Cán Hiệu Lục Ký

Lượt đọc: 18 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Năm, Ký Ức Mạo Hiểm May Mắn

❊ ❊ ❊

Những ai từng ở trường “cán kiêm” (trường ngũ thất) ở Huyện Tức, không ai có thể quên được những cơn mưa ở Huyện Tức – cơn mưa xám xịt trùm lên nhân gian; bùn nhão đầy đất, đến cả mặt đất trong nhà cũng ẩm ướt như muốn biến thành bột nhão, cho dù những vết bánh xe do mặt trời phơi khô trên đường bùn cứng như lưỡi đao, khiến chúng tôi đi đến phồng cả gan bàn chân, cứ hễ mưa xuống là hóa thành bùn lầy, trơn trượt đến mức đứng không vững, đi đường chống gậy cũng khó tránh khỏi trượt ngã. Chúng tôi ở nhờ nhà bà con ở các thôn, đi sang bếp ăn cơm, thường có người ngã lăn thành cục bùn. Bếp ăn chẳng qua chỉ là một cái lán cỏ tranh; bên cạnh còn có một cái lán khác để xe cộ và dụng cụ. Chúng tôi bưng bát cơm cố chen chúc vào hai cái lán ấy. Giữa lán, mặt đất khô hơn; đứng ở rìa không chỉ lầy lội, mà còn có sợi mưa hắt réo rắt vào trong. Nhưng dù đứng ở giữa hay rìa lán, trên đầu vẫn nhỏ giọt mưa rơi tí tách. Ăn cơm xong, lại phải giẫm lên bùn nhão, trượt ngã lấm lem ra bờ giếng rửa bát. Trên đường về thôn mà làm vỡ phích nước thì lại càng là tai họa không thể cứu vãn, bởi vì ở địa phương không mua nổi, cũng không thể gửi bưu điện từ Bắc Kinh. Than ôi! Ngày mưa ở Huyện Tức, quả thực khiến người ta không sao xốc nổi tinh thần lên được.

Có một lần, trời mưa liền mấy ngày. Buổi sáng chúng tôi họp học tập trong thôn, sau bữa ăn chỉ có cán bộ nòng cốt họp, những người khác thì thả lỏng tự do. Rất nhiều người về nhà bà con ở nhờ, hoặc viết thư, hoặc vá víu, hoặc tranh thủ may áo mùa đông. Tôi ở nhà phó đội trưởng, tuy cũng là ngôi nhà nhỏ sáu mặt bằng bùn, nhưng lại cầu kỳ hơn nhà khác, trên vách bùn hướng nam còn có một lỗ cửa sổ rộng một thước, cao nửa thước. Chúng tôi dán lên một lớp giấy mỏng, vừa chắn gió, vừa thông sáng. Giường của tôi ở góc tối khuất gió, tối tăm mù mịt, ngoài lúc ngủ buổi ban đêm, ban ngày không ở nổi. Trong nhà chỉ có chút ánh sáng yếu ớt dưới cửa sổ ấy, tôi cũng không nợ lòng chiếm dụng. Hơn nữa bộ trang phục chống mưa đầy đủ – áo mưa, quần mưa, ủng cao su, đều dính đầy bùn nhão, thay ra thay vào rất phiền phức; lại còn một chiếc ô ướt sũng chẳng biết treo ở đâu. Tôi dứt khoát một tay chống ô, một tay chống gậy, đi ra ngoài trời mưa.

Hồi ở cố viên Tô Châu, tôi thích nhất là những ngày mưa. Cây cối trong hậu viên, lá xanh trong mưa tươi mát như muốn rỏ nước, những viên sỏi rải mặt đất được rửa sạch sẽ sáng bóng không một hạt bụi; bản thân cảm thấy trên mình thanh nhuận, trong lòng tịnh khiết. Thế nhưng mưa Huyện Tức lại khiến người ta cảm thấy bản thân đúng là nặn bằng đất vàng, dường như đến cả xương cốt cũng muốn hóa thành một đống bùn lầy. Tôi bước trên một biển bùn, đi ra khỏi thôn; nhìn đồng hồ, mới hơn hai giờ, bỗng nảy ra ý nghĩ sao không đi thăm Mặc Tồn. Tôi biết tự ý ra ngoài là phạm quy, thế nhưng lúc này sẽ không thổi kèn, xếp hàng, điểm danh. Tôi định lén lút đi tắt qua nhà bếp, thẳng hướng con đường lớn phía tây mà đi.

Những thửa ruộng liền kề đều có mương rãnh; bình thường thì khô ráo, sau khi tích nước mưa, đã thành những con ngòi lớn nhỏ khác nhau. Tôi bước xuống một cây cầu nhỏ, con đường dưới cầu đã ngập trong nước, hòa cùng nước mương thành một dòng suối nhỏ. Nhưng chỉ cách vài bước chân là lên đến con đường lớn. Tôi không cam tâm lùi bước, cẩn thận từng li từng tí, dò dẫm bước qua vùng nước nông ven bờ; tuy có mấy bước lún sâu hơn chút, nhưng cuối cùng vẫn bình an lên dốc. Tôi ngoảnh lại nhìn đằng sau không có kẻ đuổi theo, liền cắm cổ đi thẳng về phía tây đường lớn, chỉ ghi nhớ trong lòng, lúc về không thể đi con đường này nữa.

Trong bùn lầy không thể đi nhanh, phải bước nào chắc bước nấy. Ủng mưa đi càng lúc càng nặng; đi một đoạn đường, phải dừng lại dùng gậy khều sạch bùn nhão bám trên giày ra. Ủng mưa tuy cao cổ, nhưng bùn nhão dọc đường dính chặt vào thành “đất dính”, thi nhau lột giày hộ tôi; không ít lần tôi suýt để lại ủng mưa trong bùn. Hơn nữa chẳng biết từ đâu vo ra không ít viên bùn tròn, lọt cả vào trong ủng mưa cao cổ. Tôi đi ở bên nam con đường, lại thấy bên bắc con đường mọc thêm mấy cọng cỏ, có thể tránh trượt ngã; đi đến bên bắc con đường, lại thấy vẫn là bên nam nhiều cỏ hơn. Đây là một con đường lớn thẳng tắp, thế nhưng gần lò gạch, có đoạn nền đường dài chừng hai, ba trượng bị sụt lún. Hồi đầu chúng tôi đào giếng ở vườn rau, A Hương cùng tôi đẩy xe đưa cơm ra vườn rau, đến chỗ này là phải để A Hương đẩy xe xuống dốc rồi lên dốc. Mưa liên miên, chỗ này một vùng mênh mông, thành một cái hồ nước trong vắt thấy đáy. Ở giữa có hai con đê; tôi nhấc chân bước lên đê, lập tức lún sâu xuống; hóa ra đó là vết bánh xe bò đồn ép, ngâm nước trở thành một con “đê xốp”. Tôi lội bộ đến đây, tuy đi đường lớn bằng phẳng, cũng vô cùng khó khăn, nhưng không muốn bỏ dở nửa chừng mà quay về. Nước không ngập quá cổ ủng, còn kém chừng một, hai tấc. Dưới đáy nước có chỗ là cát, có chỗ là cỏ; đất cát có mềm có cứng, đất cỏ cũng có mềm có cứng. Tôi chống gậy từng bước dò dẫm đi về phía trước, không ngờ lại bình an vượt qua cái hồ nước này.

Lên dốc đến lò gạch, thì phải rẽ hướng bắc. Có một con sông nhỏ từ bắc chảy xuống nam, chảy đến chân dốc lò gạch, uốn lượn một hồi, thì tràn vào bãi hoang trũng phía tây lò gạch. Mảnh đất dưới dốc ấy, bình thường nước sông uốn lượn chảy qua, sau cơn mưa nước dâng chảy xiết, bị cuốn thành một hòn đảo nhỏ. Tôi dọc theo bờ sông đi về bắc, chỉ thấy mặt sông ngày càng rộng. Ký túc xá của Mặc Tồn ở bờ bên kia, là dãy nhà ngói xám cuối cùng. Tôi đến đó nhìn, sông rộng ít nhất một trượng. Cây cầu nhỏ rộng bốn, năm thước trước kia, sớm đã bị cuốn trôi, xiêu vẹo nổi trên mặt nước hạ lưu. Mưa lất phất dày đặc, nối liền cả trời và đất; thế nhưng con sông rộng chừng một trượng trước mặt này, lại cắt đứt con đường đi. Tôi đứng ở bờ đông ngóng sang bờ tây, phòng ở của Mặc Tồn lại càng ở tít đầu tây của dãy chục gian phòng này. Tôi ngóng mãi ngóng mãi, chẳng thấy một bóng người; chợt nghĩ nhỡ có ai nhìn thấy, tôi há chẳng thành trò cười hay sao. Hết cách, tôi đành giẫm lên con đường lầy lội, đi ngược trở lại; vừa đi vừa tính toán. Sông càng về phía nam càng hẹp, nước cũng càng chảy xiết. Thế nhưng nếu đến chân dốc lò gạch nhảy lên hòn đảo nhỏ, nhảy qua sông, chẳng phải đã đến bờ bên kia rồi sao? Bên đó nhìn toàn là đá vụn gò hoang, vốn không có đường đi, thế nhưng nó hẳn là liền nhau, không có sông ngòi ngăn cách. Nhưng ven sông trơn trượt, đi ủng mưa không linh hoạt bằng đi giày vải; đất trên đảo nhỏ cũng không biết có kiên cố hay không. Tôi quay lại đó, chìa gậy chống sang thăm dò hòn đảo nhỏ đó, đất rất chắc chắn. Tôi cắm sâu gậy xuống, bám vào gậy nhảy lên đảo nhỏ, lại làm theo cách đó nhảy sang bờ bên kia. Dọc đường gồ ghề lởm chởm, một chân bùn, một chân nước, trải qua muôn vàn khó khăn trắc trở, vậy mà lại đến được trước cửa ký túc xá của Mặc Tồn.

Tôi đẩy cửa bước vào, Mặc Tồn giật mình.

– Sao em lại tới đây?

Tôi cười nói:

– Đến thăm anh thôi.

Mặc Tồn lo lắng mắng tôi một trận, giục tôi mau chóng quay về. Tôi cũng không dám ở lại lâu, bởi vì tôi đã xem đồng hồ, thời gian tốn trên đường dọc đi nhiều hơn bình thường gấp đôi không ngoa. Tôi lại sợ đảo nhỏ bị xôi mòn ngày càng nhỏ đi, tôi sẽ không qua được sông nữa. Bầu trời xám xịt lại tối sầm xuống, vượt qua cái hồ nước kia thì khó tránh khỏi sa vào bùn lầy.

Đúng lúc có người muốn qua lò gạch hướng tây đi “điểm trung tâm” có việc. Tôi bảo anh ấy rằng cầu đã bị cuốn trôi. Anh ấy nói không sao, đi về phía nam còn có lối đi khác. Tôi liền đi cùng đường với anh ấy. Mặc Tồn xỏ ủng mưa, chống ô, tiễn chúng tôi một đoạn đường. Đồng chí kia qua lò gạch đi hướng tây, còn tôi đi hướng đông. May là con đường đó đều là vừa mới đi qua, chỉ cần kiên nhẫn, cẩn thận, dạn dĩ một chút là được. Tôi đi đến nhà bếp của chúng tôi, trời đã tối mịt. Bữa tối đã qua, nhưng trong lán vẫn còn ánh đèn, vẫn có tiếng người. Tôi lén lút lướt qua nhà bếp như kẻ trộm, dùng bước chân nhanh nhất vượt qua vũng bùn để về phòng.

Tôi không sao nhớ nổi bữa tối hôm đó mình ăn thế nào; không nhớ nổi bản thân có giữ lại nửa chiếc bánh màn thầu, hay Mặc Tồn cho tôi ăn thứ gì; cũng không nhớ nổi có bị đói bụng hay không. Tôi chỉ tự may mắn vì không ngã xuống sông, không sa vào bùn lầy, không trượt ngã, cũng không bị lãnh đạo bắt gặp; đến cả đồng đội cùng phòng, cũng không hề phát hiện ra tôi đã làm chuyện khác thường gì.

Vào đông, toàn liên chúng tôi chuyển vào ngôi nhà mới tự xây, đội tuyên truyền quân sự muốn để chúng tôi trải qua một cái Tết thật trọn vẹn, ăn một bữa cơm tất niên thịnh soạn, tránh cho chúng tôi nỗi nhớ nhà da diết.

Sở Ngoại văn vốn tách ra từ Sở Văn học. Trong liên chúng tôi có mấy “lão đầu” của các nữ đồng chí (Mặc Tồn chính là “lão đầu” của tôi — mặc cho già hay không, chồng cứ gọi là “lão đầu”) ở bên liên của họ, liên chúng tôi đồng ý mời mấy vị “lão đầu” sang ăn chung bữa cơm tất niên. Những bậc thầy nấu nướng trong bếp ăn trổ tài hết sức, làm rất nhiều món: cá xông khói, gà om tương, thịt lợn kho tàu, bò sốt cà ri v.v. món nào cũng có đủ; lại có cả món rau trộn, món nào cũng rất ngon miệng. Mặc Tồn vui vẻ gia nhập nhóm vườn rau chúng tôi, quây quần bên chiếc bàn dài ăn một bữa tiệc thịnh soạn. Tiểu Khu dưới gầm bàn cũng ăn đến căng tròn cả bụng; tôi đoán cái đuôi của nó chắc cũng ngoảy đến mỏi nhừ rồi. Nhớ lại ngày Mặc Tồn sáu mươi tuổi, tôi cũng nhân tiện chúc mừng sinh nhật tuổi sáu mươi mụ của mình, chúng tôi chỉ mở một hộp thịt gà om. Hôm đó tuy tôi được nghỉ, nhưng anh ấy lại không được nghỉ. Ngày nghỉ ăn hai bữa, ngày không nghỉ ăn ba bữa. Tôi ăn sáng xong đến chỗ anh ấy, đến trưa vẫn ăn không nổi cơm, mà lại không đợi được đến tối đã phải về liên, cho nên chỉ đành gặm tạm mấy miếng màn thầu. Bữa cơm tất niên này, vừa có món ngon, lại vừa có rượu ngon; tuy hai chúng tôi không uống rượu, nhưng cũng cùng những người khác quên đi ưu phiền mà say sưa. Sau bữa tối tôi tiễn anh ấy một đoạn, vừa đi vừa trò chuyện phiếm, cho đến tận chỗ chiếc cầu máy kéo lật dưới sông, Mặc Tồn nói:

– Em về đi.

Anh ấy qua cầu đi hướng bắc, vẫn còn một nửa quãng đường.

Hôm đó là sau trận tuyết lớn, tuyết trên đường lớn đã tan, bùn lầy hơi khô, dẫm dưới chân mềm mềm, không trơn cũng không cứng. Thế nhưng con đường nhỏ phía bắc cây cầu thì tuyết vẫn chưa tan. Sắc trời đã tối mịt, tôi sợ Mặc Tồn cận thị nhìn không rõ đường — anh ấy xưa nay vốn không biết nhận đường — dứt khoát tiễn thẳng anh ấy về đến ký túc xá.

Trong tuyết trắng, đường mòn và ruộng đồng hòa làm một, rất khó phân biệt. Tôi dọc đường chú ý ghi nhớ từng dấu mốc, ví dụ như khúc cua nào có một khóm mấy cây to, mấy cây nhỏ, cành lá của cây có dáng vẻ thế nào; chỗ nào đường rẽ xiên xiên; chỗ nào tuyết đặc biệt dày, đó là mương bên ruộng, mặt trên là tuyết, giẫm xuống là bùn bán hòa tan, đường về nên tránh v.v.

Phòng của Mặc Tồn đã sáng trưng ánh đèn. Vì thời gian không còn sớm, tôi không dám ở lại, lập tức từ giã ra về. Một thanh niên ở bên cạnh nói: trời tối rồi, để cậu ấy tiễn tôi về. Tôi nghĩ đây là đêm giao thừa, cậu ấy đang ở trong căn phòng ấm cúng, nói cười rôm rả, gọi cậu ấy giữa đêm tối buốt giá tiễn tôi là việc làm phiền người ta. Cho nên tôi nói không cần, tôi quen đường rồi. Mặc Tồn được cậu ta nhắc như vậy, ngược lại đâm ra không yên tâm. Tôi liền khoác lác nói:

– Con đường này, ngày nào tôi chẳng đi hai bận! Hơn nữa tôi còn mang theo một chiếc đèn pin rất sáng đây này, không sợ đâu.

Thật ra con đường tôi đi lại mỗi ngày, chỉ là con đê bờ bắc và đường lớn đông tây bờ nam. Mặc Tồn cũng không biết chưa đầy nửa tiếng đồng hồ, thiên địa ngoài trời đã đổi màu, cảnh sắc trên con đường đó đã không còn giống như lúc chúng tôi cùng về nữa. Hơn nữa đi về hướng có ngôi nhà sáng đèn thì dễ tìm đường; còn từ nơi sáng đi vào chỗ tối lại là chuyện khác. Tôi kiên quyết không cần người tiễn, anh ấy cũng không miễn cưỡng nữa. Anh ấy tiễn tôi đến nơi có ánh đèn chiếu tới, tôi liền bảo anh ấy quay về.

Tôi tự cậy quen đi đường tối, đứng vững lại phân định phương hướng trước. Có người nói, nữ đồng chí phần lớn không phân biệt được phương hướng. Tôi nhớ hình như cuốn sách nào đó có nói: phụ nữ và gà mái, ra cửa là mất phương hướng. Đây có lẽ là sự xúc phạm đối với phụ nữ. Nhưng tôi quả thực là một sinh vật không phân biệt được phương hướng, thường hay “muốn đi thành nam lại nhìn thành bắc”. Mặc Tồn tuy không biết nhận đường, nhưng tôi lại phải dựa vào anh ấy để phân biệt phương hướng. Lúc này tôi cẩn thận phân định phương hướng: đi về tây nam, xiên qua khu rừng, bước lên con đường lớn bên rừng; đi về phía tây, đến chỗ khóm ba năm cây ấy, rồi rẽ về phía nam; qua cầu là đi thẳng về con đường lớn đã quen thuộc để về ký túc xá.

Thế nhưng tôi vừa ra khỏi phạm vi ánh đèn chiếu tới, liền rơi vào một màn tối mịt mờ. Trên trời không một chút ánh sao, dưới đất chỉ một mảnh trắng xóa; không nhìn thấy cây, cũng không nhìn thấy đường. Bật đèn pin lên, chỉ soi thấy thân cây ở gần xa. Tôi để mắt thích nghi trong bóng tối một lúc, rồi mở mắt nhìn kỹ, chỉ thấy một mảng tối mịt, một mảnh trắng xóa. Con đường mòn ngoằn ngoèo trong rừng, dựa vào ánh đèn của ký túc xá chỉ đường, trong hoàng hôn nhá nhem còn lờ mờ nhận ra được, lúc này thì hoàn toàn không thấy gì nữa. Tôi suýt định quay lại nhờ người tiễn. Nhưng nghĩ lại: khắp nơi là tuyết, thêm hai con mắt cũng chưa chắc tìm ra đường; huống chi người ta tiễn tôi về rồi, còn phải một mình quay lại nữa, chi bằng một mình tôi xông pha vậy.

Tôi tự tin lúc nhìn quanh bốn phía chân không hề di chuyển. Tôi liền liều mình, áng chừng hướng tây nam, cắm đầu bước thẳng vào chỗ tối. Giả như đi quá về phía tây, thì không ra khỏi rừng; tôi thà lệch về phía nam còn hơn. Dưới đất nhìn thì trắng xóa, giẫm xuống lại là bùn nhão. May mà dưới tuyết có chút cọng cao lương, dây cỏ đứt, lá rụng đại loại thế, cũng không đến nỗi quá trơn. Tôi cẩn thận chỉ đi về phía nam, có cây cản đường thì nhường sang tây. Tôi ngoảnh lại nhìn ánh đèn ký túc xá của Mặc Tồn, đã không thấy đâu nữa, cũng không biết bản thân đang ở phương trời nào. Đi một hồi, bỗng hụt chân, ngã nhúm xuống mương, giật mình thót tim; nhưng tôi lập tức nhớ ra bên con đường lớn ven rừng có một con mương vừa rộng vừa sâu, lúc này lao vào mương, mừng rỡ khôn xiết, vội bật đèn pin lên, tìm một chỗ có thể lên dốc, trèo lên con đường lớn ven rừng.

Trên đường lớn không có tuyết, rất dễ đi, có thể sải bước; thế nhưng phải kịp thời rẽ về phía nam. Nếu cứ đi thẳng, sẽ đến ngôi làng hàng xóm phía tây “điểm trung tâm”. Hai bên đường lớn trồng cây, chục bước một cây. Tôi chỉ thấy thân cây, không thấy cành lá, lại càng không thấy dáng vẻ cây cỗi thế nào. Dấu hiệu nhận biết lúc đi, chẳng thấy cái nào. Tôi chỉ sợ lỡ mất chỗ rẽ, thì không tìm thấy chiếc cầu lật máy kéo đó nữa. Rẽ muộn chi bằng rẽ sớm — rẽ muộn đi vào những thửa ruộng lớn liên tiếp, thì đủ để tôi quanh quẩn trong đó suốt đêm thâu. Cho nên tôi thấy có mấy cây túm tụm lại gần nhau, liền vội rẽ về phía nam.

Vừa rời khỏi đường lớn, tôi lại mất phương hướng; đi được mấy bước, phát hiện bản thân đang ở trong bụi cao lương. Tôi cứ đi thẳng về phía trước. Miễn là về phía nam, thế nào cũng đến bờ sông; đến bờ sông, thế nào cũng tìm thấy cây cầu đó.

Tôi từng nghe nói, có kẻ xấu ban đêm trốn trong ruộng cao lương; tôi cũng sợ chó hoang nghe tiếng lao vụt tới, cho nênểnh tai nghe ngóng động tĩnh xung quanh, rón rén bước đi, không làm lay động những chiếc lá khô của cây cao lương hai bên. Dưới chân rất lầy lội, nhưng không trơn. Tôi dùng năm giác quan, chỉ là không dùng đèn pin. Không biết đi bao lâu, bỗng thấy trước mặt chắn ngang một con đường, xa hơn nữa là bờ đê cao. Cuối cùng tôi cũng đến bờ sông! Chỉ là trời tuyết cộng thêm đêm tối, con đường quen thuộc cũng hoàn toàn xa lạ, không tài nào phân biệt được bản thân đang ở bờ đông hay bờ tây cây cầu — bởi vì phía tây cầu cũng có bờ đê cao. Giả như tôi đã ở phía tây cầu thì con sông đó càng đi về phía tây càng rộng, phải đi đến một lò gạch khác ở đầu tây “điểm trung tâm”, mới có thể rẽ sang bờ bên kia sông, rồi mới quay hướng đông để tìm ký túc xá của mình. Nghe nói gần đây có một học viên trường cán kiêm đã thắt cổ tự tử ở lò gạch đó. May là tôi đã không còn là kẻ nhát gan như trước nữa, nếu không thì dưới cầu có người chết đuối, trong lò có người thắt cổ, tôi đành phải vất vưởng bên bờ sông mà sợ chết khiếp. Tôi ước chừng bản thân tính nóng nội, nhất định là rẽ sớm quá, vẫn ở bờ đông, cho nên cứ đi về phía tây; dọc đường tìm kiếm, quả nhiên đã tìm thấy cây cầu đó.

Qua cầu tuy vẫn còn một nửa quãng đường, tôi sải bước phi nhanh, chẳng mấy chốc đã về đến nhà.

– Về rồi đấy à?

Đồng đội cùng phòng cười hớn hở nghênh đón, cứ như thể tôi vừa mới ra cửa đi dạo mấy bước. Trong căn phòng sáng rực ánh đèn, thật không ngờ vùng hoang dã tối tăm ngoài kia lại là một thế giới hoàn toàn khác.

Mùa xuân năm 1971, trường cán kiêm Học bộ đại chuyển gia, rời khỏi Huyện Tức dọn đến doanh trại của một đoàn nào đó ở Minh Cảng. Nhiệm vụ của trường cán kiêm, từ lao động chuyển thành “học tập” — học tập đấu tranh giai cấp chăng? Có người không hiểu “Học bộ” ám chỉ cái gì, lúc này mới bừng tỉnh: “Học bộ” chính là “Bộ học tập”.

Xem phim hình như cũng được coi là một hạng mục học tập, giống như lên lớp, không ai được phép trốn học (Mặc Tồn vì mắt kém, nhìn không rõ, nên được miễn giảm). Những buổi tối chiếu phim, sau bữa tối chúng tôi mỗi người xách một chiếc ghế đẩu xếp, xếp hàng ra quảng trường. Các liên có địa phận được chỉ định, mỗi người theo thứ tự đặt ghế xuống ngồi. Có khi sau cơn mưa, chỗ được chỉ định lầy lội, ghế đẩu đành phải đặt lên bùn nhão; hơn nữa lại không chắc trời có mưa nữa hay không, phải mang theo dụng cụ che mưa. Trời nóng lên, còn có đàn muỗi lớn phòng đằng nào cũng không xuể. Bất quá lên lớp kiểu này không phải thi cử. Tôi mở mắt thì nhìn một chút, nhắm mắt thì nghỉ ngơi một chút. Phim cũng chỉ có mấy bộ ấy, lần này nhắm mắt không xem được phần nào, tha hồ có cơ hội bù đắp sau này. Về ký túc xá có ba mươi người chung một phòng, mọi người tranh nhau bàn tán rôm rả, tôi chỉ cần nghe ké là được, không cần phải để lộ sự thiếu hiểu biết của mình.

Có một lần tôi xem xong một bộ phim, theo hàng ngũ về ký túc xá. Tôi mở mắt tiếp tục làm giấc mơ của riêng mình, cúi đầu chỉ nhìn gót chân người đằng trước mà đi. Bỗng thấy hàng ngũ đằng trước dần tản ra, tôi đã đến hành lang ký túc xá, nhưng không phải ký túc xá của mình. Tôi vội vã lùi lại hàng ngũ, hàng ngũ chỉ còn lại cái đuôi; chẳng mấy chốc, những người này đều lần lượt bước vào ký túc xá. Tôi không biết ký túc xá của mình ở đâu, hỏi liền mấy người, đều nói không biết. Họ ai nấy bận rộn về phòng, cũng không có thời gian để ý đến tôi. Tôi bỗng giống như kẻ lưu lạc xứ người, trơ trọi không nơi nương tựa.

Ngước nhìn lên chỉ thấy đầy trời sao vần vũ. Tôi nhận ra mấy chòm sao; những chòm sao này lúc này đều lộn xộn vị trí. Tôi không biết dựa vào vị trí các chòm sao để phân biệt phương hướng, chỉ dựa vào vị trí đảo lộn mà biết đã cách rất xa ký túc xá của mình. Doanh trại rất lớn, quanh quẩn gần xa không biết có bao nhiêu dãy doanh trại, bên trong đều sáng đèn. Những con đường dọc ngang khúc khuỷu trong doanh trại, cũng không biết có bao nhiêu. Doanh trại đều một kiểu dáng, giả như tôi chạy loạn trên những con đường dọc ngang khúc khuỷu đó, chẳng mấy chốc các ký túc xá tắt đèn, lại càng không có cách nào tìm được ký túc xá của mình nữa. Hiện nay chỉ có một cách: tìm được con đường lớn lát đá phía nam doanh trại, thì sẽ nhận ra đường về. Quảng trường chiếu phim cách đường lớn không xa, ký túc xá lạ lẫm mà tôi đi nhầm vào, ước chừng cách quảng trường cũng không xa; doanh trại phần lớn quay mặt về hướng nam, sao Bắc Đẩu ở phía sau nhà — điểm này tôi còn biết. Tôi chỉ cần quay lưng lại với ký túc xá này đi về hướng nam, tìm con đường lớn; cho dù có đi đường vòng, thế nào cũng tìm được ký túc xá của mình.

Tôi sợ lỡ mất thời gian, không kịp theo đường nhỏ ngoằn ngoèo mà đi, chỉ mải đi đường tắt, thẳng hướng nam mà đi; không ngờ lại bước vào vườn rau của doanh trại. Vườn rau của doanh trại không giống vườn rau của chúng tôi ở Huyện Tức. Đất ở đây phì nhiêu, các luống rau mọc dày đặc sum suê, che khuất cả ranh giới từng luống. Tôi biết cứ cách một hai luống ở đây lại có một cái giếng phân để ủ phân xanh; giếng rất sâu. Cách đây không lâu, cũng là đi xem phim về, một nam thanh niên cao lớn trong liên chúng tôi đã sẩy chân ngã xuống giếng. Cậu ấy trèo lên được, mặc cho cái lạnh, ở “phòng nước” — phòng rửa mặt của chúng tôi — xối xả một hồi lâu mới lén lút về phòng, không làm ầm ĩ cho ai nấy đều biết. Tôi mà ngã xuống giếng, chắc chắn là chìm nghỉm đến tận đáy, kêu cứu cũng chẳng có ai ứng cứu. Nỗi khổ xối nước lạnh, hoàn toàn không cần phải tính đến.

Lúc đầu tôi vì đi theo hàng ngũ nên không cần đèn pin, cũng không chú ý thay pin. Đèn pin của tôi mờ mịt không có ánh sáng, chỉ soi thấy lá rau đầy mặt đất, cũng chẳng biết là rau gì. Tôi muốn học cách Trư Bát Giới đi trên băng, tuy không có đòn gánh để bắc ngang vai, tôi có thể ôm ngang ghế đẩu, phóng đại thân hình của mình. Thế nhưng nếu tôi rơi xuống nửa thân dưới, kêu cứu không ai thấu, lại còn phải rơi xuống giếng phân nữa. Tôi không dám vung vẩy nghĩ linh tinh nữa, một tay xách ghế đẩu, một tay cầm đèn pin, từng bước một phải đá đám lá rau ra, chậm rãi đặt chân xuống, trong lòng tuy gấp gáp, nhưng lại nơm nớp lo sợ, như đứng bên vực sâu, một bước cũng không dám cẩu thả. Mãi mới đi qua mảnh đất trồng rau này, vượt qua một con mương vẫn là đất trồng rau. Cứ như bị ác mộng vậy, đi mãi đi mãi, mãi mà không ra khỏi mảnh đất trồng rau này.

May là phương hướng không sai, tôi ra khỏi vườn rau, vượt qua con đường nhỏ trải xỉ than, vượt qua đám cỏ dại, đống đá, cuối cùng cũng bước lên con đường lớn lát đá. Tôi lập tức sải bước phi nhanh, chạy mấy bước, đi mấy bước, rồi rẽ hướng bắc, một mạch chạy thẳng về ký túc xá. Trong nhà đèn vẫn chưa tắt, nhóm người đi vệ sinh cuối cùng vừa về phòng, có thể thấy tôi đi trong vườn rau chưa đến hai mươi phút. May là không đi đường vòng, tôi có vẻ như chỉ đi vệ sinh rồi về phòng, không ai ngờ rằng tôi lại mở mắt đi nhầm hàng ngũ. Giả như tôi ngã xuống giếng phân, thì phải đến lúc người ta nhìn thấy mới phát hiện ra ư?

Tôi nằm trên chiếc giường nhỏ cứng đơ, chắc nịch, cảm thấy sự an ổn hưởng mãi không hết.

Có một đồng nghiệp kém tôi hai tuổi, sau bữa tối ngoan ngoãn ngồi trên ghế đẩu xem phim, lúc tan rã cậu ấy vì xuất huyết não đã không thể cử động được nữa, cứu chữa không kịp, liền qua đời. Từ đó người lớn tuổi có thể được miễn lớp học chiếu phim buổi tối. Tôi thường nghĩ, giả như đêm hôm đó tôi kêu cứu trước ký túc xá lạ lẫm, có phải có thể để người lớn tuổi sớm được miễn môn học này không? Chỉ sợ tiếng kêu cứu của tôi vẫn chưa đủ bi thảm, chỉ có thể trở thành tài liệu phản diện mà thôi.

Ba việc được ghi lại, đối với tôi, coi như là mạo hiểm, kỳ thực chẳng tính là mạo hiểm gì; trừ phi cực kỳ không may, mới biến thành mạo hiểm mà thôi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Dương Giáng

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.