Mất đi một đứa con yêu dấu chắc chắn là tai họa lớn nhất có thể giáng xuống đời một người đàn ông. Tôi không có ý nói đến cái chết của đứa trẻ.
Một đứa trẻ lang thang ra đường, hay bị người nhũ mẫu bỏ quên trong chốc lát, rồi biến mất. Ban đầu, sự việc chưa thật sự thấm vào tâm trí. Trái tim nhói lên một nhịp, hoảng hốt rồi dịu lại phần nào, trong khi lý trí tự nhủ rằng ở một thành phố văn minh, nếu trẻ con lạc đường, chúng sẽ được hàng xóm hoặc cảnh sát tìm thấy và đưa về.
Nhưng cảnh sát hay hàng xóm đều chẳng hay biết gì về sự việc, và thời gian cứ thế trôi đi. Bất kỳ khoảnh khắc nào cũng có thể đưa đứa trẻ lang thang trở về; thế nhưng những phút giây trôi qua, ngày tàn rồi chuyển sang chòm chiều, chiều buông xuống thành đêm, đêm chìm vào rạng đông, và những âm thanh quen thuộc của một ngày mới lại bắt đầu.
Bạn chẳng thể ngồi yên trong nhà vì nỗi bồn chồn không nguôi; bạn bước ra ngoài, chỉ để rồi hối hả quay về ngóng tin tức. Bạn cứ mãi lắng nghe, và những gì tai bạn nghe được lại càng khiến bạn bàng hoàng; những âm thanh thường nhật của cuộc sống, tiếng xe ngựa lăn bánh trên đường phố, tiếng bước chân của những người qua lại, tất cả đều mang một nỗi buồn thê thảm không sao tả xiết; âm nhạc đẩy sự khốn khổ của bạn đến bờ vực điên dại, còn niềm vui của kẻ khác thì quái đản chẳng khác nào tiếng cười vang lên từ địa ngục.
Nếu có ai đó mang thi thể lạnh ngắt của đứa trẻ đến trước mặt bạn, có lẽ bạn sẽ khóc, nhưng bạn vẫn sẽ ban ơn cho họ, bởi chính sự bấp bênh mới là thứ bóp nghẹt tâm can.
Bạn phát điên, hoặc cứ thế tiếp tục sống. Năm tháng trôi qua, và bạn đã là một ông lão. Bạn tự nhủ với lòng mình: “Hôm nay nó đã tròn hai mươi tuổi.”
Trong bộ luật hình sự tàn bạo của cha ông ta thuở trước, chẳng có hình phạt nào tương xứng với tội ác của kẻ dám cướp đi một đứa trẻ.
Lestrange là một người giàu có, và ông vẫn còn bấu víu vào một tia hy vọng duy nhất: biết đâu các con ông đã được một con tàu qua đường cứu vớt. Đây không phải là trường hợp trẻ em lạc giữa chốn thị thành, mà là giữa vùng biển Thái Bình Dương bao la, nơi tàu bè qua lại từ muôn phương cảng đến muôn phương cảng, và để thông báo về tai họa của mình một cách thỏa đáng, ông buộc phải dán bố cáo khắp thế giới. Mười nghìn đô la là phần thưởng cho bất kỳ ai mang tin tức về những đứa trẻ thất lạc, hai mươi nghìn cho việc tìm lại được chúng; và lời nhắn tìm người ấy xuất hiện trên mọi tờ báo có khả năng đến tay các thủy thủ, từ Liverpool Post cho đến Dead Bird.
Nhiều năm trôi qua mà chẳng có lấy một tin tức xác thực nào đáp lại những lời nhắn nhủ ấy. Đã có lần người ta loan tin về hai đứa trẻ được cứu sống khỏi mặt biển ở vùng lân cận quần đảo Gilberts, và đó không phải là tin giả, nhưng tiếc thay, chúng không phải là những đứa con mà ông đang mỏi mắt kiếm tìm. Biến cố ấy vừa làm ông chìm đắp trong tuyệt vọng vừa thắp lên chút hy vọng, bởi nó dường như đang thì thầm rằng: “Nếu những đứa trẻ kia đã được cứu, sao con của ông lại không?”
Điều kỳ lạ là thẳm sâu trong tim, ông vẫn đinh ninh một niềm chắc chắn rằng chúng còn sống. Lý trí ông đưa ra hai mươi giả thuyết khác nhau về cái chết của chúng; thế nhưng đâu đó văng vẳng phát ra từ đại dương xanh thẳm kia, một tiếng thì thầm thỉnh thoảng lại nhắc nhở ông rằng những gì ông đang kiếm tìm vẫn ở đó, vẫn đang sống và mỏi mòn chờ đợi ông.
Ông có phần mang tính cách giống Emmeline — một kẻ mộng mơ, với tâm hồn nhạy cảm đủ để đón nhận và ghi lại những luồng sóng mong manh lan tỏa khắp thế giới này, chảy từ trí tuệ này sang trí tuệ khác, và thậm chí từ cả những vật thể mà ta vẫn gọi là vô tri vô giác. Một kẻ có bản chất thô tục hơn, dù có đau đớn sâu sắc đến mấy đi nữa, chắc hẳn cũng đã buông xuôi cuộc tìm kiếm trong tuyệt vọng. Thế nhưng ông vẫn kiên trì bước tiếp; và khi năm thứ năm trôi qua, thay vì từ bỏ, ông đã thuê một chiếc tàu buồm, dành mười tám tháng trời ròng rã cho một cuộc tìm kiếm vô vọng, ghé qua những hòn đảo ít ai biết đến, và thậm chí có lần, dẫu vô tình, ông đã ghé qua một hòn đảo chỉ cách hòn đảo nhỏ bé trong câu chuyện này vỏn vẹn ba trăm dặm.
Nếu bạn muốn cảm nhận sự tuyệt vọng của một cuộc tìm kiếm không người dẫn đường ấy, đừng nhìn vào bản đồ Thái Bình Dương, hãy thân chinh đặt chân đến đó. Hết hàng trăm rồi hàng trăm nghìn dặm vuông đại dương, với muôn vàn hòn đảo, rạn san hô và đảo san hô vòng.
Cho đến tận vài năm trước, vẫn có rất nhiều hòn đảo nhỏ hoàn toàn vô danh; thậm chí đến tận bây giờ vẫn còn sót lại một vài nơi, dẫu cho các hải đồ vùng Thái Bình Dương chính là những kỳ quan vĩ đại nhất của ngành trắc địa hàng hải; và dẫu cho hòn đảo trong câu chuyện thực sự có ghi trên hải đồ của Bộ Hải quân Anh, thì thực tế ấy có ích gì cho Lestrange chứ?
Lẽ ra ông vẫn tiếp tục cuộc tìm kiếm, nhưng ông không dám nữa, bởi sự hoang vắng vô tận của biển cả đã chạm đến tâm can ông.
Trong mười tám tháng đó, Thái Bình Dương đã phần nào tự bày tỏ lòng mình với ông, bày tỏ sự mênh mông, tính kín đáo cùng vẻ bất khả xâm phạm của nó. Chiếc tàu buồm cứ lật giở từng lớp sương mù khoảng cách này đến lớp sương mù khoảng cách khác, để rồi phía sau chúng lại bày ra vô số lớp sương mờ mịt khác nữa. Ông chỉ có thể tiến bước theo một đường thẳng; để có thể lục lọi chốn hoang vu ngập nước ấy với chút hy vọng nào đó, con người ta buộc phải được ban cho phép màu di chuyển theo mọi hướng cùng một lúc.
Ông thường đứng tựa người vào lan can mạn tàu, thẫn thờ nhìn những con sóng cuồn cuộn trôi qua, tựa như đang muốn gặng hỏi dòng nước. Rồi những buổi hoàng hôn bắt đầu đè nặng lên trái tim ông, những vì tinh tú bắt đầu thì thầm với ông bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ, và ông hiểu rằng đã đến lúc phải quay về, nếu như không muốn đánh mất đi sự minh mẫn của tâm trí.
Khi trở về San Francisco, ông ghé qua văn phòng người đại diện của mình, ông Wannamaker trên phố Kearney, nhưng vẫn chẳng có lấy một tin tức gì.