa cậu ta kén ăn vô cùng, hầu như chẳng thích ăn gì cả, chỉ thấy cậu ta nhăn mũi quay đầu qua quay lại, giống như người ta nhét thứ rau muối thối hoắc nào vào miệng cậu ta vậy.
Cho nên bạn thấy đấy, đối với vị hôn phu của mình, tôi không thể nảy sinh thứ tình cảm quấn quýt mặn nồng mà bạn thấy trên TV được. Đối với tôi, cậu con trai này giống một người anh họ khó ưa của tôi hơn. Tôi đã học được cách tôn kính người nhà họ Hồng, đặc biệt là bà Hồng. Mỗi lần mẹ tôi đẩy tôi đến trước mặt bà Hồng và nói: "Nào, ở lại nói chuyện với bác đi." Lúc này tôi sẽ rất hoang mang, không biết chữ "bác" mà bà ấy nhắc tới, là bác nào. Cho nên, tôi sẽ quay đầu nhìn mẹ mình trước, "Con xin phép, thưa mẹ." Sau đó mới chào bà Hồng, bưng bánh điểm tâm cho bà. "Xin mời bác dùng ạ!" Tôi nhớ có một lần, thứ tôi bưng lên là xíu mại, lại có một lần, là loại bánh trôi nhỏ mà tôi yêu thích. Mẹ tôi nói với bà Hồng rằng, những viên bánh trôi nếp này là do một tay tôi đặc biệt làm cho bà, kỳ thực tất cả đều do đầu bếp làm thay, tôi chỉ chạm vào vành cái bát đang bốc nghi ngút khói lúc chúng được múc ra bát mà thôi.
Năm mười hai tuổi, cuộc sống của tôi đột ngột thay đổi. Năm đó lũ lụt ở đập sông Phần, nước lũ nuốt chừng cả vùng đồng bằng, phá hủy ruộng lúa mì nhà tôi, ngay cả nhà chúng tôi ở cũng không thể ở được nữa, khi chúng tôi đi xuống lầu, sàn nhà và đồ đạc trong nhà, đều bị bao phủ trong lớp bùn lầy hỗn độn. Trong sân, đâu đâu cũng là thân cây bị bật gốc cuốn trôi, tường đổ và gia súc chết đuối. Đứng trước một thảm họa, chúng tôi thực sự là đường trời không lối, đường đất không cửa.
Chẳng có công ty bảo hiểm nào bồi thường cho bạn một triệu đô la cả, dù sao thì đã gặp phải tai nạn, thì chỉ đành cắn răng chịu đựng số phận. Ngoài việc ly hương dời về phương nam ra, thì không còn đường sống nào khác. Lúc đó cậu của tôi, ở Vô Tích — một thành phố nhỏ nằm ở phía tây Thượng Hải, đang mở một xưởng bột mì, gia đình chúng tôi quyết định đến nương nhờ ông. Nhưng trong "gia đình chúng tôi" này, hoàn toàn không còn bao gồm tôi nữa. Cha cho rằng, tôi đã mười hai tuổi rồi, có thể rời nhà mẹ đẻ để xuất giá rồi.
Bởi vì khắp nơi đều là bùn lầy và ổ gà, hoàn toàn không thuê được xe, cho nên, cha đành phải vứt bỏ tất cả đồ đạc nặng nề cùng chăn nệm đồ dùng các thứ, lấy đó làm đồ hồi môn của tôi. Gia đình chúng tôi rất thực tế. Cha tôi nói, của hồi môn của tôi đã vô cùng hậu hĩnh rồi. Nhưng ông vẫn không thể ngăn cản việc mẹ cho tôi "của riêng" — một chiếc vòng cổ khảm hồng ngọc. Khi bà cài thứ đó lên cổ tôi, động tác có vẻ hơi thô bạo, cho nên tôi nghĩ, lúc này bà rất đau buồn.
"Phải nghe lời nhà họ Hồng, đừng làm mất mặt gia đình chúng ta," bà nói, "vui vẻ mà đi đi, thực ra, con cũng coi như rất may mắn rồi."
Ba
Nhà họ Hồng cũng ở bên bờ sông Phần, bởi vì vị trí của nó cao hơn một chút, cho nên khi nhà tôi bị ngập lụt, nhà họ lại bình an vô sự. Đây là lần đầu tiên tôi nhận thức được rằng, môn đăng hộ đối của nhà họ cao hơn nhà tôi, bây giờ họ đang coi thường chúng tôi. Lúc này tôi mới hiểu, tại sao bà Hồng và Thiên Dư lại cứ ngẩng cao mũi hướng vào tôi suốt ngày.
Tôi đến trước cổng vòm xây bằng gạch gỗ của nhà họ Hồng, đi qua một cái sân rộng lớn, liền nhìn thấy mấy lớp nhà thấp thoáng, đó là nhà kho và phòng ở của người làm, còn tòa nhà chính, nằm ở phía cuối cùng.
Tôi đăm đăm nhìn tòa nhà này, đó sẽ là ngôi nhà của tôi từ nay về sau cho đến khi rời khỏi cõi đời. Nơi này có rất nhiều thế hệ sinh sống, ngôi nhà không quá cũ, cũng không nổi bật, nhưng tôi có thể tưởng tượng nó lớn lên cùng một nhịp với gia tộc này. Ngôi nhà có bốn lớp, mỗi lớp ở một thế hệ: Cụ cố, ông bà, cha mẹ và con cái. Bố cục của ngôi nhà rất hỗn loạn, bất kể là sàn nhà, vách ngăn phòng hay phòng phụ và trang trí, đều phản ánh quá nhiều dụng ý. Lớp thứ nhất được xây bằng đá cuội trộn bùn rơm rạ, lớp thứ hai và lớp thứ ba, thì được xây bằng gạch, lại còn bố trí lối đi lộ thiên, mang đậm khí thế của tháp báu hoàng cung, mái nhà được lợp bằng gạch đỏ, làm nổi bật lên một khí thế trang nghiêm. Hai cột tròn lớn chống đỡ một khung cửa nguy nga, cột được sơn màu đỏ chu sa, giống với màu đỏ chu sa của khung cửa sổ bằng gỗ. Mái hiên được chạm khắc đầu rồng, điều đó có lẽ là ý kiến của bà Hồng.
Bài trí các phòng trong nhà không giống nhau, tinh tế nhất phải kể đến phòng khách tầng trệt, đó là nơi nhà họ Hồng tiếp đón khách khứa.
Trong sảnh bày biện đủ loại đồ đạc sơn mài đỏ, trải đệm tựa và thảm trải bàn thêu hoa văn thắm thiết thêu họ Hồng, lại còn có muôn vàn đồ cổ và vật trưng bày rực rỡ hoa cả mắt, thể hiện thực lực tài chính và uy vọng môn đăng hộ đối của nhà họ Hồng. Còn về mấy căn phòng khác, thì bài trí đơn giản hơn nhiều, lại không thoải mái, hơn hai mươi miệng ăn chen chúc dưới một mái nhà, mâu thuẫn trong đại gia đình chồng chất, đấu đá lẫn nhau tràn ngập những tranh cãi và phàn nàn không dứt. Sự ra đời của mỗi thế hệ thành viên mới, khiến tòa nhà này ngày càng có không gian chật chội, những căn phòng lớn đành phải ngăn thành hai phòng, thậm chí là nhiều phòng nhỏ hơn.
Nhà họ Hồng chẳng tổ chức nghi lễ trọng thể nào để chào đón tôi, phòng khách tầng trệt không hề giăng đèn kết hoa theo lệ thường, Thiên Dư cũng không ra đón tiếp tôi. Ngược lại, bà Hồng lập tức gọi tôi vào nhà bếp, thông thường, đó chỉ là nơi tụ tập của những người làm. Thế là, tôi lập tức hiểu rõ địa vị của mình ở nhà họ Hồng.
Ngày đầu tiên, tôi đã mặc chiếc áo bông đẹp nhất, đứng trước một chiếc bàn nhỏ thấp bắt đầu giúp cắt rau. Tay tôi suýt không giữ nổi cán dao, bởi vì tôi vướng bận người nhà của mình. Nhưng tôi biết, nơi này chính là chốn quy tụ của tôi. Dù thế nào đi nữa, tôi nhất định không làm mất mặt người nhà mẹ đẻ, không để bà Hồng tìm ra dù chỉ một chút lỗi lầm ở đây.
Một nữ tì đang mổ cá ở đầu bên kia chiếc bàn, thỉnh thoảng lại lén lút đánh giá tôi từ khóe mắt. Tôi không muốn cô ta nhìn thấy mình đang rơi nước mắt, tôi sợ cô ta sẽ đi mách bà Hồng. Thế là, tôi cố tình cười ha hả nói: "Tôi may mắn thật đấy, ở đây tôi sẽ có những ngày tháng tốt đẹp." Để tỏ ra mình thực sự rất vui vẻ, không tránh khỏi việc phải làm ra vẻ vui mừng nhảy múa khua tay múa chân, tôi quên mất trong tay mình vẫn đang cầm một con dao thái rau. Con dao đó cứ khua khoắng ngay trước chóp mũi cô ta, cô ta tức giận gầm lên một tiếng: "Bộ dạng gì thế hả? —" Ý trong câu đó chính là đồ ngốc. Tôi lập tức tỉnh táo lại. Bởi vì vừa rồi lúc giả vờ vui vẻ, tôi suýt chút nữa đã tự lừa dối mình mà cho rằng, bản thân mình sẽ rất vui vẻ.
Vào bữa tối, tôi nhìn thấy Thiên Dư, vóc dáng cậu ta lùn hơn tôi một khúc, thế nhưng cử hành động lại vô cùng hống hách, giống như một tên đại quân phiệt vậy. Lúc này tôi mới biết, mình đã vớ phải một người chồng tốt thế nào rồi, dù sao đi nữa, cậu ta tìm đủ mọi cách để ép tôi phải rơi nước mắt. Hết chê canh nguội, lại cố tình hắt đổ nó, lúc thì cố ý sai khiến tôi làm cái nọ cái kia, tóm lại hễ tôi vừa ngồi vào bàn ăn, là sai tôi múc cơm hoặc hầu hạ cậu ta thứ gì đó, không cho tôi ăn một bữa cơm yên ổn.
Hơn nữa, còn phàn nàn tôi cứ xị mặt trước mặt cậu ta, suốt ngày chẳng thấy nụ cười nào.
Cứ như vậy qua mấy năm, bà Hồng bảo những người hầu dạy tôi thêu vỏ gối làm nữ công. "Một người vợ tẻ nhị, đôi tay lẽ ra không được phép nhàn rỗi." Mỗi khi bà sai tôi làm một việc mới nào đó, bà thường dùng câu này làm câu mở đầu. Nhưng tôi nghĩ tay của chính bà ấy mới là thứ nhàn rỗi suốt ngày, sở trường của bà chỉ là sai khiến và bới lông tìm vết.
“Dạy nó cách vo gạo đi, chồng nó không ăn được loại cơm dính cát đó đâu,” bà từng ra lệnh cho người làm trong bếp như thế.
Lại có một lần, bà ta lại bảo một người hầu khác dạy tôi cọ bô: “Bảo nó dùng mũi thò vào ngửi thử xem, xem đã cọ sạch chưa?” Cứ như vậy, tôi cố gắng học cách làm một người hiền th vợ hiền. Tôi nấu ăn rất ngon, hoàn toàn không cần nếm thử, cũng có thể phán quyết độ mặn nhạt của nhân thịt. Tay nghề thêu thùa của tôi cũng không chê vào đâu được, những bông hoa tôi thêu ra, giống như được vẽ lên vậy, ngay cả bà Hồng cũng không thể bắt bẻ.
Dần dần, tôi đã quen với cuộc sống ở đây, tôi không còn cho rằng mình đang chịu khổ nữa, thực sự, không hề chút nào. Không có gì khiến tôi vui mừng hơn việc nhìn thấy mọi người ngấu nghiến nuốt sạch những món ăn do tôi nấu. Hơn nữa, tôi thường xuyên nhận được cái gật đầu tán thưởng của bà Hồng, mỗi ngày sau khi chải đầu xong cho bà, bà thậm chí còn vỗ nhẹ lên đầu tôi để biểu thị sự hài lòng, tất cả những điều này đều khiến tôi cảm thấy vui vẻ. Thiên Dư không còn phàn nàn về tài nấu nướng của tôi nữa, thậm chí cũng không còn so đo chuyện tôi không có ý cười nữa, tất cả những điều này đều khiến tôi vui mừng, giống như những cô tiểu thư làm quảng cáo chất tẩy rửa trên TV bây giờ vậy, khi họ tẩy sạch một vết bẩn trên quần áo, liền cười một cách vô cùng sảng khoái.
Chớp mắt, ba năm trôi qua, tôi sắp tròn mười sáu tuổi. Bà Hồng nói với tôi, mùa xuân năm sau, bà muốn ôm cháu đích tôn, hoàn toàn không quan tâm đến việc tôi vốn dĩ không muốn kết hôn. Nhưng tôi biết làm sao đây? Mặc dù tôi cường tráng như ngựa chiến, nhưng tôi có thể trốn đi đâu chứ? Nước Trung Quốc bây giờ, đâu đâu cũng là lính Nhật Bản.
Bốn
"Những tên người Nhật không mời mà đến này," bà nội của Thiên Dư phàn nàn, "bây giờ đều thành thiên hạ của chúng nó rồi." Bà Hồng đã lên kế hoạch tỉ mỉ cho đám cưới của chúng tôi, nhưng quy mô vẫn thuộc loại giản dị.
Bà gửi thiếp mời tới tất cả bà con lối xóm trong thôn và thân bằng cố hữu khắp nơi, lúc đó chúng tôi không có R.S.V.P. (thiệp hồi đáp — chú thích của dịch giả), nhận được thiếp mời mà không đến, thì chính là vô lễ. Bà Hồng tin rằng, chiến tranh không thể thay đổi sự coi trọng của mọi người đối với lễ tiết. Do đó, các đầu bếp bắt đầu tiến hành chuẩn bị những món ăn phong phú, những món đồ đạc cũ mà nhà mẹ đẻ tôi mang tới, từ lâu đã được lau chùi sáng bóng như của hồi môn của tôi mà bày ở tiền sảnh. Bà Hồng còn nhờ người viết hai câu chúc mừng cát tường bằng giọng điệu của cha mẹ tôi rồi treo lên. Tôi được sắp xếp ở tạm trong nhà một người hàng xóm, chờ kiệu hoa của nhà họ Hồng đón tôi vào ngày lành tháng tốt.
Nhưng vận may của chúng tôi thực sự tệ hại hết chỗ nói, mặc dù bà mối đã chọn ngày rằm tháng tám là một ngày tốt lành, nhưng ngay vào tuần trước ngày rằm tháng tám, người Nhật đã đánh vào. Bọn chúng đánh vào Thiểm Tây, nơi đó rất gần chúng tôi, khiến lòng người hoang mang lo sợ. Đến sáng rằm tháng tám, trời lại mưa lất phất, đây là một điềm gở. Tiếng sấm ầm ầm và tiếng sét gầm rú đó khiến mọi người lầm tưởng là bom của người Nhật, ai nấy đều trốn trong nhà không dám ra ngoài, người đến uống rượu mừng thưa thớt lèo tèo.
Để đám cưới không đến mức quá quạnh quẽ, bà Hồng đã hoãn lại vài tiếng đồng hồ, cho đến khi phát hiện thực sự không thể có thêm khách mời nào đến nữa, mới bắt đầu tổ chức lễ cưới. Bà không thể chống lại chiến tranh.
Tôi ngồi đợi bên cửa sổ phòng nhà hàng xóm. Nghĩ đến việc vì một lời giao ước của cha mẹ từ nhiều năm trước, tôi đành phải hy sinh bản thân mình. Tại sao vận mệnh của tôi lại phải để người khác quyết định? Tại sao vì hạnh phúc của người khác mà tôi lại phải dâng hiến chính mình? Ngoài cửa sổ, tôi nhìn thấy con sông Phần đục ngầu như bùn kia, đang chậm chạp và bình yên chảy trôi. Tôi khóc, tôi muốn lao đầu xuống đó, đằng nào thì nó cũng đã hủy hoại hạnh phúc và mọi thứ của nhà mẹ đẻ tôi rồi. Khi một người tự cảm thấy con đường sinh mệnh đã đi đến hồi kết, thường sẽ nảy sinh ra rất nhiều ý nghĩ kỳ lạ.
Trời lại mưa rồi, hạt mưa không lớn, chỉ nghe thấy tiếng mọi người ở dưới lầu đang lớn tiếng giục giã tôi, còn dòng suy nghĩ của tôi thì ngày càng kỳ lạ, đến bản thân cũng không giải thích nổi.
Tôi thủ thế một mình bên cửa sổ, trầm tư suy nghĩ, không kìm được mà tự vấn bản thân, cái gọi là bản sắc con người là gì? Giống như nước sông Phần, vào mùa hè thì vàng đục, đến mùa thế, thì lại xanh lam, nhưng nó vẫn là sông Phần. Còn tôi, có thể biến hóa khôn lường như sông Phần, thế mà vẫn giữ được một chữ "tôi" giống nhau không? Tôi vẫn ngồi bên cửa sổ, chỉ thấy rèm cửa bị gió cuốn lấy, dữ dội hất tung lên, phập phồng bay phần phật. Ngoài cửa sổ, trời mưa càng lớn hơn, xối cho người đi đường la oai oái chạy trốn tứ phía. Tôi cười. Tôi cảm nhận được đây là lần đầu tiên, cảm nhận được uy lực của gió. Quả thực, tôi không thể nhìn thấy gió, nhưng tôi có thể nhìn thấy nó cuốn dòng nước sông từ từ chảy theo cùng một hướng, tưới tắm nuôi dưỡng đại đất, giống như khoác lên đồng ruộng một tấm lưới lớn lấp lánh ánh bạc. Nó có thể khiến người ta tùy ý nguyền rủa, cũng có thể khiến người ta phấn khởi vui mừng.
Tôi soi gương lau khóe mắt, bất ngờ phát hiện ra, bản thân trong gương, vậy mà lại tỏa ra một tư thế hoàn toàn mới.
Tôi mặc một chiếc váy đỏ xinh đẹp, nhưng giá trị của tôi hoàn toàn không phải vì chiếc váy đỏ này; tôi khỏe mạnh, thuần khiết, ở tận sâu thẳm trong nội tâm tôi, vẫn bảo lưu sự lĩnh hội đối với cuộc sống, thứ đó chỉ thuộc về một mình tôi, không ai hay biết, cũng không ai có thể cướp đi. Tôi cảm thấy, bản thân mình giống như ngọn gió mát vừa hư ảo vừa có sức mạnh.
Tôi ngẩng đầu cười kiêu ngạo vào gương, rồi dùng chiếc khăn lụa thêu đỏ rực ấy trùm che kín mặt mình, đồng thời, cũng che khuất cả những suy nghĩ vừa mới nảy sinh kia. Thế nhưng bị trùm dưới chiếc khăn lụa đỏ, tôi vẫn vô cùng rõ ràng, bản thân rốt cuộc là ai.
Ngay lúc đó, tôi tự hứa với lòng mình: Tôi sẽ luôn ghi khắc kỳ vọng của song thân trong lòng, nhưng tôi sẽ mãi mãi không quên "cái tôi".
Tôi được trùm kín bởi khăn lụa đỏ, vừa mò mẫm vừa được người ta dẫn dắt đến sảnh lễ đường, chỉ khi thỉnh thoảng cúi đầu về phía trước, tôi mới có thể mơ hồ thoáng thấy một vài bóng người qua mép khăn trùm đầu, khách khứa ít đến đáng thương, nhà họ Hồng và mấy họ hàng lớn tuổi, mặt lộ sắc ôn hòa, vô cùng tức giận và lúng túng vì chuyện này. Đội kèn trống cố sức thổi kèn sona kéo đàn nhị, ê a ê a, chỉ có rất ít bà con hàng xóm liều chết không chịu từ bỏ bữa tiệc miễn phí này, lúc này, ngay cả người hầu và trẻ con cũng được kéo đến để đếm số cho đủ.
Tôi chỉ cắm cổ đi theo người dẫn đường cho mình. Giống như một kẻ mù, mò mẫm tiến bước trên con đường vận mệnh của mình, nhưng tôi không còn đau buồn vì điều đó nữa, bởi vì trong lòng tôi đã đại triệt đại ngộ về chuyện này rồi.
Một vị quan chức tề chỉnh chủ trì hôn lễ, ông ta lải nhải giảng một tràng dài, dẫn kinh điển chứng minh, từ đạo lý Nho gia giảng cho đến các vị liệt nữ trinh phụ từ xưa đến nay. Sau đó, bà mối tuyên đọc bát tự ngày tháng năm sinh của cả hai chúng tôi, giải thích rằng bát tự của chúng tôi rất xứng đôi, là một cặp trời sinh đất tạo. Tôi hơi nghiêng người về phía trước, hé nhìn thấy bà mối lấy ra một cây nến đỏ từ trong một gói khăn lụa đỏ.
Cả hai đầu nến đều có thể châm lửa, trên đó khắc tên của Thiên Dư và tôi bằng chữ vàng, sau khi người mai mối châm lửa cả hai đầu nến, liền lớn tiếng tuyên bố: "Bái đường!" Sau đó, Thiên Dư xốc phăng chiếc khăn trùm đầu của tôi ra, đắc ý cười với người nhà và khách khứa của cậu ta, còn đối với tôi thì ngay cả liếc mắt một cái cũng không thèm nhìn. Cậu ta khiến tôi nhớ đến một con chim công đực nhỏ từng thấy thời thơ ấu, một lòng muốn xòe chiếc đuôi ngắn chẳng có chút ánh sáng nào của mình ra trong sân.
Bà mối cắm cây nến đã được châm lửa lên một chiếc chân nến mạ vàng, giao nó cho một người hầu ở bên cạnh. Người hầu cẩn thận cầm lấy chiếc chân nến, trách nhiệm của cô ta chính là phải cẩn thận canh giữ chiếc chân nến này, đảm bảo trong suốt quá trình tiệc cưới, cả hai đầu ngọn nến đều không bị tắt giữa chừng. Sáng ngày hôm sau, bà mối sẽ đến kiểm tra, nếu hai đầu nến vẫn cháy mà không hề tắt, đó là một điềm lành, tượng trưng cho cuộc hôn nhân này sẽ đầu bạc răng long.
Cây nến tượng trưng cho hôn nhân này, so với lời hứa không được ly hôn trong đạo Thiên Chúa thì có uy quyền hơn nhiều, nó có nghĩa là tôi không những không thể ly hôn, cho dù Thiên Dư có chết, tôi cũng không thể tái hôn. Cây nến đỏ này dường như từ nay về sau sẽ dùng sáp nến của nó, dính chặt tôi vào người chồng, dính chặt vào nhà họ Hồng, vĩnh viễn không có ngày giải thoát.
Có thể tưởng tượng được rằng, sáng hôm sau, sau khi bà mối kiểm tra chân nến xong, liền tuyên bố bà ta đã se duyên cho một cặp tình nhân trời định, nhưng trong lòng tôi lại hiểu rõ mồn một rốt cuộc là chuyện gì xảy ra. Bởi vì đêm tân hôn, tôi đã thức trắng đêm, thầm rơi nước mắt cho cuộc hôn nhân của chính mình.
Năm
Tiệc cưới tan rồi, khách khứa liền ùa chúng tôi vào phòng tân hôn trên tầng ba, họ cười đùa lớn tiếng, náo động, lục tìm trứng đỏ trong chăn nệm, trốn dưới gầm giường để đùa giỡn. Những đứa con trai trạc tuổi Thiên Dư thì cưỡng ép tôi và Thiên Dư ngồi sóng vai nhau bên mép giường, bắt chúng tôi phải hôn nhau và làm đủ các động tác thân mật. Ở hành lang bên ngoài, bất ngờ vang lên một tiếng pháo đùng đét, họ nói, đó là để tạo ra cơ hội tuyệt vời nhất để tôi chui vào lòng chồng.
Mãi mới tiễn được khách khứa ra về, chúng tôi vẫn ngồi im lặng sóng vai nhau một lúc lâu, bên ngoài, vẫn mơ hồ truyền đến tiếng trò chuyện cười đùa của khách khứa. Cho đến khi xung quanh cuối cùng cũng yên tĩnh trở lại, Thiên Dư liền mở miệng nói: "Đây là giường của tôi, cô qua ghế sô-pha mà ngủ đi." Vừa nói, cậu ta vừa ném cả gối lẫn chăn qua đây. Tôi thực sự có chút vui mừng khôn xiết. Đợi đến khi cậu ta chìm vào giấc ngủ, tôi liền rón rén đứng dậy, theo mũi chân đi xuống lầu, đứng sững trong cái sân tối như mực.
Trong không khí ngửi thấy mùi hương của nước mưa, trời sắp mưa rồi! Tôi đi chân trần tản bộ trong sân, đầu bàn chân vẫn có thể cảm nhận được hơi ấm ban ngày còn sót lại trên nền gạch xanh ẩm ướt. Nước mắt tôi lăn lã chã rơi xuống, cứ thế thong thả bước ra khỏi sân. Ở ô cửa sổ của phòng người ở, tôi nhìn thấy người nữ hầu được giao nhiệm vụ canh giữ chân nến, đang ngái ngủ canh chừng cây nến đã được thâm lửa đó, tôi tựa người vào thân cây lặng lẽ ngồi xuống, thầm lặng ngước nhìn "vận mệnh" này của chính mình từ một bên.
Chắc là tôi đã ngủ thiếp đi. Một tiếng sấm trầm đục đánh thức tôi dậy, tôi nhìn thấy nữ hầu với vẻ mặt hoảng hốt chạy trốn từ trong nhà ra, giống như một con ruồi mất đầu. Cô ta cũng bị tiếng sấm đánh thức, có lẽ cô ta đã nhầm lẫn, tưởng rằng người Nhật đang ném bom rồi chứ. Tôi không kìm được bật thành tiếng cười. Lúc này, trời đã dần sáng rõ, tiếng sấm ầm ầm không dứt, người nữ hầu nọ đã chạy vụt ra khỏi nhà trốn vào trong sân, cô ta chạy nhanh đến mức đá văng những hạt cát sỏi bay tung tóe phía sau gót chân. Cô ta có thể trốn đi đâu chứ? Tôi chỉ cảm thấy buồn cười. Lúc này, tôi nhìn thấy trên chiếc chân nến trong nhà, ngọn lửa đang chao đảo dữ dội trong gió.
Tôi mặc cho đôi chân của mình dẫn dắt đi xuyên qua cái sân, thẫn thờ bước vào căn phòng đang nhấp nháy ánh nến. Nhưng tâm hồn tôi, lại đang thành khẩn cầu nguyện, cầu xin Bồ Tát phù hộ cho tôi, hãy để ngọn nến tắt đi, tắt đi! Ngọn lửa cứ chao đảo không ngừng, nhảy múa, lúc ẩn lúc hiện, trơ mắt nhìn chúng dần dần rạp xuống, chốc lát sau, vậy mà lại sáng bừng lên lần nữa. Tiếng cầu khẩn đột ngột mãnh liệt nghẹn ứ ở cổ họng tôi, tôi kìm nén, kìm nén, cuối cùng, chúng bùng nổ, "phụt" một tiếng, ngọn nến đại diện cho chồng tôi đã bị thổi tắt.
Lập tức, tôi sợ ngây người, tôi tưởng tượng ngay lập tức sẽ xuất hiện một con dao, cắt đứt cổ họng tôi. Tôi sợ lúc này trời đất sẽ sụp đổ, túm lấy tôi đi, nhưng, chẳng có chuyện gì xảy ra cả, khi tôi định thần lại, liền chuồn thẳng về phòng mình với tốc độ nhanh nhất.
Sáng sớm hôm sau, bà mối đắc ý tuyên bố trước mặt Thiên Dư, tôi và bố mẹ chồng: "Trăm năm tình viên mãn!" Sau đó, dưới sự chỉ điểm của bà ta, sáp nến cháy dở, được cẩn thận đổ lên vải đỏ, lúc này, tôi thoáng thấy trên mặt người nữ hầu kia, hiện lên một nét mặt căng thẳng.
Sáu
Tôi bắt đầu học cách yêu Thiên Dư, nhưng việc này không dễ dàng như tưởng tượng. Ban đầu, tôi nơm nớp lo sợ chờ đợi cậu ta sẽ bò lên người tôi làm những chuyện cậu ta nên làm, cho nên mỗi tối quay lại phòng ngủ, da đầu tôi lại căng như dây đàn vì căng thẳng. Nhưng trong suốt tháng tân hôn, cậu ta thậm chí còn chẳng thèm chạm vào tôi lấy một cái, dù sao thì cậu ta ngủ giường của cậu ta, tôi ngủ ghế sô-pha của tôi.
Trước mặt bố mẹ chồng, tôi là một người con dâu ngoan ngoãn, đúng như những gì họ dốc sức bồi dưỡng. Tôi bảo đầu bếp mỗi ngày mổ một con gà tơi vào buổi sáng, hầm thành canh gà nguyên chất không cho nước, sau đó tôi tự tay đổ nó vào bát, đây chính là bữa sáng hằng ngày của Thiên Dư. Mà mỗi tối, tôi lại phải tự tay nấu một nồi canh bồi bổ đặc biệt — gọi là Bát Trân Thang, nó không chỉ ngon miệng mà còn có hàm lượng dinh dưỡng cực kỳ cao, cách làm này rất được lòng mẹ chồng tôi.
Nhưng tôi vẫn không thể làm mẹ chồng hài lòng. Sáng hôm đó, tôi cùng mẹ chồng thêu thùa, nhân tiện nhớ lại hồi nhỏ, tôi nuôi một con ếch tên là Đại Phượng. Đột nhiên, mẹ chồng tỏ ra không vui, chưa đợi tôi hiểu chuyện gì xảy ra, bà ta đã đứng dậy giáng cho tôi một bạt tai.
"Cô con dâu độc ác này," bà ta chửi rủa tôi, "nếu cô còn không chịu ngủ chung giường với con trai tôi, tôi sẽ không nuôi cô nữa đâu." Cơn giận của tôi lập tức bốc lên tới đỉnh đầu, nhưng ngay lập tức nhớ lại năm xưa tôi từng hứa với cha mẹ mình rằng tôi sẽ làm một người vợ hiền mẹ đảm, nên đành nuốt cục tức này xuống.
Tối hôm đó, tôi ngồi bên mép giường Thiên Dư, chờ cậu ta đến chạm vào mình, nhưng cậu ta không làm thế. Tôi được giải thoát. Ngày hôm sau, tôi nằm bên cạnh cậu ta chờ đợi, cậu ta vẫn không chạm vào tôi. Lại qua một ngày nữa, dứt khoát tôi lột sạch quần áo nằm bên cạnh cậu ta.
Lần này thì tôi hiểu rõ bản lĩnh của thứ đồ đó trên người Thiên Dư rồi. Chỉ thấy cậu ta hoảng hốt quay người đi. Cậu ta không có ham muốn với tôi, sự hoảng loạn sợ hãi đó của cậu ta khiến tôi hiểu ra cậu ta chẳng có ham muốn với bất kỳ người phụ nữ nào cả, cậu ta vốn dĩ chưa trưởng thành.
Tôi không còn sợ cậu ta nữa, tôi thậm chí còn nảy sinh một thứ tình cảm kỳ lạ đối với cậu ta, đây không phải là tình yêu của vợ dành cho chồng, mà là sự xót xa và bảo bọc của chị gái dành cho em trai. Tôi mặc lại đồ ngủ, nằm nghiêng bên cạnh cậu ta, nhẹ nhàng gãi lưng cho cậu ta.
Tôi biết từ nay về sau mình không cần phải sợ hãi việc ngủ chung giường với Thiên Dư nữa. Cậu ta tuyệt đối sẽ không thèm chạm vào tôi lấy một cái; còn tôi, thì sở hữu một chiếc giường êm ái.
Mấy tháng trôi qua, bụng tôi vẫn phẳng lỳ, mẹ chồng lại một trận nổi lôi đình: "Con trai tôi nói, hạt giống nó rải ra đủ để sinh sôi nảy nở đời đời con cháu, nhưng sao cô mãi vẫn chưa có động tĩnh gì? Bệnh tật chắc chắn xuất phát từ người cô." Từ đó về sau, bà ta giam lỏng tôi trên giường không cho phép đứng dậy, để đảm bảo hạt giống của con trai bà ta không bị thất thoát.
Xem kìa, trên đời lại có chuyện thú vị thế này, suốt ngày nằm trên giường, ăn uống vệ sinh đều ở trên giường. Nói cho bạn biết, ngày tháng kiểu này, còn tệ hơn cả tù nhân, mẹ chồng muốn ôm cháu trai, có chút muốn phát điên rồi.
Bà ta bảo người hầu thu dọn tất cả những dụng cụ có lưỡi sắc bén đi, bà ta cho rằng kéo và dao thái rau sẽ khiến nhà bà ta tuyệt tử tuyệt tôn.
Bà ta cấm tôi làm nữ công, nói rằng việc đó sẽ làm phân tán tinh thần của tôi và khó có thể mang thai. Một ngày bốn lần, một cô tiểu thư xinh đẹp bưng đến bát thuốc đắng ngắt khó nuốt.
Tôi thực sự ngưỡng mộ cô tiểu thư này, có thể tự do đi lại ra vào. Ánh mắt tôi dõi theo cô ấy bước ra khỏi phòng tôi, tôi tưởng tượng, tôi cũng giống như cô ấy thong thả bước ra khỏi sân, tán gẫu với người thợ đóng giày bên ngoài, trò chuyện với nữ tì, đùa giỡn với tên sai vặt.
Cứ thế ngày này qua ngày khác, tôi nằm bẹp trên giường suốt hai tháng tròn, trên người vẫn hoàn toàn không có chút động tĩnh nào. Mẹ chồng gọi bà mối tới, sau khi bà mối tính toán kỹ lưỡng bát tự ngày sinh tháng đẻ của tôi, lại hỏi mẹ chồng về ngũ hành của tôi, cuối cùng bà ta vỗ đùi một cái rồi nói: "Thế thì rõ rồi, chỉ có người phụ nữ thiếu một hành trong ngũ hành mới sinh được con. Mà con dâu của ngài lại là thiếu kim trong ngũ hành, đây vốn dĩ là một điềm báo cực kỳ tốt. Nhưng lúc cô ta kết hôn, ngài đã tặng cô ta vòng tay vàng và các đồ bằng vàng khác, thế này thì hay rồi, ngũ hành của cô ta đầy đủ cả, quá cân bằng rồi, vậy thì sao mà mang thai được chứ?"
Đối với mẹ chồng tôi, đây đương nhiên là một kết luận khiến bà ta vô cùng vui mừng. Bởi vì bà ta có lý do rất hay để thu hồi trang sức bằng vàng của mình lại, chuyện này đối với tôi cũng không tệ lắm, bởi vì sau khi lấy đi trang sức bằng vàng, tôi cảm thấy một sự nhẹ nhõm vô cùng, cũng xem như là một sự giải thoát.
Có lẽ họ nói đúng, thiếu kim đối với tôi là một điềm lành. Tôi bắt đầu tính toán, làm thế nào để trốn khỏi cái lồng giam hôn nhân này mà không làm tổn hại đến danh tiếng của nhà mẹ đẻ.
Kỳ thực chuyện này rất đơn giản, chỉ cần nhà họ Hồng cho tôi một tờ hưu thư, mọi chuyện là giải quyết xong xuôi.
Tôi tốn bao tâm tư vắt óc suy nghĩ mất mấy ngày, vừa quan sát sắc mặt của những người xung quanh thật kỹ. Sau khi đã quyết định xong xuôi, tôi chọn ngày mùng ba tháng ba, ngày đó là tiết Thanh Minh, là ngày tưởng nhớ tổ tiên. Ngày này, ai nấy đều phải đi tảo mộ cúng tổ tiên.
Mọi người mang cuốc xẻng đến trước mộ tổ tiên để làm cỏ vun đất, lấy bánh ngọt quýt hiến cúng vong linh, tất cả những việc này lại trông giống như một ngày lễ dã ngoại vui vẻ hơn là một ngày tưởng nhớ người thân đau buồn. Nhưng đối với những người đang khao khát mong mỏi sớm được ôm cháu nội, ý nghĩa của ngày Thanh Minh vẫn vô cùng trọng đại.
Sáng hôm đó, tôi đánh thức Thiên Dư đang nằm bên cạnh và cả tòa nhà tỉnh giấc bằng một tiếng khóc gào bất chợt. Cứ khóc lóc thảm thiết như vậy một lúc lâu, mẹ chồng mới đi vào tra hỏi: "Nó lại đang lên cơn bệnh gì thế?" Ban đầu, bà ta chỉ ra lệnh ở trong phòng mình: "Bảo nó đừng làm ầm ĩ nữa." Nhưng tôi vẫn khóc lóc không ngừng, bà ta liền xông vào lớn tiếng mắng mỏ tôi. Tôi dùng tay che mắt, thân thể cứ uốn éo không ngừng, giống như đang phải chịu đựng sự đày ải và đau khổ tột cùng. Chắc chắn tôi đã diễn rất giống, bởi vì tôi nhìn thấy mẹ chồng mình sợ hãi lùi lại mấy bước.
"Sao thế con, chỗ nào không thoải mái à?" bà ta hỏi.
"Ôi! Sợ chết cháu mất, sợ chết cháu mất!" Tôi thở dốc, khóc lóc càng thảm thiết hơn. "Cháu nằm mơ," tôi nói, "cháu mơ thấy tổ tiên của chúng ta nói với cháu rằng: Họ muốn tận mắt chứng kiến đám cưới của cháu. Do đó, Thiên Dư và cháu trước mặt tổ tiên, lại tổ chức một đám cưới một lần nữa; cháu nhìn thấy bà mối thâm nến lên, giao nó cho một người hầu, cháu nhìn thấy: Các bậc tiên tổ đều vô cùng vui mừng..."
Mẹ chồng nghe đến mức mất kiên nhẫn, tôi liền lại khóc oà lên: "Nhưng sau đó, một cơn gió, đã thổi tắt ngọn nến. Các bậc tiên tổ nổi giận, nói rằng cuộc hôn nhân này xui xẻo tột cùng. Họ nói ngọn nến đại diện cho Thiên Dư đã tắt, điều này có nghĩa là, Thiên Dư sắp chết rồi."
Thiên Dư nghe xong, mặt cắt không còn giọt máu. Còn mẹ chồng tôi thì chỉ nhíu mày, không lộ chút cảm xúc nào mà thốt ra một câu: "Đứa ngốc này, sao lại làm cái giấc mơ kiểu này cơ chứ!" rồi quát mọi người tản đi.
"Mẹ," tôi gọi giật lại bằng giọng khàn đặc, "đừng đi, cháu sợ. Tổ tiên đã nói rồi, nếu không nghe lời cảnh cáo của người, người sẽ trừng phạt chúng ta, hành hạ chúng ta không dứt."
"Đúng là nhảm nhí!" Mẹ chồng la làng lên, quay người định bỏ đi, Thiên Dư mặt mày căng cứng cũng vội vã bám theo sau mông mẹ cậu ta. Tôi thầm đắc ý: Chúng cắn câu rồi, cá cắn câu rồi!
"Họ đoán trước là mẹ sẽ không tin những gì cháu nói đâu," tôi làm ra vẻ bất đắc dĩ, "họ biết cháu không muốn rời khỏi đây, bởi vì ở đây quá thoải mái. Cho nên các cụ tổ tiên nói, họ đã ứng nghiệm trên người chúng ta rồi."
Mẹ chồng thở dài thườn thượt, cuối cùng không nhịn được lại lải nhải thêm một câu: "Ứng nghiệm cái gì?"
"Đó là một người đàn ông râu dài mọc một nốt ruồi đen trên má đã nói với cháu."
"Ồ, đó là ông nội của Thiên Dư!" Mẹ chồng hét lên một tiếng kinh hãi, tôi gật đầu. Tôi từng nhìn thấy ảnh của ông nội Thiên Dư.
"Ông ấy đã kể ba điềm ứng nghiệm. Thứ nhất, ông ấy đã vẽ một nốt ruồi đen trên lưng Thiên Dư, sau này nốt ruồi đen này sẽ dần lan rộng và cuối cùng sẽ lấy đi cái mạng của Thiên Dư."
Mẹ chồng lập tức vén chiếc áo lót sát người của Thiên Dư lên, "Ái chà!" Bà ta thốt lên kinh ngạc, trên lưng Thiên Dư, quả nhiên có một nốt ruồi đen to bằng móng tay. Đó là thứ tôi phát hiện ra trong suốt năm tháng qua khi ngủ chung giường với cậu ta như chị em.
"Sau đó, ông ấy lại chạm vào miệng tôi, nói rằng răng của tôi sẽ rụng dần từng chiếc, cho đến khi chúng ta chấm dứt cuộc hôn nhân đó." Trong miệng tôi vừa hay có một chiếc răng bị khuyết, đó là do sâu răng nên bị rụng từ bốn năm trước.
"Cuối cùng, ông ấy nói có một người nữ hầu có số sinh quý tử, nói cô gái này có dòng máu hoàng tộc, nhưng lại vô duyên vô cớ rơi vào cảnh nghèo hèn, ông ấy nói cô ấy mới là người vợ đích thực của Thiên Dư, cô ấy sẽ sinh con đẻ cái nối dõi tông đường cho nhà họ Hồng."
Sau chuyện này, họ triệu tập người nữ hầu phụ trách canh giữ ngọn nến đỏ lớn khi chúng tôi kết hôn tới, sau khi gặng hỏi, người nữ hầu đó đã khai thật chuyện làm tắt chân nến.
Sau đó, dựa vào miêu tả của tôi, cuối cùng họ cũng tìm được cô tiểu thư xinh đẹp trong giấc mơ của tôi. Tôi thường xuyên nhìn thấy cô ấy liếc mắt đưa tình với một tên sai vặt ngoài cửa sổ, mỗi lần tên sai vặt tuấn tú kia xuất hiện, cô ấy lại cười tươi như hoa. Dần dần, tôi nhìn thấy bụng cô ấy nhô lên, mà thần sắc của cô ấy thì lại tỏ ra hoảng hốt bất an.
Cho nên bạn có thể tưởng tượng được rằng, khi người nhà họ Hồng tìm thấy cô ấy, và bắt cô ấy phải thừa nhận sự thật bản thân vốn là con gái hoàng thất, cô ấy đã vui mừng đến nhường nào. Sau này tôi nghe nói, đối với sự thật có thể trở thành con dâu nhà họ Hồng, cô ấy chỉ cảm thấy may mắn và biết điều, là chuyện nằm mơ cũng không dám nghĩ tới, không biết là tu kiếp nào mới có được phúc đức lớn nhường ấy. Cô ấy vô cùng biết điều với nhà họ Hồng, hạ quyết tâm làm một người vợ hiền mẹ đảm của nhà họ Hồng.
Bảy
Câu chuyện kể đến đây, coi như kết thúc. Dù sao thì mọi người đều vui vẻ cả nhà cùng vui. Bà Hồng cuối cùng cũng được bế cháu đích tôn, tôi nhận được một tấm vé tàu đi Bắc Kinh, và được phép mang theo đồ đạc của mình cùng một khoản phí lộ phí vừa đủ để đi Mỹ, nhà họ Hồng yêu cầu tôi vĩnh viễn không được nhắc đến mối quan hệ hôn nhân với họ trước mặt bất kỳ ai.
Xem kìa, tôi cứ thế mà thực hiện lời hứa đã đưa ra, suýt chút nữa đã đánh đổi cả cuộc đời mình. Nhìn trang sức bằng vàng tôi đeo trên người này, hai chiếc vòng tay này là lúc sinh hạ anh trai cậu thì bố cậu tặng tôi. Sau đó, tôi lại sinh ra cậu. Từ đó về sau cứ cách mấy năm, khi tích cóp được chút tiền, tôi lại đi mua một ít trang sức bằng vàng. Chúng hoàn toàn là vàng hai mươi tư K, vàng nguyên chất hàng thật giá thật, cũng giống như giá trị của bản thân tôi tự đánh giá vậy.
Nhưng tôi sẽ mãi mãi không quên ngày Thanh Minh năm đó, tôi cuối cùng đã cởi bỏ được chiếc gông xiềng đeo bám trên người. Tôi cũng sẽ mãi mãi không quên ngày hôm đó, tôi cuối cùng đã tỉnh ngộ, phát hiện ra một cái tôi thực sự, và mặc cho tư tưởng của cái "tôi" này dẫn dắt bản thân. Chính là ngày hôm đó, tôi trùm khăn trùm đầu của cô dâu mới, ngồi một mình bên cửa sổ, hứa với bản thân sẽ vĩnh viễn không quên chính mình.
Nếu có thể làm lại cô gái ấy một lần nữa thì tốt biết mấy! Giật phăng chiếc khăn trùm đầu đang che kín xuống, bất ngờ phát hiện ra một bản thân rực rỡ tỏa sáng!