——Câu chuyện của Waverly Jong
Một
Từ khi tôi mới sáu tuổi, mẹ đã dạy tôi rằng, làm bất cứ việc gì cũng không được lộ sắc mặt thì mới có thể thành công. Đây là một thứ chiến lược, giống như chơi cờ vậy. Dù lúc đó, rất ít người trong chúng có biết chơi cờ là gì.
Có lần đi ngang qua một tiệm bán ô mai, tôi cứ kéo tay mẹ không chịu rời, khóc lóc mè nheo đòi ăn ô mai. "Câm miệng.
Người thông minh thì sẽ biết quan sát sắc mặt, tùy cơ ứng biến. Ít nhất con phải học cách phân biệt hướng gió. Gió là thứ lợi hại nhất, nó vô ảnh vô tung, nhưng lại có lực lớn nhất."
Thế là, khi chúng tôi lại đi ngang qua tiệm ô ngoi này, tôi liền im thin thít, ngoan ngoãn ngậm chặt cái miệng của mình lại.
Đợi mẹ chọn xong những món cần mua, bà liền rất hào phóng nhặt một gói ô mai từ trên kệ hàng, đặt chung lên quầy tính tiền.
Mẹ rất thạo việc gia chính, thế nên dưới sự quản lý chu đáo của bà, tôi và các anh đều sống rất tốt, ít nhất là không bị giới hạn bởi môi trường xung quanh. Chúng tôi sống ở khu phố Tàu tại San Francisco, cũng giống như đa phần những đứa trẻ Trung Quốc khác, đùa nghịch trên con đường rải sỏi ở cửa sau các nhà hàng và tiệm đồ cổ. Tôi không có chút cảm giác nghèo túng nào. Ba bữa mỗi ngày chúng tôi đều ăn no căng, mỗi bữa có năm món một canh.
Chúng tôi ở trong một căn hộ sáng sủa, thoải mái và sạch sẽ có hai phòng ngủ. Dưới lầu căn hộ của chúng tôi là một tiệm bánh ngọt Trung Quốc. Lúc rạng đông, khi ánh ban mai trên con phố nhỏ vẫn chưa tan hết, tôi đã có thể ngửi thấy mùi đậu đỏ nấu chín ngọt lịm. Sau đó là mùi bánh tiêu chiên dầu và hoành thánh gà cari lan tỏa lên. Thường thì khi tôi vẫn còn đang trên giường, đã nghe thấy tiếng bố đóng cửa đi làm.
Tận cùng lối nhỏ giữa hai dãy nhà là một bãi đất trống, đó là một sân chơi nhỏ, có đặt cầu trượt, xích đu các thứ.
Xung quanh sân chơi xếp những băng ghế đá, các cụ già rất thích ngồi thảnh thơi ở đây phơi nắng, cắn hạt dưa, dùng vỏ hạt dưa dụ những con bồ câu đang gù gù. Nhưng thứ chúng tôi thích nhất là con đường nhỏ ở phía bên kia, u ám, tĩnh mịch, quanh co kéo dài, đối với chúng tôi mà nói mang theo vài phần thần bí. Các anh tôi từng theo con đường ấy lẻn vào cửa sau của một tiệm thuốc Bắc, lén nhìn lão Lý đem những cái vỏ khô của đủ loại rắn rết côn trùng kỳ quái nọ, trộn lẫn với lá khô và hoa khô của thứ gì đó, gói thành từng gói nhỏ xíu bán cho người bệnh. Nghe nói có một lần, ông ấy đã dùng phương thuốc gia truyền này chữa khỏi cho một vị bệnh nhân bị bác sĩ Mỹ tuyên án tử hình. Cạnh tiệm thuốc là một xưởng in, chuyên in thiệp mừng nhũ vàng và cờ màu dùng cho ngày lễ.
Đi tiếp về phía trước chính là chợ cá. Trong tủ kính trưng bày từng bể từng bể ba ba và các loài thủy sản khác đã được định sẵn là không thể sống sót trở lại, chúng giãy giụa vô ích trong cái bể lát gạch men xanh, đồng thời còn phải chèn ép đấu đá lẫn nhau để tranh giành một không gian thoải mái hơn cho mình. Phía trên chúng nổi bật viết một tấm bảng quảng cáo: "Chỉ để làm thức ăn, không bán làm thú cưng." Những người bán thịt mặc áo blouse trắng vấy vết máu thoăn thoắt mổ bụng những con cá mà khách hàng đã chọn, miệng kiên quyết bảo đảm với khách: "Đều nhảy nhót tung tăng, vừa mới đánh bắt lên đây." Lúc việc buôn bán tương đối ế ẩm, chúng tôi còn có thể nhìn thấy từng giỏ ếch và cua sống nguyên. Người lớn cảnh báo chúng tôi không được chọc phá chúng. Ngoài ra còn có mực khô đóng thùng, tôm sú đông lạnh, mực ống và lươn. Thứ khiến tôi sợ nhất là cá bลม. Thân hình dẹt lép và đôi mắt dồn sang một bên của chúng khiến tôi nhớ đến một cô bé bị xe hơi cán bẹp. Tôi không nhìn thấy cảnh con bé bị nghiền chết, nhưng hễ nghĩ đến ba chữ "cán bẹp" là tôi lại liên tưởng đến con cá bơn này.
Góc phố nhỏ là một nhà hàng tên là "Hoành Tân" chỉ có bốn cái bàn. Ở góc khuất của hành lang có một cánh cửa ghi chữ "Dành riêng cho chủ quán", tôi và các anh tin rằng cứ đến tối là bọn cướp sẽ xuất hiện từ sau cánh cửa này. Khách du lịch chưa từng ghé Hoành Tân bao giờ, bởi vì thực đơn ở đó chỉ có chữ Trung Quốc chứ không có tiếng Anh. Từng có một du khách người da trắng khăng khăng bắt tôi và mấy đứa bạn tạo dáng chụp ảnh trước tủ kính của Hoành Tân, nền tủ kính là một con vịt quay đậm mỡ đậm màu. Chụp ảnh xong, tôi giới thiệu nhà hàng Hoành Tân với ông ta. Ông ta hỏi ở đó có những món gì, tôi liền lớn tiếng đếm: "Nội tạng lợn, chân vịt, cả cồi bạch tuộc nữa..." Sau đó tôi và mấy đứa bạn cười vang bỏ chạy.
Chúng tôi trốn vào hốc cửa của Công ty Đá quý Trung Quốc, lo sợ ông ta sẽ đuổi theo.
Mẹ đặt tên tôi là Waverly, chính là lấy theo tên con phố mà chúng tôi đang sống. Waverly Jong là tên tôi dùng trên giấy tờ và thẻ căn cước, còn ở nhà, tôi gọi là "Em Út". Tôi là đứa con gái duy nhất trong nhà, lại là út ít.
Mỗi ngày trước khi đi học, mẹ luôn là người chải tóc cho tôi, bà xoắn chặt mái tóc đen dày của tôi lại, bện thành hai bím tóc cứng ngắc. Hôm đó, khi bà lại dùng chiếc lược gỗ răng nhọn hoắt đó xử lý mái tóc tôi, tôi liền nảy sinh ý định muốn trêu chọc bà một chút.
Mẹ, thế nào gọi là kiểu hành hạ mang phong cách Trung Quốc ạ? Mẹ chỉ lắc đầu, trong miệng ngậm một chiếc kẹp tóc. Sau đó bà dùng nước làm ẩm đôi lòng bàn tay, miết phẳng những sợi tóc sau tai tôi rồi kẹp kẹp tóc lên, chiếc kẹp tóc nhọn hoắt đâm làm da đầu tôi đau nhói.
“Ai nói thế hả?” Bà hỏi tôi, hoàn toàn không hề tỏ ra trách mắng sự nghịch ngợm của tôi. Tôi nhún vai nói: “Mấy đứa con trai trong lớp tụi con đều nói thế, bọn chúng bảo làm người Trung Quốc là khổ nhất.”
“Người Trung Quốc là giỏi giang nhất,” mẹ nói một cách ngắn gọn súc tích, “Người Trung Quốc biết làm ăn buôn bán, còn có y học cổ truyền và tranh thủy mặc, hưởng uy danh rất cao trên thế giới. Người Mỹ mới lười biếng ấy chứ. Người Trung Quốc chịu khó chịu khổ.”
Anh Vincent nhà tôi có một bộ cờ. Ở tận cùng con phố nhỏ là Nhà thờ Baptist Trung Quốc đầu tiên, năm nào vào dịp Giáng sinh chúng tôi cũng đến nhà thờ đó. Các phu nhân trong hội thánh sẽ phát quà Giáng sinh cho chúng tôi.
Ông già Noel do một người trong nhà thờ đóng giả. Ông mặc áo choàng của ông già Noel, mặc bộ râu trắng làm bằng bìa cứng có đính những nhúm bông gòn. Đến lượt tôi, tôi rất nghiêm túc trả lời mọi câu hỏi của ông già Noel, đến mức mọi người đều tưởng tôi vẫn còn quá nhỏ, tưởng tôi tin ông ấy thực sự là người mang quà đến cho trẻ con. Kỳ thực tôi chỉ đang giả vờ ngốc nghếch, không lộ sắc mặt. Khi ông già Noel hỏi tôi mấy tuổi, tôi liền nhẩm tính ngay trong đầu: Theo cách tính của Mỹ thì tôi bảy tuổi, nhưng theo âm lịch Trung Quốc thì tôi đã tám tuổi rồi. Thế nên tôi liền đáp: Cháu sinh ngày 17 tháng 3 năm 1957. Câu trả lời này rõ ràng khiến ông ấy vô cùng hài lòng. Thế là, ông lại rất nghiêm túc hỏi tôi rằng tôi có bằng lòng làm một đứa trẻ ngoan, tin theo Chúa Jesus, nghe lời bố mẹ hay không. Tôi biết ông ấy thích câu trả lời như thế nào, liền thuận theo ý nghĩ của ông ấy mà trả lời một cách rất nghiêm túc.
Lũ trẻ đều nóng lòng muốn mở món quà mà chúng nhận được. Tôi sớm đã biết, món quà bọc đầu to chưa chắc đã là món tốt nhất, một đứa con gái trạc tuổi tôi nhận được một món quà rất lớn, mở ra xem thì chẳng qua chỉ là một cuốn tranh vẽ về các nhân vật trong Kinh Thánh. Mà một đứa con gái khác lại chọn một món quà nhỏ, kết quả lại là một lọ nước hoa. Hơn nữa, tiếng động trong hộp quà cũng rất quan trọng, một cậu nhóc chọn được một món quà khi lắc lên sẽ kêu lanh canh, cậu tưởng bên trong chắc chắn nhét đầy tiền xu một hào và năm xu, kết quả mở ra xem, hóa ra đó chỉ là một ống heo đựng tiết kiệm hình trái đất làm bằng thiếc, cậu bé tức thì vô cùng thất vọng, kết quả là ăn một bạt tai của mẹ xong, ngoan ngoãn lủi thủi đi theo bà.
Đến lượt tôi với tay lấy quà, tôi liền cẩn thận dùng ngón tay chạm vào các món quà còn lại, thử sức nặng của chúng, đoán mò nội dung bên trong. Cuối cùng, tôi chọn một món quà nặng trĩu, được gói bằng giấy bạc sáng lấp lánh và thắt ruy băng đỏ. Tôi đã chọn không sai, đó là một dãy kẹo mút hình tròn đủ mười hai màu, tôi mãn nguyện mân mê suốt buổi. Anh Winston cũng chọn rất khôn ngoan, anh sờ thấy một hộp bảng nhựa kèm theo tờ hướng dẫn, có thể dựa theo chỉ dẫn trên đó để lắp ráp thành một chiếc tàu ngầm thời Thế chiến II.
Còn người anh khác là Vincent thì vớ được một bộ cờ. Đó phải nói là một món quà Giáng sinh khá phù hợp, chỉ có điều rõ ràng đây là một bộ cờ cũ đã qua sử dụng, hơn nữa còn thiếu một con tốt đen và một con mã trắng. Mẹ tôi lịch sự cảm ơn vị nhà tài trợ giấu tên này: “Thật là tốn kém quá!” Lúc này, một bà cụ tóc bạc trắng gật đầu mỉm cười với toàn bộ người nhà chúng tôi: “Giáng sinh vui vẻ!”
Nhưng vừa về đến nhà, mẹ liền bắt Vincent vém bộ cờ đi: “Bản thân nó không cần nữa lại nhét sang cho chúng ta! Vứt đi, chúng ta đâu phải kẻ đi nhặt rác.” Bà tức giận nói. Các anh làm bộ điếc đặc, chỉ thấy họ đã hào hứng bày bàn cờ ra, vừa tham khảo tờ hướng dẫn đã rách tơi tả vừa chơi.
Suốt một tuần nghỉ lễ Giáng sinh, tôi cứ ngắm nhìn Winston và Vincent đánh cờ, tôi chỉ cảm thấy bàn cờ ấy có một sức hút thần bí đối với mình. Nó còn hấp dẫn hơn cả những vị thuốc kỳ lạ của lão Lý ở tiệm thuốc bắc. Biểu cảm khi đánh cờ của các anh mới nghiêm túc làm sao, điều này khiến tôi tin rằng trong trò chơi này ẩn chứa những điều huyền diệu không thể diễn tả bằng lời, còn kích thích hơn cả cánh cửa nhỏ u ám thần bí ở nhà hàng Hoành Tân.
“Em chơi với, em chơi với!” Khi một trong hai người anh thở dài chán nản, còn người kia thì đắc ý vênh váo quên cả trời đất, biểu thị một ván cờ đã hạ màn, tôi liền nhân cơ hội nài nỉ. Vincent ban đầu không chịu cho tôi tham gia, cho đến khi tôi cống hiến hai viên kẹo hình tròn để thay thế cho hai quân cờ bị thiếu thì cậu ấy mới đồng ý. Cậu chọn một viên kẹo vị anh đào làm tốt đen, chọn một viên kẹo bạc hà làm mã trắng, hễ ăn được quân cờ nào thì có thể ăn thật sự viên kẹo đó vào miệng.
Vincent bắt đầu dạy tôi luật chơi cờ: “Ở đây tổng cộng có mười sáu quân cờ, anh cũng có mười sáu quân. Này, vua hoặc hậu, hai tượng, hai mã, hai xe, còn có tám tốt. Tốt nước đầu chỉ được đi thẳng, sau đó, chúng có thể đi liền hai bước...”
“Tại sao chúng chỉ được đi hai bước, không được đi nhiều hơn?” Tôi nghịch con tốt của mình hỏi.
“Bởi vì chúng là tốt!” Cậu đáp.
“Tại sao chúng nhất định phải đi bước chéo thì mới ăn được một quân? Tại sao trong cờ không có phụ nữ và trẻ em?”
“Tại sao bầu trời có màu xanh? Cậu toàn hỏi mấy câu ngốc nghếch thế!” Vincent nói, “Đây là luật chơi, có phải do anh định ra đâu. Này, xem cuốn sách hướng dẫn này.” Cậu cầm con “tốt” trên tay, lật quyển hướng dẫn đến trang viết về “tốt”: “Tốt P—A—W—N, tốt, tự cậu đi mà xem.”
Mẹ đang nhào bột bên cạnh bèn vỗ vỗ bột mì trên tay, nói: “Đưa mẹ xem nào!” Bà nhận lấy cuốn sách hướng dẫn lướt qua một lượt làm ra vẻ hững hờ.
“Cái thói đời kiểu Mỹ này!” Bà cười nhạt không tỏ thái độ.
“Bất cứ ai khi đặt chân đến một đất nước xa lạ, điều đầu tiên đều phải tuân thủ quy củ ở đó. Nếu con chẳng biết gì về điều này, trọng tài sẽ nói: Cậu làm ăn kiểu gì thế, cút về đi. Bọn họ sẽ không giải thích cho con tại sao phải thế này mà không được thế kia. Con hỏi, họ sẽ bảo không biết, tự con đi mà ngẫm nghĩ lấy! Kỳ thực trong lòng họ nắm rất rõ. Thế nên cách tốt nhất là con cầm quân cờ, tự mình đi ngẫm nghĩ cho ra sự huyền diệu trong đó.” Nói xong, bà cười ranh mãnh.
Từ đó, tôi nghiêm túc nghiên cứu nghệ thuật đánh cờ, lật tài liệu, tra từ điển, còn đến thư viện ở phố Tàu để gặm nhấm đủ loại sách vở liên quan đến cờ vua.
Cuối cùng, tôi cũng lĩnh hội được không ít điều huyền diệu trong đó, cách khai cuộc thế nào? Tiếp theo đó làm thế nào để kiểm soát toàn cục? Một người chơi cờ giỏi, mỗi khi tính đi một nước, tổng cộng phải nghĩ đến ba bốn nước sau đó, tầm nhìn phải xa, hơn nữa phải học được sự nhẫn nại và không lộ sắc mặt, phải biết ra tay trước chiếm ưu thế. Tôi bắt đầu học được cách tập trung tinh thần trước bàn cờ, mỗi khi đi một quân cờ đều phải suy tính ba lần rồi hãy làm, cân nhắc hậu quả của nó.
Đồng thời tôi cũng nhận được sự soi sáng từ đó, tôi không nên vạch áo cho người xem lưng cái “tại sao” của mình, cái gọi là tiểu bất nhẫn tắc loạn đại mưu mà. Đây là nghệ thuật chơi cờ, là bí quyết đánh cờ, nhưng cũng là chuẩn mực đối nhân xử thế. Hơn nữa con nhất định phải không lộ sắc mặt, không lộ sắc mặt.
Thế giới cấu thành từ sáu mươi tư ô vuông đen trắng này đối với tôi có sức hấp dẫn vô tận. Tôi tự tay cẩn thận vẽ một bàn cờ lớn ghim lên bức tường đầu giường, mỗi tối nằm trên giường là tôi lại đăm đăm ngẫm nghĩ về bàn cờ thêm một bận. Rất nhanh, tôi không cần dùng kẹo để đổi lấy cơ hội chơi cờ nữa, nhưng tôi lại chẳng tìm được một đối thủ đánh cờ nào. Hai người anh của tôi tỏ thái độ rõ ràng rằng bọn chúng thà sau giờ tan học mặc bộ đồ cao bồi Hopalang ra đường lượn lờ còn hơn là đánh cờ với tôi.
Hai
Vào một buổi chiều xuân giá rét, tôi tan học về nhà, đi xuyên qua bãi đất trống ở tận cùng con đường nhỏ, nơi đó tụ tập một đám người lớn tuổi, đang vây xem hai người đánh cờ. Tôi chạy bay về nhà, lấy bộ cờ bị cột bằng dây thun của Vincent, và không quên mang theo hai viên kẹo trái cây để thế vào hai quân cờ bị thiếu. Tôi quay lại bãi đất, tiến lại gần một vị tiên sinh đang đứng xem đánh cờ.
“Đánh cờ không ạ?” Tôi hỏi ông ấy. Hai mắt ông mở to hết cỡ, thế nhưng khi nhìn thấy hộp cờ tôi kẹp dưới nách, ông liền phì cười.
“Cô bé ơi, ta đã lâu lắm không chơi búp bê rồi.” Vừa nói, ông vừa liếc nhìn tôi đầy cưng chiều. Tôi liền lập tức bày trận thế trước mặt ông như khiêu chiến.
Vị bá bá này, tôi gọi ông như thế, trình độ cờ tướng của ông cao hơn hai người anh của tôi nhiều lắm, tôi đấu với ông thua liền mấy ván, tự nhiên cũng mất không ít kẹo trái cây, nhưng bản thân tôi cảm thấy mình lại học được thêm rất nhiều mẹo vặt mới mẻ về chuyện đánh cờ. Bá bá dạy tôi không ít thủ đoạn: Nào là “ám độ trần thương”, “ném đá giếng sâu”, “tập kích bất ngờ”, “đâm lén sau lưng”, “mê hồn trận”, “giết người không thấy máu”...
Đánh cờ cũng có rất nhiều quy ước ngầm của người quân tử: Quân cờ ăn được phải xếp cho thật ngay ngắn, chưa đến thời điểm thì không được gọi “chiếu”, còn sau khi thua cờ thì không được hậm hực vứt bừa quân cờ, bởi vì xong việc chính con lại phải tự mình nhặt nó lên, hơn nữa còn phải xin lỗi đối phương. Đến cuối mùa hè, bá bá đã dốc túi dạy hết, gần như truyền thụ toàn bộ bản lĩnh của ông, kỳ nghệ của tôi lại càng cao cường hơn.
Khi tôi đánh cờ ở cái quảng trường nhỏ đó, xung quanh tôi sẽ vây quanh một đám người Trung Quốc và khách du lịch, đến mẹ tôi cũng sẽ gia nhập vào đó. Bà sẽ dùng sự khiêm nhường theo kiểu Trung Quốc mà giải thích với mọi người rằng: “Con bé này chỉ ngẫu nhiên may mắn thôi!”
Một vị tiên sinh trong số đó gợi ý với mẹ tôi, đưa tôi đi tham gia giải đấu cờ của thành phố. Mẹ mỉm cười dịu dàng, lấp lửng lắc lắc nét mặt. Trong lòng tôi ngứa ngáy khó chịu, rất hy vọng mẹ sẽ đồng ý, nhưng ngoài miệng thì không thốt ra một chữ nào. Tôi biết bà sẽ không đồng ý cho tôi đánh cờ giữa những người xa lạ, thế nên trên đường về nhà, tôi cố tình chủ động tỏ thái độ rằng mình không muốn tham gia giải đấu của thành phố, mấy quy tắc kiểu Mỹ đó tôi cũng không quen thuộc lắm, nhỡ thua thì mất mặt lắm.
“Có ai kéo ép con đi đâu, con rụt rè sợ sệt thế này mới mất mặt ấy chứ!” Mẹ nói, ý trong lời bà là bà đồng ý cho tôi đi rồi.
Lần đầu tiên đi thi đấu, mẹ đi cùng tôi ngồi ở hàng ghế đầu tiên chờ đợi, đôi chân tôi cứ run lẩy bẩy không ngừng, bởi vì mồ hôi đã làm ướt sũng giá đỡ bằng kim loại trên ghế ngồi. Đến khi gọi đến tên tôi, tôi liền bật tung người dậy. Mẹ từ trong túi áo lấy ra một viên ngọc đỏ nhỏ xíu, đỏ rực một màu, đây là bùa hộ mệnh của bà. “Chúc con gặp nhiều may mắn.” Bà nhẹ nhàng nói, nhét viên ngọc vào túi áo tôi. Tôi ngước mắt nhìn đối thủ của mình: Đó là một cậu nhóc người Oakland, khoảng mười lăm mười sáu tuổi, chỉ thấy cậu ta nhăn mũi, mang theo vẻ hơi khinh miết mà đánh giá tôi. Nhưng rất nhanh, cậu ta đã biến mất khỏi tầm mắt tôi, trước mắt tôi chỉ còn lại những quân cờ trắng của mình, quân cờ đen của cậu ta, hai trận đối đầu. Một làn gió nhẹ lướt qua bên tai tôi, chỉ có tôi là nghe hiểu nó nói với tôi cái gì.
“Phát động tấn công từ phương Nam.” Nó nhẹ nhàng truyền dạy, “Đến không dấu vết, đi không tung tích, cho đối phương một đòn bất ngờ không kịp trở tay.” Tôi từng bước bố trí trận địa, tiến về phía đối phương dọc theo con đường do chính mình mở ra. Giống như gió thổi qua tán lá, hàng ghế khán giả phát ra từng đợt tiếng xào xạc. “Trật tự một chút, trật tự một chút.” Có người mang theo vẻ quở trách phát ra cảnh báo xung quanh. Tôi nín thở tập trung, từng bước tiến sâu. Gió mát thổi mạnh bên tai tôi: “Dụ địch tiến sâu từ phương Đông.” Đối phương quả nhiên nhịp độ có chút rối loạn.
“Thừa thắng xông lên. Đuổi! Đuổi! Cậu ta đã lú lẫn rồi.” Cơn gió vô hình vô ảnh ấy thổi ngày một dữ dội, cuối cùng, giống như gió cuốn mây tan, một tiếng “Chiếu”, tức thì gió lặng mây yên, chỉ nghe thấy tiếng thở bình ổn của chính mình.
Mẹ nâng chiếc cúp vô địch đầu tiên mà tôi giành được đặt bên cạnh một bộ cờ nhựa mới, bộ cờ này là do người hàng xóm tặng tôi.
Mẹ dùng chiếc khăn mềm nhẹ nhàng lau sạch hai quân cờ, miệng nói:
“Lần sau thắng cho xuất sắc hơn chút nữa, bớt để bị ăn mất vài quân cờ đi.”
“Mẹ ơi, chuyện này đâu liên quan đến việc mất bao nhiêu quân cờ.” Tôi nói, “Có lúc, phải hy sinh quân tốt để bảo vệ quân xe chứ ạ.”
“Tốt nhất vẫn là cố gắng ít để đối phương ăn mất mấy quân cờ.”
Trong một trận đấu cờ khác, cũng là tôi thắng. Mẹ tôi vừa đắc ý cười vừa nói:
“Lần này con mất tám quân cờ, lần trước là mười một. Con đã tiến bộ rồi. Nhưng tốt nhất là bớt mất vài quân nữa.”
Bà nói khiến tôi thấy rất mất kiên nhẫn, nhưng tôi lại chẳng thể nói gì với bà.
Danh tiếng của tôi ngày càng vang dội, số lần tham gia thi đấu cũng ngày một nhiều, hơn nữa trận nào cũng thắng. Tiệm bánh ngọt Trung Quốc dưới lầu đã bày những chiếc cúp ngày một nhiều của tôi cùng với những mô hình bánh ngọt phủ đầy bụi bẩn ấy vào trong tủ kính. Có lần, khi tôi mang về một chiếc cúp trong một giải đấu có quy mô khu vực khá lớn, trong tủ kính của tiệm bánh ngọt đó liền bày một chiếc bánh kem tươi mới tinh được phủ lớp kem bơ dày cộp, phía trên dùng nước đường màu đỏ rực viết: “Chúc mừng con, Waverly, tiểu kỳ thánh phố Chinatown.” Chẳng bao lâu sau, mấy ông chủ tiệm hoa, tiệm bia mộ, tiệm điêu khắc và nhà tang lễ đề nghị rằng tôi có thể tham gia giải đấu cấp quốc gia. Kể từ lúc đó, mẹ tôi quyết định rằng tôi không cần phải làm cơm nấu nướng cho gia đình nữa, Winston và Vincent có nghĩa vụ phải gánh vác thay phần việc của tôi.
“Tại sao nó có thể thảnh thơi như vậy, còn bọn con phải làm mấy việc nhà này?” Bọn chúng phản đối.
“Đây là quy củ kiểu Mỹ mới nhất.” Mẹ nói, “Em Út chính là có thể thảnh thơi, vì đánh cờ mà nó đã vắt kiệt óc rồi. Còn mấy đứa thì sao? Mấy đứa mà vắt kiệt được cái khăn mặt của mình đã là giúp ích lắm rồi đấy!”
Năm chín tuổi, tôi đã là quán quân cờ vua cấp quốc gia rồi. Cứ như thể vị trí đại kiện tướng chỉ còn cách trong gang tấc. Tôi được tung hô là niềm hy vọng của nước Mỹ, ngôi sao mới nổi của làng cờ, thần đồng. Tạp chí Life cũng đăng ảnh của tôi lên.
Bobby Fischer chú thích ở bên cạnh: “Trong làng cờ vẫn chưa xuất hiện đại kiện tướng nữ nào cả.”
Hôm đó, bức ảnh họ chụp tôi được đăng lên tạp chí. Mái tóc của tôi theo lệ được chải chuốt bóng loáng, kẹp chiếc kẹp tóc đính hạt nhựa lấp lánh. Ngồi đối diện tôi là một người Mỹ, độ tuổi xấp xỉ với vị bá bá đánh cờ cùng tôi ở cái quảng trường nhỏ lần đó.
Đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ rõ, vị bá bá ở quảng trường nhỏ hôm đó đã bị mấy quân cờ của tôi làm cho toát mồ hôi hột thế nào. Trong cái túi áo khoác sẫm màu, tỏa ra mùi mồ hôi nồng nặc của ông nhét một chiếc khăn tay lớn. Mỗi đi một quân cờ, ông lại lấy khăn tay ra sức lau lòng bàn tay.
Cái cổ áo viền ren của chiếc váy lụa màu trắng hồng mà tôi mặc khiến cổ họng cực kỳ khó chịu, đó là do một tay mẹ vội vàng may để đối phó với tình huống thế này. Tôi tạo dáng theo động tác mà mẹ đã thiết kế sẵn cho tôi: Nắm chặt tay chống lên cằm, khuỷu tay duyên dáng tì lên mép bàn, tôi sẽ lắc lư đôi giày da ở chân giống như những học sinh không kiên nhẫn nổi khi ngồi trên xe buýt trường học. Tiếp đó, tôi dừng lắc lư, cắn môi làm ra vẻ suy tư và chần chừ do dự trước khi đi cờ, rồi với một cử nhân thế đe dọa, “bốp” một tiếng đặt quân cờ vào một vị trí có trọng lượng quyết định, sau đó nở một nụ cười chiến thắng. Đây là cả một bộ tạo dáng được thiết kế riêng cho giới truyền thông.
Ba
Tôi không còn chơi đùa trên phố Waverly nữa, tôi cũng không đến cái quảng trường nhỏ ngập tràn chim bồ câu và người già ấy nữa, mỗi ngày của tôi là một đường thẳng hai điểm: Đi học, về nhà. Vừa bước chân vào nhà là lại lao đầu vào đống cờ, từ đó ngộ ra nhiều bí quyết hơn.
Nhưng chẳng mấy chốc tôi đã cảm thấy, sự can thiệp ở nhà quá lớn, điều này chủ yếu xuất phát từ mẹ tôi. Hễ mỗi khi tôi đang trầm ngâm suy nghĩ chiến lược mới trên bàn cờ là bà lại đứng sát bên cạnh tôi, tôi nghĩ đó là vì bà tự cho rằng mình là đồng minh của tôi. Mỗi khi tôi di chuyển một quân cờ, trong mũi bà lại nhẹ nhàng phát ra tiếng hừ.
“Mẹ ơi, mẹ cứ đứng kèm bên cạnh thế này thì con chẳng thể luyện cờ nổi nữa.” Một hôm, cuối cùng tôi cũng lên tiếng với bà. Bà liền im thin thít quay người đi về bếp, ném xoong chảo kêu lảng choảng. Khi trận lảng choảng ấy im bặt đi, tôi phát hiện bà đang đứng ở góc hành lang, một tiếng “hừ” lại lọt ra từ đôi môi mím chặt của bà.
Để tôi có thể an tâm nghiên cứu nghệ thuật đánh cờ, bố mẹ đối với tôi có thể gọi là trăm yết trăm vâng. Có lần tôi phàn nàn hai người anh ngủ chung phòng với mình quá ồn ào, kết quả là bọn chúng lập tức bị chuyển đến căn phòng khách hướng phố, ở đó người ta chống giường cho chúng nằm. Nếu tôi bỏ thừa cơm canh trên bàn ăn, biểu thị ăn quá no, dạ dày của tôi sẽ khó chịu, việc đó sẽ ảnh hưởng đến tư duy của tôi, bố mẹ cũng tuyệt đối sẽ không trách mắng tôi. Nhưng có một việc tuyệt đối không được miễn, đó là vào mỗi thứ Bảy, vào những ngày tôi không có trận đấu, tôi nhất định phải đi chợ cùng mẹ. Lúc này, mẹ sẽ đắc ý khoác tay tôi, gần như bước vào từng tiệm hàng, mua một đống đồ lớn, rồi không bỏ lỡ cơ hội tự hào giới thiệu với bất cứ ai liếc nhìn bà thêm một cái rằng: “Đây chính là Waverly Jong, con gái tôi.”
Có lần bước ra khỏi một cửa tiệm nào đó, tôi hạ giọng nài nỉ bà: “Mẹ ơi, mẹ thế này chẳng khác nào đang quảng cáo cả.” Mẹ lập tức đứng khựng lại giữa đường, mặc kệ dòng người kẹp những túi lớn túi nhỏ phía sau thỉnh thoảng va vào người chúng ta.
“Á chà, con thấy đi cùng mẹ là mất mặt lắm đúng không?” Bà nắm lấy tay tôi, thậm chí còn siết chặt hơn.
Tôi nhìn mũi giày của mình đáp: “Không phải ý đó, chỉ là, mẹ làm thế khiến con lúng túng quá.”
“Ồ, làm con gái của ta khiến con lúng túng lắm cơ à?” Bà hậm hực chất vấn.
“Không phải ý đó, con không nói thế.”
“Thế con nói thế nào?”
Tôi biết, sự hiểu lầm kiểu này càng giải thích lại càng tồi tệ. Nhưng tôi vẫn nghe thấy từ đầu lưỡi mình thốt ra một tràng dài.
“Tại sao mẹ cứ nhất định phải dùng con để khoe mẽ? Nếu bản thân mẹ muốn khoe mẽ thì sao mẹ không học đánh cờ đi?”
Mẹ tức giận nheo tịt hai mắt lại, tựa như trên khuôn mặt bỗng nhiên nứt ra hai đường khe hở khó lường. Bà không nói gì cả, chỉ dùng sự im lặng để hành hạ tôi.
Tôi chỉ cảm thấy tai mình nóng bừng lên, các mạch máu đập thình thịch, giống như từng đợt gió nóng lướt qua mặt. Tôi dốc sức giật tay mình ra khỏi tay mẹ, cắm cổ chạy đi, một bà cụ bị tôi đụng phải một cú, cam và đồ hộp văng tung tóe khắp đất.
“Ái chà, con cái nhà ai thế này!” Mẹ và bà cụ đồng thời kinh hô lên, mẹ vội vàng cúi người giúp bà ấy nhặt đồ đạc lên, còn tôi thì nhân cơ hội chạy mất.
Tôi luồn lách như một con chạch giữa đám đông, sau lưng truyền đến tiếng kêu thét chói tai từng hồi của mẹ: “Em Út! Em Út!” Tôi chẳng thèm ngoảnh đầu lại, lao vút lên một con đường nhỏ, xuyên qua con ngõ nhỏ, chạy vào con đại lộ đông nghịt khách du lịch, rồi rẽ vào một con phố nhỏ khác, cứ thế quanh co vòng vèo, chạy điên cuồng không có mục đích, cho đến khi tôi không thể nhấc nổi chân lên nữa. Tôi há hốc miệng thở hồng hộc, giống như một cỗ máy đang hoạt động quá tải. Tôi cảm thấy toàn thân lạnh ngắt, liền sụp xuống ngồi phịch lên một cái thùng nhựa úp ngược, tay chống cằm. Tôi tưởng tượng mẹ sẽ tìm từ con phố này sang con phố nọ, cuối cùng bà đành phải từ bỏ việc tìm kiếm, đành về nhà chờ tôi. Khoảng hai tiếng sau, tôi lê đôi chân mệt mỏi rã rời đi về nhà.
Con phố nhỏ dẫn đến căn hộ của chúng tôi tĩnh mịch không một tiếng động, tôi có thể nhìn thấy ánh đèn màu mật ong ở cửa sổ nhà mình, giống như đôi mắt hổ đang sáng quắc lên. Tôi nương theo mũi giày, bước qua mười sáu bậc cầu thang, rón rén như mèo đến trước cửa phòng, giơ tay khẽ vặn nhẹ núm cửa. Cửa đã khóa rồi. Chỉ nghe thấy tiếng ghế đẩy ra trong phòng, sau đó vang lên một tràng bước chân lách cách, kịch một tiếng, cửa mở ra.
“Cuối cùng cậu cũng về rồi,” Vincent nói, “Sao thế, cô bé, gặp rắc rối gì à?”
Cậu vừa nói vừa quay lại bàn ăn. Trên đĩa cá chỉ còn lại một bộ xương nên trông cái đầu cá ấy càng thêm to lớn, đầu cá ngửa lên cao, giữ nguyên tư thế ngoan cố chống cự đến chết trước đó. Tôi nghĩ đây là món ăn chừa lại cho tôi như một hình phạt.
Bên trong truyền ra giọng nói lạnh băng của mẹ:
“Mặc kệ nó. Nó hoàn toàn không coi chúng ta ra gì.”
Tôi một mình nhanh chóng ngồi vào bàn, lặng lẽ lùa cơm vào bụng, không ai thèm để ý đến tôi cả, chỉ nghe thấy tiếng đũa khua lách cách vào bát cơm.
Đặt bát cơm xuống đi vào phòng, đóng cửa lại, tôi úp mặt ngã vật lên giường. Trong phòng không bật đèn, ánh đèn nhà hàng xóm xuyên qua khung cửa sổ hắt lên trần nhà, khúc xạ ra những họa tiết muôn hình vạn trạng.
Trong lúc mơ màng, trước mắt hiện lên bàn cờ đen trắng sáu năm tư ô ấy, còn đối thủ của tôi chính là hai ánh mắt phẫn nộ trầm mặc tựa vực sâu, bà nở nụ cười của kẻ chiến thắng nói với tôi: “Con mèo biết bắt chuột thì không kêu.”
Bà thống lĩnh đám quân tốt đen dưới quyền, với thế chẻ tre dời non lấp biển, ùn ùn kéo đến đè bẹp tôi. Những quân cờ trắng của tôi thét lên chói tai, hoảng loạn thất thố chuốc lấy thất bại. Tôi cảm thấy bản thân không kìm chế được mà lơ lửng bay lên, bị cơn gió vô hình cuốn bay ra ngoài cửa sổ, tôi nhìn thấy con phố nhỏ nơi chúng tôi ở càng lúc càng nhỏ lại dưới thân mình, cuối cùng biến mất trong tầm mắt. Bầu trời bỗng chốc trải rộng ra, vô tận không bờ bến, xung quanh trống trải vô cùng, chỉ có một mình tôi đang lơ lửng.
Tôi nhắm chặt hai mắt lại, suy tư về nước cờ tiếp theo, nên đi thế nào đây?