Người trong liên của chúng tôi ai nấy đều hết mình làm việc, ăn uống thả phanh——cũng coi như làm hết năng lực, hưởng theo nhu cầu nhỉ? Dương nhiên đây chỉ là lời phiến diện, bởi vì mỗi người còn nhận mức lương cấp bậc khác nhau cơ mà. Tôi ăn ít, sức nhỏ, làm việc rất nhẹ, mà lương lại cực cao, có thể nói là chiếm hết món hời của "ưu thế xã hội chủ nghĩa", khiến nhà nước chịu thiệt không nhỏ. Tôi tự thấy hổ thẹn khôn cùng, thế nhưng chẳng ai thèm để tâm đến lời xin lỗi của tôi. Tôi cứ an phận thủ thường ở nông trường học cách trồng rau.
Khai phá một vườn rau mới có rất nhiều công đoạn. Hạng mục đầu tiên là xây nhà vệ sinh. Chúng tôi trông mong thu hút khách qua đường đến tích trữ phân bón giúp mình, thế nên địa điểm được chọn nằm ngay bên lề đại lộ phía bắc. Năm cây gậy gỗ——bốn góc dựng mỗi góc một cây, có một bên dựng thêm một cây để làm cửa; bức tường bện bằng thân cao lương, cứ thế vây quanh thành một nhà vệ sinh. Bên trong chôn một cái vạc để ủ phân nước; lại đào thêm hai cái hố nông choèn, đặt vài viên gạch làm chỗ đứng, thế là nhà vệ sinh hoàn thành. Thế nhưng vẫn còn thiếu một tấm rèm cửa. A Hương bàn với tôi, muốn bện một chiếc rèm thật sạch sẽ. Chúng tôi bóc lớp vỏ ngoài của thân cao lương, lột ra phần lõi nhẵn nhụi, dùng dây thừng tỉ mỉ bện thành một tấm rèm cửa cực kỳ xinh xắn; chúng tôi vô cùng đắc ý, treo trước cửa nhà vệ sinh, cảm thấy cái nhà vệ sinh này cũng thật khác thường. Nào ngờ sáng hôm sau chạy ra vườn rau xem xét, rèm cửa đã không cánh mà bay, phân bón tích cóp cũng bị người đi đường quét sạch sành sanh. Từ đó, tôi và A Hương đành phải luân phiên làm rèm cửa cho nhau.
Vườn rau không có cổng rào. Phía tây, nam và góc tây nam vườn rau của chúng tôi có ba mảnh vườn, đều thuộc nông trường của Học bộ. Có một mảnh vườn có nhà vệ sinh cầu kỳ nhất, nước tiểu chảy vào cái ao phía bên ngoài nhà vệ sinh, các hố bên trong đều được xây bằng gạch. Thế nhưng phân bón họ tích trữ bị trộm đi rất nhiều, nghe nói phân của nông trường, hiệu lực bón rất cao.
Chúng tôi đào một cái hố lớn hình chữ nhật nông choèn để ủ phân xanh. Mọi người chia nhau đi cắt rất nhiều cỏ, ủ trong hố, thế nhưng chỉ thoáng chừng một bữa cơm, số cỏ xanh đem ủ đã không cánh mà bay, chắc là bị lấy đi cho bò ăn rồi. Ở địa phương này, cỏ cũng là món hàng hiếm, cỏ khô đều bị tiện gốc để làm chất đốt.
Liên xuống nông trường từ trước đó, trên đất vườn rau đều đã cất nhà ba gian, năm gian. Chúng tôi trong lúc vội vàng chỉ dựng tạm một cái lán ở phía tây bắc bệ giếng. Dựng khung gỗ, phía bắc đắp một bức tường đất theo kiểu "đất nung khô", ba mặt tường còn lại bện bằng thân cao lương. Mái lán cũng dùng thân cao lương, bên trên lợp dầu hắc, bên dưới che bạt nhựa. Tây bắc vườn rau có một lò gạch thuộc về nông trường Học bộ, dưới chân lò vương vãi rất nhiều mảnh gạch vụn. Chúng tôi nhặt hai chuyến đem về rải dưới nền lán, trong lán mới đỡ ẩm ướt; đây còn là nơi để ở cơ mà. Lán làm một cánh cửa gỗ chắc chắn quay về hướng nam, còn lắp cả ổ khóa. Tổ trưởng tổ vườn rau, một nhà thơ trong tổ vườn rau, lại thêm "Tiểu Ngưu"——ba người ở trong cái lán này, nhân tiện trông nom vườn tược. Tất cả chúng tôi cũng có một chỗ để dừng chân nghỉ mỏi. Các luống rau lần lượt được gieo hạt. Phần lớn là cải trắng và củ cải; ngoài ra còn có rau cải, hẹ, cải bẹ xanh, măng tây, củ cải trắng, rau mùi, hành hoa, v.v. Thế nhưng nhà cửa do các liên cất lên——ngoại trừ mấy liên xuống nông trường sớm nhất——đều tụ tập ở "điểm trung tâm" của nông trường, cách vườn rau này hơi xa. Chúng tôi lại được chia thêm một mảnh vườn rau gần ngôi nhà mới, phần lớn lao động khỏe mạnh đều sang bên đó chỉnh trang ruộng đất, đào rãnh. Hoa màu ở vườn rau cũ không thể không có người trông coi, liền gọi A Hương và tôi ở lại giữ.
Chúng tôi đem những cây cải trắng không cuộn lòng từng lá một xếp theo thứ tự rồi túm lại, dùng dây leo quấn quanh, vậy mà cũng có một phần lớn lớn lên thành cải trắng cuộn lòng, chỉ có điều cuộn không được chặt cho lắm. A Hương có thể gánh hai thùng nước tiểu đầy lưng, tôi thì dùng từng chiếc gáo múc tưới tắm. Chúng tôi vô cùng thiên vị mấy củ "củ cải ngà voi" hoặc "củ cải Thái Hồ"——chính là củ cải trắng dài. Phần nhô lên mặt đất hơn một tấc, to ngang ngửa chiếc chén cơm nhỏ. Chúng tôi lén lút bảo nhau: "Chúng ta hãy bồi dưỡng củ đỉnh cao đi!" Thế nên đem toàn bộ tro bếp mà tổ trưởng dặn chúng tôi rắc vào ruộng cà rốt để bón cho đám bảo bối của mình. Đúng là bảo bối! Đến lúc thu hoạch, tôi đinh ninh rằng dưới đất phải dài hơn một thước, chí ít cũng phải được hơn nửa đoạn. Tôi dồn hết sức lực để nhổ, dùng lực quá đà, tót một cái ngã ngồi xuống đất, hóa ra dưới đất chỉ có vài cọng râu ria. Chưa từng thấy củ cải "dài" nào mà dẹt đến thế! Có mấy củ cải đỏ còn đỡ, nói chung chỉ to bằng quả lê con vịt.
Thời tiết dần trở lạnh, ngồi xổm bên luống rau xới đất nhổ cỏ, gió bắc lùa thẳng vào sống lưng. Chúng tôi về liên ăn cơm chiều, thường thì trời đã tối hẳn. Tháng Mười Hai năm ấy, nhà mới hoàn thành, toàn liên chuyển lên "điểm trung tâm"; A Hương cũng sang vườn rau mới làm việc. Ba người ở lán tối đến vẫn về vườn rau cũ ngủ, ban ngày chỉ còn một mình tôi trông coi ở đó.
Tổ trưởng phái tôi trông coi vườn rau là để chiếu cố tôi, bởi vì kí túc xá của Mịch Thồn nằm không cách lò gạch phía bắc bao xa, tính ra chỉ đi bộ chừng mười mấy phút. Mịch Thồn coi giữ dụng cụ. Tổ trưởng của tôi thường bảo tôi đi mượn dụng cụ. Mượn rồi đương nhiên lại phải trả. Mọi người cùng hội cùng thuyền đều tủm tỉm nhìn tôi hớn hở đi qua đi lại, mượn rồi lại trả. Mịch Thồn coi giữ dụng cụ chỉ lo ghi chép, tuần tra ban đêm cũng luân phiên với người khác, chuyên trách của anh ấy là nhân viên liên lạc, mỗi buổi chiều lại ra bưu điện ở thôn nhận báo chí, thư từ, bưu kiện v.v. mang về liên phân phát. Bưu điện nằm ở phía đông nam vườn rau của chúng tôi. Mỗi ngày Mịch Thồn đều đi dọc theo con suối nhỏ ở phía đông vườn rau của chúng tôi ngoằn ngoèo đi về phía nam rồi hướng đông. Thỉnh thoảng anh ấy đi đường vòng ghé qua vườn rau thăm tôi, tất cả chúng tôi lại dừng tay hoan nghênh. Thế nhưng anh ấy không dám lỡ việc, cũng không muốn thường xuyên đến quấy rầy. Khi tôi và A Hương cùng ở lại trông coi vườn rau, A Hương thỉnh thoảng sẽ huých tôi mà bảo: "Kia kìa! Kia kìa! Ai tới kìa!" Mịch Thồn lấy bưu phẩm từ bưu điện ra, đang đi thẳng về phía vườn rau của chúng tôi. Ba người chúng tôi liền cách con suối gọi với nhau vài tiếng, hỏi đáp mấy câu. Lúc một mình giữ vườn, tôi phát hiện con suối cạn khô, có thể nhảy một bước là qua; Mịch Thồn có thể từ vườn rau của chúng tôi qua suối đi đến bưu điện, không cần phải đi đường vòng. Cứ như thế, hai vợ chồng già chúng tôi thường xuyên có thể gặp nhau ở vườn rau, còn tuyệt vời hơn cả những cặp tình nhân hẹn hò lén lút nơi hậu viên trong tiểu thuyết, kịch nghệ ngày xưa.
Mịch Thồn sau đó phát hiện ra rằng, anh ấy hoàn toàn chẳng cần phải nhảy qua suối, đi về hướng nam vốn dĩ có cầu đá thông sang bờ đông. Mỗi buổi chiều, tôi đều có thể trông thấy anh ấy chân cao chân thấp chạy tới từ phía bắc lò gạch. Có những hôm trời yên biển lặng, chúng tôi liền ngồi bên bờ kênh dẫn nước phía nam cái lán chốc lát để sưởi nắng. Có khi anh ấy đến muộn, đứng nói mấy câu rồi đi. Những bức thư dăm ba câu, ngắt quãng, nghĩ đến đâu viết đến đấy của anh ấy, có thể trực tiếp nhét cho tôi. Tôi thường khóa cửa gỗ của lán lại, đi cùng anh đến bờ suối, rồi lại vội vã quay về canh chừng ở vườn rau, dõi theo bóng lưng anh ngày một xa, ngày một nhỏ, dần dần biến mất. Anh lấy bưu phẩm về từ bưu điện là phải vội vã về liên phát thư từ và báo chí, không chịu qua suối thăm tôi nữa. Thế nhưng tôi đứng từ xa cũng có thể nhìn thấy anh đi tới; nếu quên mất lời gì, đợi lúc anh quay về có thể cách con suối nói thêm đôi câu.
Đối với tôi, vườn rau này chính là điểm trung tâm. Phía tây nam vườn rau có một gò đất lớn, người trong nông trường gọi là "Uy Hổ Sơn", nằm đối diện với lò gạch ở phía tây bắc vườn rau. Không cách lò gạch phía bắc bao xa chính là kí túc xá của Mịch Thồn. Phía tây của "Uy Hổ Sơn" đi xa thêm nữa, chính là "điểm trung tâm" của nông trường——kí túc xá liên của chúng tôi nằm ở đầu phía đông "điểm trung tâm". Dưới sườn dốc "Uy Hổ Sơn" là nhà ăn của một liên nào đó trong nông trường, cơm trưa và cơm chiều của tôi đều ra đó mua. Vườn rau láng giềng phía tây có nhà cửa, tôi hay sang đó xin nước sôi uống. Trong cái lán ở láng giềng phía nam có nhóm lò sưởi, tôi cũng từng sang đó xin nước sôi. Bởi vì tôi chỉ dùng ba viên gạch bắc một cái bếp lò đất, nhặt dăm ba cây cao lương để đun nước; có lúc gió lớn, châm mãi không cháy. Đi về phía nam là bưu điện nơi Mịch Thồn hằng ngày đến nhận báo chí thư từ. Phía đông con suối là ruộng đồng liên tiếp, đồng bằng một màu phẳng lặng, mấy cụm cây xanh ở chân trời là các thôn xóm gần đó; thôn Dương Cư mà tôi từng ở tạm vẫn nằm ở phía đông cụm cây. Các hoạt động thường ngày lấy vườn rau làm trung tâm của tôi, cứ như nhện chễm chệ ngồi trong vườn rau, giăng tơ kết võng xung quanh các ngả các nơi; trong lưới thường đọng lại chút ít kiến thức vụn vặt, cảm xúc trôi nổi bồng bềnh.
Mỗi ngày tôi ăn sáng xong xuôi là một mình đi về vườn rau, nửa đường thường hay bắt gặp ba người ở lán đi về "điểm trung tâm" ăn bữa sáng. Tôi đến vườn rau, việc đầu tiên là tìm chìa khóa giấu trong đống thân cao lương bên cạnh cửa gỗ của lán, mở cửa đặt bát cơm mang theo người xuống rồi khóa cửa lại, đi ra ruộng rau tuần tra. Ruộng cà rốt nằm ở phía đông đằng xa, đất đai cằn cỗi cứng nhắc, sản lượng khiến người ta vô cùng thất vọng. Thế nhưng những củ hơi to thường hay bị người ta nhổ mất; nhổ trong lúc vội vàng, thường bỏ lại một đoạn đuôi, tôi đào lên múc dăm gáo nước giếng rửa sạch, giữ lại để giải khát. Cải trắng gần đại lộ phía bắc, hễ bóp thấy lõi cải đã đanh cứng lại là bị người ta chặt đi, để lại từng cái gốc cải với vết chặt còn mới tinh. Có lần tôi phát hiện ba bốn gốc cải trắng lớn đã trưởng thành bị chặt đứt, chưa kịp mang đi, vẫn đứng thẳng tắp trong luống. Chúng tôi đành không đợi cải trắng lớn đủ, ra tay thu hoạch trước. Có lần tôi vừa vòng ra phía sau lán, phát hiện ba người phụ nữ đang nhổ rau cải của chúng tôi, họ vừa đứng dậy đã chạy biến, ngặt nỗi tôi đuổi theo quá nhanh, thế là vừa chạy vừa vứt rau cải xuống đất. Trong giỏ của họ không có tang vật, chẳng sợ tôi đuổi kịp. Kỳ thực, đuổi theo chỉ là trách nhiệm của tôi, tôi thà rằng họ mang rau cải về nhà nấu một bữa ăn; tôi nhặt lại thì chẳng làm gì được ích lợi.
Họ chẳng qua chỉ đi ngang qua tình cờ. Những người ra ngoài nhặt rau dại, lượm củi đóm thường là từng đám mười mấy người, đều là những đứa trẻ trai gái từ bảy tám tuổi đến mười hai mười ba tuổi, do một thiếu nữ mười sáu mươi bảy tuổi hoặc một bà cụ bốn mươi năm mươi tuổi dẫn dắt từ trong thôn đi ra. Bọn chúng mặc những bộ quần áo rách rưới đủ màu sắc, một tay xách giỏ, một tay cầm dao nhỏ hoặc thuổng nhỏ. Cứ đến mỗi nơi, lại tản ra thành nhóm ba nhóm năm, lấy danh nghĩa nhặt rau dại, lang thang khắp nơi, hễ trông thấy thứ gì nhặt được là thu vào giỏ. Bọn chúng chặt cành cây trong rừng cây non, nhưng không nhặt ngay; nhặt rồi cũng không giữ lại trong giỏ, mà chia từng đợt giấu bên lề đường ven mương, buộc thành từng bó từng bó. Lúc về nhà trước bữa trưa hoặc bữa chiều, lưng đứa nào đứa nấy trong nhóm người này cũng vác những bó củi đóm to đùng, trong giỏ cũng thu hoạch được mỗi người một ít. Vài đứa nhóc to gan lớn mật còn nhổ cả cây non, buộc lại rồi ném xuống suối, trước bữa trưa hoặc bữa chiều thì gánh về nhà.
Đám thân cao lương vương vãi xung quanh cái lán của chúng tôi sớm đã bị bọn chúng dọn sạch sành sanh, năm cây cột gỗ của nhà vệ sinh dần dần bị trộm chỉ còn trơ lại hai cây, sau đó đến một cây cũng chẳng còn. Tường vây bằng thân cao lương của nhà vệ sinh cũng bị bẻ ngày càng thưa thớt, dần dần bén mảng đến thân cao lương của cái lán. Tôi luôn phải đợi từng tốp người vác bó củi to đùng đi khuất cả rồi, mới dám sang nhà ăn ở sườn dốc "Uy Hổ Sơn" mua cơm.
Có lần ruộng rau láng giềng phía nam của chúng tôi thu hoạch cải trắng. Người nhà họ đông, sức lao động khỏe, làm việc lại nhanh nhẹn gọn gàng, hoàn toàn khác hẳn với tổ vườn rau chúng tôi. Trong tổ chúng tôi phần lớn là người già kẻ yếu; chúng tôi nào là nhổ, nào là bốc, nào là khiêng thành từng đống lên cân này, ghi chép này, chất lên xe này, chở đến nhà bếp của "điểm trung tâm" này... Mọi người bận rộn cả ngày, trong luống rau vẫn vương vãi khắp mặt đất đầy bẹ cải già. Bên ấy chưa lặn mặt trời, cải trắng đã thu hoạch xong xuôi, ruộng rau được dọn dẹp sạch sẽ tinh tươm. Có một bà cụ dẫn theo cô con gái ngồi trước cái lán của chúng tôi, đợi nhặt bẹ cải. Cô bé chốc chốc lại chạy đi xem, rồi lại quay về báo cáo tiến độ thu hoạch. Cuối cùng bà cụ đứng dậy bảo: "Đi thôi!"
Cô bé bảo: "Quét sạch hết rồi."
Lời bọn họ nói, nói nhanh thì tôi nghe không hiểu lắm, chỉ nghe thấy nhắc đi nhắc lại mấy lần câu "cho lợn ăn". Bà cụ phẫn nộ bảo: "Địa chủ đều cho nhặt hết!"
Tôi liền hỏi, những bẹ cải già khú ấy nhặt về thì ăn kiểu gì.
Cô bé bảo: "Trước tiên đun một nồi nước, vò nát lá rau rắc vào, đổ bột quấy vào, một khuấy lên, ngon lắm cơ!"
Tôi từng nhìn thấy "bánh ngô" của bọn chúng có màu nâu đỏ, bột quấy cũng có màu nâu đỏ; không biết thứ bột quấy "ngon lắm cơ" ấy có mùi vị gì. Món cải trắng và củ cải đắng già khú chúng tôi ăn hằng ngày tuy chẳng có mùi vị gì hay ho, nhưng mùi vị "ngon lắm cơ" ấy lại là thứ chúng tôi nên trải nghiệm mà chưa từng được trải nghiệm.
Món rau cải bẹ chúng tôi trồng chẳng thu hoạch được gì; củ to thì to bằng quả đào, củ nhỏ chỉ bằng quả mơ. Tôi thu hoạch một đống đang ngồi lựa chọn, chuẩn bị đem những củ to nộp cho nhà bếp. Bà cụ kia cứ trân trân nhìn bên cạnh, hỏi tôi ăn thế nào. Tôi bảo với bà: Muốn muối cũng được, nấu cũng được. Tôi bảo: "Củ to tôi giữ lại, củ nhỏ biếu bà." Bà vô cùng mừng rỡ, liên mồm nói "Được! Củ to cho cô, củ nhỏ cho tôi." Thế nhưng tay bà lại nhanh nhẹn, cứ nhăm nhăm nhặt củ to vào giỏ mình. Tôi không tranh chấp với bà. Chỉ đợi bà nhặt xong, nhặt lại từ giỏ bà một đống củ to, đổi cho bà hai nắm củ nhỏ. Bà cũng chẳng phản kháng, vô cùng mãn nguyện đi về. Trong lòng tôi lại thấy áy náy, bởi vì đống cải bẹ hơi to đó, nhà bếp của chúng tôi sau này cũng chẳng dùng đến. Nhưng lúc đó tôi không dám tùy tiện biếu người ta, cũng không thể mở cái lệ này. Tôi nhổ cỏ tỉa cây trong vườn rau, mấy cô bé trong thôn chạy ra xem chơi. Tôi học theo ngữ điệu quê mùa của bọn chúng, có thể trò chuyện với chúng. Tôi đem mấy mầm xanh bé xíu biếu chúng, chúng liền giúp tôi nhổ cỏ. Bọn chúng gọi đàn ông là "đàn ông lớn"; mấy cô bé mười hai mươi ba tuổi, đã được cha mẹ đặt vòng trăm năm từ sớm. Cô bé này bảo với tôi rằng cô bé kia đã có nhà chồng; cô bé kia vừa thẹn thùng chối đây đẩy, vừa bảo cô bé này cũng đã có nhà chồng rồi. Bọn chúng đều không biết chữ. Nhà đồng hương mà tôi ở nhờ tương đối khá giả, hai đứa con trai tầm mười tuổi không phải chăn bò kiếm tiền, đều được đi học; thế nhưng người chị gái mười bảy mười tám tuổi của chúng lại chẳng biết chữ. Chị ta đã được cha mẹ đặt vòng, mai mối tác thành, đính hôn với một chiến sĩ giải phóng quân trạc tuổi ở thôn bên cạnh. Hai người chưa từng gặp mặt nhau bao giờ. Vị giải phóng quân ấy viết cho vị hôn thê một bức thư, và gửi kèm cả ảnh. Trình độ tiểu học của anh ta, tướng mạo là một người nông dân chất phác. Cha mẹ cô gái bởi vì cùng họ với tôi, gọi tôi là "cô cả của tao"; bọn chúng nhờ tôi viết thư trả lời hộ. Tôi cầm bút ngẩn ngơ nửa ngày, chẳng nghĩ ra nổi một câu nào cho phải phép; sau đó vẫn là người cùng phòng người câu người gom lại vá víu thành một bức thư. Vị giải phóng quân kia thậm chí còn chưa từng nhìn thấy ảnh cô gái.
Mấy thằng nhóc mười lăm mười sáu tuổi trong thôn, chẳng hiểu thế nào, hình như cả ngày đều rảnh rỗi không có việc gì làm, vác theo một cái sọt lớn, nhìn thấy cái gì là nhặt cái ấy. Có lúc thành đàn bảy tám đứa, nhổ những thân cây ven đường chưa to bằng bắp tay xuống, mọi người dùng thân cây đập xuống đất, vừa hò hét khàn cả giọng "Hà! Hà! Hà!" vừa vây bắt thỏ rừng. Có một lần, ba bốn tên nhóc xông vào vườn rau làm ầm ĩ, tôi vội vã chạy ra đuổi, bọn chúng bảo trong luống rau có "mèo". "Mèo" chính là thỏ. Tôi bảo: Ở đây không có mèo. Con thỏ trốn dưới đáy lá rau tự biết mình không giấu nổi nữa, sáng quắc lên một đường vọt thẳng ra ngoài. Thỏ chạy rất nhanh, chó đuổi không kịp. Thế nhưng mấy con chó dưới sự sai khiến của thỏ cứ tản ra đuổi theo, con thỏ quay ngoắt mấy vòng, bị ba bốn con chó vây chặt vào giữa. Chỉ thấy nó nhảy vót lên cao sáu bảy thước, rơi xuống đất liền bị chó cắn chặt lấy. Lúc nó nhảy vót lên ấy, tôi thấy tim gan mình vỡ nát thay cho nó. Từ đó về sau hễ nghe thấy tiếng hò hét khàn đặc "Hà! Hà! Hà!", tôi chẳng còn chút tò mò nào để xem nữa.
Có một lần, đó là ngày 3 tháng 1 năm 1971, vào khoảng ba giờ chiều, bỗng có người đi tới, chỉ vào hai nấm mồ ở góc đông nam bên ngoài vườn rau, hỏi tôi đó có phải mộ của nông trường không. Mấy tay lái máy kéo xuống nông trường theo Học bộ ngay từ thời kỳ đầu, có một người lái máy kéo qua cầu, lật xuống sông chết đuối. Bọn họ hỏi tôi người đó có phải được chôn ở bên kia hay không. Tôi bảo không phải; tôi chỉ tay về phía xa xôi, nói cho người ta biết vị trí của ngôi mộ đó. Lát sau, tôi nhìn thấy mấy người đang đào đất bên bờ suối phía đông ruộng cà rốt, bên cạnh đỗ một chiếc xe lớn, trên xe phủ chiếu sợi sậy. A! Bọn họ sắp mai táng người chết phải không? Bên cạnh đứng mấy người mặc quân phục, chắc là đội tuyên truyền quân đội.
Tôi đứng từ xa dõi theo, người đào hố có ba bốn người, động tác đều vô cùng nhanh nhẹn. Có người nhảy xuống hố đào đất; sau đó từng người một đều nhảy xuống hố. Bỗng có một người chạy về phía tôi. Tôi tưởng anh ta muốn xin nước uống; thế nhưng anh ta muốn mượn một cây xẻng, cán xẻng của anh ta bị gãy rồi. Tôi bước vào lán lấy một cây đưa cho anh ta.
Lúc đó không có một người dân nào đứng nhìn, chỉ có mấy con người ấy đang đào hố, vội vã, khẩn trương. Lúc sau, những người xuống hố chỉ còn trơ lại đầu và vai, cái hố đã đủ sâu. Bọn họ liền khiêng ra từ dưới tấm chiếu sợi sậy một cỗ thi thể mặc đồng phục màu xanh. Trong lòng tôi chấn động, từ xa nhìn bọn họ chôn cất người chết ấy.
Lúc người mượn xẻng đến trả dụng cụ cho tôi, tôi hỏi anh ta người chết là nam hay nữ, chết vì bệnh gì. Anh ta bảo với tôi rằng, bọn họ là liên nào đó, người chết là do tự sát, ba mươi ba tuổi, nam.
Mùa đông ngày ngắn, lúc bọn họ kéo xe không đi về, trời đã chạng vạng tối. Đám ruộng rau hoang vắng liên tiếp không một bóng người. Tôi chầm chậm chạy đến nơi chôn người, chỉ nhìn thấy có thêm một nấm mồ đất dẹt dẹt. Sẽ chẳng ai chú ý tới bờ suối lại có thêm một ngôi mộ mới thế này.
Hôm sau tôi kể lại cho Mịch Thồn, dặn anh ấy chú ý đừng dẫm lên ngôi mộ mới ấy, bởi vì bên trong không có quan tài, dưới bùn chính là thân thể. Anh ấy đi từ bưu điện về, chỗ đó lắm tin tức thật đấy, không chỉ biết tên họ người chết, mà còn biết người chết có vợ có con; hôm ấy có mấy món hành lý được gửi ngược về quê hương người chết.
Chẳng bao lâu sau thì có một trận tuyết lớn. Tôi chỉ lo sau tuyết đất lở mộ nứt, thi thể bị chó hoang lôi ra. Đất quả nhiên sụt xuống một chút, nhưng ngôi mộ lại không nứt ra.
Suốt cả mùa đông, một mình tôi đơn độc thủ hộ vườn rau. Sáng sớm mặt trời vừa ló dạng, tầng mây nửa bầu trời phía đông rực rỡ sắc màu. Những thôn xóm xa xa gần gần, từng tốp dân làng già trẻ lớn bé, mặc những bộ quần áo rách đủ màu sắc túm tụm thành đàn đi ra, đến vùng lân cận vườn rau chúng tôi rồi tản ra thành từng nhóm hai người, ba người, biến mất ở các ngả. Đến khi ánh chiều tà buông xuống, họ hoặc trước hoặc sau, lại thành đàn gác vác đồ đạc đi về. Tôi mua cơm chiều về vườn rau, thường đứng ở cửa lán chầm chậm ăn. Ráng chiều dần dần tối sẫm, màn sương chiều nặng trĩu, đồng hoang trời thấp, ruộng rau một mảnh mịt mờ, gần xa không thấy một bóng người, cũng chẳng thấy một đốm đèn. Tôi lùi vào lán, chỉ nghe thấy không biết bao nhiêu con chuột trong đống thân cao lương đang nhảy nhót đùa giỡn, lá khô kêu sột soạt. Tôi múc chút nước giếng rửa sạch bát thìa, liền khóa cửa đi về kí túc xá.
Mọi người ai nấy đều bận rộn làm việc, chỉ riêng mình tôi rảnh rỗi; rảnh rỗi đến mức hổ thẹn, cũng rảnh rỗi đến mức chẳng biết làm thế nào. Tôi tuy không có mười tám ban võ nghệ, nhưng cũng có phong thái Lỗ Trí Thâm đi tu làm hòa thượng ở thiền viện Ngũ Đài Sơn.
Lúc tôi ở nhà người dân, không lao động cùng một chỗ với người cùng phòng, buổi tối không tiện cùng bọn họ kết thành nhóm về thôn. Tôi một mình đi về độc lập, ngược lại cũng tự do linh hoạt. Hơn nữa tôi lại thích đi đường tối. Bật đèn pin lên, chỉ có thể soi sáng một vòng đất nhỏ xung quanh, chẳng biết bản thân đang ở phương nào; đi đường tối ngược lại có thể phân biệt rõ ràng mọi thứ xung quanh. Tôi đi dọc theo con đường mòn ngoằn ngoèo giữa những gò hoang đá rối, một mình đi về thôn; đến gần thôn có thể thấy ánh đèn lóe lên từ lùm cây. Nhưng nơi có ánh đèn, cũng chỉ có một chiếc giường cho tôi, chỉ có một góc nhỏ hẹp trong mùng——một chốn về cô quách tịch mịch, chẳng phải nhà tôi. Thế nên tôi thường nhớ đến một bức tranh từng thấy, một cụ già vai vác hành lý, tay chống gậy, từng bước từng bước đi từ con đường nhỏ dưới sườn đồi vào trong ngôi mộ của chính mình; bản thân dường như cũng chính là như vậy.
Qua năm mới, ngày Tết Thanh Minh, nông trường của Học bộ dời đến Minh Cảng. Trước khi lên đường, toàn bộ tổ vườn rau chúng tôi đều quay về vườn rau cũ, tháo dỡ tất cả các công trình. Cái gì nhổ được thì nhổ, cái gì tháo được thì tháo. Máy kéo lại đến cày đất một lượt. Lúc đi tôi và Mịch Thồn tranh thủ cùng ra vườn rau nhìn một cái, coi như lời từ biệt. Chỉ thấy lán không còn, bệ giếng không còn, kênh dẫn nước không còn, luống rau không còn, đến cả nấm mồ đất dẹt dẹt kia cũng chẳng biết đi đâu mất, chỉ sót lại một bãi đất trống trải chi chít những cục đất khô.