Việc chiếc xe taxi đưa anh từ khách sạn xuống căn hộ của cô không mất đủ thời gian để có thể quyết định hay lên kế hoạch cho bất cứ điều gì, quả thực, chỉ vừa đủ để cô có chút thời gian ngừng khóc và rửa mặt, lại chính là một ơn cứu chuối trong tình cảnh này.
Trong thâm tâm, vừa lúc dùng một chiếc cặp tăm chỉnh lại mái tóc và liếc nhìn xuống bộ trang phục của mình, tự nhủ không nên cố thay chiếc áo cánh đã nhàu nhở hay đôi bốt dính đầy bụi, cô vẫn văng vẳng bên tai câu nói của Galbraith chiều hôm đó—"Và cô biết đấy, khi cơ hội lớn tiếp theo đến, cô cũng sẽ làm như vậy."
Không hề lẩm bẩm lại những lời đó với chính mình, cô bỗng trào lên một niềm tin đột ngột gần như tĩnh lặng. Chỉ ít phút nữa thôi, chắc chắn không quá năm phút—cô hy vọng là không quá khoảng thời gian ấy—một điều gì đó không thể lường trước, vô cùng to lớn, sắp sửa xảy ra với cuộc đời cô. Một bước ngoặt mà khả năng cao sẽ định đoạt cả hướng đi trong quãng đời còn lại của cô. Có thể sẽ có tranh đấu, có bão giông, nhưng cô chẳng mảy may bận tâm dự đoán bản chất của nó. Cô chỉ thả lỏng cơ bắp lẫn tâm hồn rồi chờ đợi. Chỉ là cô mong mình sẽ không phải chờ lâu.
Không—tiếng chuông cửa đã reo.
Thật là may mắn cho Rose vì cô đã không chuẩn bị gì trước, bởi vì tình huống cô gặp phải khi mở cửa đón chồng, bắt tay anh, dẫn anh vào phòng khách và mời anh ngồi, là một viễn cảnh mà ngay cả trí tưởng tượng hoang đường nhất của cô cũng chưa từng mường tượng ra cho cô và Rodney. Và nó kéo dài—hoặc ít ra là tái diễn mỗi khi họ ở bên nhau—gần như nguyên vẹn trong suốt hai ngày ròng rã.
Cô thầm chắc chắn rằng chính thái độ của anh đã tạo nên bầu không khí ấy; thế nhưng, phản ứng của cô lại quá nhanh chóng và tự động đến mức trong suốt nửa tiếng đầu tiên hoặc lâu hơn thế, cô không thể chắc chắn rằng anh không nghĩ chính cô là người tạo ra nó. Không hẳn là những lời đầu tiên anh nói khi cô mở cửa và nhìn thấy anh đứng ngoài hành lang, mà chính là phong thái của anh; phong thái có phần câu nệ ấy; cách anh cầm chiếc mũ; và sự thật—chuyện này nghe thật ngớ ngẩn, nhưng sau đó cô nhớ lại rất rõ ràng—rằng quần áo của anh đã được ủi phẳng phiu. Đó là dáng vẻ hơi lo âu, vô cùng kiên quyết của một người đàn ông trẻ tuổi đáng kính và có phần rụt rè trong lần đầu đến thăm một tiểu thư, người mà anh khao khát đến cháy lòng việc tạo ấn tượng tốt đẹp.
Những gì anh thốt lên không mấy gãy gọn, đại ý là anh rất vui và cô thật tốt bụng, và gần như đồng thời, cô thốt lên đầy nghẹn ngào rằng cô rất vui, và anh có muốn vào nhà không. Cô chìa tay ra với anh một cách lịch sự, và anh, để bù đắp cho một thoáng ngập ngừng không thể nhận ra bằng một sự vội vã có phần vụng về, đã nắm lấy tay cô rồi buông ra cũng vội vã không kém. Cô chỉ chỗ cho anh treo áo khoác và mũ, dẫn anh vào phòng khách và mời anh ngồi xuống. Và thế là họ đối diện nhau.
Và anh chính là Rodney, còn cô là Rose! Mọi thứ cứ như một giấc mơ hoang đường.
Một lúc lâu sau, cô vẫn miên man trò chuyện với một sự thôi thúc cuồng loạn giống như cảm giác trong những giấc mơ: nếu ta ngưng bẵng đi dù chỉ một khoảnh khắc trước hành động vô lý kỳ quái nào đó, một thảm họa vũ trụ sẽ lập tức giáng xuống. Khoảng lặng giữa hai người lúc ấy, cô cảm nhận rõ, là một điều gì đó đáng sợ đến không thể tưởng tượng nổi. Đó không phải là nỗi sợ về những gì có thể trồi lên từ khoảng lặng đó, về sự rách toạc bất thình lình của những lớp màn che và cuộc đối đầu giữa hai thực tại; mà đơn thuần là nỗi sợ hãi chính sự im lặng mà thôi. Nhưng cảm giác đó không kéo dài quá lâu.
"Anh hút thuốc chứ?" cô bỗng hỏi; rồi nói nhanh khi thấy anh chợp ngơ ngác ngập ngừng, "Em không hút, nhưng hầu hết bạn bè của em đều hút, nên em vẫn luôn chuẩn bị sẵn." Từ một ngăn kéo bàn viết, cô lấy ra một hộp thiếc đựng thuốc lá. "Loại của anh đấy—trừ khi anh đã đổi khẩu vị," cô chú thích, rồi bước đến bệ lò sưởi để lấy chiếc gạt tàn và hộp quẹt. Hộp quẹt đã trống không nên cô đành rời khỏi phòng để lấy thêm từ căn bếp nhỏ.
Mặt trong của cửa ra vào là một chiếc gương lớn, và ở đó, khi cô bước ngược trở lại qua hành lang tối đèn, cô nhìn thấy chồng mình. Anh vẫn ngồi đúng tư thế như lúc cô vừa để lại, và vì khuôn mặt anh hơi quay đi hướng khác, cô không thể nhìn thấy biểu cảm của anh để mà đoán biết tâm tư. Nhưng cô đã khựng lại giữa bóng tối, nín thở tự lưng vào bức tường và chớp mắt để ép những giọt lệ chực trào.
Có lẽ chỉ vì anh ngồi im phăng phắc đến vậy, một điều hoàn toàn trái ngược với bản tính của anh. Rodney trong ký ức của cô luôn đi lại quanh quẩn trong những căn phòng giam hãm anh. Hoặc có lẽ bàn tay duy nhất mà cô nhìn thấy đang bấu chặt vào thành ghế có liên quan đôi chút đến điều đó. Nhưng thực ra, đó hoàn toàn không phải là một quá trình suy luận có ý thức; mà chỉ là cái nhìn thấu thị—thấu suốt vào tận tâm can anh, cùng một sự thấu hiểu đột ngột, trọn vẹn và đầy tự tin.
Anh đã cất công xuống tận New York này để làm lại từ đầu. Anh không hề có ý định đòi hỏi bất cứ quyền lợi nào, thậm chí chẳng màng tới những ký ức chung của hai người, anh sẽ chẳng đưa ra lời kêu gọi nào cả. Nhưng có thứ gì đó mà anh cảm thấy mình đã đánh mất, anh sẽ cố gắng dùng sức lực để chuộc lại. Thứ anh tìm kiếm là gì—tình bạn của cô, hay tình yêu của cô? Cô thừa biết! Chẳng có lời biện hộ nào dẫu hoa mỹ và tràn ngập đam mê đến đâu có thể thuyết phục cô về tình yêu của anh dành cho cô và nỗi khát khao tình yêu ấy nhiều bằng sự ngớ ngẩn thiêng liêng trong nỗ lực này của anh—nỗ lực cho cô thấy rằng cô chẳng cần phải cho anh—thứ gì cả. Cô hiểu rõ lắm. Ôi, cô hiểu đến nhường nào!
Cô lủi thủi bước trở lại căn bếp nhỏ, khép cửa lại và lả đi tựa người vào cánh cửa, cố gắng điều hòa lại nhịp thở. Cuối cùng cô đứng thẳng người lên và lau khô khóe mắt. Một nụ cười thoáng hiện trên môi; nụ cười của sự âu yếm bao dung tựa tình mẫu tử. Sau đó, cô nhặt hộp diêm lên và mang ra phòng khách cho anh.
Tối hôm ấy, anh ở lại chưa đầy một tiếng đồng hồ, và khi anh đứng dậy ra về, cô cũng không tìm cách níu kéo. Đúng như lớp bề mặt phẳng lặng không một gợn sóng của nó đã minh chứng, đó là một cuộc viếng thăm đầu tiên vô cùng thành công. Tuy nhiên, trước khi để anh đi, cô đã hỏi xem anh dự định ở lại New York bao lâu, và nhận được một câu trả lời vô cùng lập lờ với mức tối thiểu là "hai hoặc ba ngày" còn mức tối đa thì đến cô cũng chẳng thể đoán định nổi, cô liền nói:
"Em hy vọng anh không quá bận rộn đến mức chúng ta không thể gặp nhau nhiều hơn. Em ước gì mình có thể sắp xếp gặp nhau mỗi ngày."
Câu nói ấy khiến anh chấn động; trong khoảnh khắc, cô tưởng chừng như sét đánh ngang tai và đứng yên thin thít, nín thở chờ đợi điều đó xảy ra.
Nhưng anh đã kịp trấn tĩnh lại, bảo rằng anh chắc chắn có thể sắp xếp được nếu cô muốn, và khi chiếc thang máy trỗi dậy theo tiếng chuông bấm của cô, anh bảo sáng hôm sau sẽ gọi điện cho cô ở văn phòng.
Trong lúc cởi đồ với những khoảng ngắt quãng, cô vẫn còn thắc mắc đôi chút về lý do tại sao mình lại để anh ra đi dễ dàng như vậy. Cô thấy việc gọi tên những lý do không phải là nguyên nhân dễ dàng biết bao. Chắc chắn không phải—ôi, hàng ngàn lần không phải!—vì cô chưa hoàn toàn chắc chắn về anh. Không có từ ngữ nào diễn tả hết sự trọn vẹn trong niềm tin của cô rằng: chỉ cần một ánh nhìn, một cử chỉ đưa tay ra đón nhận, một tiếng kêu yêu thương khẽ bật thốt từ đôi môi, một câu nửa vời kiểu như "Hãy đến và ôm em đi, Roddy! Đó là tất cả những gì em muốn!"—là cô đã có thể đập tan, xóa sạch cái vỏ bọc kiềm chế mỏng manh kia của anh; giải phóng cơn bão đam mê cuồng nhiệt trong anh; để rồi tìm thấy chính mình—và đánh mất chính mình—trong cái ôm của anh.
Chắc chắn không phải vì hoài nghi điều đó mà cô kìm chân lại. Và cũng chẳng phải do kiêu hãnh hay thẹn thùng. Thứ duy nhất mà toàn bộ con người cô đang gào thét đòi hỏi chính là sự đầu hàng hoàn toàn trước anh.
Thế nhưng, lý do thực sự lại có vẻ khá ngớ ngẩn khi cô cố tự nhủ lòng mình. Cô cảm thấy rằng làm như thế sẽ thật tàn nhẫn biết bao. Thực tình, cảm xúc của cô đối với anh lúc ấy giống như tâm trạng của một người mẹ dành cho đứa con trai—đứa trẻ nghĩ rằng mình đã làm mẹ phật lòng, nên đã mang dâng tặng mẹ một món đồ quý giá nào đó để chuộc lỗi; một cỗ xe cứu hỏa bằng sắt, một chú cừu bằng bông. Nào có người mẹ nào lại không đón nhận một lễ vật như thế với vẻ mặt đầy trang nghiêm cơ chứ!
Thứ mà Rodney vừa dâng hiến cho cô—màn kịch đầy dũng cảm và xé lòng rằng cô chẳng cần phải cho anh bất cứ thứ gì—đối với cô, người đang quằn quại khát khao được dâng hiến cho anh tất cả những gì mình có!—cũng ngớ ngẩn chẳng kém gì món đồ chơi của đứa trẻ kia. Nhưng cái giá mà anh phải trả... Ôi, anh đã phải đánh đổi bằng bao nhiêu đấu tranh và hy sinh biết bao để dựng lên cái vỏ bọc đáng thương và trong suốt đến thế!—để duy trì phong thái ấy! Và sự đấu tranh cùng sự hy sinh đó tuyệt đối không được phép bị hạ thấp, không được làm cho trở nên lố bịch bởi một màn phá vỡ đột ngột chứng minh rằng chúng vốn dĩ thừa thãi. Lớp vỏ bọc của anh phải được làm tan chảy đi, chứ không phải đập nát. Và cho đến khi nó tan chảy, nỗi khát khao nhức nhối trong cô đành phải kiên nhẫn chờ đợi.
Và rồi cô nhận ra rằng nỗi đau nhức nhối ấy đã biến mất—cơn đói khát quằn quại, bứt rứt vì anh vẫn cào xé tâm can cô từ những ngày đầu mùa xuân bừng tỉnh nay đã được xoa dịu phần nào. Cách đây đúng hai mươi tư tiếng, cô từng quả quyết rằng việc ở bên anh, giữ anh ở gần bên, trong bất kỳ mối quan hệ nào khác ngoài cương vị người tình, sẽ là điều không thể chịu nổi. Hai mươi tư tiếng trước! Cô nghĩ về điều đó trong lúc đang lên dây cót chiếc đồng hồ. Thật khó mà tin nổi mới chỉ chừng ấy thời gian trôi qua kể từ khi tiếng nấc ngọt ngào trong giọng hát của John McCormack cất lên câu "Just a little love, a li-ttle ki-iss" từng đẩy cô đến bờ vực phát điên.
Cô tắt đèn và mở tung cửa sổ phòng ngủ. Chiếc máy hát ở phía bên kia khoảng sân lại bắt đầu cất tiếng. Nhưng rõ ràng là chủ nhân của nó đã quay trở lại từ Pittsburgh, bởi vì nó đang ngân nga đầy hào hứng: "That's why I wish again that I was in Michigan, back on the farm."
Rose mỉm cười với nụ cười rộng quen thuộc, rồi rúc má vào chiếc gối êm ái. Cô là người hạnh phúc nhất trên đời.
Sáng hôm sau, khi anh gọi điện tới, cô liền mời anh ghé qua trụ sở của Dane & Company (đó là một tầng gác xép ở khu Hạ Đại lộ Fifth) vào khoảng trưa để cùng đi ăn trưa, và cô không hề giấu giếm dụng ý khi chọn địa điểm hội ngộ này. "Em muốn anh tận mắt nhìn thấy nơi chúng em làm việc trông như thế nào," cô nói, "dù hiện tại nó chẳng có mấy thứ để ngắm nghía giữa lúc chuyển mùa thế này đâu. Dù sao thì anh cũng có được hình dung cụ thể."
Anh đáp rằng anh vô cùng hứng thú muốn được mục sở thị nơi làm việc của cô, và qua âm điệu giọng nói, có vẻ như anh định kết thúc cuộc trò chuyện ở đó. Nhưng cô đã kéo dài nó thêm chút nữa.
"Anh có nhận được tin tức gì từ—Chicago trong thời gian ở dưới này không, Roddy?" cô hỏi. "Ý em là mọi thứ ở nhà... vẫn ổn chứ?"
Phải mất một hoặc hai giây anh mới trả lời, nhưng khi lên tiếng, giọng anh hoàn toàn bình tĩnh.
"Ừ," anh nói. "Anh nhận được một bức điện tín đêm vào mỗi buổi sáng từ cô French. (Đó là người kế nhiệm của bà Ruston.) Mọi chuyện... mọi thứ đều ổn."
"Vậy hẹn gặp lại vào buổi trưa nhé," cô nói. Và giá như anh có thể nhìn thấy nụ cười trên môi cùng ánh sáng rực rỡ trong đôi mắt cô lúc cất lên câu nói ấy...!
Bạn thấy đấy, điều đó vốn là một phần trong quyết tâm Hiệp sĩ của anh—quyết tâm không đưa ra bất kỳ đòi hỏi nào, nên trong buổi tối ghé thăm, anh đã không hề hé răng nửa lời về cặp song sinh—những đứa con bé bỏng của cô!
Đúng mười hai giờ kém, tấm danh thiếp của anh được mang vào, và cô bước ra phòng chờ nhỏ trống trải của họ để đón anh.
"Anh thấy đấy, chúng ta không phải là một tiệm may thông thường," cô nói. "Những vị khách mà chúng ta cần gây ấn tượng lại không phải là những người mặc trang phục do chúng ta thiết kế. Thế nên chúng ta có thể tha hồ xập xệ khi ở dưới này, và Alice nói—Alice Perosini, anh biết rồi đấy—rằng sự xập xệ của chúng ta thực sự lại gây được ấn tượng với họ. Nó cho thấy chúng ta chẳng bận tâm họ nghĩ gì."
"Em chắc là mình có thừa thời gian để tham quan chứ?" anh tiếp lời. "Việc này có lẹm vào giờ ăn trưa của em không?"
Anh tỏ rõ ý mình có rất nhiều thời gian, và cô bèn dẫn anh vào phòng thu riêng của cô, một căn phòng rộng đón ánh sáng phương Bắc ở phía sau tòa nhà, nơi có những con ma-nơ-canh của họa sĩ mà Jimmy Wallace từng kể đang đứng rải rác, cùng một vài thiết bị chiếu sáng điện trông khá kỳ quái mang đậm hơi hướng sân khấu; một chiếc hộp lớn lót thiết bị thiếc chứa nửa tá bóng đèn von-fram công suất lớn, với những rãnh ở miệng hộp để lắp các tấm kính màu. Cùng một loại đèn pha có thể xoay trên một trục quay. Có một chiếc bàn cắt cao với một khoảng lõm sâu, nơi Rose có thể đứng với đống vải vóc bao quanh. Trên một góc kệ, anh chú ý thấy hai hoặc ba bức tượng nhỏ cao chừng mười hai inch mà anh suýt tưởng là búp bê nếu như phần đầu nhỏ xíu của chúng không tương xứng với tỷ lệ của người trưởng thành. Rose liếc nhìn theo ánh mắt của anh.
"Em hay chơi đùa với mấy thứ đó," cô nói. "Khoác lên chúng đủ loại trang phục—chủ yếu bằng giấy lụa. Có vẻ như việc nắm bắt một ý tưởng ở kích thước nhỏ bằng đầu ngón tay rồi để nó lớn dần lên sẽ dễ dàng hơn. Anh phải tự tìm ra cách để thực hiện mọi việc theo ý mình chứ, đúng không?"
Rồi cô dẫn anh ra phòng làm việc, nơi có nhiều bàn cắt hơn cùng những chiếc máy khâu chạy bằng điện.
"'Họa vô đơn chí', đó là châm ngôn của công việc này," cô nói với anh. "Chẳng ai biết mình muốn gì cho đến phút chót, rồi họ lại đòi có ngay lập tức, và mọi người cùng đổ xô vào đòi hỏi. Những lúc ấy nơi này trông như một nhà thương điên. Bọn em phát điên lên mất. Hồi Jimmy Wallace ghé xuống đây cũng thế. Em chẳng có lấy một phút dành cho anh ấy."
Cô cố tình nói thêm, "Em rất mừng vì anh đã không đến vào lúc đó," rồi nhanh chóng giải thích về một hệ thống thước vẽ phóng tầm (pantograph) có thể được điều chỉnh theo số đo của con ma-nơ-canh mà Rose đã dùng để thiết kế trang phục, và số đo của cô gái sẽ mặc nó, sao cho bản rập của bộ trang phục—khác với mẫu rập chủ đạo của Rose—được cắt gần như tự động để vừa vặn như in.
"Tất nhiên là nó không hoàn toàn tự động đâu," cô nói. "Chẳng có bộ trang phục nào hoàn thành cho đến khi em tận mắt ngắm nó trên người thiếu nữ sẽ mặc nó cả. Nhưng quả thực nó tiết kiệm được rất nhiều thời gian."
Đúng lúc đó Alice Perosini bước vào, và bộ váy cô ấy đang mặc chắc chắn sẽ là một khung cảnh ngoạn mục đến nghẹt thở đối với hầu hết đàn ông. Nhưng người há hốc mồm lại không phải là Rodney. Chính Alice mới là người suýt kêu lên kinh ngạc khi Rose giới thiệu anh với cô ấy, chẳng cần giải thích rườm rà, rằng đây là ông Aldrich và cô sắp đi ăn trưa cùng anh.
"Và chẳng biết lúc nào em mới về đâu," cô nói thêm, "thế nên nếu có chuyện gì cần bàn bạc, tốt nhất là em nên chớp lấy cơ hội này nói luôn bây giờ đi."
Không thể trách Alice nếu khuôn mặt cô lúc ấy là một bức tranh muôn màu muôn vẻ. Cô biết Aldrich chính là tên của người chồng đã bỏ rơi Rose, và sẽ rất tự nhiên nếu cô tin rằng nhân vật có vẻ ngoài vô cùng ấn tượng mà Rose giới thiệu một cách dửng dưng kia chính là hắn. Thế nhưng thái độ dắt díu anh đi vòng quanh xưởng một cách tự nhiên như không có chuyện gì xảy ra, lại còn thản nhiên tuyên bố kéo đi ăn trưa của Rose, khiến cho kết luận đó trở nên hoang đường hết chỗ nói.
Dù vậy, người đàn ông ấy không hề mang phong thái bàng quan, cô thầm ngẫm nghĩ lại sau đó. Anh đã làm tròn vai trò của mình một cách đầy đủ và lịch sự trong màn giới thiệu cũng như vài câu chuyện phiếm vụn vặt theo sau đó, nhưng Alice hoài nghi liệu anh có thực sự nhìn thấy sự hiện diện của cô không nữa. Và khi một người đàn ông mà lại không thèm nhìn ngắm Alice—đây là một lối suy luận mà cô hoàn toàn có khả năng vạch ra một cách sòng phẳng—thì điều đó đồng nghĩa với một sự tập trung cao độ đến mức có thể gọi là kỳ quái—dù sao đi nữa thì cũng là điềm gở.
Rose hỏi anh có phiền không nếu ghé nhà hàng Brevoort, nơi nằm gần đây và rất thoáng đãng trong một buổi chiều xuân ấm áp thế này, và anh đã hào hứng đồng ý. Đã mấy năm rồi anh không đặt chân tới đó, anh nói. Chỉ một lát sau, cô lại thầm ước gì mình chịu suy nghĩ kỹ hơn và đưa anh đi nơi khác, nơi mà sự quen thuộc của cô không đến mức phơi bày rõ mồn một như thế. Những lời chào hỏi niềm nở của người trưởng nhóm phục vụ, số lượng người gật đầu chào cô từ chiếc bàn này sang chiếc bàn khác, quả thật là những thứ hoàn toàn có thể dẹp bớt trong một dịp như thế này. Và đỉnh điểm là khi người phục vụ bàn, vốn quen thuộc với việc cô dẫn khách thuộc bất kỳ giới tính nào đến ăn trưa cùng, và nắm rõ những sở thích ăn uống của cô qua mối quan hệ thân thiết, đưa cho cô thực đơn—như một thủ tục hình thức—báo cho cô biết hôm nay cô nên dùng món gì, rồi rút cây bút và tấm thẻ ghi chú ra, sẵn sàng ghi chép. Cô thoáng thấy Rodney nhìn với vẻ mặt khá ngơ ngác, bèn chặn người phục vụ lại và nói:
"Em nghĩ là chính em đã mời anh đi ăn trưa, nhưng nếu anh thích mời em hơn... Anh muốn chọn thế nào cũng được."
Anh ngập ngừng đúng một thoáng; rồi đáp rằng anh muốn được ăn trưa cùng cô. Và bằng cách nào đó, ánh mắt họ chạm nhau qua khoảnh khắc đó, một lần nữa khiến Rose phải nín thở. Nhưng lần này sấm sét không hề giáng xuống.
Dẫu vậy, khoảng thời gian của họ không hề bị lãng phí vào những chủ đề xã giao sáo rỗng của các cuộc trò chuyện may đo, như cô từng lo sợ lúc đầu; bởi vì chẳng mấy chốc anh đã hỏi cô—và cô nhận ra anh thực sự muốn biết—làm thế nào mà cô lại dấn thân vào con đường thiết kế trang phục này. Rõ ràng cô có năng khiếu thiên bẩm với nó, nhưng làm sao cô lại phát hiện ra điều đó, và làm thế nào cô trau dồi được thứ kỹ thuật mà ngay cả trong đôi mắt u mê của anh cũng thấy rõ là phi thường?
Và Rose, bắt đầu với chút rụt rè bởi cô biết trước mặt anh vẫn còn nhiều khúc mắc chông gai, đã kể cho anh nghe câu chuyện khởi nguồn từ cửa hàng của Lessing; câu chuyện về bà Goldsmith với gu thẩm mỹ tồi tệ, về mẫu thiết kế của Poiret đã gợi cho cô ý tưởng lớn lao, về lời đề nghị cô dành cho Galbraith, cách cô mua ma-nơ-canh và những cuộn vải cambric giấy giữa đợt bận rộn mua sắm Giáng sinh, rồi tự tay cắt rập trong những đêm khuya khoắt sau buổi tổng duyệt, tại căn phòng nhỏ trên phố Clark. Cô kể cho anh nghe về sự cuồng nhiệt vội vã khi những bộ trang phục được hoàn thành ngay dưới sân khấu nhà hát Globe; về sự phấn khích của Galbraith, về món hời cô trổ tài mặc cả với Goldsmith và Block—món hời vô tình mang lại cho cô khoản lợi nhuận hơn hai trăm đô la. Cô kể cách Goldsmith và Block tự tay chớp lấy món hời của riêng họ khi thuê cô với mức lương của một vũ công múa phụ họa trong hai tuần lễ điên rồ cuối cùng; cô đã làm việc cuồng loạn đến mức nào, và cuối cùng, sau buổi diễn ra mắt, Galbraith đã ngỏ lời mời cô một chân làm việc ở New York khi nào ông sẵn sàng.
Bằng cách nào đó, trong lúc cô kể, dù chỉ thỉnh thoảng cô ngước nhìn anh—bằng cách nào đó, khi cô thuật lại, cô có cảm giác như chính mình đang lắng nghe bằng đôi tai của anh—đang thực sự suy ngẫm chính những điều đang cuồn cuộn trôi qua tâm trí anh.
Cô biết rằng sợi dây trung tâm kết nối tất cả, thứ mà mọi thứ khác đều phụ thuộc vào, chính là suy nghĩ rằng câu chuyện khải hoàn mà cô đang kể cho anh nghe lúc này thực ra đã từng nằm sẵn trên môi cô, chờ được kể cho anh nghe vào đêm hôm ấy trong căn phòng trên phố Clark, và chính ngọn lửa âm ỉ cháy của sự kiêu hãnh bị tổn thương cùng cảm giác quyền sở hữu đàn ông trong anh đã khiến việc kể chuyện trở thành bất khả thi—đã biến mọi thứ trở nên vô vọng, ngoại trừ tiếng kêu gào cay đắng của cô rằng mọi chuyện đã chấm hết—theo cách đó.
Nhưng anh chưa từng nao núng. Thậm chí, thỉnh thoảng khi cô cố lướt nhanh qua để bỏ qua sự việc này hay sự việc khác, anh lại đặt những câu hỏi khơi gợi toàn bộ chi tiết, và đến cuối cùng, anh đã nói với một vẻ nghiêm túc không chút giấu giếm, nhưng vô cùng điềm tĩnh:
"Vậy là sau khi vở kịch công diễn, em chỉ đang chờ Galbraith cho người đến gọi mình. Tại sao—tại sao em lại chọn đi lưu diễn thay vì đến New York?"
"Anh ấy vẫn chưa gọi cho em, và vào lúc đó em đã đinh ninh rằng anh ấy không hề có ý định đó. Hơn nữa, lúc ấy em đã quá mệt mỏi để có thể lết xuống đây và thử vận may với bất cứ thứ gì khác. Em đi lưu diễn như một hình thức nghỉ dưỡng chữa lành vậy."
Anh ngồi im lặng trầm ngâm suốt một hồi lâu sau câu trả lời đó. Và rồi, khi khoảng lặng qua đi, anh chủ động khơi mở một chủ đề trò chuyện hoàn toàn mới và vô hại. Cô hiểu lý do tại sao anh làm vậy. Giờ thì cô đã hiểu rõ trong kế hoạch của anh còn nhiều điều hơn những gì thái độ của anh tối hôm qua thể hiện. Đêm qua chỉ là màn dạo đầu, nhưng quá khứ không thể bị phớt lờ mãi mãi. Sẽ đến lúc mâu thuẫn giữa họ được đưa ra mổ xẻ và giải quyết triệt để. Nhưng thời điểm đó không phải là lúc này, và địa điểm cũng không phải là nhà hàng đông đúc này.
Cô hoàn toàn ngoan ngoãn theo chiều hướng trò chuyện mới của anh, nhưng việc cô nhượng bộ, việc cô biết rằng bản thân sẽ chẳng đủ sức lực để ép buộc giải quyết vấn đề cho đến khi anh thực sự sẵn sàng, đã khiến cô run lên thích thú—khiến dòng máu nóng bừng lên đôi má. Việc anh đang làm có thể ngớ ngẩn, nhưng cách anh thực hiện nó lại không hề ngớ ngẩn chút nào. Bằng cách nào đó anh đã thay đổi, hoặc có gì đó đã thay đổi giữa họ. Cô thu hút toàn bộ tâm trí anh. Nếu bây giờ có một cuộc tranh đấu xảy ra, lý trí của anh sẽ không phản bội anh nữa.
Ngay trước khi họ rời nhà hàng, anh hỏi cô có muốn tối nào đó cùng đi ăn tối rồi ghé xem một vở diễn hay không, và khi cô đồng ý, anh hỏi ngày nào thì thuận tiện cho cô.
Giọng điệu của cô vô cùng đoan trang và thậm chí đầy vẻ dửng dưng, nhưng chẳng thứ gì có thể ngăn được sự "đậm đà" bất chợt—thứ mà Jimmy Wallace từng cố miêu tả—tràn vào giọng nói của cô, và ánh sáng tinh quái nhảy múa rõ mồn một trong đôi mắt khi cô cất lời:
"Ồ, tối nay với em lúc nào cũng được." Cô nói thêm, "Nếu như thế không quá sớm đối với anh."
Anh đỏ mặt và buông thõng hai tay khỏi mép bàn nơi chúng vừa tì lên, nhưng anh vẫn đáp lại bằng một giọng khá đều đặn:
"Không, với anh thì không sớm chút nào."
Và rồi sức mạnh của thói quen đã đẩy Rose vào một sơ suất ngớ ngẩn suýt làm bùng lên một trận cãi vã nho nhỏ.
"Anh hãy nói xem anh muốn xem vở gì đi," cô nói, "rồi em sẽ gọi điện đặt vé."
Thế rồi, trước ánh mắt trợn tròn đầy kinh hãi của anh, cô hoảng hốt thốt lên lời giải thích. "Roddy, ý em không phải là mua vé! Em chẳng bao giờ phải mua vé ở bất kỳ nhà hàng rạp hát nào cả. Và vào thời điểm này trong năm, họ mừng rỡ biết bao khi có người nhận vé tặng đến mức việc trả bằng tiền thật cứ như là... một tội ác vậy."
"Là lỗi của anh," anh nói. "Đương nhiên rồi, đi xem kịch thì chẳng thể coi là một món quà... đãi ngộ gì đối với em cả. Anh quên mất điều đó."
"Được đi cùng anh mới chính là món quà đãi ngộ đối với em," cô chân thành đáp. "Đó là lý do em không nghĩ đến vế còn lại. Nhưng em đáng lẽ không nên ngớ ngẩn đến thế. Xin anh hãy quên câu nói vừa rồi đi nhé?"
Lần này anh mỉm cười với chính mình, nụ cười mang lại sự thích thú thực sự đầu tiên mà cô từng nhìn thấy trên môi anh kể từ—từ bao giờ nhỉ?
"Và đáng lẽ anh cũng không nên tỏ ra hoảng hốt đến vậy," anh thừa nhận. "Dù sao đi nữa, anh vẫn hy vọng mình có thể xoay sở tìm được một nhà hàng nào đó ở khu trung tâm phía Bắc, nơi người phục vụ sẽ không chìa hóa đơn tính tiền ra cho em."
Chính trong bầu không khí ấy, anh đã chia tay cô ngay tại cửa ra vào của Dane & Company.
Thế nhưng lớp băng không hề tan chảy nhanh như cô từng mong đợi, và đêm hôm ấy, sau khi anh đưa cô về nhà bằng taxi và, sau khi dặn tài xế chờ sẵn, đã trang trọng hộ tống cô đến tận cửa thang máy, cô bước lên giường với tâm trạng không còn được hạnh phúc bình yên như đêm hôm trước. Cô đã phải nín thở không biết bao nhiêu lần trong bữa ăn tối, và thậm chí ngay cả trong rạp hát, nơi những ký ức và sự gắn kết xưa cũ cứ chực chờ chồm ra tấn công cả hai người như thể từ trong bóng tối phục sẵn. Thế nhưng bất cứ khi nào chạm đến giới hạn chịu đựng, anh vẫn luôn xoay sở huy động được những nguồn lực dự trữ bất ngờ để kháng cự, tự cô lập mình trong phong thái của buổi gặp gỡ đầu tiên.
Rose vừa mỉm cười vừa rơi nước mắt khi hồi tưởng lại buổi tối ngày hôm đó, và mất một khoảng thời gian dài mới có thể chợp mắt được. Cô cảm thấy mình không thể chịu đựng thêm tình cảnh này lâu hơn nữa.
Nhưng cô đã không phải chịu đựng điều đó. Ngay vào thời điểm ánh hoàng hôn của ngày hôm sau dần tắt, lớp băng đã vỡ tung và dòng lũ tràn về.
Cô đã dẫn anh đến một buổi trà chiều tại xưởng nghệ thuật nằm ở khu phố sáu mươi mấy phía Bắc ngay gần Đại lộ West End, chủ nhân của xưởng vẽ là một họa sĩ mang phong cách bất trị luộm thuộm, râu xồm tóc vàng và người vợ vô cùng xinh đẹp, trông có vẻ phù phiếm sắc sảo của anh ta—nhưng người phụ nữ ấy lại khôn ngoan hơn vẻ bề ngoài cô ấy muốn thể hiện. Họ từng sống ở Paris nhiều năm, nhưng cái tên có âm hưởng Đức của anh ta đã buộc họ phải quay trở lại New York. Nhchính qua Gertrude mà Rose đã quen biết họ—cô đã nài nỉ Abe Shuman cho phép người họa sĩ này được lảng vảng ở hậu trường để ghi chép lại tư liệu cho một loạt tranh vẽ mang ánh sáng kỳ quái về các nữ vũ công múa phụ họa—"Degas—và hơn thế nữa," như những người ái mộ thường ca ngợi. Gertrude và hai hoặc ba người nữa cũng có mặt tại buổi tiệc trà. Đó không phải là một bữa tiệc linh đình.
Hai người đàn ông đã bản năng tuốt gươm tranh luận ngay từ cái nhìn đầu tiên dành cho đối phương, và trong suốt một tiếng rưỡi họ ở bên nhau, cuộc giao tranh diễn ra vô cùng ác liệt trong sự thỏa mãn trọn vẹn của cả hai người tham gia. Cảm xúc của những người đứng xem có lẽ đa dạng hơn, nhưng ít ra thì Rose cũng tận hưởng trọn vẹn niềm vui, không chỉ vì được nhìn thấy bộ óc lớn lao, đáng sợ và đầy vững vàng của chồng mình hoạt động trở lại, mà còn vì sự thay đổi đã diễn ra trong bản chất của một số quan điểm của anh. Cuộc trò chuyện tất nhiên lan man khắp nơi: Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa nữ quyền, luật pháp và tội ác của nó, nghệ thuật và tâm thức xã hội. Gertrude thỉnh thoảng cũng chen vào, và chính câu nói mà Rodney đáp lại cô ấy, liên quan đến nhận xét về những người vợ phụ thuộc, mới thực sự khiến Rose phải ngẩng phắt người lên.
"Những người vợ không phải là kẻ ăn bám," anh nói, "ngoại trừ khi họ để chồng mình khiến họ nghĩ rằng họ như thế. Hoặc chỉ trong rất ít trường hợp ngoại lệ. Chắc chắn tôi không biết có người vợ nào lại không mang lại cho chồng những dịch vụ kinh tế có giá trị để đổi lấy sự chu cấp của anh ta cả. Tôi khó lòng mà tưởng tượng nổi. Dĩ nhiên, nếu họ không công nhận những dịch vụ đó là có giá trị, họ hoàn toàn có thể bị biến thành cảm giác mình ăn bám."
Gertrude phản đối. Cô ấy sẵn sàng thừa nhận rằng một người vợ chăm sóc nhà cửa cho chồng, nấu những bữa ăn, nuôi dạy con cái, mang lại cho anh ta một dịch vụ kinh tế, và nếu cô ấy không cảm thấy mình đang tự kiếm sống trên đời này thì đó là vì cô ấy đã bị áp bức. Nhưng dẫu sao thì ở New York này—cô không biết ngoài Chicago thế nào—người ta chẳng cần phải viện đến trí tưởng tượng để vẽ ra hình ảnh một người vợ chẳng hề cống hiến bất kỳ dịch vụ nào trong số đó. "Hàng ngàn người trong số họ sống trong những căn hộ sang trọng ở khu thượng lưu, chẳng thèm nhấc một ngón tay làm việc, nghẽn cứng Đại lộ Fifth bằng những chiếc xe limousine vào buổi chiều, ăn mặc như những con chim thiên đường, hoặc ít ra là giống nhất có thể, đi ăn tối với chồng ở nhà hàng, đến xem các buổi công diễn mở màn, thưởng thức tôm hùm Newburg sau đó, và dành cả sáng hôm sau nằm trên giường để hồi sức. Những ai không đủ khả năng sống theo kiểu đó thì chật vật bám trụ bằng cách bắt chước theo cách tốt nhất họ biết. Hàng ngàn người—hàng ngàn người và còn hơn thế nữa. Nếu họ không phải là kẻ ăn bám..."
"Nhưng họ không phải thế," Rodney nói. "Không hề chút nào. Họ đang mang lại cho chồng mình một dịch vụ kinh tế mang tính không thể thiếu một cách đặc biệt. Yêu cầu hàng đầu để đạt được thành công đối với những người chồng có vợ sống theo lối sống đó chính là vỏ bọc thành công. Địa vị của họ, vẻ ngoài hoành tráng của họ, là thứ duy nhất họ không thể thiếu được. Chà, và có một sự thật kỳ lạ là một người đàn ông không thể tự duy trì vẻ ngoài hoành tráng của chính mình. Nếu anh ta cố ăn mặc diêm dúa, đeo nhợt nhạt kim cương, tiêu xài tiền vào bản thân, anh ta trông sẽ chẳng có vẻ gì là thị vượng cả. Anh ta trông giống một thằng ngốc. Sẽ chẳng ai coi trọng anh ta đâu. Nếu anh ta kiếm được một người vợ mang tính trang trí, có phong thái cuốn hút, có thể toát lên vẻ đắt đỏ mà không hề phô phang, cô ấy sẽ mang lại lợi thế kinh tế vô cùng lớn lao cho anh ta. Cô ấy chỉ cần ngừng mua những loại trang phục mà anh ta có thể dắt đi diễu phố để khoe mẽ, và bắt đầu làm tàn phai nhan sắc của mình bằng những công việc gia đình tôi tớ mộc mạc, là sẽ rước lấy những tiếng gào thét phản đối từ anh ta ngay. Chỉ là, chừng nào cô ấy còn chưa vạch trần trò bịp bợm của anh ta, cô ấy vẫn để mặc anh ta tự do ảo tưởng rằng anh ta đang làm tất cả vì cô, và rằng ngoại trừ thói hoang phí của cô—thói hoang phí, xin nhớ cho, mà chín mươi phần trăm là chính anh ta đã ép uổng nhồi nhét vào đầu cô—anh ta sẽ giàu có thực sự đúng như mức độ anh ta phải cố gắng giả vờ. Anh ta nói với cô điều đó với sự chân thành tuyệt đối—và cô ấy tin sái cổ." Rose vô cùng tận hưởng biểu cảm trên khuôn mặt Gertrude khi cô ấy lắng nghe những lời đó.
Khoảng sáu giờ rưỡi chiều khi họ rời khỏi xưởng vẽ, và buổi chiều cuối tháng Năm đang ở vào khoảnh khắc tuyệt diệu nhất. Đó là kiểu thời tiết, như Rodney nói, ngay khi bước chân ra ngoài là đủ khiến bạn tự kết án bản thân vì sự ngu ngốc tột độ khi đã lãng phí dù chỉ một phút trong nhà.
"Em muốn đi bộ," Rose nói, "sau buổi trà chiều đó, nếu em còn muốn ăn nổi bữa tối nào nữa."
Anh khẽ gật đầu một cách lơ đễnh, cô thầm nghĩ, rồi rảo bước đồng hành bên cô. Hoàn toàn không có bất kỳ cuộc bàn tán nào về điểm đến của họ.
Phải mất một hồi lâu Rose mới tìm ra chìa khóa lý giải cho sự tâm tư của anh. Họ đã rẽ vào công viên ở phố Sáu mươi sáu, và đi được nửa đường sang góc Đại lộ Fifth ở phố Năm mươi chín, anh mới cất tiếng.
"Vào một ngày thế này," anh nói, "mà lại ngồi lỳ ở đó suốt hai ba tiếng đồng hồ cãi cọ về những ý tưởng mốc meo! Nhai đi nhai lại cái rơm mục—một trò tiêu khiển ngớ ngẩn gần như chơi cờ—trong khi lẽ ra chúng ta đã có thể ở ngoài này, để thực sự sống! Nhưng chắc hẳn em phải thấy việc anh cứ lải nhải như thế là rất đỗi bình thường." Và rồi, bùng nổ trước khi cô kịp lên tiếng:
"Em chắc phải nhớ đến anh như là gã ngốc bảo thủ mù quáng nhất trên đời!"
Cô nín thở, rồi đáp lại rất khẽ, với một tiếng cười ấm áp nhỏ nhẹ trong giọng nói: "Đó đâu phải là cách em nhớ về anh, Rodney."
Cô từ chối việc giúp đỡ khi anh cố gắng trèo lên bờ an toàn của những cuộc trò chuyện xã giao thông thường. Kiểu trò chuyện đó đã kéo dài đủ lâu rồi. Cô chỉ rảo bước nhịp nhàng theo nhịp chân anh và, về phần mình, giữ im lặng. Chẳng mấy chốc anh cũng chìm vào im lặng.
Một điều mà Rose không hề tính đến chính là hiệu ứng tạo ra trên cả hai người chỉ bằng việc bước đi cùng nhau thế này, sánh vai bên nhau, nhịp nhàng từng bước. Chỉ riêng nhịp điệu ấy đã thiết lập nên một thứ sự hòa hợp—và đó là sự hòa hợp được củng cố bởi vô vàn kỷ niệm gắn kết. Thực tế là toàn bộ thời gian họ hẹn hò, từ ngày anh cùng cô xuống xe điện giữa cơn mưa rồi đưa cô sang ga tàu điện trên cao và giữ hộ mấy cuốn sổ ghi chép, cho đến ngày trên cây cầu bắc qua Kênh đào thoát nước giữa vòng xoáy trận bão tuyết tháng Ba, khi cô cảm nhận được cái ôm đầu tiên của anh, tất cả đều diễn ra trên đôi chân thế này, lê bước sánh vai bên nhau; hàng dặm, hàng dặm và hàng dặm đường, như cô từng kể cho mẹ nghe. Và đã có thêm những chuyến đi bộ khác kể từ đó. Em có nhớ lần cuối cùng họ đi bộ cùng nhau là khi nào không? Đó là từ cửa hậu nhà hát Globe đến căn phòng nhỏ của cô trên phố North Clark. Rose nhớ rất rõ và cô chắc chắn anh cũng vậy. Sợi dây âm thanh ngân vang của những ký ức và sự gắn kết từng rung động giữa họ lúc đó giờ đây đang rung lên bừng bừng giữa họ và kéo căng rõ rệt theo từng nửa dặm đường họ bước qua. Sáu bước chân của họ vô tình dồn dập hơn một chút.
Họ đi thẳng xuống Đại lộ Fifth đến góc phố Mười ba, rồi rẽ về phía Tây. Và khi họ dừng lại đối mặt nhau ở lối vào tòa nhà gạch xám nơi có căn hộ của Rose, đó là điểm kết thúc của một dặm đường hoặc hơn thế trong sự im lặng tuyệt đối không một lời đứt đoạn. Và đối mặt nhau ở đó, tất cả những gì được thốt lên giữa họ chỉ là câu nói của cô: "Anh vào nhà chứ?" và lời đáp của anh: "Ừ."
Nhưng sự trang nghiêm khi cô thốt ra lời mời cùng sự căng thẳng trong lời nhận lời của anh, cái nhìn trực diện trao nhau, đã đánh dấu sự kết thúc của một điều gì đó và khởi đầu của một thứ mới mẻ.
Cô để anh ở lại phòng khách trong khi bước xuyên qua phòng ngủ để cởi mũ áo khoác và soi nhanh vào gương. Khi quay trở lại, cô thấy anh đang đứng bên cửa sổ phóng tầm mắt ra ngoài. Anh không quay người lại khi cô bước vào, nhưng gần như ngay lập tức anh bắt đầu cất lời. Cô bỗng thấy chân tay mình bủn rủn trước âm thanh giọng nói của anh, bèn sụp xuống chiếc ghế đôn có đệm đặt trước lò sưởi, hai tay đan chặt vào nhau kẹp giữa hai đầu gối.
"Anh không biết em đã hiểu được bao nhiêu," anh bắt đầu, "chắc là khá nhiều đấy. Em từng bảo anh ở Dubuque—rằng em đã hoàn toàn đúng khi bảo anh—rằng anh không được phép quay lại tìm em. Và giờ thì anh đã cãi lời em mà mò đến đây. Điều anh hy vọng em đoán ra được là anh sẽ chẳng đời nào xuất hiện nếu không có chuyện muốn kể cho em—một chuyện khác hẳn với những điều điên rồ ngớ ngẩn mà anh từng dùng để hành hạ em ở Dubuque;—một điều mà anh cảm thấy em có quyền được nghe. Nhưng anh cảm thấy—đây là điều em sẽ không hiểu được—anh cảm thấy mình chẳng có tí quyền hạn nào để cất lời với em nữa, về bất kỳ điều gì trọng đại, về bất cứ thứ gì liên quan đến đôi ta, cho đến khi anh trao cho em một sự đảm bảo nào đó—cho đến khi anh chứng minh được rằng mình là một con người có thể nói chuyện một cách phải quáng, hợp lý."
Cô mỉm cười, rồi bất ngờ đưa tay che mắt.
"Em đã hiểu," cô nói.
"Ừ, vậy thì..." Nhưng anh không tiếp tục ngay lập tức. Cứ đứng thừ người ở cửa sổ một lúc lâu, rồi anh băng qua căn phòng và dừng chân trước tủ sách, mắt dán chặt vào những tựa sách một cách vô định. Anh thậm chí chẳng thèm nhìn cô ngay cả khi sải bước qua phòng.
"Ôi, thật là ngạo mạn khi cố thốt lên điều này," cuối cùng anh bộc bạch, "một sự thừa thãi đáng thương, bởi vì chắc chắn em phải tự biết điều đó mà không cần anh phải nhọc công nhắc lại. Nhưng khi em bỏ đi, em đã nói—em nói đó là vì em không có được... tình bạn của anh! Em đã nói đó là thứ em khao khát và em sẽ cố gắng tự mình giành lấy nó. Và ở Dubuque, em đã bảo anh rằng rõ ràng anh sẽ chẳng bao giờ có thể hiểu được việc em đã từng hạnh phúc biết bao trong căn phòng trên phố Clark đó, nơi mà anh từng muốn 'giải cứu' em ra; rằng anh sẽ chẳng bao giờ nhìn nhận được rằng những gì em làm ở đó là một điều cao đẹp, đáng tự hào, và hoàn toàn xứng đáng nhận được sự tôn trọng của anh. Ừ thì, những lời anh từng thốt ra và những việc anh từng làm, hoàn toàn có lý do để em nghĩ thế. Nhưng những gì anh lặn lội xuống đây để nói—chính là—rằng giờ đây—cuối cùng thì—anh đã hiểu được điều đó."
Lẽ ra cô đã lên tiếng lúc đó nếu có thể kiểm soát nổi giọng nói của mình, và dù sao đi nữa, âm thanh cô phát ra cũng truyền đạt ý định đến anh, bởi vì anh quay phắt lại phía cô như thể muốn ngắt lời những câu chữ chưa kịp thốt ra, rồi tiếp tục với một vẻ cay đắng đến hoang dại.
"Ồ, anh chẳng ảo tưởng mộng mơ gì sất. Anh đã có cơ hội để nhận thức, vào thời điểm mà sự thấu hiểu ấy đáng lẽ phải có ý nghĩa với em—giúp ích cho em. Vào lúc mà bất kỳ kẻ ngốc nghếch mù quáng nào cũng phải nhận ra. Thế mà anh lại không. Giờ đây, khi sự việc đã rành rành ra trước thiên hạ—khi Violet Williamson đã tận mắt nhìn thấy, rồi Constance, và Chúa mới biết những người còn lại, những kẻ tỏ ra đầy khéo léo và thông cảm trước 'nỗi ô nhục' của anh—giờ đây khi em đã chiến thắng trận chiến của mình mà chẳng cần bất kỳ sự trợ giúp nào từ anh... Không cần bất kỳ sự giúp đỡ nào cả! Bất chấp mọi rào cản mà sự ngu ngốc của anh có thể bày ra ngáng đường em! Giờ đây, sau tất cả—anh mới mò đến và nói với em rằng em đã xứng đáng nhận được thứ mà em cất công theo đuổi."
Bầu không khí chìm vào một khoảng lặng ngắn. Cô đứng dậy và thế chỗ của anh bên cửa sổ.
"Tại sao anh lại làm thế, Roddy?" cô hỏi. "Ý em là, tại sao anh lại muốn lặn lội đến đây để nói những điều đó?"
"Ồ, trước hết," anh nói, "anh muốn tìm lại chút tự tôn cho bản thân. Anh không thể có được điều đó cho đến khi nói cho em biết."
Lần này khoảng lặng kéo dài hơn.
"Còn gì nữa không?" cô hỏi. "Thứ... thứ hai là gì?"
"Anh không hiểu sao mình lại thốt ra thế nữa," anh nói. "Xin em đừng nghĩ... Anh không chịu nổi nếu em nghĩ rằng anh lặn lội xuống đây để... đòi hỏi bất cứ thứ gì ở em—bất cứ thứ gì dưới dạng một phần thưởng vì đã nhận ra thứ quá hiển hiện với tất cả mọi người. Anh chẳng có chút... quyền lợi nào cả. Anh muốn giành lấy tình bạn của em. Đó là điều lớn lao nhất mà anh dám hy vọng. Nhưng anh hoàn toàn không ảo tưởng rằng em có thể ban phát nó cho anh một cách sẵn có. Anh tin em sẽ làm thế nếu có thể. Nhưng chính em từng nói, đó không phải là thứ có thể ban phát được. Đó là thứ phải được đánh đổi bằng mồ hôi nước mắt. Và em đã đúng về điều đó, hệt như em đã đúng trong rất nhiều chuyện khác. Ừ thì, anh sẽ cố gắng tự mình giành lấy nó."
"Đó có phải là... tất cả những gì anh muốn không?" cô hỏi, rồi nghe thấy tiếng thở gấp nho nhỏ bật ra từ anh, cô quay phắt người lại nhìn anh. Căn phòng khá tối, nhưng khuôn mặt anh trong bóng chiều chập choạng có vẻ nhợt nhạt đi.
"Tình bạn có phải là tất cả những gì anh muốn ở em không, Roddy?" cô lại cất lời hỏi.
Cô đứng đó chờ đợi, trọn một phút đồng hồ trong thinh lặng. Rồi cô nói: "Anh không cần phải nói điều đó đâu. Bởi vì em biết. Ôi... ôi người yêu của em, em biết rõ đến nhường nào!"
Anh không tiến lại gần cô; chỉ đứng chôn chân ở đó, bấu chặt lấy góc tủ sách và dán mắt vào bóng hình mờ ảo của cô, thứ duy nhất anh có thể nhìn thấy rõ nét trước khung cửa sổ. Cuối cùng, anh cất lời bằng một giọng khàn đọng, khô khốc mà cô khó lòng nhận ra đó là giọng của anh:
"Nếu em biết điều đó—nếu anh để em nhìn thấu tâm can như thế, thì anh vừa thực hiện hành động đáng khinh bỉ cuối cùng còn sót lại mà anh có thể làm. Anh đã lặn lội đến đây và... khiến em phải thương hại anh. Để rồi với lòng... trắc ẩn... thánh thiện đó của em, em sẵn sàng ban phát cho anh... tất cả."
Anh đứng thẳng người lên và bước tới gần thêm một bước. "Ừ, anh không thèm nhận nó đâu, anh nói cho em biết đấy! Anh chẳng biết làm sao em lại đoán được. Giá mà anh mơ thấy mình đang phơi bày tâm can cho em...! Chẳng lẽ anh không biết—nó đã khắc sâu vào tâm can anh để anh chẳng bao giờ quên được—rằng ký ức về tình yêu của anh phải tồi tệ thế nào đối với em—ký ức về những điều tồi tệ mà nó đã gây ra cho em. Và giờ đây, sau tất cả những chuyện đó—sau khi em đã chiến thắng trận chiến của mình—một mình—và đứng ở vị thế như bây giờ—để rồi anh lại lặn lội đến đây xin xỏ! Và nhận lấy một món quà như thế! Anh bảo em đó chỉ là lòng thương hại. Nó chẳng thể là gì khác được."
Thêm một phút im lặng trôi qua, rồi anh nghe thấy cô phát ra một tiếng động nhỏ trong cổ họng, một âm thanh suýt thành tiếng nấc nếu như không có điều gì đó tựa như tiếng cười ẩn giấu trong đó. Ngay khoảnh khắc tiếp theo, cô nói: "Lại đây nào, Roddy," và khi anh chần chừ như thể chưa hiểu ý, cô nói thêm: "Em muốn anh nhìn vào em. Lại đây bên cửa sổ này, nơi có đủ ánh sáng để anh có thể nhìn rõ em."
Anh bước đến với vẻ ngạc nhiên, vô cùng chậm chạp, nhưng cuối cùng, với bàn tay chìa sẵn, cô đã chạm tới anh và kéo anh đứng xoay người vào giữa cô và khung cửa sổ.
"Nhìn vào khuôn mặt em đi," cô ra lệnh. "Nhìn sâu vào mắt em; sâu hết mức anh có thể. Có phải là... ôi người yêu dấu của em"—tiếng nấc của niềm hạnh phúc thuần khiết lại trào lên—"có phải là lòng thương hại mà anh nhìn thấy không?"
Đôi tay cô vừa đặt trên đôi vai anh, nhưng giờ đây chúng đã ôm chặt lấy phần sau gáy anh. Tầm nhìn về anh đã nhòe đi trong một màn sương mờ ảo, và nếu không có điểm tựa từ anh, có lẽ cô đã lả đi trong cơn choáng váng.
"Roddy, anh bạn già," cô nói, "nếu em không nhận ra—ngay trong... mười phút đầu tiên, thứ mà anh đã cố giấu thật kỹ để em không nhìn thấy—em nghĩ điều đó chắc đã... giết chết em rồi. Nếu em không nhận ra rằng anh vẫn yêu em—sau tất cả; sau mọi chuyện. Sau bao nhiêu dằn vặt đớn đau mà anh phải gánh chịu, chính vì em. Bởi vì đó là tất cả những gì em muốn—trên thế gian này."
Nghe vậy, anh vòng tay ôm lấy cô và kéo sát vào người mình. Nhưng cử chỉ ấy khác hẳn những cái ôm trước đây của cô đến mức chẳng mấy chốc cô lại kéo anh xoay người sao cho chút ánh sáng hiếm hoi chiếu lên khuôn mặt anh, rồi đăm đăm suy tư dò xét nó.
"Anh thực sự tin em chứ, Roddy—rằng chẳng có chút lòng thương hại nào ở đây cả? Chẳng có chỗ nào cho thương hại hết. Trong em chẳng có gì ngoài... một niềm khát khao anh cháy bỏng. Anh không hiểu điều đó sao?"
Lý trí anh đã hiểu điều đó, nhưng anh vẫn có chút bàng hoàng, giống như một kẻ đứng quá gần nơi tia sét giáng xuống. Niềm hy vọng mà anh đã chôn giấu sống bao lâu nay—chôn giấu cả khi nó vẫn còn thoi thóp bởi nó nhất quyết không chịu chết—không thể được kéo ra ánh sáng rực rỡ chói lọi thế này mà không co ro—đau đớn—một nỗi đau tuyệt diệu đến rợn ngợp.
Sự thấu hiểu mà cô tích lũy được từ chính những đau khổ của mình đã giúp ích cho cô rất nhiều vào lúc này. Cô không hề hiểu lầm, như phiên bản Rose thuở mới kết hôn có thể đã lầm tưởng, sự yếu ớt trong phản ứng của anh là sự lạnh lùng—hay thờ ơ.
Cô lùi lại và bắt đầu bộc lộ tình cảm với anh dịu dàng hơn; gỡ tay khỏi vòng ôm của anh, dẫn anh đến chiếc ghế bành lớn duy nhất của mình, bắt anh ngồi xuống đó, rồi tự mình sà xuống tay vịn ghế và nắm lấy một bàn tay anh. Chẳng mấy chốc anh nắm lấy tay cô, cúi khuôn mặt xuống và áp môi lên mu bàn tay cô.
Sự rụt rè trong cái vuốt ve ấy, cùng tất cả những gì nó phơi bày cho cô thấy, quá đỗi ngập tràn khiến cô không kìm nổi. Cô nuốt nghẹn một tiếng nấc, rồi lại tiếng nữa, nhưng tiếng nấc tiếp theo đã vượt khỏi tầm kiểm soát và cô bật khóc nức nở đầy đắm say.
Điều đó phần nào đánh thức anh khỏi cơn bàng hoàng, và anh kéo cô ngã vào lòng mình—ôm chặt lấy cô—vỗ về an ủi.
Khi đã bình tâm trở lại, cô đứng dậy, đi rửa mặt, rồi khi quay trở lại phòng, cô bật một ngọn đèn đọc sách và kéo rèm cửa xuống.
"Rose," anh cất lời một lúc sau, "chúng ta sẽ tính sao đây?"
Cô thừa biết mình đang không trả lời đúng ý định sâu xa trong câu hỏi của anh khi thốt lên:
"À, trước tiên chúng ta có thể kiếm chút gì ăn nhẹ. Em không biết chúng ta có gì trong nhà để ăn nữa, nhưng tối nay... chúng ta sẽ chẳng màng đến điều đó đâu."
Có một âm hưởng kiên quyết trong giọng nói của anh khiến cô giật mình thon thót khi anh đáp:
"Không, tối nay chúng ta sẽ không làm thế. Chúng ta sẽ ra ngoài hàng quán nào đó."
Ánh mắt họ chạm nhau—kiên định không mảy may dao động.
"Vâng," cô nói, "chúng ta sẽ làm thế."
Họ không nói chuyện mấy suốt bữa ăn across cái bàn trong nhà hàng món Ý vắng vẻ nhỏ bé mà họ ghé vào. Không ai trong số họ sau đó có thể nhớ nổi những gì mình đã nói. Họ thưởng thức bữa ăn trong một niềm hạnh phúc trầm lặng, mãn nguyện đang len lỏi sâu hơn, sâu hơn vào tận tâm can từng phút giây, và rồi họ sánh bước trở về tòa nhà gạch xám ở phố Mười ba, tay trong tay, sát cánh bên nhau trong sự im lặng. Nhưng khi cô dừng bước ở đó, anh liền nói:
"Hãy đi bộ thêm chút nữa đi, Rose. Có những chuyện chúng ta cần phải quyết định, và... và anh chưa muốn vào nhà cùng em tối nay đâu."
Cô khẽ nín thở trước câu nói đó, và bàn tay siết chặt lấy tay anh hơn. Nhưng cô vẫn ngoan ngoãn rảo bước tiếp cùng anh.
Chẳng mấy chốc anh cất lời, "Em hiểu mà, phải không?"
Cô đáp, "Ôi, anh yêu!—vâng." Nhưng cô nói thêm, giọng có chút run rẩy, "Em ước gì ngay lúc này chúng ta có một chiếc thảm ma thuật để bay thẳng về nhà."
Rồi họ đi bộ thêm một lúc trong thinh lặng.
Cuối cùng anh nói: "Chúng ta có thể làm thế này. Đêm nay anh có thể quay lại khách sạn, và báo với họ rằng anh đang mong đợi em—rằng anh đang mong đợi người vợ của mình đến ở cùng. Vào ngày mai? Rồi anh có thể đến đón em và đưa em về đó. Đó không phải là nhà, và cũng chẳng phải là nơi anh sẽ chọn cho... cho một tuần trăng mật, nhưng..."
Cách cô lặp lại từ đó khiến anh phải suy nghĩ. Nhưng trước khi dòng suy nghĩ kịp chạm đích, cô đã lên tiếng:
"Chúng ta có thể làm một tuần trăng mật thực sự chứ, Roddy—biến nó trở nên trọn vẹn nhất có thể? Quên hết mọi thứ đi và để cả thế giới trở thành..."
Anh tiếp lời thay cô, "Màu hồng mộng mơ?"
Cô mỉm cười đón nhận với một tiếng cười khẽ đầy âu yếm, "... trong một thời gian chứ?"
"Đó là điều anh đang loay hoay tìm kiếm," anh nói, "nhưng tối nay đầu óc anh không suy nghĩ rành mạch nổi. Dù sao thì anh cũng nghĩ ra rồi. Ngôi nhà nhỏ ở mũi Cape mà chúng ta từng ở—trước khi cặp sinh đôi ra đời. Vào thời điểm này trong năm sẽ chẳng có một bóng ma nào ở đó cả. Cả thế giới sẽ thuộc về riêng chúng ta."
"Vâng," cô nói, "trong một thời gian ngắn thôi, chúng ta sẽ muốn thế giới chỉ có vậy. Nhưng sau đó—sau một hoặc hai ngày, chúng ta có thể đón bọn trẻ được không? Bảo nhũ mẫu đưa chúng đến với em rồi quay về ngay, để em có thể được ở bên chúng—và cả anh, trọn vẹn bên nhau?"
Anh thốt lên, "Em yêu dấu!" Nhưng chẳng thể thốt thêm được gì ngoài câu đó.
Chút lát sau, anh đề nghị họ có thể liên lạc đặt chỗ bằng điện tín và khởi hành vào ngày mai.
Cô bật cười và hỏi: "Anh có để em được ngớ ngẩn theo ý mình lần này không? Anh cho em một tuần—chà, cho đến thứ Bảy đi; thế là đủ—để chuẩn bị nhé?"
"Chuẩn bị ư?" anh lặp lại.
"Quần áo và những thứ linh tinh," cô nói. "Một... bộ trousseau, anh không thấy sao? Em đã quá bận rộn may vá quần áo cho người khác đến mức bản thân chẳng có nổi mấy bộ tử tế. Và em muốn... Nhưng thực ra em chẳng bận tâm đâu, Roddy. Em sẽ đi với anh vào ngày mai 'nguyên trạng thế này' nếu anh muốn."
"Không," anh nói. "Chúng ta sẽ làm theo cách khác."
Và rồi anh đưa cô trở lại lối vào bằng gạch xám, ngay ngoài tầm với của gã trực thang máy, trao cô nụ hôn chúc ngủ ngon.
"Nhưng em sẽ gọi điện cho anh ngay khi thức dậy vào sáng mai chứ, để anh biết chắc mọi thứ là sự thật?"
Cô gật đầu. Rồi đôi mắt mở lớn và cô níu chặt lấy anh.
"Có thật là sự thật không, Roddy? Liệu một thứ có thể quay trở lại như thế này được sao? Liệu chúng ta có thực sự là Rodney và Rose của ngày xưa, lại cùng nhau lên kế hoạch cho tuần trăng mật một lần nữa không? Mới chưa đầy ba năm trước. Tròn ba năm vào tháng tới. Mọi chuyện sẽ lại như thế chứ?"
"Có lẽ sẽ không giống thế đâu," anh nói, "chính xác là thế. Mọi thứ sẽ tuyệt vời hơn nhờ tất cả những gì chúng ta đã trải qua và học hỏi được kể từ đó đến nay."