—— Chuyện của Ngô Tinh Mỹ
Một
Bố muốn tôi ngồi vào một góc bên bàn mạt chược của Phúc Hỷ Hội, thay thế người mẹ quá cố của tôi. Mẹ tôi đã qua đời hai tháng trước. Kể từ đó, chỗ ngồi bên bàn mạt chược này vẫn luôn bị bỏ trống. Bố cho rằng mẹ chết là vì bị một ý nghĩ trong lòng giày vò đến chết.
"Trong đầu bà ấy nảy ra một ý nghĩ mới," bố nói, "nhưng còn chưa kịp nói rõ ngọn ngành, ý nghĩ ấy đã phình to cực nhanh, cuối cùng nổ tung ra. Nhất định đó là một ý nghĩ xấu."
Bác sĩ bảo mẹ tôi qua đời vì phình động mạch não. Những người bạn trong Phúc Hỷ Hội của mẹ thì nói bà đi nhanh lắm, vèo một cái biến mất hệt như một con thỏ. Đáng ra, mẹ đã hẹn với mấy người bạn rằng buổi tụ họp tiếp theo của hội sẽ do mẹ làm chủ nhà.
Một tuần trước khi mẹ mất, bà còn đắc ý khoe với tôi: "Lần trước tụ họp ở nhà dì Lâm, dì ấy nấu một nồi chè đậu đỏ, lần này mẹ nhất định sẽ nấu một nồi chè vừng đen cho họ nếm thử."
"Đừng khoe khoang nữa mẹ," tôi nói.
"Mẹ đâu có khoe khoang," mẹ đáp, "hai món chè đó cũng tàm tạm như nhau thôi mà." "Tàm tạm", hay ý thực sự của mẹ là "khác nhau", vốn là hai khái niệm hoàn toàn tách biệt. Đó là lối bắt bẻ từng câu chữ kiểu Trung Quốc, một ngón nghề dùng từ — thực chất là đang làm lẫn lộn khái niệm cơ bản. Ở Trung Quốc, người ta cực kỳ chú trọng cách nói năng và dùng từ, cố sao cho thật uyển chuyển khéo léo, cái món này thì tôi cả đời cũng không học nổi.
Hai
Mẹ bắt đầu nhen nhóm ý định lập một hội Phúc Hỷ ở San Francisco từ năm 1949, hai năm trước khi tôi chào đời. Đó chính là năm bố mẹ tôi rời Trung Quốc với một chiếc vali da nứt nẻ, bên trong nhét đầy ắp những bộ quần áo lụa là lộng lẫy.
Mãi đến khi lên tàu rồi, mẹ mới giải thích với bố: Thật sự không kịp nhét thêm thứ gì khác vào nữa. Dù vậy, bố vẫn vô vọng bới tung đống lụa là lạnh ngắt ấy lên để tìm chiếc áo sơ mi vải bông và chiếc quần len của mình.
Khi họ đến San Francisco, bố bảo mẹ phải giấu hết đống quần áo bóng bẩy đó đi. Từ đó, mẹ chỉ mặc độc một chiếc áo kiểu Tàu kẻ ca-rô màu nâu, cho đến khi một tổ chức cứu trợ người tị nạn tặng mẹ hai bộ quần áo cũ. Thế nhưng những bộ đồ này đều may theo cỡ người Mỹ, khoác lên người mẹ rộng thùng thình. Tổ chức cứu trợ người tị nạn này do một nhóm các bà người Mỹ tóc bạc thuộc Hội Thánh Báp-tít Trung Hoa đệ nhất tại địa phương thành lập. Nhận đồ bố thí của họ, bố mẹ tôi đành phải nghe theo lời khuyên của họ mà bắt đầu đi nhà thờ. Đương nhiên, những lời khuyên ấy vô cùng thiết thực và chân thành, nhưng có một yếu tố rất quan trọng là: lớp học Kinh Thánh tối thứ Tư và buổi tập hợp xướng sáng thứ Bảy đều có thể giúp họ nâng cao trình độ tiếng Anh. Nhờ vậy mà bố mẹ tôi quen biết gia đình nhà họ Hứa, nhà họ Cung và nhà St. Clair. Mẹ tôi cảm nhận được những người phụ nữ này ai nấy đều mang trong lòng nỗi đau thầm kín, những giấc mộng và hy vọng đã đánh rơi ở Trung Quốc. Thế nhưng vốn tiếng Anh bập bẹ khiến họ khó lòng giãi bày cho thỏa. Hay nói đúng hơn, ít nhất thì mẹ tôi cũng đã đọc được điều gì đó từ những gương mặt hờ hững đượm buồn của họ. Vì thế, khi mẹ đề nghị thành lập Phúc Hỷ Hội, họ lập tức đồng ý ngay.
Cái tên Phúc Hỷ Hội bắt nguồn từ cuộc hôn nhân đầu tiên của mẹ tôi, thời điểm trước khi quân Nhật chiếm đóng Quế Lâm. Cho nên hễ nhắc đến Phúc Hỷ Hội là tôi lại nhớ đến câu chuyện Quế Lâm của bà. Mỗi khi rửa sạch bát đĩa, lau đi lau lại mặt bàn nhựa hai lượt, còn bố thì đã bắt đầu trốn sau tờ báo, hết châm điếu này lại sang điếu khác hút thuốc lá hiệu Mèo Đen — dấu hiệu ngầm cảnh báo "chớ làm phiền" — đó là lúc mẹ thấy rảnh rỗi không có việc gì làm. Thế là bà sẽ kể cho tôi nghe chuyện xưa. Những lúc ấy, mẹ luôn lôi ra một thùng áo len cũ do một người họ hàng chưa từng gặp mặt ở Vancouver gửi tặng. Mẹ chọn một chiếc, tháo đường may ở gấu áo, rút ra một đầu sợi len, rồi với tốc độ như chẻ tre, chiếc áo len nhanh chóng biến thành một cuộn len ngoằn ngoèo, và câu chuyện của mẹ cũng tuôn trào theo cùng nhịp điệu ấy. Suốt bao năm qua, mẹ cứ lặp đi lặp lại cùng một câu chuyện, chỉ có điều cái kết của nó lần sau lại u ám hơn lần trước, tựa như một bóng đen dày đặc trong cuộc đời bà. Mà giờ đây, bóng đen ấy cũng đã len lỏi vào cuộc sống của tôi.
Ba
Mẹ tôi luôn bắt đầu lời kể bằng tiếng Trung: "Trước khi đến Quế Lâm, mẹ đã nằm mơ thấy nơi đó mấy bận rồi.
Núi non bao bọc xung quanh, một con sông nhỏ uốn lượn chảy qua, trên sông trôi dạt những mảng bèo xanh ngắt. Nền trời in bóng những dãy núi răng cưa trùng trùng điệp điệp, mây trắng lượn lờ vấn vương. Nếu con trôi dạt trên mặt sông, chỉ ăn bèo xanh lót dạ, con cũng có thể dễ dàng trèo lên đỉnh núi. Nếu lỡ sảy chân trượt ngã, con cũng chỉ rơi xuống một chiếc giường lớn dệt bằng bèo mềm mại mà thôi. Một khi trèo lên đỉnh, con sẽ mừng vui khôn xiết trước những gì phơi bày ra trước mắt, cảnh sắc ấy sẽ gột rửa sạch mọi phiền muộn ấm ức của con, xua tan hết thảy mọi thứ nhơ nhớp.
Ở Trung Quốc có câu 'Quế Lâm sơn thủy giáp thiên hạ', ai nấy đều mơ về Quế Lâm. Nhưng khi mẹ tới đó rồi mới nhận ra, giấc mơ Quế Lâm của mình sao mà nhỏ nhen tủn mủn, trí tưởng tượng của mình sao mà hạn hẹp nghèo nàn đến thế. Khi nhìn thấy những ngọn núi Quế Lâm thực sự, mẹ vừa cười lại vừa run. Những ngọn núi ấy trông hệt như một đống cá rán đang giãy giụa muốn nhảy ra khỏi chảo dầu.
Núi chồng lên núi, bóng hình chập chờn, dường như chẳng có điểm dừng. Thế nhưng chỉ cần mây khẽ dời đi một chút, những ngọn núi ấy bỗng chốc đổi khác, có lúc trông như một đàn voi đang lừng lững tiến lại gần. Con có tưởng tượng được không? Dưới chân núi đầy những hang động thần bí khôn lường, trong hang là thạch nhũ với đủ hình thù kỳ dị, giống như bắp cải, bí đao, củ cải và hành tây tạc bằng đá vậy, muôn hình vạn trạng ngoài sức tưởng tượng, chẳng khác nào một khu vườn lớn tạc từ đá tảng.
Nhưng mẹ đến Quế Lâm đâu phải để du sơn ngoạn thủy, mẹ làm gì còn tâm trí để thưởng thức phong cảnh tươi đẹp ấy. Chồng mẹ đưa mẹ và hai đứa con thơ đến Quế Lâm là để lánh nạn chiến tranh, ông ấy ngỡ nơi đây an toàn hơn. Ông ấy là một sĩ quan Quốc dân đảng, sau khi dàn xếp cho mẹ con mẹ ở trong một căn phòng nhỏ trên tầng hai của một ngôi nhà lầu, ông ấy liền một thân một mình đi Trùng Khánh.
Chúng ta đều biết quân Nhật từng bước tiến vào, quân Quốc dân đảng liên tục bại trận, dẫu cho trên báo chí chưa từng nói như vậy. Từng ngày từng giờ, có hàng vạn người tị nạn đổ dồn vào thành phố, chen chúc trên vỉa hè tìm kiếm nơi nương thân. Họ đến từ khắp bốn phương trời, có người giàu kẻ nghèo, có người Thượng Hải, người Quảng Đông, người phương Bắc, mà không chỉ có người Trung Quốc, còn có cả người nước ngoài, có người truyền giáo, lại có cả sư sãi ni cô. Đương nhiên cũng có cả binh lính, quan chức Quốc dân đảng, bọn họ luôn tỏ ra bề trên.
Đúng là một nồi lẩu thập cẩm. Nếu không phải vì có giặc Nhật, ngần ấy con người tạp nham tụ lại một chỗ chắc chắn sẽ đánh nhau đến tơi bời hoa lá. Con thử nghĩ mà xem: người Thượng Hải với mấy gã nhà quê phương Bắc, giám đốc ngân hàng với thợ cắt tóc, phu xe kéo với người tị nạn Miến Điện... chẳng ai chịu ai. Dù ai nấy đều nhổ bãi bọt ra vỉa hè, ai nấy đều ỉa chảy, người ngợm đều bốc ra mùi xú uế như nhau, nhưng ai cũng chê bai mùi hôi hám trên người kẻ khác, duy chỉ có mùi của chính mình là không ngửi thấy. Ôi, mẹ ghét cay ghét đắng mấy tay sĩ quan không quân Mỹ, cái giọng Trung Quốc lơ lớ 'hảo ba, hảo ba' của họ nghe mà phát bực. Nhưng tệ nhất vẫn là mấy gã nhà quê phương Bắc, họ lấy tay ngoáy mũi, hỉ mũi, rồi lại dùng chính bàn tay dính mũi dãi ấy xô đẩy người bên cạnh, bẩn thỉu nhếch nhác không chịu nổi.
Vì thế con có thể tưởng tượng được đấy, Quế Lâm nhanh chóng mất đi mọi sức quyến rũ đối với mẹ. Mẹ chẳng còn bụng dạ nào mà leo núi nữa, dù chúng có đáng yêu đến đâu. Mẹ ngờ rằng những ngọn núi ấy đã bị quân Nhật giẫm đạp qua rồi. Cả ngày mẹ chỉ ngồi thừ trong góc tối của căn phòng, mỗi tay ôm một đứa bé quấn tã, đôi chân luôn trong tư thế sẵn sàng báo động; chỉ cần còi báo động phòng không rúc lên là mẹ lao vội vào hang núi như một con thú. Nhưng con không thể ở mãi trong bóng tối được, chẳng bao lâu sau lòng con sẽ bắt đầu suy sụp, con sẽ khát khao ánh sáng. Ở trong hang đá nghe rõ tiếng bom nổ đinh tai nhức óc ngoài kia, rồi sỏi đá trút xuống rào rào như mưa trút nước lên đầu. Ngồi trong hang đá, mẹ chẳng còn tâm trí đâu ngắm nghía những nhũ đá rủ xuống hay khu vườn bằng đá, mẹ chỉ trừng trừng nhìn lên vòm hang — phần chân của một ngọn núi thời cổ đại — mà thẫn thờ, nó rất có thể sẽ sập xuống đầu mẹ bất cứ lúc nào. Con có tưởng tượng được không? Hy vọng sống sót chẳng có ở trong hang, cũng chẳng có ở ngoài hang, mà chẳng biết rốt cuộc đang ở phương nào nữa? Hoàn toàn là một sự chờ đợi ngột ngạt và tuyệt vọng.
Bởi vậy, hễ tiếng bom vừa dứt ra xa, chúng ta lại như những chú mèo con mới lọt lòng, bấu víu chen chúc nhau trên con đường trở về thành phố. Mẹ thường vô cùng kinh ngạc nhận ra rằng, những ngọn núi in bóng trên nền trời đỏ rực lửa cháy kia thế mà vẫn vẹn nguyên như cũ, chẳng hề sứt mẻ chút nào.
Điều khiến mẹ nảy ra ý định lập Phúc Hỷ Hội là vào một đêm hè oi ả như thiêu như đốt. Hôm đó trời nóng đến nỗi lũ bướm đêm cũng bị hơi nóng hun cho choáng váng rơi rụng xuống đất, đôi cánh của chúng gần như bị hơi nóng ẩm ướt hấp chín, đến mức không còn sức mà đập cánh nữa. Khắp nơi bốc lên mùi hôi thối nồng nặc, chẳng có căn phòng nào hít thở được chút không khí trong lành.
Thứ mùi hôi thối buồn nôn ấy bốc lên từ rãnh nước ngầm dưới nhà, lan tỏa ra bốn phía, xộc thẳng vào song cửa sổ tầng hai của mẹ. Chúng len lỏi khắp mọi ngóc ngách, ngay cả lỗ mũi của mẹ cũng chịu trận. Suốt cả một đêm ròng, những tiếng gào thét chói tai không ngừng nghỉ, chẳng biết là nông dân đang mổ lợn hay viên quan nào đang đánh đập dã man một gã nhà quê khốn khổ cản đường hắn giữa phố.
Mẹ cũng chẳng buồn ghé mắt ra cửa sổ xem cho rõ, dù có hiểu ra thì can hệ gì đến mẹ chứ? Chính trong khoảnh khắc ấy, mẹ bỗng nhận ra rằng, mình không thể cứ tiếp tục như thế này mãi, mình nhất định phải làm điều gì đó để phân tán tư tưởng, phải tìm việc gì đó để giết thời gian.
Thế là mẹ nảy ra ý định: rủ bốn người phụ nữ đến đánh mạt chược. Mẹ biết rất rõ mình muốn mời những người như thế nào: họ phần lớn đều trẻ trung, tràn đầy sức sống như mẹ. Một người trong số đó là phu nhân sĩ quan giống như mẹ, một người khác là tiểu thư con nhà giàu ở Thượng Hải, phong thái của cô ấy vô cùng thanh lịch. Khi chạy nạn ra ngoài, cô ấy chỉ mang theo bên mình chút ít tiền. Còn một người nữa là tiểu thư Nam Kinh, cô ấy có mái tóc đen dày nhánh, mẹ chưa từng thấy mái tóc nào đen và dày đến thế, gia cảnh cô ấy thấp kém hơn nhưng tính tình rất hoạt bát đáng yêu. Cô ấy từng lấy một ông già, sau khi ông ta chết đã để lại cho cô ấy một khoản tài sản đủ để sống an nhàn sung túc cả đời.
Mỗi tuần chúng ta luân phiên làm chủ nhà. Nữ chủ nhân đến lượt phải chuẩn bị vài món ăn đặc biệt mang ý nghĩa may mắn — như món bánh nướng gọi là bánh tiền vàng, sợi mì gọi là mì trường thọ, hạt lạc ngụ ý sớm sinh quý tử, và cả những quả quýt được gọi là phúc quất.
Con xem, với khả năng kinh tế eo hẹp của chúng ta, vậy mà lại có thể ăn được những món ngon lành dường ấy! Chúng ta chẳng bận tâm nhân bánh tiền vàng là do hoa quả nát nhào thành. Còn thứ gọi là phúc quất kia thì vỏ ngoài mốc meo lốm đốm. Lượng chúng ta ăn có hạn, nào phải vì thiếu thốn thức ăn mà cố tình tiết kiệm, mà là vì ăn không vô nổi nữa rồi. Ngay từ sáng sớm của ngày hội ngộ, chúng ta đã bắt đầu được thỏa thuê ăn uống. Mọi người đều hiểu rằng chúng ta là những kẻ may mắn, cả cái thành phố này người có thể sống xa xỉ được như chúng ta thật là ít ỏi vô cùng!
Sau khi no nê, chúng ta đựng đầy một bát tiền lớn đặt ở chỗ dễ thấy, rồi ai nấy vào vị trí quanh bàn mạt chược. Chiếc bàn mạt chược đó của mẹ là mang từ quê nhà đến, làm bằng loại gỗ đỏ chất lượng thượng hạng, dĩ nhiên không phải loại gỗ hồng sắc mà các con thường thấy, mà là gỗ gụ. Đó là một món đồ gỗ vô cùng quý giá, tiếc là trong tiếng Anh không tìm được từ chuyên dụng thích hợp để diễn tả nó. Trên mặt bàn trải một lớp đệm dày để khi đổ quân mạt chược xuống, người ta chỉ nghe thấy tiếng 'bộp bộp' trầm đục khi các khối ngà va vào nhau.
Lúc đánh mạt chược, ai nấy đều tập trung cao độ, không ai nói một lời. Ngoài những tiếng hô ngắn ngủi 'Phỗng' hoặc 'Ăn' khi bắt quân bài, tất cả đều im phăng phắc, ai cũng muốn giành phần thắng. Nhưng sau khi đánh xong mười sáu vòng, chúng ta lại ăn uống no say một bữa để lấy hên, cầu may cho tay bài. Ăn xong, chúng ta bắt đầu chuyện trò trên trời dưới biển cho đến tận sáng. Chúng ta kể những câu chuyện, hoài niệm về những ngày tháng tươi đẹp đã qua, hướng về những ngày tháng tốt lành sắp tới.
Ôi, những câu chuyện phiếm ấy thật thú vị làm sao, trên đời này lại có biết bao chuyện kỳ quặc đến thế, làm chúng ta cười đến gần chết. Nào là con gà trống xông vào phòng nhảy lên miệng bát gáy vang, vậy mà hôm sau khi vào lại phòng, nó đã nằm im lìm trong chính chiếc bát ấy rồi; lại có cô tiểu thư nọ gửi thư tình cho hai người bạn, thực ra hai bức thư ấy đều viết cho cùng một người; ngoài ra còn có mụ đàn bà ngoại quốc ngốc nghếch lúc đi vệ sinh bị tiếng pháo nổ dọa cho ngất xỉu.
Người ta chỉ trích những buổi tụ họp mỗi tuần một lần của chúng ta. Khi bao nhiêu người dân trong thành phố phải ăn thịt chuột lót dạ — về sau, ngay cả chuột cũng chẳng còn chỗ kiếm ăn, chỉ đành nuốt rác rưởi — người ta cho rằng chúng ta trúng tà rồi, ngay cả khi chính chúng ta đang phải đối mặt với bóng ma gia đình tan nát, vợ chồng con cái ly tán, thế mà vẫn còn tâm trí cười nói thản nhiên.
Thực ra, nào phải chúng ta nhắm mắt làm ngơ trước nỗi đau, nào phải chúng ta tê dại vô cảm. Chúng ta cũng nơm nớp lo sợ, chúng ta ai nấy đều có nỗi khổ riêng. Nhưng thế nào gọi là thất vọng? Cái gọi là thất vọng, chính là ôm hy vọng nó sẽ quay về với một thứ vốn đã chẳng còn tồn tại nữa, hay nói cách khác, chỉ là kéo dài những chuỗi ngày đày đọa khôn xiết mà thôi. Khi nhà cửa của con bị thiêu rụi, cùng với cha mẹ con cũng bị thiêu chết bên trong, con có còn tiếc nuối chiếc áo khoác con vô cùng yêu thích đang treo trong tủ không? Khi trên cột điện treo lủng lẳng những cánh tay và cẳng chân người còn sót lại, những con chó đói lảng vảng đầy đường chạy loạn khắp nơi, trong móng vuốt của chúng còn tha theo một bàn tay người bị gặm dở, lúc ấy đầu óc con còn giữ nổi sự tỉnh táo được bao lâu? Chúng ta tự hỏi lòng mình, thay vì ủ rũ sầu bi chờ chết, chẳng thà vui vẻ đón nhận diệt vong, điều đó thì có gì sai?
Vì thế, chúng ta quyết định biến buổi tụ họp mỗi tuần một lần thành một ngày hội như đón Tết, để mỗi tuần đều có một cơ hội lãng quên quá khứ. Chúng ta không cho phép mình nghĩ đến bất kỳ điều gì buồn phiền âu lo, chỉ có ăn uống chơi bời, tự tìm niềm vui cho mình. Chúng ta đánh bạc, kể những câu chuyện tốt đẹp nhất. Mỗi tuần, chúng ta đều mong chờ một niềm hân hoan, sự mong chờ ấy đã trở thành niềm an ủi duy nhất của chúng ta, đó là lý do vì sao chúng ta đặt tên cho buổi tụ họp của mình là 'Phúc Hỷ Hội'."
Mẹ tôi thường kết thúc câu chuyện bằng giọng điệu lạc quan. Bà rất thích khoe khoang tay nghề chơi bài của mình cao siêu thế nào. "Mẹ đỏ tay lắm, toàn thắng thôi. Người ta đùa gọi mẹ là 'tinh ranh cướp cạn'," bà nói, "mẹ thắng được mấy vạn lận. Nhưng mẹ chẳng giàu lên được. Thời đó tiền mất giá, chẳng bằng giấy lộn. Mẹ từng bảo, một tờ tiền mệnh giá hàng nghìn còn chẳng đủ để chùi đít một lần!"
Tôi chưa bao giờ nghĩ khác đi, cứ cho rằng câu chuyện Quế Lâm của mẹ chẳng qua chỉ là một câu chuyện thần thoại Trung Hoa mà thôi. Đoạn kết của câu chuyện cũng thường hay thay đổi. Chẳng hạn như tờ tiền mệnh giá hàng nghìn nọ, mẹ bảo dùng nó mua được nửa chén gạo, nấu gạo thành một nồi cháo, rồi dùng nồi cháo đổi lấy hai cái móng giò, lại lấy hai cái móng giò đổi lấy sáu quả trứng gà, sáu quả trứng gà sau đó nở ra sáu con gà con... Câu chuyện của bà nhờ thế mà cứ liên tục phát triển và thêm thắt.
Có một buổi tối, tôi vòi mẹ mua cho một chiếc máy thu thanh bán dẫn, mẹ không đồng ý, thế là tôi hờn dỗi suốt một tiếng đồng hồ, chẳng thèm hé răng. Mẹ liền bảo: "Sao con cứ phải tơ tưởng đến những thứ con chưa từng sở hữu làm gì?" Thế là bà kể cho tôi nghe một cái kết khác của câu chuyện Quế Lâm.
"Một buổi sáng nọ, có một viên sĩ quan đến nhà mẹ," bà nói, "ông ta đến báo mẹ lập tức đến chỗ chồng mẹ ở Trùng Khánh. Mẹ hiểu ông ta muốn mẹ rời khỏi Quế Lâm. Một khi quân Nhật đánh tới Quế Lâm, thân nhân quân nhân như mẹ con mẹ sẽ chẳng có kết cục tốt đẹp gì. Nhưng bảo mẹ đi Trùng Khánh bằng cách nào đây? Quế Lâm vốn dĩ đã ngừng các chuyến xe đi nơi khác rồi. May nhờ có cô tiểu thư Nam Kinh nọ, cô ấy nhờ người quen kiếm cho mẹ một chiếc xe cút kít chở than.
Mẹ đặt hành lý cùng hai đứa con sinh đôi lên chiếc xe cút kít. Đúng vào ngày thứ tư sau khi mẹ đẩy xe rời Quế Lâm thì Quế Lâm thất thủ. Suốt dọc đường, trong dòng người tị nạn thỉnh thoảng lại truyền tai nhau tin tức quân Nhật tắm máu Quế Lâm, điều đó thực sự quá khủng khiếp. Cho đến ngày cuối cùng trước khi Quế Lâm thất thủ, Quốc dân đảng vẫn nghiêm giọng tuyên bố Quế Lâm rất an toàn, được quân đội bảo vệ. Ngay trong cái ngày lính Nhật tràn vào Quế Lâm, khắp đường phố vẫn vương vãi những tờ phụ trương báo tin quân đội đại thắng, mà nằm la liệt bên trên lại là thi thể của những người vô tội, hệt như cá nằm trên thớt, ngang dọc ngổn ngang. Họ phần lớn là phụ nữ, người già và trẻ nhỏ, thật thê thảm không nỡ nhìn. Mầm họa chính là ở chỗ họ cứ ôm mãi hy vọng vào quân đội. Kết quả con xem, mất cả tính mạng. Nghe được những tin tức thảm khốc ấy, mẹ chỉ cắn răng cắm đầu đi tiếp, bước chân ngày càng gấp gáp. Mỗi bước đi, mẹ lại tự hỏi lòng mình: Họ có phải ngốc nghếch lắm không? Hành động ấy có được coi là dũng cảm không?
Mẹ vội vã nhắm hướng Trùng Khánh mà đi, cho đến khi bánh xe rốt cuộc hỏng hẳn, mẹ buộc phải vứt bỏ chiếc bàn mạt chược bằng gỗ gụ lộng lẫy kia. Lúc ấy ngay cả khóc cũng chẳng kịp nữa rồi. Về sau, mẹ thắt khăn quàng cổ thành hai chiếc đai đeo vắt qua vai, mỗi bên địu một đứa con, hai tay mỗi bên xách một túi, một bên là quần áo, một bên là đồ ăn. Mẹ xách chúng đi bộ. Cứ đi mãi đi mãi, cổ tay bị siết đến máu thịt be bét, máu tươi men theo cổ tay chảy xuống lòng bàn tay, trơn tuột khiến các ngón tay cứ trượt đi, mẹ không còn giữ nổi bất cứ thứ gì nữa, thế là mẹ buông tay trái ra, rồi lại buông nốt tay phải...
Dọc đường, ai nấy đều như vậy, buông bỏ niềm hy vọng cuối cùng trong tay. Mặt đường tựa như được lát bằng châu báu, giá trị liên thành. Từng súc gấm vóc tinh xảo, sách cổ, di ảnh tổ tiên, đồ đạc bàn ghế bằng gỗ... còn có cả lồng vịt con. Ban đầu chúng còn cạp cạp kêu không ngớt, sau đó cuối cùng cũng im lặng, đến cuối cùng thì chẳng còn động đậy gì nữa. Dọc đường còn có cả đồ bạc người ta vứt lại. Nhưng những con người kiệt sức ấy chẳng thèm liếc mắt nhìn lấy một cái, những kẻ tuyệt vọng sẽ chẳng động lòng trước bất cứ thứ gì. Cuối cùng, khi đến được Trùng Khánh, mẹ chỉ còn lại một thân một mình, hai bàn tay trắng trơn, ngoại trừ ba bộ áo lụa đẹp đẽ khoác trên người."
"Một thân một mình ư?" Tôi thở gấp đầy căng thẳng, hoài nghi tính chân thực của câu chuyện này. "Thế... hai đứa bé đâu?"
Mẹ không buồn ngẩng đầu lên, dứt khoát tuyên bố câu chuyện này không còn đoạn "sau đó" nữa. "Bố con không phải là người chồng trước của mẹ, con cũng không phải là một trong hai đứa bé đó."
Nói lại chuyện tối nay, buổi sinh hoạt của Phúc Hỷ Hội diễn ra ở nhà họ Hứa. Tôi vừa bước vào cửa, người đầu tiên nhìn thấy lại là bố tôi.
"Nó tới rồi, chưa bao giờ đúng giờ cả," bố nói như thông báo cho mọi người. Lời này chẳng sai chút nào, những người khác đều đã đến đông đủ từ sớm. Thành viên của bảy gia đình phần lớn đều đã ở tuổi thất tuần, bát tuần. Họ chậm rãi chuyển ánh mắt sang tôi, trong mắt họ, tôi chỉ là một đứa trẻ lớn xác ba mươi sáu tuổi.
Tôi cố hết sức giữ vẻ bình tĩnh tự nhiên. Lần trước gặp họ là ở đám tang của mẹ tôi. Khi ấy tôi đau đớn khôn cùng, gần như không gượng dậy nổi. Hẳn họ sẽ lẩm bẩm rằng một người như tôi làm sao có thể thay thế được mẹ mình chứ? Một người bạn từng bảo tôi: Tôi trông rất giống mẹ, cử chỉ thanh nhã, có tiếng cười trong trẻo vui tai và cái liếc mắt hờn dỗi như thiếu nữ. Có lần tôi thẹn thùng đem chuyện này kể cho mẹ nghe, bà lại làm như bị sỉ nhục mà cãi lại: "Con còn kém xa mẹ, con hiểu về mẹ được bao nhiêu? Sợ là một phần trăm cũng chẳng tới! Thế thì làm sao giống mẹ được?" Mẹ nói đúng. Vì thế ở Phúc Hỷ Hội, làm sao tôi cáng đáng nổi vai trò thế thân của mẹ tôi đây?
"Cháu chào các cô, các chú, các bác ạ." Sau khi gật đầu chào hỏi từng người có mặt, tôi đi thẳng tới đứng cạnh bố.
Thông thường với những người bạn này của gia đình, tôi đều xưng hô bằng các danh xưng cô, chú, bác.
Bố đang xem những bức ảnh chụp chuyến đi du lịch Trung Quốc gần đây của nhà họ Cung. "Xem này," bố vừa nói vừa chỉ vào bức ảnh chụp cả đoàn du lịch đứng trên bậc thềm đá rộng rãi. Bức ảnh này chẳng thể hiện chút bối cảnh Trung Quốc nào cả, trông như chụp ở San Francisco hay một thành phố nào khác thì đúng hơn. Nhưng bố dường như chỉ lơ đễnh lướt qua những bức ảnh này. Thật ra trước đây ông không như vậy, ông từng rất cẩn thận, rất chu toàn. Nhưng chẳng biết từ bao giờ, ông đã thay đổi.
Tôi nghĩ có lẽ là vì mẹ đã qua đời.
"Xem tấm này này," bố nói, ngón tay chỉ vào một bức ảnh chẳng nói lên điều gì.
Căn nhà của gia đình họ Hứa lúc nào cũng thoang thoảng mùi dầu mỡ nồng nặc. Nấu nướng quá nhiều món ăn Trung Hoa trong căn bếp nhỏ xíu thì hơi dầu mỡ rất dễ tích tụ lại. Đến giờ tôi vẫn nhớ mỗi lần mẹ đến nhà người khác hoặc đến nhà hàng, bà luôn nhăn mũi nói nhỏ, nhưng lại đủ để mọi người nghe thấy: "Mẹ cảm thấy mũi bị dầu mỡ bám dính lại rồi!"
Đã mấy năm rồi tôi không đến nhà họ Hứa. Nhưng phòng khách vẫn y như trong ký ức của tôi, chẳng thay đổi mảy may. Kể từ khi dì An Mai và chú George chuyển từ khu phố Tàu đến khu Hoàng Hôn này hai mươi lăm năm trước, họ đã sắm một bộ đồ đạc mới. Vẫn là bộ bàn ghế dán mặt nhựa màu vàng kem, giữ gìn trông vẫn còn khá mới. Vẫn là chiếc ghế sô pha góc bọc vải kẻ ca-rô xanh lục kiểu Scotland, chiếc bàn mang phong cách thời thuộc địa làm bằng gỗ phong, chiếc đèn chùm vẫn là món đồ gốm giả có vết nứt, duy chỉ có cuốn lịch treo tường do Ngân hàng Quảng Đông tặng là được thay mới mỗi năm.
Những đồ đạc này tôi vẫn nhớ như in. Bởi vì hồi chúng tôi còn nhỏ, dì An Mai chưa từng cho chúng tôi chạm vào bất kỳ món đồ nào của dì, trừ phi bên trên có phủ tấm bạt nhựa. Cứ đến ngày sinh hoạt của Phúc Hỷ Hội, bố mẹ lại dẫn tôi cùng sang nhà họ Hứa. Vì là khách nên tôi cũng phải để mắt trông chừng những đứa trẻ khác, ở đây có nhiều trẻ con đến nỗi dường như lần nào cũng xảy ra những vụ như cộc đầu, trẹo chân.
"Con phải trông chừng chúng nó," mẹ tôi thường bảo thế, ý là nếu có đứa nào trầy da tróc vảy, hay bị bỏng, bị lạc, làm vỡ cái gì, làm bẩn thứ gì, bất kể là ai, tóm lại đều là lỗi của tôi.
Hồi ấy, mẹ và dì An Mai đều mặc những chiếc áo kiểu Tàu cổ đứng cứng đờ ngồ ngộ, trước ngực thêu hoa, trang phục như thế đối với người Trung Quốc chính gốc thì quá đỗi thời thượng, nhưng mặc trong các buổi tụ họp ở Mỹ thì lại có vẻ quá kỳ quặc.
Hồi ấy, khi mẹ chưa kể cho tôi nghe câu chuyện Quế Lâm, trong tưởng tượng của tôi, Phúc Hỷ Hội là một hội đoàn có những nghi thức đặc biệt, giống như các buổi tập hợp của hội Tam K hay nghi lễ trước khi xuất chinh của người da đỏ trong phim truyền hình, tóm lại là có một bộ nghi thức thần bí kỳ quặc.
Thế nhưng tối nay, mọi thứ trông thật bình thường. Các dì trong Phúc Hỷ Hội đều mặc quần dài, phối với áo sơ mi hoa màu sắc sặc sỡ và những đôi giày chạy bộ chắc chắn đủ kiểu dáng. Chúng tôi ngồi quây quần quanh bàn, phía trên bàn ăn rủ xuống một chiếc đèn chùm lớn nhiều nhánh kiểu Tây Ban Nha. Chú George đeo kính hai tròng, bắt đầu đọc biên bản cuộc họp:
"Số dư trên sổ sách của chúng ta là 24.825 đô la, tính ra mỗi cặp vợ chồng khoảng 6.206 đô la, mỗi người khoảng 3.133 đô la. Bán cổ phiếu Longbaero bị lỗ mất 6 và 3/4 điểm, mua vào một trăm cổ phiếu Smith International, ở đây xin cảm ơn Linda và Đinh Đồng đã mua gom lô cổ phiếu này giúp chúng ta. Chà, chè đậu đỏ ngon lắm. Buổi sinh hoạt Phúc Hỷ Hội tháng Ba chúng ta buộc phải tạm hoãn một lần. Rất lấy làm tiếc vì người bạn thân yêu Tố Vân của chúng ta đã rời xa chúng ta, xin gửi lời chia buồn sâu sắc đến toàn thể gia đình Canning Ngô. Chủ tịch kiêm thư ký Phúc Hỷ Hội George Hứa kính báo."
Tôi cứ ngỡ mọi người sẽ nhắc đến mẹ tôi một hồi, nhớ lại những điểm tốt của bà. Chính vì như vậy họ mới để tôi ngồi vào bàn mạt chược thay thế mẹ, như một sự gửi gắm của mọi người để tiếp nối niềm cảm hứng mà mẹ có được trong đêm hè Quế Lâm năm nào.
Nào ngờ, mọi người chỉ lạnh nhạt gật đầu tỏ ý tán thành các thỏa thuận, trong đó có cả bố tôi. Còn với tôi, dường như có vài chuyện mới mẻ đã lấp đầy khoảng trống mà mẹ để lại.
Lúc này, dì An Mai chậm rãi đứng dậy vào bếp chuẩn bị đồ ăn, còn dì Linda, người bạn thân nhất của mẹ, thì rảo bước đến chiếc sô pha màu xanh lục ngồi xuống, khoanh tay nhìn những người đàn ông vẫn đang ngồi quanh bàn ăn. Dì Ánh Ánh — dường như mỗi lần gặp dì lại thấy dì có thêm mấy nếp nhăn — thì lôi từ trong túi đan ra một chiếc áo nhỏ màu xanh lam bắt đầu cặm cụi đan lát.
Các chú các bác trong Phúc Hỷ Hội bắt đầu bàn luận về những mã cổ phiếu mà họ quan tâm. Jack, tức em trai của dì Ánh, khá hào hứng với cổ phiếu do một công ty khai thác mỏ vàng ở Canada phát hành.
"Đây là cách tốt nhất để chống lạm phát: dao cắt đậu hũ được cả hai mặt," ông ấy nói bằng giọng điệu đầy vẻ uy quyền. Trong số những người này tiếng Anh của ông ấy là tốt nhất, nghe không thấy chỗ nào gượng gạo ngập ngừng. Trong số họ tiếng Anh của mẹ tôi là tệ nhất, nhưng bà luôn nhấn mạnh tiếng Trung của bà là giỏi nhất đám. Bà có thể nói một giọng Quan thoại chuẩn chỉnh.
"Tối nay còn đánh mạt chược không ạ?" Tôi ghé sát tai dì Ánh hỏi to, tai dì hơi nghễng ngãng.
"Lát nữa đã," dì bảo, "đợi qua nửa đêm."
"Các bà ơi, qua đây một lát được không?" Chú George gọi với sang.
Sau khi mọi người nhất trí đồng ý mua cổ phiếu mỏ vàng Canada, tôi liền vào bếp hỏi dì An Mai tại sao Phúc Hỷ Hội lại chơi cả chứng khoán.
"Chúng ta cứ đánh mạt chược mãi, người thắng thì gom tiền về, nhưng người thắng lúc nào cũng là mấy người đó, mà người thua thì cũng luôn là mấy người đó," dì An Mai vừa nói vừa gói hoành thánh. Dì gắp một đũa nhân thịt trộn gừng thái sợi đặt lên miếng vỏ mỏng dính, ngón tay thoăn thoắt bấm vài cái, miếng vỏ ấy đã được nặn thành hình chiếc mũ y tá. "Khi có mấy tay cao thủ mạt chược ở đó thì cháu chẳng gặp may được đâu. Vì thế từ nhiều năm trước, chúng ta đã quyết định đầu tư vào thị trường chứng khoán, cái đó chẳng cần kỹ năng gì, chỉ cần may mắn thôi. Nước đi này mẹ cháu cũng đồng ý đấy."
Dì An Mai đếm đĩa hoành thánh xếp chồng lên nhau. Dì đã làm được năm hàng, mỗi hàng tám chiếc. "Năm tám bốn mươi, tám người mỗi người ăn mười cái, còn phải làm thêm năm hàng nữa." Dì lẩm bẩm một mình rồi lại bắt đầu gói tiếp. "Ai nấy đều khôn ra rồi. Bây giờ chúng ta đều chia đều thắng thua một cách công bằng. Chúng ta tìm kiếm phúc khí trên thị trường chứng khoán, tìm kiếm niềm vui bên những quân mạt chược. Thắng thua trên bàn mạt chược ít lắm, người thắng gom tiền mặt, người thua thì lấy phần thức ăn thừa trên bàn ăn mang về, cả nhà cùng vui. Thông minh không? Ha ha."
Hoành thánh dưới tay dì An Mai ngày một nhiều thêm, dì làm nhanh thoăn thoắt và thuần thục, dường như chẳng cần tốn chút tâm trí nào.
Mẹ tôi trước đây vẫn thường trách móc dì An Mai như thế: Dì ấy chẳng bao giờ chịu suy nghĩ chín chắn về việc mình đang bắt tay vào làm.
"Bà ấy chẳng ngốc chút nào," có lần mẹ bảo tôi, "chỉ là không có bản lĩnh thôi. Tuần trước mẹ mách nước cho bà ấy, mẹ bảo: 'Chúng ta đến lãnh sự quán xin cái chứng minh thư cho em trai bà đi'. Bà ấy vừa nghe xong đã cuống cuồng như lửa đốt đít, đòi đi làm ngay tắp lự. Thế rồi sau đó lại nghe thấy bà ấy than vãn với người khác: 'Ai biết được lai lịch người ta ra sao?' Hồi đó có người bảo với bà ấy rằng làm thế sẽ chuốc lấy rắc rối cho người em trai ở Trung Quốc. Người đó còn nói chính phủ liên bang công nghiệp Mỹ sẽ vì thế mà liệt bà ấy vào một danh sách nào đó, khiến sau này bà ấy ở Mỹ cũng gặp rắc rối. Chẳng hạn như họ sẽ không cho bà ấy vay tiền mua nhà, vì em trai bà ấy là đảng viên Cộng sản. Mẹ liền bảo bà ấy: 'Bà sợ cái nỗi gì, bà đã có một căn nhà của riêng mình rồi còn gì'. Nhưng bà ấy vẫn cứ nhát gan."
"Đừng nhìn dì An Mai cả ngày bận rộn tíu tít như thế," mẹ tôi nói, "chính bà ấy còn chẳng hiểu rốt cuộc mình đang bận cái gì đâu."
Dì An Mai mà tôi thấy lúc này là một bà cụ ngoài bảy mươi tuổi, dáng người thấp bé, lưng hơi còng. Dì mang vẻ u uất, bận rộn bước đi trên đôi chân gầy guộc khẳng khiu. Dì có những đầu ngón tay phẳng và mềm mại của những người phụ nữ có tuổi. Tôi nghĩ mãi không thông rốt cuộc dì An Mai đã làm gì mà khiến mẹ tôi khắt khe với dì đến thế. Thực ra đâu chỉ có dì An Mai, những người bạn khác, cho đến cả bố tôi, mẹ đều thấy có đủ thứ thiếu sót, khiếm khuyết và lệch lạc. Mẹ luôn dùng sự thiếu hụt của "ngũ hành" để đong đếm những người xung quanh.
Sự hiểu biết của mẹ về "ngũ hành" là dựa trên cách hiểu của riêng bà về hóa học hữu cơ. Mẹ bảo tôi:
"Hỏa" quá vượng thì tính khí nóng nảy, chẳng hạn như bố tôi. Mẹ thường hay chỉ trích thói quen hút thuốc lá xấu xí của ông, vì thế mà thường chọc cho bố nổi trận lôi đình. Tôi nghĩ bây giờ sở dĩ ông thường cảm thấy cắn rứt với mẹ chắc chắn là vì tự thấy hồi đó mình chưa từng lắng nghe tử tế những lời mẹ kìm nén trong lòng.
Người thiếu "Mộc" thì không mấy khi có chính kiến, tai mềm dễ xuôi lòng, chẳng hạn như dì An Mai.
Người có quá nhiều "Thủy" thì phương hướng cũng lắm, khó tập trung tinh lực, chẳng hạn như tôi: học dở dang ngành sinh học rồi lại chuyển sang nghệ thuật, sau đó làm thư ký cho một hãng đại lý quảng cáo nhỏ, lúc này cả môn sinh học lẫn môn nghệ thuật của tôi đều bỏ dở nửa chừng. Còn bây giờ, lại làm một người viết lách tự do.
Trước đây tôi chẳng bao giờ bận tâm đến mớ lý lẽ ấy của mẹ, coi đó là sự mê tín của người Trung Quốc, mớ lý lẽ ấy chỉ phù hợp với môi trường xã hội Trung Quốc mà thôi. Năm hơn hai mươi tuổi, tôi theo học ngành tâm lý học, tôi liền cố thuyết phục bà đừng quá khắt khe với người khác, đó không phải là một phương pháp giáo dục tốt.
"Có một trường phái chuyên nghiên cứu về tâm lý con người đã nói rằng," tôi bảo, "cha mẹ không nên hở ra là chỉ trích con cái, trái lại nên khích lệ chúng nhiều hơn. Phải biết rằng con người ta sở dĩ đứng dậy phấn đấu là để đáp lại sự gửi gắm và kỳ vọng của người đời, còn khi mẹ chỉ một mực chỉ trích thì dường như có nghĩa là mẹ chỉ mong chờ sự thất bại mà thôi."
"Mầm họa chính là ở chỗ đó đấy," mẹ bảo, "con chưa bao giờ tự đứng dậy nổi, lười biếng chẳng chịu đứng dậy phấn đấu, thế thì làm sao đáp lại sự gửi gắm và kỳ vọng của người khác được?"
"Ăn cơm thôi!" Dì An Mai bưng ra một nồi hoành thánh nóng hổi bốc khói nghi ngút, vui vẻ cất tiếng gọi. Trên bàn bày la liệt thức ăn, bữa tối diễn ra theo hình thức tự chọn, giống hệt như những buổi tụ họp trong câu chuyện Quế Lâm vậy. Bố đang gắp mì xào cho mình. Mì xào đựng trong một chiếc nồi nhôm cỡ lớn, xung quanh đặt những gói xì dầu nhỏ bằng nhựa, chắc chắn là dì An Mai mua từ phố Clement về. Hoành thánh tỏa ra mùi thơm hấp dẫn, bên trên nổi một lớp hành hoa. Lại có một đĩa lớn đồ xào thập cẩm, thịt heo quay có vị ngòn ngọt được thái miếng dày bằng đồng xu, cùng với thứ đồ ngon mà tôi gọi là "ngón tay", từng cuộn từng cuộn một, lớp vỏ bột mỳ rất mỏng, phần nhân bên trong thì đủ loại: có thịt nạc băm, thịt bò băm, tôm nõn, và cả những thứ tôi chẳng gọi nổi tên, đó là những món bổ dưỡng mà mẹ tôi thường chế biến.
Tướng ăn của những người này quả thực chẳng mấy nhã nhặn! Dường như ai nấy đều đang trong cơn đói lả, từng người từng người ăn ngấu nghiến. Mấy miếng thịt heo quay cứ thế lần lượt được họ tống vào bụng. Rốt cuộc họ cũng khác với những người phụ nữ ở Quế Lâm năm nào, thức ăn của họ ngon miệng và hấp dẫn hơn nhiều.
Họ ăn rất nhanh, ăn xong thì cánh đàn ông đứng dậy rời bàn. Thế là như một quy ước bất thành văn, cánh phụ nữ ở lại bên bàn, từ tốn ăn nốt số thức ăn ngon còn sót lại, sau đó bê bát đĩa vào bếp chất vào bồn rửa, rồi lần lượt rửa tay, họ ra sức kỳ cọ đôi bàn tay mình. Cũng chẳng biết là ai đã khởi xướng cái nghi thức này nữa. Tôi cũng làm theo, bỏ bát đĩa vào bồn rồi rửa tay. Mấy người phụ nữ đang bàn tán về chuyến đi Trung Quốc lần này của nhà họ Cung, họ vừa nói chuyện vừa đi về phía sau căn hộ. Trong một căn phòng khác, các chú các bác của Phúc Hỷ Hội đều đã an tọa bên chiếc bàn chơi bài poker. Nơi đó vốn là phòng ngủ của bốn người con trai nhà họ Hứa, những thùng đựng đồ giường chiếu và chiếc thang tróc sơn đến nay vẫn còn để bên trong. Chú George đang chia bài, động tác thuần thục như thể từng lăn lộn ở các sòng bạc vậy. Bố rút bao thuốc lá Mèo Đen ra mời khách, miệng mình tự nhiên cũng ngậm một điếu.
Chúng tôi đi tới căn phòng phía sau, trước kia đây là phòng ngủ của ba cô con gái nhà họ Hứa. Chúng tôi chơi đùa cùng nhau từ thuở nhỏ, giờ đây họ đều đã yên bề gia thất, còn tôi thì lại quay trở về căn phòng của họ để chơi đùa. Mọi thứ dường như chẳng hề thay đổi, ngoại trừ mùi băng phiến nồng nặc. Tôi có cảm giác dường như Rose, Ruth và Janice sẽ bước vào ngay lập tức vậy. Tấm ga trải giường dệt bằng chỉ trắng sờn rách đến mức gần như nhìn xuyên qua được. Hồi đó, Rose và tôi thường thích nằm trên đó vừa bàn luận về đám con trai, vừa nghịch những sợi tua rua nhỏ bên trên. Mọi thứ đều giữ nguyên trạng, chỉ trừ ở giữa phòng có thêm một chiếc bàn mạt chược bằng gỗ gụ. Cạnh bàn là một chiếc đèn cây thân đen. Trên thân đèn chìa ra ba chiếc bóng đèn tụ quang hình quả trứng, trông như một cây cao su lá to bản.
Chẳng có ai chỉ trỏ bảo tôi: "Kìa, đó là chỗ của mẹ cháu đấy." Thế nhưng ngay cả trước khi mọi người vào vị trí, tôi đã có linh cảm rằng chiếc ghế kê cạnh cửa ra vào này chính là của mẹ. Đó là phía Đông của bàn bài. Phía Đông là cội nguồn khởi đầu của vạn vật. Mẹ tôi từng bảo đây là nơi mặt trời mọc, là nơi bắt nguồn của hướng gió.
Dì An Mai ngồi xuống bên tay trái tôi, rồi đổ đống quân mạt chược xuống mặt bàn bọc nỉ xanh, bảo: "Xoa bài." Mọi người thò tay xoa bài, các quân cờ va chạm vào nhau phát ra những tiếng rào rào trầm đục.
"Cháu chơi bài có giỏi bằng mẹ cháu không?" Dì Linda ngồi đối diện nghiêm mặt hỏi tôi.
"Hồi học đại học, cháu từng chơi chút ít với mấy người Do Thái ạ."
"Ồ, mạt chược Do Thái!" Dì ấy khinh khỉnh kéo dài giọng. "Cái đó hoàn toàn khác." Mẹ tôi cũng thường nói thế, nhưng bà chẳng bao giờ giải thích lý do.
"Hay là tối nay cháu đừng lên bàn vội, để cháu đứng bên cạnh xem cho quen đã ạ," tôi đề nghị.
Dì Linda bực bội, cảm thấy tôi chẳng hiểu chuyện như một đứa trẻ con: "Chúng ta tổng cộng chỉ có ba người, đánh thế nào được? Giống như cái bàn chỉ có ba chân, ba thiếu một. Chồng dì Ánh mất rồi, dì ấy liền gọi em trai tới. Bố cháu gọi cháu tới cũng là vì cùng một lẽ đó."
Tôi từng hỏi mẹ mạt chược Do Thái và mạt chược Trung Quốc rốt cuộc khác nhau ở chỗ nào. Thế nhưng câu trả lời của bà lại khiến tôi không rõ bà đang nói về sự khác nhau trong cách chơi mạt chược hay là cách nhìn nhận khác nhau đối với chính người Trung Quốc và người Do Thái?
"Đó là hai chuyện hoàn toàn khác nhau," bà giải thích bằng tiếng Anh, "mạt chược Do Thái chỉ cần nhớ bài trên tay mình, chơi mạt chược Do Thái chỉ cần dùng mắt là đủ rồi."
"Còn chơi mạt chược Trung Quốc," bà nói, "con phải động não thật kỹ, ở đây vô cùng coi trọng kỹ năng, con phải nhớ được những quân bài người khác đã đánh ra. Nếu con hoàn toàn không biết ra bài thì sẽ biến thành như đang chơi mạt chược Do Thái, thế thì còn gì thú vị nữa? Đầu óc cũng chẳng thèm vận động, chỉ việc trơ mắt nhìn người ta bẽ mặt thôi."
Cách giải thích của bà làm tôi cảm thấy hệt như cái cách chúng tôi thường mạnh ai nấy nói, tôi nói tiếng Anh của tôi, còn bà thì đáp lại bằng tiếng Trung của bà.
Tôi hỏi dì Linda: "Mạt chược Do Thái với mạt chược Trung Quốc rốt cuộc khác nhau ở chỗ nào ạ?"
"Trời đất ơi," dì ấy làm bộ trách móc, "chẳng lẽ mẹ cháu chưa từng nói với cháu sao?"
Dì Ánh vỗ vỗ tay tôi: "Nào, cô bé ngoan, học theo chúng ta này, xem này, xếp bài thành bốn bức tường."
Tôi làm theo dì Ánh xếp bài lên, đồng thời không ngừng liếc trộm để ý dì Linda, tay chân dì ấy nhanh nhất. Tay chân tôi cũng chẳng chậm hơn người khác. Dì Ánh bắt đầu gieo xúc xắc, dì Linda là Đông phong, tôi là Bắc phong, ở cửa dưới cùng, dì Ánh là Nam, còn dì An Mai là Tây. Sau đó lại gieo xúc xắc lần nữa, căn cứ vào số nút trên xúc xắc để quyết định điểm ngắt bốc bài trên hàng mạt chược. Tôi bắt đầu sắp xếp bài của mình: một dây Sách và Đồng, lại có mấy đôi Vạn, những quân bài lẻ tẻ khác thì không ghép vào đâu được.
"Mẹ cháu đánh mạt chược giỏi lắm, thành chuyên gia luôn rồi đấy," dì An Mai vừa thong thả xếp bài vừa nói. Mỗi lần xếp một quân bài, dì đều cẩn thận cân nhắc kỹ càng.
Bây giờ trận đấu bắt đầu. Mọi người vừa thong thả bốc bài vừa bắt đầu trò chuyện, câu được câu chăng. Họ trò chuyện bằng thứ ngôn ngữ đặc biệt của riêng mình: một nửa là thứ tiếng Anh chẳng ra Tây chẳng ra Tàu, một nửa là phương ngữ Trung Quốc của họ. Dì Ánh kể chuyện dì mua được cuộn len giảm giá nửa tiền, nghe như món đồ rẻ tiền nhặt nhạnh được ngoài đường phố. Dì An Mai thì khoe khoang việc mình đan cho đứa cháu ngoại mới sinh của con gái Ruth một chiếc áo khoác nhỏ đẹp đến thế, "Ai cũng tưởng mua ở ngoài tiệm đấy," dì đắc ý bảo.
Dì Linda thì kể chuyện dì đã nổi trận lôi đình với một nhân viên bán hàng ra sao, chỉ vì người đó không chịu cho dì đổi chiếc váy đã hỏng khóa kéo. "Ăn!" Dì ấy vừa vớ lấy quân bài vừa chưa nguôi cơn giận nói: "Dì tức đến chết đi được."
"Ôi dào, Linda, cô đã chết đâu, cô vẫn đang ngồi sờ sờ bên bàn mạt chược đây này," dì Ánh trêu chọc dì ấy, miệng khúc khích cười. Dì Linda đột nhiên hô to một tiếng: "Phỗng!" Rồi cạch một tiếng, dì ấy ngửa bài ra bàn: "Ù rồi!" Dì ấy vừa đếm phán vừa cười gượng liếc nhìn dì Ánh một cái. Mọi người lại xoa bài, trong khoảnh khắc chẳng ai nói gì, không gian chìm vào tĩnh lặng, tôi bất giác thấy hơi buồn chán, mà cũng thấy mệt nữa.
"Hơ, kể cho mọi người nghe chuyện này nhé," dì Ánh bỗng nhiên lên tiếng, giọng dì rất to làm ai nấy đều giật bắn mình. Dì Ánh thường hay làm người ta khó hiểu như thế, hơi có phần tự nói tự nghe. Mẹ thường hay bảo về dì ấy thế này: "Dì Ánh đâu phải là không nghe thấy gì, mà là dì ấy căn bản hiếm khi chịu lắng nghe điều gì."
"Thứ Bảy tuần trước con trai bà Emerson bị bắt vào rồi đấy," giọng dì Ánh có vẻ khá đắc ý vì tin tức của mình nhanh nhạy. "Đó là bà Trương kể cho tôi nghe ở nhà thờ đấy. Bảo là người ta phát hiện trong xe nó giấu một đống tivi."
Dì Linda tiếp lời: "Ái chà, bà Emerson là người tốt lắm cơ mà!" Ý tứ trong lời nói là tiếc cho bà ấy lại vớ phải một đứa con bất hiếu như thế. Giờ nghĩ lại, dì ấy nói câu này cũng là để giữ thể diện cho dì An Mai, tránh làm cho dì ấy quá khó xử. Hai năm trước, con trai dì An Mai từng bị bắt vì tội trộm cắp và buôn bán lậu dàn âm thanh ô tô. Lúc này dì An Mai dường như đang chăm chú nghiền ngẫm quân bài nào đó, trông có vẻ khá gượng gạo khó chịu.
"Ở Trung Quốc bây giờ gần như nhà nào cũng có tivi rồi," dì Linda đánh trống lảng sang chủ đề khác. "Bà con của chúng tôi ở đại lục nhà nào cũng có tivi — không chỉ là máy đen trắng đâu, mà còn có cả tivi màu và điều khiển từ xa nữa. Họ chẳng thiếu thứ gì, cho nên lúc chúng tôi hỏi cần mang thứ gì về thì họ đều bảo chẳng cần gì hết, chỉ cần về thăm họ là đủ rồi. Nhưng dù sao thì cũng phải mang chút gì đó về chứ, chẳng hạn như máy quay video với máy Walkman của Sony cho lũ trẻ chơi. Dù họ nói không cần đâu, nhưng tôi nghĩ họ sẽ thích đấy."
Tội nghiệp dì An Mai, lúc này càng ra vẻ khổ sở nghĩ ngợi về quân bài của mình, cứ liên tục vân vê sờ nắn từng quân bài một.
Tôi còn nhớ mẹ từng kể với tôi về chuyến đi Trung Quốc ba năm trước của gia đình họ Hứa, lần đó hai nghìn đô la mà dì An Mai chắt bóp bao năm trời mới dành dụm được đã tiêu sạch sành sanh vào người em trai bên nhà ngoại của dì. Mẹ tôi từng tận mắt thấy đống hành lý nặng trĩu của dì ấy: một chiếc vali nhét đầy đủ loại hạt khô và kẹo cao su, hạt điều bọc đường, cà phê hòa tan và kẹo dẻo hoa quả. Còn chiếc vali kia thì nhét đầy những bộ quần áo nực cười, toàn là đồ mới toanh. Nào là đồ tắm biển California màu sắc sặc sỡ, mũ bóng chày, quần soóc vải bông cạp chun, áo khoác phi công, áo phông Stanford và tất thủy thủ.
Mẹ tôi từng khuyên can dì ấy: "Ai cần mấy thứ hào nhoáng vô dụng này chứ? Họ chỉ cần tiền thôi." Nhưng dì An Mai lại bảo em trai dì nghèo lắm, so ra thì dì giàu có hơn nhiều. Vì thế, dì vẫn khăng khăng mang theo một đống đồ như thế cùng hai nghìn đô la nhịn ăn nhịn tiêu dành dụm được sang Trung Quốc. Khi đoàn du lịch của họ cuối cùng đến Hàng Châu, toàn bộ người thân bạn bè của dì ở Ninh Ba đều đổ xô đến Hàng Châu đón họ, ở đây không chỉ gồm có cậu em út của dì An Mai, mà còn có cả anh chị em cùng mẹ khác cha của cô em dâu, một người em họ bắn đại bác không tới cùng chồng cô ấy và ông chú của người chồng đó, mỗi người họ lại dắt theo mẹ vợ và con cái, thậm chí cả đám bạn bè trong làng không may mắn có người thân ở hải ngoại cũng kéo nhau cả lũ đến Hàng Châu.
Đúng như lời mẹ tôi nói: "Dì An Mai trước khi đến Trung Quốc từng tưởng rằng mình sẽ mang lại giàu sang và hạnh phúc cho em trai, sẽ giúp em trai sống một cuộc sống mức độ trung lưu no ấm ở Trung Quốc. Thế nhưng sau khi trở về, bà ấy lại mếu máo bảo: ai nấy đều chìa tay ra đòi bà ấy thứ này thứ nọ, bà ấy là thành viên duy nhất trong đoàn du lịch bị vét sạch túi khi rời đi."
Phán đoán của mẹ tôi đã được chứng thực: chẳng có ai thèm mấy thứ áo phông và quần áo sặc sỡ kia, đống kẹo bánh ném lên không trung còn chưa kịp rơi xuống đất đã biến mất tăm. Khi vali bị vét sạch trơn, đám họ hàng vẫn cứ liên tục hỏi: "Còn gì nữa không? Còn gì nữa không?"
Vợ chồng dì An Mai và chú George không chỉ bị tống tiền mất chiếc tivi và tủ lạnh trị giá hai nghìn đô la, mà còn phải trả tiền phòng một đêm cho sáu người ở khách sạn Hoàn Hồ, ba bàn tiệc tiêu chuẩn khách quốc tế ở nhà hàng, cùng ba phần quà đặc biệt cho mỗi người họ hàng, cuối cùng còn "cho vay" năm nghìn tệ tiền chứng từ ngoại hối cho một gã "chú họ" của cô em họ, hắn bảo muốn mua một chiếc xe máy, thế nhưng người này cuối cùng ôm cả tiền lẫn người lặn mất tăm. Đợi đến ngày hôm sau khi họ lên tàu hỏa rời Hàng Châu, vợ chồng họ Hứa mới phát hiện ra họ đã tiêu tốn tới chín nghìn đô la để đối phó với đám họ hàng này. Mấy tháng sau, trong một buổi lễ Giáng sinh đầy xúc động tại Hội Thánh Báp-tít Trung Hoa đệ nhất, dì An Mai đã làm chứng rằng: "Cho đi thì hạnh phúc hơn nhận về." Dì chỉ dùng điều đó để xoa dịu cõi lòng bị tổn thương của mình mà thôi. Mẹ tôi đối với chuyện này cũng khá tán đồng. Dù sao thì việc bố thí của người bạn già An Mai cũng đã đủ để tích đức cho mấy kiếp sau rồi.
Bây giờ, dì Linda ngồi bên bàn mạt chược say sưa khen ngợi họ hàng ở đại lục của mình biết điều thấu tình đạt lý đến thế, tôi nghĩ dì ấy phải hiểu rằng điều đó sẽ làm tổn thương dì An Mai chứ. Dì Linda đang giở thói nhỏ nhen chăng? Có lẽ mẹ tôi chỉ kể cho một mình tôi nghe về chuyện xui xẻo bị gõ đầu của vợ chồng dì An Mai ở đại lục mà thôi. Những người khác về chuyện này có khi vẫn còn bị bịt mắt chẳng hay biết gì?
"Tinh Mỹ, cháu vẫn còn đi học à?" Dì Linda hỏi tôi.
"Nó tên là June. Bọn trẻ đều có tên tiếng Mỹ cả mà," dì Ánh nói.
"Gọi là June cũng được ạ," tôi nói. Tôi thà được gọi là June hơn. Trên thực tế, ngày nay người Mỹ gốc Hoa sinh ra ở Mỹ mà dùng tên tiếng Trung thì lại biến thành một trào lưu thời thượng.
"Cháu thôi học lâu rồi ạ," tôi nói, "cháu rời trường học cũng hơn chục năm nay rồi."
Lông mày dì Linda nhướng lên thành hình cánh cung: "Có lẽ dì nhớ lẫn con gái của người bạn khác với cháu rồi," dì ấy bảo.
Nhưng tôi lập tức cảm thấy dì ấy đang nói dối. Tôi biết chắc chắn mẹ đã kể với dì ấy chuyện tôi dự định quay lại trường đại học để học cho xong lấy cái bằng cử nhân.
Bởi vì khoảng nửa năm trước, tôi lại cãi nhau với mẹ một trận, bà cho rằng tôi là một kẻ thất bại, một đứa sinh viên bỏ học giữa chừng, cứ khăng khăng bắt tôi phải quay lại trường học để lấy cho bằng được tấm bằng tốt nghiệp.
Tôi lại một lần nữa dỗ dành bà: "Mẹ nói đúng, con phải suy nghĩ lại đã."
Tôi luôn giả định rằng giữa hai mẹ con chúng tôi có một sự ngầm hiểu ý, đó là bà không thực sự coi tôi là một kẻ thất bại vô dụng, còn tôi thì từ trong thâm tâm cũng cảm thấy mình nên tôn trọng ý kiến của bà nhiều hơn. Nhưng tối nay dì Linda lại một lần nữa nhắc nhở tôi: Hai mẹ con tôi chưa bao giờ thực sự hiểu nhau. Chúng tôi chỉ đang tự giải thích theo ý hiểu của mình về quan điểm của người kia.
Thế nhưng những gì tôi nghe vào tai thì đã bị khấu trừ đi rất nhiều, còn những gì mẹ nghe vào tai lại nhiều hơn rất nhiều so với những gì tôi nói... Cho nên, bà mới nói với dì Linda rằng tôi dự định quay lại trường học để lấy bằng tiến sĩ.
Dì Linda và mẹ tôi vừa là bạn thân, vừa ngấm ngầm ganh đua với nhau. Họ đã dành cả cuộc đời mình để đem con cái ra so sánh. Tôi lớn hơn Vi Waverly — đứa con gái cưng của dì Linda — một tháng tuổi. Từ thời chúng tôi còn bế ngửa, các bà mẹ đã bắt đầu so sánh nếp gấp ở rốn, hình dáng dái tai, thời gian lành vết thương ở đầu gối bị ngã nứt, độ dày mỏng và đậm nhạt của tóc, số đôi giày đi hỏng... Về sau thì là Waverly đánh cờ giỏi ra sao, đem về bao nhiêu giải thưởng, bao nhiêu tờ báo đưa tin về cô ta, cô ta đã đi du lịch bao nhiêu thành phố...
Mẹ tôi hễ nghe dì Linda nhắc đến Waverly là trong lòng lại không dễ chịu, tự thấy mình không thể sánh bằng. Ban đầu, mẹ rất muốn bồi dưỡng tôi. Bà làm người giúp việc dọn dẹp cho một thầy giáo nghỉ hưu ở tầng dưới để nhờ ông làm thầy dạy đàn piano miễn phí cho tôi, đồng thời mượn piano của ông để tôi luyện tập. Tuy nhiên, tôi vẫn không thể trở thành một nghệ sĩ piano độc tấu, ngay cả qualification làm người đệm đàn cho dàn hợp xướng thanh niên ở nhà thờ cũng không có. Bà giải thích điều này là do tôi thuộc tuýp người "tài năng nở muộn". Giống như Einstein, trước khi ông phát minh ra bom nguyên tử, ai cũng tưởng ông bị đần độn.
Ván bài phỏm này do dì Ánh thắng. Sau khi mỗi người đếm xong "đoạn đầu", ván mới lại bắt đầu.
“Biết gì không, Lena chuyển đến khu Rừng rồi đấy?” Dì Ánh nói bằng giọng điệu tự cao như một ngôi sao lớn, vừa nhìn lá bài của mình — có vẻ như chỉ tiện miệng nói ra — vừa nhanh chóng thu lại nụ cười đắc ý, cố tỏ ra khiêm tốn: “Tất nhiên, đó chưa phải là khu nhà ở hàng đầu, cũng chẳng phải biệt thự triệu đô, nhưng dù sao cũng là một khoản đầu tư hời, tốt hơn là trả tiền thuê nhà, kẻo vô tình bị ai đó gẩy tay đuổi ra ngoài.”
Bây giờ thì tôi đã hiểu, Lena — con gái dì Ánh — nhất định đã kể với mẹ cô ấy chuyện tôi bị chủ nhà đuổi khỏi chung cư Nga — một nơi ở cấp thấp. Dù sao thì Lena và tôi vẫn là bạn bè. Chúng tôi đều đã trưởng thành, đã nói với nhau quá nhiều lời thì thầm tâm sự, hơn nữa, cùng một chuyện cứ lặp đi lặp lại nói tới nói lui vài lần.
“Trời không còn sớm nữa.” Khi ván bài này kết thúc, tôi đứng dậy nói. Nhưng dì Linda lại ấn tôi ngồi xuống ghế.
“Ngồi thêm một lúc nữa đi, chúng ta trò chuyện tiếp, để mọi người hiểu thêm về cháu.” Dì nói, “Đã lâu lắm rồi chúng ta không tiếp xúc với nhau.”
Tôi hiểu rõ những lời xã giao này của các dì trong Hội Hỷ Phúc: Chẳng hạn như trong lòng rõ ràng mong bạn xin phép ra về, nhưng ngoài miệng vẫn cứ liên tục níu giữ bạn, giống như đang làm với tôi lúc này. “Không ạ, cháu thật sự phải về rồi, cảm ơn các dì.” Tôi nói, và cảm thấy rất vui vì mình vẫn còn nhớ cớ thoái thác quen thuộc để đáp lại kiểu xã giao này.
“Không được, nhất định phải ngồi thêm một lúc, chúng ta có chuyện quan trọng muốn nói với cháu, chuyện này có liên quan đến mẹ cháu.” Giọng nói oang oang của dì Ánh đã giữ tôi lại. Nét mặt của những người khác trông cũng có chút gượng gạo, hình như đây không phải là ý nguyện ban đầu của họ — phải chạm đến một chủ đề ít nhiều mang màu sắc đau thương ở đây.
Tôi ngồi xuống. Dì An Mai quay người đi ra ngoài một lúc, bê vào một bát lạc rang, tiện tay khép cửa lại rồi ngồi xuống bên bàn.
Trong chốc lát, mọi người im phăng phắc, dường như không biết nên mở lời thế nào. Một lúc lâu sau, dì Ánh mới cất tiếng: “A Cần nghĩ, cái chết của mẹ cháu là vì trong lòng chị ấy mọc lên một khao khát mãnh liệt.” Dì nói bằng thứ tiếng Anh không liền mạch, rồi dần dần chuyển sang dùng tiếng Trung thủ thỉ kể lại.
“Mẹ cháu là một người phụ nữ rất mạnh mẽ. Chị ấy rất yêu cháu, còn hơn cả yêu mạng sống của chính mình. Cho nên cháu phải hiểu, một người mẹ như thế thì làm sao có thể quên được hai đứa con khác của mình. Chị ấy biết chúng vẫn còn sống trên đời, vẫn còn sống, nên trước khi qua đời, chị ấy đã hạ quyết tâm sẽ về Trung Quốc tìm chúng.”
Tôi lập tức nhớ tới cặp trẻ sơ sinh ở Quế Lâm! Tôi không phải là một trong hai đứa bé đó. Chúng từng được bà dùng dây đeo địu trên hai vai.
Hai đứa con gái khác của bà! Trong khoảnh khắc, tôi cảm thấy như chính mình đang ở giữa vùng Quế Lâm mù mịt khói lửa trận không kích. Tôi nhìn thấy hai đứa trẻ sơ sinh nằm bên vệ đường khóc lóc ỉ ôi, những ngón tay mút đến đỏ bừng của chúng đang đung đưa trước mắt tôi. Tiếng khóc của chúng làm mủi lòng người đi đường, chúng được bế đi, chúng đã được cứu. Nhưng giờ đây, mẹ đã vĩnh viễn rời xa tôi, bà quay về Trung Quốc để chăm sóc hai đứa trẻ đó rồi! Trong lúc tôi đang bàng hoàng ngơ ngác, giọng nói của dì Ánh từ xa vọng lại:
“...Chị ấy đã tìm bao nhiêu năm rồi, viết một chồng thư lớn...” Dì Ánh nói, “Năm ngoái, cuối cùng chị ấy cũng dò hỏi được tin tức của chúng, chị ấy định lập tức nói với bố cháu... Ôi chao, thật không biết nói sao cho phải, ôi chao, thật khó chịu quá, tự tay bỏ rơi con mình sống sờ sờ, thật xấu hổ làm sao!”
An Mai xúc động ngắt lời dì: “Vì vậy, chúng ta đã gửi một bức thư theo địa chỉ đó,” Dì nói, “Chúng ta nói rằng mẹ cháu muốn gặp lại chúng. Bây giờ, bên kia, các chị của cháu đã viết thư hồi âm rồi. Là chị của cháu đấy, Tinh Mỹ!”
Chị gái của tôi! Tôi máy móc lặp lại. Hai chữ này đối với tôi mới là lần đầu tiên thốt ra.
An Mai lấy ra một tờ giấy mỏng, trên đó viết ngay ngắn từ trên xuống dưới một hàng chữ Trung Quốc bằng mực xanh, ở giữa có một chữ mực bị loang ra, là nước mắt sao? Tôi dùng bàn tay run rẩy nhận lấy mảnh giấy, kinh ngạc vì các chị tôi lại có thể viết chữ Trung Quốc thành thạo đến thế, họ còn đọc được chữ Trung Quốc nữa.
Các dì nhìn tôi cười hì hì, giống như tôi là một người từ cõi chết trở về vậy. Dì Ánh lại đưa cho tôi một chiếc phong bì khác, bên trong là một tờ séc trị giá một ngàn hai trăm đô la, người nhận là tôi. Tôi ngơ ngác không hiểu gì.
“Chị cháu gửi cho cháu ạ?” Tôi hỏi.
“Làm gì có.” Dì Linda giận dỗi nói, “Hằng năm, chúng ta gom tiền thắng bài lại rồi đến nhà hàng sang trọng ăn một bữa. Mẹ cháu thắng nhiều nhất, nên tiền ở đây phần lớn là do chị ấy thắng, chúng ta chỉ bỏ thêm vào một ít tiền lẻ thôi. Như vậy cháu có thể dùng nó làm chi phí đi Hồng Kông, rồi đi tàu hỏa đến Thượng Hải thăm các chị của cháu.
Còn về phần chúng ta, thực sự đã ăn quá nhiều rồi, phải giảm cân ăn kiêng thôi.”
“Đi thăm chị của cháu.” Tôi hời hợt lặp lại một lần nữa. Tôi có chút sợ hãi cuộc gặp mặt như vậy, không thể hình dung nổi đó sẽ là một cảnh tượng như thế nào? Lời nói dối mà các dì thêu dệt về bữa tiệc cuối năm khiến tôi vô cùng bối rối. Tôi khóc, khóc rồi lại cười. Tôi đã nhìn thấy tấm lòng thành kính tha thiết của mẹ, nhưng lại thực sự chẳng hiểu gì về bà.
“Cháu nhất định phải đi thăm các chị của cháu, bảo cho chúng biết tin mẹ cháu đã mất.” Dì Ánh nói, “Tuy nhiên điều quan trọng nhất là cháu phải kể cho chúng nghe về thân thế của mẹ cháu. Về người mẹ này, chúng hoàn toàn không biết gì cả, nhưng chúng bắt buộc phải biết.”
“Đến thăm họ, kể cho họ nghe về mẹ.” Tôi liên tục gật đầu đồng ý, “Nhưng... cháu biết nói gì đây? Về mẹ, cháu có thể nói gì với họ cơ chứ? Về bà, cháu chẳng hiểu một tí tẹo nào cả.”
Các dì nhìn nhau ngơ ngác một lúc lâu, như thể tôi vừa nói ra điều gì đó nhảm nhí không tỉnh táo.
“Cháu... lại chẳng hiểu một chút nào về mẹ ruột của mình sao?” Dì An Mai nghi ngờ kêu lên, “Sao cháu có thể nói ra miệng được cơ chứ. Cháu bắt buộc phải hiểu mẹ của cháu!”
“Kể cho chúng nghe về gia đình cháu ở đây, kể xem mẹ cháu đã gầy dựng nên cơ ngơi này như thế nào.” Dì Linda gợi ý cho tôi.
“Còn nữa, kể cho chúng nghe những câu chuyện mẹ cháu từng kể cho cháu, những đạo lý làm người mà bà đã dạy cháu, một phần tư tưởng của bà đã ăn sâu vào đầu cháu rồi đấy,” Dì Ánh nói, “Mẹ cháu thực sự là một người phụ nữ giỏi giang.”
Trong khoảnh khắc, “Kể cho họ nghe...”, “Kể với họ...” giống như một bản hợp xướng nhiều tầng âm thanh xông thẳng vào màng nhĩ của tôi.
“Sự giỏi giang của chị ấy.”
“Sự tháo vát của chị ấy.”
“Cách quán xuyến gia đình đảm đang của chị ấy.”
“Hy vọng của chị ấy.”
“Tay nghề nấu ăn ngon tuyệt của chị ấy.”
“Nghĩ mà xem, con gái mà lại không hiểu mẹ mình!”
Suy nghĩ kỹ lại, những lời dặn dò đủ điều của họ, sự kinh ngạc của họ đối với tôi, thực ra chỉ là từ tôi mà liên tưởng đến con gái của chính họ. Con gái của họ cũng giống như tôi, hoàn toàn không biết gì và cũng chẳng hề bận tâm đến những quy tắc và kỳ vọng mà mẹ mình mang từ Trung Quốc sang Mỹ. Họ phát hiện ra con gái mình tỏ ra thiếu kiên nhẫn với những cuộc trò chuyện bằng tiếng Trung của các mẹ, còn khi các bà mẹ dùng thứ tiếng Anh ấp úng để giải thích hoặc diễn giải một ý định nào đó với chúng, thì lũ con gái lại giễu cợt tiếng Anh của họ, cho rằng đầu óc họ không được linh hoạt. Những gì người mẹ cho là niềm vui và hạnh phúc thì trong mắt đứa con gái chưa chắc đã phải như vậy. Đối với những cái đầu sinh ra ở Mỹ chưa từng thấy sự đời này, ba chữ “Hỷ Phúc Hội” là trống rỗng, hoàn toàn vô nghĩa.
Họ bất lực nhìn những đứa con gái này trưởng thành, sinh con đẻ cái, sau này còn con cháu đầy đàn, tiếp tục duy trì nòi giống, nhưng lại không thấy được khả năng và hy vọng truyền lại những quy tắc và kỳ vọng của người mẹ từ thế hệ này sang thế hệ khác.
“Cháu sẽ kể cho họ nghe tất cả.” Tôi một mực nhận lời, thế nhưng các dì lại nhìn tôi bằng ánh mắt nghi ngờ.
“Cháu sẽ kể cho họ nghe tất cả những gì cháu biết.” Tôi lặp lại một lần nữa vô cùng khẳng định.
Cuối cùng, môi họ dần dần hé nở nụ cười, vừa nhẹ nhàng vỗ vỗ vào tay tôi. Mặc dù vẻ mặt của họ trông vẫn có chút mất mát, như thể vừa đánh mất điều gì, nhưng ánh mắt lại tràn ngập kỳ vọng và hy vọng. Họ tin rằng tôi sẽ thực hiện những gì mình đã nói. Họ còn có thể đòi hỏi gì thêm? Tôi còn có thể hứa hẹn thêm điều gì nữa đây?
Thế là, họ lại bắt đầu ăn những hạt lạc luộc nhừ ninh nát kia, vừa bắt đầu kể lại câu chuyện của chính mình; họ lại biến thành một nhóm thiếu nữ trẻ trung, hoài niệm, mơ mộng và hướng về tương lai; đứa em trai ở Ninh Ba tuy làm người chị rất đau lòng, nhưng có lẽ nó sẽ trả lại chín ngàn đô la cả vốn lẫn lời cho chị, điều này ít nhiều cũng làm bà an ủi. Con trai của ai đó có niềm đam mê mãnh liệt với dàn âm thanh nổi và tivi, một khi nó cải tà quy chính, nó hoàn toàn có thể theo đuổi sự nghiệp sửa chữa thiết bị điện, biết đâu chừng nó còn có thể mở rộng việc kinh doanh này sang Trung Quốc. Con gái của ai đó sẽ sinh ra một đứa trẻ khỏe mạnh... Cho dù thực tế có muôn vàn vết thương tích, mọi chuyện rồi cũng sẽ tốt đẹp lên...
Còn tôi thì ngồi chễm chệ ở vị trí của mẹ tôi trên bàn phỏm, đó là hướng Đông, nơi khởi nguồn của muôn vật.