Ông đã ngủ được hơn một tiếng thì bừng tỉnh bởi một tiếng thét mảnh dẻ và kéo dài. Đó là Emmeline đang gặp cơn ác mộng, hay nói đúng hơn là mộng mị ban ngày, xuất phát từ bữa ăn gồm cá mòi và ký ức ám ảnh về lũ quái vật gầm gừ. Khi được lay gọi (thường phải mất khá lâu mới giúp cô bé thoát khỏi những cơn hoảng loạn ấy) và được dỗ dành, chiếc cột buồm liền được dựng lại.
Khi ông Button đứng với bàn tay đặt trên thanh xà, đưa mắt quan sát xung quanh trước khi đi về phía đuôi tàu để cầm lấy dây căng buồm, một vật thể đập vào mắt ông cách đó chừng ba dặm về phía trước. Đúng hơn là nhiều vật thể, bởi đó là những chiếc cột và xà của một con tàu nhỏ nhô lên khỏi mặt nước. Chẳng còn lấy một mảnh buồm, chỉ trơ trọi những thanh xà. Một người trên cạn nhìn vào có lẽ sẽ tưởng đó là đôi gốc cây khô mục trơ trọi giữa làn nước.
Ông trân trân nhìn cảnh tượng ấy trong suốt hai mươi hay ba mươi giây mà không nói một lời, cái đầu nhô ra như đầu một con rùa. Rồi ông thốt lên một tiếng hú hoang dại:
— Hurroo!
— Gì thế, Paddy? — Dick hỏi.
— Hurroo! — ông Button đáp. — Tàu ahoy! Tàu ahoy! Hãy thả trôi đợi tao sang leo lên tàu chúng mày nào. Chà, chúng đang thả trôi đấy—chẳng còn một mảnh vải buồm nào trên tàu cả—chúng đang ngủ hay đang mơ mảng thế này? Này Dick, để tao ra đuôi tàu cầm lấy dây buồm; gió sẽ đưa chúng ta tới đó nhanh hơn là ngồi chèo.
Ông lườn người ra đuôi tàu và nắm lấy thanh điều khiển bánh lái; cơn gió bắt lấy cánh buồm, và chiếc thuyền lao nhanh về phía trước.
— Có phải tàu của bố không ạ? — Dick hỏi, cậu bé cũng hồi hộp chẳng kém gì người bạn đồng hành.
— Tao không biết; lát tới nơi rồi sẽ rõ.
— Chúng ta sẽ lên tàu chứ, chú Button? — Emmeline hỏi.
— Có chứ, cô bé ngoan.
Emmeline cúi xuống, lấy gói đồ của mình từ dưới ghế lên và ôm trọn trong lòng.
Khi họ đến gần hơn, dáng hình của con tàu dần hiện ra rõ nét hơn. Đó là một chiếc tàu brig nhỏ, với các cột topmast cụt ngủn, từ những thanh xà vài mảnh vải buồm rách tả tơi đang phần phật bay trong gió. Chẳng mấy chốc, đôi mắt từng trải của người thủy thủ già đã nhận ra điều bất ổn của con tàu.
— Nó là tàu vô chủ, khỉ thật! — ông lầm bầm. — Vô chủ và tiêu đời rồi—đúng là cái vận đen của tao!
— Cháu không thấy có ai trên tàu cả, — Dick kêu lên, cậu bé đã bò lên tận mũi tàu. — Bố không có ở đó.
Lão thủy thủ bẻ lái lệch đi một hai ly để có thể quan sát chiếc brig một cách rõ ràng hơn; khi họ chỉ còn cách khoảng hai mươi chiều cáp, ông hạ cột buồm xuống và vớ lấy cặp dầm chèo.
Con tàu brig nhỏ bé nổi sát mặt nước, mang một vẻ bề ngoài đủ thảm hại; toàn bộ dây nhợ buông chùng xuống, những mảnh vải buồm rách đập phần phật trên các yards, và chẳng có chiếc xuồng nào treo bên các cần cẩu davit. Thật dễ dàng nhận ra đó là một chiếc tàu chở gỗ, và nó đã bị bung một đường tôn, nước ngập đầy khoang rồi bị bỏ hoang.
Paddy dừng chèo khi chỉ còn cách con tàu vài nhịp khua nước. Nó nổi bềnh bồng yên ả như thể đang nằm trong vũng biển San Francisco; làn nước xanh thẳm hắt bóng tàu, và trong làn nước xanh ấy những đám rong biển nhiệt đới mọc ra từ lớp vỏ đồng đang dập dờn theo sóng. Lớp sơn trên tàu phồng rộp và cháy xém hệt như có một thanh sắt nung vừa lướt qua, và vắt vẻo phía trên lan can đuôi tàu là một sợi thừng lớn có đầu chìm nghỉm vào làn nước chẳng thể nhìn thấy.
Chỉ vài nhịp chèo, họ đã trờ tới ngay dưới đuôi tàu. Tên của con tàu hiện lên ở đó bằng những chữ cái đã phai màu, kèm theo cả tên cảng đăng ký.
“Shenandoah. Martha’s Vineyard.”
— Trên tàu có chữ kìa, — ông Button nói. — Nhưng tao chẳng đọc được chúng. Tao có được học hành gì đâu.
— Cháu đọc được ạ, — Dick nói.
— Cháu cũng đọc được, — Emmeline thì thầm.
— S-H-E-N-A-N-D-O-A-H, — Dick đánh vần.
— Cái gì thế hả? — Paddy hỏi.
— Cháu không biết, — Dick đáp, giọng có phần thất vọng.
— Thấy chưa! — lão thủy thủ thốt lên với vẻ đầy chán ghét, vừa bẻ lái cho thuyền vòng sang mạn phải của chiếc brig. — Chúng ra điều dạy chữ cho lũ trẻ ở trường học, bắt tụi nó nhồi sọ bằng sách vở, thế mà có mấy chữ to bằng mặt tao đây mà chúng lại chẳng tài nào đọc nổi đầu đuôi ra sao—tiệt cái lũ sách vở đi!
Con tàu brig có phần mạn tàu mở rộng kiểu cổ, trông như những sàn tàu nhỏ; và vì nổi quá thấp dưới mặt nước nên chúng chỉ cao hơn chiếc xuồng dinghy chưa đầy một thước.
Ông Button buộc chiếc thuyền lại bằng cách luồn sợi dây buộc thuyền qua một mắt chằng trên mạn tàu, rồi ôm Emmeline cùng gói đồ của con bé—hoặc đúng hơn là kẹp gọn trong một cánh tay—ông trèo qua mạn rồi chuyền con bé qua lan can lên boong tàu. Tiếp đến là lượt của Dick, và hai đứa trẻ đứng đợi trong lúc lão thủy thủ mang theo cái bình đựng nước, bánh quy và đồ hộp lên tàu.
Boong tàu Shenandoah thực sự là một nơi làm say đắm trái tim bất kỳ chú bé nào; từ phần ngay trước cửa hầm hàng chính trở lên mũi tàu, đâu đâu cũng chất đầy gỗ. Dây nhợ nằm cuộn bừa bộn trên boong, và gần như toàn bộ phần boong sau bị chiếm dụng bởi một ngôi nhà nhỏ trên boong. Nơi đây thoang thoảng một mùi hương dễ chịu của bãi biển, gỗ mục, hắc ín và cả sự bí ẩn. Những vòng dây kéo buồm và các loại thừng khác lủng lẳng buông xuống từ phía trên, chỉ chực chờ người tau bám vào mà đánh đu. Một cái chuông được treo ngay phía trước cột buồm trước. Chỉ trong chớp mắt, Dick đã chạy lên mũi và nện búa loạn xạ vào chiếc chuông bằng một cái chốt gỗ kiếm được trên boong.
Ông Button quát bảo cậu dừng lại; tiếng chuông làm tai ông nhức nhối. Âm thanh ấy nghe chẳng khác nào một tiếng gọi tập hợp, và việc gọi tập hợp trên con tàu hoang vắng này là điều hoàn toàn không hợp lẽ. Nào ai biết được thứ siêu nhiên nào sẽ đáp lại tiếng gọi ấy chứ?
Dick vứt chiếc chốt gỗ xuống rồi chạy ngược về. Cậu nắm lấy bàn tay đang rảnh rỗi của ông, và cả ba đi về phía cửa ngôi nhà trên boong ở phần đuôi tàu. Cửa đang mở, và họ ghé mắt nhìn vào bên trong.
Nơi này có ba ô cửa sổ ở mạn phải, xuyên qua những ô cửa ấy, ánh nắng rọi vào một cách ảm đạm. Có một chiếc bàn đặt ở chính giữa căn phòng. Một chiếc ghế bị đẩy dịch ra xa bàn như thể có ai đó vừa vùng dậy trong lúc vội vã. Trên mặt bàn bày la liệt tàn tích của một bữa ăn, một ấm trà, hai cái tách, hai cái đĩa. Trên một chiếc đĩa còn gác lại một chiếc nĩa dính mảnh thịt xông khói đang phân hủy mà ai đó rõ ràng đang định đưa lên miệng thì—điều gì đó bất ngờ xảy ra. Ngay gần ấm trà là một hộp sữa đặc bị cạy mở nham nhở. Lão thủy thủ già nào đó vừa mới đang định chế sữa vào trà thì sự kiện kỳ bí kia ập đến. Chưa từng có những vật vô tri nào lại kể câu chuyện của mình một cách sống động đến thế.
Người ta có thể mường tượng ra toàn bộ sự việc. Viên thuyền trưởng, khả năng cao là đã dùng xong bữa trà, còn viên phó thì đang bận rộn với phần của mình, thì vết thủng được phát hiện, hoặc họ đâm phải một con tàu hoang nào đó, hay bất cứ chuyện quái quỷ gì xảy ra đi nữa—đã thực sự xảy ra.
Có một điều hiển nhiên là kể từ khi chiếc brig bị bỏ hoang, thời tiết nơi đây rất yên bình, bằng không thì mọi thứ trên bàn đã chẳng thể nằm lại ngay ngắn đến thế.
Ông Button và Dick bước vào trong để tìm hiểu sự tình, nhưng Emmeline vẫn đứng ở cửa. Sức hấp dẫn của con tàu brig cũ kỹ lôi cuốn cô bé chẳng kém gì Dick, nhưng cô bé mang trong lòng một cảm giác hoàn toàn xa lạ đối với cậu. Một con tàu chẳng một bóng người luôn ẩn chứa những gợi ý về “những thứ khác”.
Cô bé vừa sợ hãi không dám bước vào căn nhà trên boong tối tăm, lại vừa sợ phải ở lại một mình bên ngoài; thế là cô bé chọn giải pháp dung hòa là ngồi phịch xuống boong tàu. Rồi cô bé đặt gói đồ nhỏ bên cạnh, vội vã lôi con búp bê giẻ rách từ trong túi áo—nơi nó bị nhồi chúc đầu xuống—ra, kéo chiếc váy bằng vải calico qua khỏi đầu con búp bê, dựng nó tựa vào ngưỡng cửa và dặn nó đừng sợ hãi.
Chẳng có mấy thứ để tìm kiếm trong ngôi nhà trên boong, nhưng ở phía sau nó là hai căn cabin nhỏ xíu như chuồng thỏ, từng là chỗ ở của thuyền trưởng và viên phó. Ở đây người ta thu được những chiến lợi phẩm tuyệt vời toàn đồ đồng nát. Quần áo cũ, giày bốt cũ, một chiếc mũ chóp cao cổ xưa mang kiểu dáng kỳ lạ mà người ta có thể bắt gặp trên đường phố Pernambuco, cao ngất ngưởng và thắt nhỏ dần về phía vành mũ. Một chiếc kính viễn vọng không tròng kính, một cuốn sách của Hoyt, một cuốn lịch hàng hải, một cuộn vải flannel sọc làm áo sơ mi to bản, một hộp lưỡi câu. Và ở một góc xó—quả là một món hời hiển hách!—là một cuộn trông giống như chừng mười thước dây thừng màu đen.
— Thuốc lá đây rồi, trời đất ơi! — Pat kêu lên, vồ lấy kho báu của mình. Đó là thuốc lá sợi tết thành bím. Người ta có thể thấy những cuộn như thế này ở cửa hàng bán thuốc lá tại các thị trấn cảng biển. Chỉ một tẩu thuốc của nó thôi cũng đủ làm một con hà mã phải nôn mửa, thế mà mấy lão thủy thủ già lại nhai, hút và mê mẩn nó.
— Đem tất cả đám đồ đạc này ra boong tàu rồi tính xem cái nào đáng giữ lại, cái nào nên bỏ đi, — ông Button nói, vơ lấy một bọc đồ cũ to tướng trong tay; trong khi Dick, mang theo chiếc mũ chóp cao mà cậu đã nhanh tay chớp lấy làm chiến lợi phẩm độc quyền của mình, đi trước dẫn đường.
— Em ơi, — Dick hét lên khi chui ra từ ngưỡng cửa, — xem anh vớ được cái gì này!
Cậu đội cái vật thể trông thật đáng sợ ấy lên đầu. Nó trùm sụp xuống tận vai cậu.
Emmeline thét lên một tiếng.
— Nó có mùi ngộ lắm, — Dick vừa nói vừa tháo chiếc mũ ra rồi đưa mũi ngửi phần bên trong — mùi giống như cái bàn chải tóc cũ ấy. Này, em thử đội đi.
Emmeline lùi phắt đi hết mức có thể cho đến khi chạm tới mạn phải tàu, nơi cô bé ngồi thu lu ở rãnh thoát nước, thở không ra hơi, câm lặng với đôi mắt mở to tròn. Con bé luôn hóa cấm khẩu mỗi khi hoảng sợ (trừ khi đó là cơn ác mộng hoặc một cú sốc cực kỳ bất ngờ), và chiếc mũ bất ngờ xuất hiện che khuất nửa người Dick đã khiến cô bé sợ mất mật. Hơn nữa, đó lại là một vật màu đen, và cô bé căm ghét những thứ màu đen—mèo đen, ngựa đen; tệ nhất là chó đen.
Cô bé từng có lần nhìn thấy một chiếc xe tang trên đường phố Boston, một chiếc xe tang cổ kính với những chùm lông vũ màu đen, khăn tang phủ trùm và đủ thứ tang lễ. Cảnh tượng ấy suýt làm cô bé lên cơn động kinh, dẫu rằng cô bé chẳng hiểu mảy may ý nghĩa của nó là gì.
Trong khi đó, ông Button vẫn đang liên tục chuyển từng bọc đồ đạc này đến bọc khác lên boong tàu. Khi đống đồ đã chất thành đống đầy đủ, ông ngồi phịch xuống bên cạnh dưới ánh nắng chiều rực rỡ và châm tẩu thuốc.
Cho đến lúc đó ông vẫn chưa đi tìm kiếm thức ăn hay nước uống; thỏa mãn với kho báu mà Thượng đế ban cho, những nhu cầu vật chất của cuộc sống bỗng chốc bị lãng quên trong chốc lát. Và quả thực, nếu có tìm thì ông cũng chỉ kiếm được nửa bao khoai tây trong gian bếp phụ, bởi khoang tàu ngập nước và nước trong thùng gỗ ở mạn tàu thì đã bốc mùi hôi thối.
Emmeline, thấy mọi việc đang diễn ra bình yên, bèn rón rén bò lại gần, sau khi Dick hứa sẽ không đội chiếc mũ lên đầu cô bé nữa, và thế là cả bọn quây quần ngồi xung quanh đống đồ đạc.
— Cặp giày bốt này này, — lão già vừa nói vừa giơ một đôi giày cũ lên săm soi hệt như một tay đấu giá, — đem ra bất kỳ khu chợ nào ở bất kỳ cảng biển nào trên thế giới này cũng bán được nửa đô la vào bất cứ ngày nào. Đặt nó cạnh em đi, Dick, rồi cầm lấy cái quần này ở hai đầu ống—kéo căng ra xem nào.
Chiếc quần được kéo căng ra, được săm soi, tán thưởng rồi đặt ngay cạnh đôi giày.
— Đây là chiếc kính viễn vọng chột một bên mắt, — ông Button nói vừa săm soi chiếc kính vỡ rồi kéo ra thu vào như một chiếc đàn xếp. — Cứ cắm nó cạnh đôi giày bốt ấy; biết đâu có lúc dùng đến việc gì. Còn đây là một cuốn sách—ông ném cuốn lịch hàng hải cho thằng bé. — Đọc xem nó ghi gì nào.
Dick lật giở những trang chứa đầy các con số với vẻ mặt vô vọng.
— Cháu không đọc được, — Dick nói; — toàn là số thôi ạ.
— Quẳng nó xuống biển đi, — ông Button bảo.
Dick hân hoan làm theo lời dặn, và công việc được tiếp tục.
Cậu thử đội chiếc mũ cao lêu đêu lên đầu, và lũ trẻ cười rộ lên. Khi nằm trên đầu người bạn già, chiếc mũ ấy chẳng còn chút sức mạnh đáng sợ nào đối với Emmeline nữa.
Cô bé có hai kiểu cười. Nụ cười thiên thần đã nhắc đến ở trên—một thứ vô cùng hiếm hoi—và, cũng hiếm hoi không kém, là nụ cười hé lộ hàm răng trắng nhỏ xinh trong lúc đôi tay đan chặt vào nhau, tay trái nắm chặt, còn tay phải trùm lên trên.
Ông đội chiếc mũ sang một bên rồi tiếp tục công việc phân loại, lục lọi tất cả các túi áo quần nhưng chẳng tìm thấy gì. Sau khi đã sắp xếp đâu ra đấy những thứ cần giữ lại, họ quẳng phần còn lại xuống biển, còn những món đồ quý giá được chuyển về cabin của thuyền trưởng, nằm ở đó chờ đến khi cần dùng tới.
Lúc bấy giờ, ý nghĩ rằng thực phẩm có lẽ cũng hữu dụng chẳng kém gì quần áo cũ trong hoàn cảnh hiện tại bỗng lóe lên trong bộ óc đầy tưởng tượng của ông Button, thế là ông tiến hành tìm kiếm.
Khoang tàu chẳng qua chỉ là một cái bể chứa đầy nước biển; ngoài ra nó còn chứa những gì thì vì không phải là thợ lặn, ông chẳng thể nói được. Trong nồi đồng ở gian bếp phụ chỉ có một nhúm thịt lợn hay loại thịt nào đó đang phân hủy. Thùng đựng thịt muối chẳng chứa gì ngoài những tinh thể muối kết tinh to tướng. Toàn bộ chỗ thịt đã bị mang đi hết. Mặc dù vậy, số lương thực và nước uống mang từ chiếc xuồng lên tàu chắc cũng đủ dùng trong khoảng mười ngày gì đó, và trong vòng mười ngày thì khối chuyện có thể xảy ra.
Ông Button rướn người qua mạn tàu. Chiếc xuồng dinghy đang nép mình bên chiếc brig hệt như một chú vịt con nép bên vịt mẹ; phần mạn tàu rộng bè ra trông chẳng khác nào cánh vịt đang khẽ dang rộng. Ông bước lên mạn tàu để kiểm tra xem sợi dây buộc đã được neo chắc chắn chưa. Sau khi đã đảm bảo mọi thứ an toàn, ông chậm rãi trèo lên xà ngang của cột buồm chính, đưa mắt quan sát bốn bề đại dương.