——Câu chuyện của Ngô Tinh Mỹ
Năm tháng trước, trong một bữa tiệc cua tổ chức để mừng Tết Âm lịch của Trung Quốc, mẹ đã tặng tôi một chiếc bùa hộ mệnh. Đó là một miếng ngọc treo trên sợi dây chuyền vàng, miếng ngọc này không phải do tự tay tôi chọn. Nó to khoảng bằng ngón út của tôi, pha lẫn hai màu xanh và trắng, được chạm trổ tinh xảo với vô số hoa văn. Theo mắt tôi thấy, làm bùa hộ mệnh thì nó không thích hợp cho lắm, kích cỡ quá to, màu sắc lại quá xanh, hơn nữa còn quá mức cầu kỳ. Thế nên tôi tiện tay bỏ nó vào một chiếc hộp sơn mài của mình, sau đó cũng quên bén đi.
Thế nhưng mấy ngày nay tôi lại nhớ tới nó. Tôi không hiểu rốt cuộc nó có ý nghĩa gì, bởi vì mẹ tôi đã qua đời ba tháng trước, không còn ai giải thích ý nghĩa của nó cho tôi nghe nữa. Ngày mẹ qua đời, đúng vào sáu ngày trước sinh nhật lần thứ ba mươi sáu của tôi.
Bây giờ ngày nào tôi cũng đeo miếng ngọc này, tôi nghĩ các họa tiết chạm khắc trên đó nhất định có ý nghĩa đặc biệt của chúng, bởi vì những đường nét và hoa văn ấy đối với người Trung Quốc thường mang một ngụ ý nào đó. Dĩ nhiên, tôi hoàn toàn có thể thỉnh giáo dì Linda, dì An Mẹ hoặc những người bạn Trung Quốc khác, nhưng tôi đinh ninh rằng, những gì họ kể sẽ chẳng cách nào sánh được với điều mà mẹ tôi muốn biểu đạt. Dù cho họ có giải thích với tôi rằng, hoa văn quả lựu trên đó biểu thị việc mẹ hy vọng tôi có thể con đàn cháu đống, nhưng con đàn cháu đống rồi thì sao chứ?
Do đó, tôi cũng đặc biệt chú ý đến những món đồ trang sức tương tự trên cổ người khác — loại vật treo lớn chừng hai thoi như của tôi, có hình bầu dục, xanh ngắt một màu. Nhưng rất nhiều người trong chúng ta, dẫu đeo nó trên người lại hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa của nó.
Ví dụ như cuối tuần trước ở một quán bar, tôi phát hiện có một nhân viên phục vụ cũng treo một chiếc tương tự trên cổ, tôi liền chỉ vào chiếc ở cổ mình và hỏi cậu ta: "Thứ này của anh ở đâu ra thế?"
"Mẹ tôi cho." Cậu ta nói.
Tôi hỏi cậu ta, tại sao mẹ cậu ta lại cho cậu ta thứ này. Dĩ nhiên, điều đó đã xâm phạm quyền Riêng tư của người khác, hệt như một kẻ tò mò chuyện thiên hạ.
Loại câu hỏi này, chỉ có thể do một người Trung Quốc hỏi một người Trung Quốc khác. Dù sao thì trong một đám đông da vàng tóc đen, giữa hai người Trung Quốc với nhau mới có cảm giác như người trong nhà.
"Sau khi tôi ly hôn, bà đưa cái này cho tôi. Chắc là bà có lý do riêng của mình."
Nhưng tôi lại nghe ra từ lời cậu ta rằng, chính bản thân cậu ta cũng hoài nghi về ý nghĩa của chiếc mặt dây chuyền này.
Ngay tại bữa cơm năm mới năm ngoái, mẹ đã luộc tổng cộng mười một con cua, mỗi người một con xong xuôi vẫn có thể có một người được ăn thêm một con. Đó là món mà bà cùng tôi đi mua ở phố Tàu. Nơi ở của bố mẹ tôi chỉ cách công ty quảng cáo nơi tôi làm việc có sáu con phố, thế nên trong tuần, tôi thường ghé qua chỗ họ hai ba lần sau giờ tan làm, mẹ luôn nấu sẵn một bàn món ăn ngon đợi tôi.
Tết Âm lịch năm đó rơi vào thứ Năm, thế nên sau khi tan làm sớm, tôi liền đi cùng mẹ đi sắm đồ Tết.
Mẹ đã bảy mươi mốt tuổi nhưng vẫn đi nhanh như bay, thân hình nhỏ nhắn ưỡn thẳng tắp, nách kẹp một chiếc túi nhựa màu mè, còn tôi thì kéo chiếc xe đẩy nhỏ đi theo sau bà.
Mỗi lần chúng tôi đi dạo ở phố Tàu, bà luôn phải bàn tán một chút về những người phụ nữ Trung Quốc khác. "Phu nhân Hồng Kông." Lần đó nhìn thấy hai người phụ nữ ăn mặc chưng diện, mặc áo khoác lông chồn màu đen đi ngang qua, bà liền lẩm bẩm một câu bằng giọng thấp tè. Khi một người phụ nữ khác đội mũ len đan tay, mặc áo sơ mi nam đi qua, bà lại khinh miệt liếc mắt: "Người Quảng Đông, nhà quê." Còn bản thân bà thì mặc chiếc quần vải sợi hóa học màu xanh nhạt, bên trên là chiếc áo len đỏ rực, khoác ngoài một chiếc áo khoác phao màu xanh lá cây dành cho trẻ em — vô cùng khác người. Bà đến Mỹ vào năm 1949. Kể từ năm 1944, sau khi trốn chạy khỏi khói lửa chiến tranh ở Quế Lâm, bà đi ngược lên Trùng Khánh, rồi kết hôn với bố tôi ở đó, sau đó họ lại bươn chải đến Thượng Hải, rồi lại trốn khỏi Thượng Hải sang Hồng Kông, rồi từ đó đáp thuyền đến San Francisco. Bà đã bôn ba qua rất nhiều nơi.
Vừa đi, bà vừa phàn nàn với tôi về người thuê nhà ở tầng hai của chúng tôi: "...Đúng là, muốn vứt cũng vứt không đi mà..." Ngay từ hai năm trước, bà đã lấy cớ có họ hàng người Trung Quốc đến ở để đuổi họ đi, nhưng cặp đôi thuê nhà đó lại phớt lờ bà, nói rằng họ sẽ đóng tiền nhà đúng hạn chứ nhất định không chuyển đi: Trừ khi họ hàng người Trung Quốc của bà thực sự đến. Kể từ đó trở đi, tôi đành phải kiên nhẫn nghe mẹ kể tội hai người thuê nhà kia.
"Gã đàn ông đó, mỗi lần đổ rác là dùng ngần ấy túi rác, đây không phải là cố tình muốn làm tôi tốn tiền đấy chứ?"
Vị phu nhân đó là một người phụ nữ tóc vàng, mang khí chất nghệ sĩ, có lần từng tự tay sơn bức tường trong phòng mình thành màu đỏ và màu xanh lá cây đáng sợ. "Tháng là quá khủng khiếp!" Mẹ nhắc đến vẫn còn sợ hãi khôn nguôi. "Mà một ngày họ không biết tắm mấy lần, ít nhất cũng phải hai ba bận, xối xả, cả ngày chỉ nghe thấy tiếng vòi nước chảy róc rách!"
"Tuần trước," bà càng nói càng tức giận, "Tên ngoại bang đó còn vu khống tôi," bà một mực gọi những người da trắng tóc đen là ngoại bang, "Nói rằng tôi trộn thuốc độc vào thức ăn cho mèo nhà hắn, muốn đầu độc mèo của họ."
"Con mèo nào cơ?" Tôi từng nhìn thấy thật, thường có một con mèo đực tai to nhảy ra ngoài cửa sổ nhà bếp nhà tôi, nhe nanh múa vuốt với mẹ tôi.
"Con mèo chết tiệt này, thường xuyên vênh đuôi tè bậy ngay trước cửa nhà chúng ta, hôi muốn chết!" Mẹ không ngớt lời oán trách.
Có một lần, tôi nhìn thấy bà xách một ấm nước sôi sùng sục, đuổi theo con mèo đó ở lối cầu thang. Thế nên tôi hoài nghi nói không chừng bà thực sự sẽ làm ra chuyện thế này.
"Cuối cùng con mèo đó thế nào rồi?"
"Nó đi rồi, biến mất rồi!" Bà cười ha hả đầy hả hê.
Ở Stockton của phố Tàu, chúng tôi hầu như đi dạo qua từng cửa hàng hải sản để tìm những con cua tươi ngon nhất.
"Tuyệt đối không được chọn cua chết," mẹ dùng tiếng Trung cảnh cáo tôi, "Đến hành khất cũng không ăn cua chết đâu."
Tôi dùng bút chì chọc vào giỏ cua để khua khoắng chúng, xem chúng có còn sống khỏe mạnh linh hoạt không. Một con cua trong lúc giãy giụa đã làm gãy mất một chiếc càng.
"Bỏ lại đi," mẹ ở bên cạnh nhẹ nhàng ra hiệu cho tôi, "Ăn cua khuyết càng vào dịp năm mới là không may mắn."
Nhưng một người đàn ông mặc đồng phục trắng đang trao đổi gì đó với mẹ bằng tiếng Quảng Đông, tiếng Quảng Đông của mẹ tệ hệt như tiếng phổ thông của bà vậy. Mặc kệ, hai người trò chuyện hồi lâu, con cua khuyết càng đó cùng với chiếc càng gãy của nó liền bị nhét tuột vào túi của chúng tôi.
"Không sao đâu," mẹ tự tròn lý lẽ, "Con cua khuyết càng này được xem như quà khuyến mãi cho chúng ta."
Năm tôi lên tám tuổi, trong bữa tiệc sinh nhật do mẹ thết đãi, cũng từng ăn cua một lần. Trong đó có một con cua đã nảy sinh tình cảm với tôi, nó sẽ bò theo sự chỉ dẫn bằng bút chì của tôi suốt dọc đường, nhưng còn chưa kịp để tôi đặt tên cho thú cưng mới này, mẹ đã ném nó vào nồi nước sôi luộc chín. Tôi sợ hãi trừng trừng nhìn nhiệt độ của chiếc nồi lớn cứ thế tăng lên, nghe rõ mồn một tiếng chúng giãy giụa bên trong, tôi nhìn thấy một chiếc càng cua đỏ chót vươn ra từ nắp nồi, tôi thét lên một tiếng. Tôi cầu mong chúng không có đủ trí thông minh để phân biệt sự khác nhau giữa việc tắm nước nóng và việc bị luộc chín từ từ.
Để ăn mừng năm mới của Trung Quốc, mẹ đã đặc biệt mời người bạn già của bà là dì Linda và vợ chồng ông Cung Điền. Không cần hỏi thì mẹ cũng biết đám trẻ nhà họ Cung chắc chắn cũng sẽ đi theo. Ý tôi là những đứa con của họ, Vincent đã ba mươi tám tuổi mà vẫn sống cùng bố mẹ, và con gái họ là Vệ Phất Lai, tuổi xấp xỉ tôi. Vincent gọi điện đến hỏi xem cậu ta có thể dẫn bạn gái Lisa Lem đến không. Vệ Phất Lai thì nói muốn dẫn cả vị hôn phu Rich của cô ta đến cùng. Rich cùng làm việc với cô ta ở một công ty đại lý thuế. Cô ta còn hỏi xem nhà bố mẹ tôi có máy quay phim không, bởi vì cô ta muốn dẫn cả Susanna bốn tuổi do cô ta sinh với người chồng trước đi cùng. Ngộ nhỡ Susanna ngồi không yên thì có thể bật phim "Pinocchio" cho con bé xem. Đồng thời, mẹ nhắc nhở tôi nên mời cả thầy Chung dạy piano của tôi tới: Ông ấy vẫn sống ở chỗ cũ.
Cứ như vậy, cộng thêm bố mẹ tôi và tôi nữa là tổng cộng mười một người. Nhưng lúc đó mẹ chỉ tính suất của mười người. Bởi vì bà cho rằng Susanna rốt cuộc chỉ là một đứa trẻ, không thể tính con bé vào được, ít nhất là xét về mặt món cua thì không có phần của con bé. Nhưng mẹ lại không ngờ rằng, Vệ Phất Lai không hề nghĩ như vậy.
Một đĩa cua luộc đỏ au vừa được dọn lên bàn, Vệ Phất Lai lập tức gắp cho con gái mình con cua ngon nhất, chắc thịt nhất. Tiếp đó, lại đặt con ngon nhì vào đĩa của vị hôn phu Rich, và con ngon thứ ba thì giữ lại cho chính mình. Cô ta làm mấy chuyện này vô cùng sành sỏi. Bởi vì từ sớm cô ta đã học được mánh khóe chọn cua này từ mẹ mình. Cứ thế suy luận ra, mẹ cô ta dĩ nhiên cũng chọn cua ngon cho chồng, cho con trai và bạn gái của con trai, rồi cho cả chính mình. Đến lượt mẹ tôi, trong đĩa vẫn còn lại bốn con cua, mẹ gắp con trông béo nhất trong bốn con bỏ vào bát ông Chung. Bởi vì ông ấy đã gần chín mươi tuổi, hoàn toàn xứng đáng nhận được sự kính trọng như vậy. Tiếp đó, bà gắp con ngon thứ nhì đưa vào đĩa của bố tôi. Bây giờ, trong đĩa chỉ còn lại hai con cua, trong đó có một con chính là con cua cụt càng thứ mười một kia.
Mẹ bưng đĩa đựng cua đó đến trước mặt tôi: "Cầm lấy đi, nguội mất rồi."
Tôi không thích ăn cua cho lắm. Kể từ năm tám tuổi nhìn thấy con cua sống sờ sờ bị luộc thành màu đỏ tươi, tôi liền không còn chút hứng thú nào với cua nữa. Nhưng tôi không thể từ chối món ăn do mẹ đưa tới, bởi vì đây thường là một cách thể hiện tình yêu của những người mẹ Trung Quốc. Tình yêu của họ dành cho con cái thường không thể hiện qua những cái ôm hay nụ hôn, mà là sự kiên định không ngừng nghỉ nấu chè trôi nước, nấu mề vịt khô và cua cho chúng...
Tôi nghĩ, đáng lẽ tôi nên lấy con cua cụt càng đó. Thế nhưng mẹ lại lớn tiếng ngăn cản tôi. "Không... Không, con chọn con kia kìa. Mẹ ăn không nổi nữa rồi."
Bát của mỗi người trên bàn đều vô cùng náo nhiệt: đập vỏ cua, bóc thịt cua, duy chỉ có chiếc đĩa trước mặt mẹ là trông quạnh quẽ. Trên bàn ăn, chỉ có một mình tôi chú ý thấy mẹ cạy vỏ cua ra trước, đưa mũi lên ngửi ngửi, rồi bưng đĩa đi vào nhà bếp. Đợi khi bà bước ra lần nữa thì đĩa cua đã biến mất.
Mọi người ăn uống vui vẻ, câu chuyện cũng được khơi mào.
"Tố Vân," dì Linda dùng một chiếc càng cua chỉ vào chiếc áo len đỏ rực trên người mẹ tôi: "Sao chị lại chọn màu này? Chị không mặc được màu này đâu, trông trẻ quá hóa lố đấy."
Mẹ lại coi câu nói xui xẻo này như thuốc bổ mà nuốt trôi. "Tôi mua ở K-mart đấy, mười chín đồng, còn hời hơn tự đan ấy chứ."
Dì Linda gật đầu, ra vẻ với cái giá này thì màu sắc đó vẫn có thể châm chước được. Tiếp đó, dì ấy lại dùng càng cua chỉ vào người con rể tương lai của mình là Rich, nói: "Ôi chao, nó cứ không biết ăn đồ Trung Quốc thế đấy."
Vệ Phất Lai liền bật ngửa lại ngay lập tức: "Cua có phải là món ăn của riêng Trung Quốc đâu." Chà chà, cái điệu bộ ấy vẫn y hệt như hai mươi lăm năm trước, cô ta cũng dùng chính điệu bộ đó mà nói với tôi: "Cậu có phải là thần đồng như tớ đâu."
Dì Linda bực bội liếc con gái một cái: "Con dựa vào đâu mà nói đó không phải là món Trung Quốc?" Tiếp đó, dì ấy lại quay sang Rich, dùng một giọng điệu đầy ra vẻ hiểu biết nói, "Sao con lại cứ chừa lại phần ngon nhất không ăn thế?"
Rich chỉ cười ha hả, hoàn toàn chẳng thấy có gì gọi là lạ lẫm cả. Tôi phát hiện màu da của cậu ta rất giống với con cua trong đĩa của mình. Lúc cậu ta cười ngớ ngẩn, dì Linda dùng đũa gắp phần gạch cua màu cam cho cậu ta: "Này, món này là ngon nhất đấy."
Vệ Phất Lai và Rich làm mặt quỷ với nhau, còn Vincent thì nói nhỏ với Lisa: "Đồ ngốc!" rồi cười khúc khích.
Chú Cung Điền hít hít mũi, bắt đầu chuẩn bị kể chuyện cười. Nhìn là biết chú đã tự luyện tập trong lòng không biết mấy lần rồi.
“Tôi nói với con gái rằng, này, sao mà nghèo thế nhỉ? Gấy với người giàu đi chứ.”① Nói xong, chú tự cười hì hì to nhất. Sau đó dùng cùi chỏ huých Lisa đang ngồi bên cạnh. “Này, nghe hiểu chưa? Nó sắp kết hôn với anh chàng Rich này rồi đấy. Là tôi bảo nó thế đấy, lấy người giàu vào!”
① Rich trong tiếng Anh có nghĩa là “giàu có”. — Chú thích của người dịch
“Kiểu tóc của cậu trông được đấy chứ.” Vệ Phất Lai với qua bàn, nói với tôi.
“Cảm ơn. Thợ cắt tóc của tôi, David, thường làm tôi rất hài lòng.”
“Ý cậu là, cậu vẫn làm tóc ở tiệm cắt tóc trên phố Mott đấy á?” Vệ Phất Lai kinh ngạc nhướng cao lông mày, “Cậu không sợ à?”
Tôi bị cô ta nói cho sợ hãi vô cùng, nhưng ngoài miệng lại nói: “Sợ cái gì chứ? Anh ấy rất được mà!”
“Ý tớ là... đời sống của anh ta rất phóng túng. Anh ta có thể bị AIDS, vậy mà lại cắt tóc cho cậu... có lẽ tớ hơi nhạy cảm thái quá, nhưng cứ khiến người ta không yên tâm...”
Lập tức, tôi chỉ cảm thấy trên đầu mình phủ đầy vi khuẩn.
“Cậu nên để thợ cắt tóc của tớ cắt thử cho xem,” Vệ Phất Lai lại nói tiếp, “Tay nghề của ngài Lawrence thì khỏi phải bàn rồi. Tất nhiên, mức phí của ông ấy sẽ khiến cậu thấy không quen đâu.”
Tôi cảm thấy mình bị sỉ nhục. Cô ta luôn thích ám toán người khác như thế, từ trước đến nay vẫn vậy. Bởi vì cô ta là nhân viên đại lý thuế, có đôi khi tôi chỉ đơn thuần hỏi cô ta một thắc mắc liên quan đến thuế má, cô ta cũng sẽ vòng vèo lôi ra một đống lý lẽ.
“Tớ thật sự không muốn bàn đến những vấn đề thuế má này ngoài văn phòng của tớ đâu. Vấn đề này bắt buộc phải thảo luận đàng hoàng ở văn phòng cơ. Nếu tớ cứ vừa ăn cơm vừa tùy tiện qua loa bàn qua với cậu như thế này, mà cậu lại coi đó là thật để làm theo thì không hay đâu. Bởi vì cậu vốn không cung cấp cho tớ đầy đủ tài liệu của mình...” Ý trong lời nói giống như thể tôi cố tình muốn bớt xén khoản phí tư vấn này của cô ta vậy.
Trong bữa tiệc cua hôm đó, cô ta công khai châm chọc mái tóc của tôi như thế để thể hiện sự cao sang tinh tế của bản thân, quả thực đã khiến tôi tức điên lên được. Không được, tôi cũng phải cho cô ta biết tay mới được. Vừa hay với tư cách là một người viết quảng cáo, tôi từng viết một bài quảng cáo cho công ty nơi cô ta làm việc, nhưng bây giờ đã hơn ba mươi ngày rồi mà họ vẫn chưa thanh toán thù lao cho tôi, tôi liền dùng chuyện này để phản công cô ta.
Tôi nặn ra một nụ cười mỉa mai và nói: “Tôi thì trả nổi phí cắt tóc của ngài Lawrence nhà cậu đấy, chỉ có điều là quý công ty đừng có trì hoãn tấm séc nên trả cho tôi là được.” Tôi rất vui mừng khi thấy Vệ Phất Lai bị tôi chặn họng đến mức cứng họng, mặt đỏ bừng lên.
Tôi tiếp tục hả hê trút hết nỗi bực dọc: “Đúng là trơ trẽn. Một công ty lớn như thế mà lại không thể trả thù lao cho người ta đúng hạn. Vệ Phất Lai, sao cậu lại có thể vui lòng làm việc trong một công ty keo kiệt bủn xỉn như vậy chứ?”
Khuôn mặt cô ta lập tức sầm xuống, không nói một lời.
“Thôi nào thôi nào, các cô gái, đừng cãi nhau nữa!” Bố ở bên cạnh ra mặt giảng hòa. Trong mắt bố, chúng tôi vẫn chỉ là hai đứa trẻ con tranh giành xe ba bánh và bút sáp màu.
“Được rồi, không bàn chuyện này nữa.” Vệ Phất Lai bình tĩnh nói.
Nhưng tôi không hề muốn bỏ qua như vậy: “Vậy chúng ta thống nhất nhé, sau này ở trên điện thoại, cậu cũng không được dùng cái giọng điệu này để nói chuyện với tớ.”
Vệ Phất Lai quay đầu nhìn Rich, còn anh ta thì chỉ nhún vai. Sau đó cô ta thở dài, nói:
“Được rồi, Quỳnh, nói thật với cậu nhé. Nói thế nào nhỉ? Dù sao thì, tài liệu mà cậu viết, công ty chúng tôi có lẽ sẽ không nhận đâu.”
“Không thể nào. Lúc đó cậu nói nó rất có giá trị cơ mà.”
Vệ Phất Lai lại thở dài. “Cái đó tớ có nói. Chỉ là tớ không muốn làm cậuụt hứng quá lớn. Tớ vẫn luôn cố gắng để công ty có thể tiếp nhận nó, nhưng xem ra bây giờ thì không khả thi lắm.”
Thế là, chúng tôi lại bắt đầu hiệp đấu công kích lẫn nhau thứ hai.
“Nhưng đây chỉ là bản thảo thôi mà,” tôi nói, “Cái gọi là bản thảo thường thì tương đối thô sơ, tớ còn phải sửa lại nữa chứ.”
“Nhưng mà, Quỳnh...”
“Tớ có thể sửa lại một lần nữa, miễn phí đánh máy lại cho các cậu một lần nữa.”
Nhưng Vệ Phất Lai cứ làm như không nghe thấy. “Tớ sẽ nói giúp cậu với họ xem sao, để họ ít nhất cũng trả cho cậu một khoản phí nhuận bút từ chối, bởi vì dù sao cậu cũng đã tốn kém tâm sức và thời gian vì việc này.”
“Cậu chỉ cần nói cho tớ biết họ không hài lòng ở đoạn nào, tớ có thể sửa lại, tớ có thể đọc cho cậu nghe từng dòng một, rồi sửa lại từng dòng.”
“Quỳnh — tớ không thể,” Vệ Phất Lai mang vẻ lạnh lùng từ chối người ngàn dặm, “Việc này rất khó. Tớ có thể khẳng định là cậu làm rất xuất sắc, nhưng chúng ta là một thương hiệu lớn, chúng ta có phong cách và gu thẩm mỹ của riêng mình.” Vừa nói, cô ta vừa giơ tay vỗ vỗ ngực mình, giống như bản thân cô ta có thể đại diện cho công ty vậy.
Ngay sau đó, cô ta mỉm cười nói: “Ý tớ là, Quỳnh,” cô ta bắt đầu nói với giọng điệu của một tổng đài viên tiêu chuẩn, “Vì nhu cầu thuế má của hôm nay, ngày mai... chúng ta phải xây dựng ba chữ ‘cần’ và ba chữ ‘đặc điểm’... phải xây dựng phong cách và hình ảnh của chính mình...”
Cô ta chọc cho mọi người cười ồ lên. Điều tồi tệ là tôi nghe thấy mẹ nói với Vệ Phất Lai rằng: “Này, tác phong với hình ảnh ấy à, cái đó có dạy cũng không học được đâu, cái đó là bẩm sinh đấy. Lấy ví dụ như con bé Quỳnh đi, nó đâu có tháo vát được như cháu, cái này hoàn toàn là do bẩm sinh đấy.”
Thật chết tiệt, tôi lại một lần nữa bị Vệ Phất Lai đè bẹp, hơn nữa câu nói đó lại thốt ra từ miệng mẹ tôi. Tôi đành gượng nạo ra một nụ cười không tự nhiên, đứng dậy giả vờ dọn dẹp bàn ăn. Lúc này tôi mới phát hiện ra, mấy chiếc bát mà mẹ dùng, một số cái trên vành đã có vết mẻ. Tôi rất thắc mắc, tại sao mẹ không dùng bộ bát mới mà tôi mua cho bà từ năm năm trước chứ.
Trên bàn bừa bộn một đống vỏ cua càng cua. Vệ Phất Lai và Rich châm thuốc lá, tiện tay kéo một chiếc vỏ cua sang làm gạt tàn thuốc.
“Vệ Phất Lai,” dì Linda lên tiếng, “Cháu bảo Quỳnh thử lại xem sao, con bé này chỉ mới làm bản thảo thôi, tự nhiên là vẫn còn chỗ chưa đủ.”
Mẹ ở bên cạnh ăn cam, phát ra tiếng lạo xạo.
“Loại chuyện này chính là tốn thời gian mà thôi.” Dì Linda nói tiếp.
“Cho nhiều tính từ vào một chút,” chú Cung Tấn ở bên cạnh khuyên tôi, “Cho nhiều tính từ vào, chắc chắn không sai được đâu.”
Tôi bưng đĩa vào bồn rửa chén, bật cười.
Hầy, tôi chính là cái loại người đó đấy, tôi chỉ là một người viết quảng cáo nhỏ nhoi, làm việc ở một công ty quảng cáo nhỏ, viết từ quảng cáo cho từng khách hàng: “Ở đây chúng tôi bán thịt mới ra lò, nóng hổi xì xèo...” “Nó có ba cái ‘tốt’, ba cái ‘hay’... nói chung là có ba lý do đáng để mua thịt của họ. Ngoài ra còn có bộ biến tần đa kênh T-1, máy xay thịt... vân vân.”
Tôi vặn vòi nước bắt đầu rửa bát, đồng thời cũng không còn giận Vệ Phất Lai nữa. Tôi cảm thấy làm như vậy vô nghĩa tột cùng, quá ư là ngu ngốc.
Tôi bưng chiếc đĩa của mẹ lên, con cua cụt càng đó vẫn nằm ở đó. Khách đã tản đi hết, mẹ cũng bước vào nhà bếp.
“Một bữa ăn rất ngon, cảm ơn mẹ.” Tôi nói.
“Không ngon lắm đâu.” Bà vừa nói vừa dùng tăm xỉa răng.
“Con cua kia của mẹ bị làm sao thế? Sao mẹ không ăn?”
“Đó là cua chết,” bà nói, “Đến ăn mày còn chẳng thèm ăn cua chết nữa là.”
“Sao mẹ biết đó là cua chết?”
“Lúc cho vào nồi là mẹ đã biết rồi, chân của nó rũ rượi không chút sức lực, há hốc miệng ra, trông hệt như người chết vậy.”
“Đã biết nó chết rồi, sao mẹ còn cho vào nồi?”
“Mẹ nghĩ... chắc nó vừa mới chết thôi, nói không chừng vẫn ăn được.”
“Lỡ như khách chọn trúng con cua này thì phải làm sao?”
Mẹ cười: “Chỉ có con mới chọn con cua này thôi, mẹ sớm đã đoán trước rồi, ai mà chẳng muốn chọn con ngon.”
Tôi chợt nhớ ra một chuyện. “Mẹ, sao mẹ không dùng bộ bát mới con mua cho mẹ? Nếu mẹ không thích chúng, mẹ phải nói sớm với con chứ, con có thể đi đổi màu khác mà mẹ thích mà.”
“Đương nhiên là mẹ rất thích rồi,” bà nói, “Mẹ thích lắm, nên không nỡ dùng. Cứ không dùng mãi, thành ra sau này cũng chẳng dùng nữa.”
Sau đó, như thể chợt nhớ ra điều gì, bà tháo sợi dây chuyền trên cổ xuống nhét vào tay tôi.
“Không, mẹ,” tôi nói, “Con không thể nhận được.”
“Cầm lấy cầm lấy.” Bà nói bằng tiếng Thượng Hải, “Mẹ vẫn luôn muốn giữ cái này cho con, nhìn xem, mẹ cứ đeo sát người thế này, cho nên con cũng phải đeo sát người nhé, đây là bùa hộ mệnh của con.”
Tôi ngắm nghía sợi dây chuyền có đính mặt ngọc màu xanh lá này. “Mẹ tặng cái này cho con, chỉ vì chuyện tối nay thôi sao?”
“Chuyện gì cơ?”
“Những lời Vệ Phất Lai nói ấy.”
“Hừ. Con đi nghe lời cô ta làm gì? Tại sao con phải coi trọng lời nói của cô ta như vậy chứ? Này, cô ta cũng giống như con cua này vậy,” mẹ vừa nói vừa nhặt ra một chiếc vỏ cua, “Hoành hành quen thói rồi. Con cứ việc đi con đường của chính con.”
Tôi đeo dây chuyền lên, chỉ cảm thấy vùng cổ mát lạnh.
“Miếng ngọc này không phải loại thượng hạng,” bà nói, “Màu của nó vẫn còn hơi nhạt, nhưng đeo lâu ngày rồi, nó sẽ đậm lên thôi.”
Kể từ khi mẹ qua đời, bố không còn được ăn những bữa cơm ngon nữa.
Thế nên hễ tôi sang chỗ ông là tiện thể lại nấu cho ông vài món ngon. Hôm nay, tôi định nấu một bát đậu hũ Tứ Xuyên cho ông. Mẹ thường nói, ăn đồ nóng có thể giúp hồi phục nguyên khí và tinh thần. Bố rất thích ăn đậu hũ Tứ Xuyên.
Bỗng nghe thấy ống nước trên đỉnh đầu tôi lại đang chảy róc rách, còn nước ở vòi nước trên bồn rửa chén đột nhiên nhỏ lại. Người thuê nhà trên lầu lại đang tắm rồi. Tôi nhớ mẹ từng phàn nàn chuyện này. Quả thực rất phiền phức.
Đột nhiên, trên bệ cửa sổ lại lướt qua một bóng đen, dọa tôi giật mình. Hóa ra lại là con mèo đó, lại vênh đuôi lên làm ra tư thế cũ.
“Tránh ra, tránh ra!” Tôi xua tay đuổi nó, nhưng nó chỉ nhe nanh múa vuốt với tôi, rồi gầm gừ lớn tiếng.
“Ôi, đồ hư hỏng, tiểu quỷ sứ!” Người phụ nữ này đùa giỡn với cô cháu gái nhỏ của mình. “Là Bồ Tát dạy con cười kiểu này à?” Đứa trẻ cười khúc khích càng thêm vui vẻ, người phụ nữ này chỉ cảm thấy trong lòng dâng lên một luồng ấm áp.
“Ta có sống thêm một trăm năm nữa, cũng vĩnh viễn không hiểu được, rốt cuộc là ai đã dạy con cười. Ta cũng từng có cái thời ngây thơ vô số tội ấy, cũng sẽ cười rộ lên mà chẳng vì lý do gì cả.”
“Nhưng sau này, để học cách bảo vệ bản thân, ta liền đánh mất sự ngây thơ ấy. Sau đó, ta lại dạy con gái mình, cũng làm như vậy, chính là mẹ con đấy. Muốn bảo vệ bản thân, duy chỉ có cách vứt bỏ sự ngây thơ đó đi.”
“Đồ quỷ sứ nhỏ! Ta làm vậy không đúng sao?”
Đứa trẻ chỉ cười khúc khích.
“Ôi, ôi, vẫn đang cười kìa. Con nói xem con là Tây Vương Mẫu phải không? Ôi, Tây Vương Mẫu nhỏ bé ơi, dạy cho mẹ con biết rằng, thứ đánh mất chính là sự ngây thơ, nhưng tuyệt đối không được đánh mất hy vọng. Phải luôn mỉm cười!”