Cuối cùng, chính từ chốn mập mờ mà Jimmy từng gọi là rìa của những điều không thể đoán trước ấy, hiện thân mù quáng của Định mệnh đã xuất hiện.
Đó là một vị luật sư nhà quê từ miền nam tiểu bang, người đã thuê Rodney bảo vệ cho một di chúc có liên quan đến các vấn đề phức tạp về quyền thụ hưởng lâu dài và quyền thừa kế có điều kiện, vượt quá khả năng giải quyết của chính ông ta. Ông ta đã ở Chicago được ba hoặc bốn ngày, dành một hoặc hai tiếng mỗi ngày tại văn phòng của Rodney để thảo luận công việc, và khoảng thời gian còn lại thì lảng vảng đây đó chẳng có việc gì làm. Một thoáng nhận thức muộn màng về điều này chợt lóe lên trong đầu Rodney khi, ở buổi tham vấn cuối cùng, vị luật sư nhà quê bắt tay ông và thông báo sẽ bắt chuyến tàu lúc năm giờ để về quê.
"Tôi rất tiếc vì đã không thể giúp gì nhiều," Rodney nói,—"thực sự là chưa làm được gì để tiếp đón ông cho chu đáo. Quả thực, tuần này tối nào tôi cũng ở lại văn phòng."
"Ồ, tôi chẳng thiếu gì trò giải trí," người đàn ông đáp. "Chúng tôi dân quê thấy thành phố này là một nơi khá sôi động. Tối qua tôi vừa đi xem một vở diễn có tựa đề *The Girl Up-stairs*. Chắc anh cũng xem rồi chứ."
"Không," Rodney nói, "tôi chưa."
"À, tựa đề nghe hơi thô tục một chút, nhưng vở diễn thì ổn. Chẳng có gì đáng chê trách cả, lại cực kỳ buồn cười. Đã lâu lắm rồi tôi mới cười thả phanh như thế. Giai điệu cũng rất hay. Hôm nay tôi tính mua vài đĩa nhạc của vở đó nhưng họ chưa phát hành. Nếu anh muốn có những giây phút thực sự vui vẻ, hãy đi xem nó đi."
Vị khách vừa nói vừa lùi dần về phía cửa và Rodney bước theo sau, thế nên phần cuối của cuộc trò chuyện này diễn ra ở phòng ngoài. Rodney tiễn người đàn ông bằng cái bắt tay cuối cùng, khép cửa lại rồi thẫn thờ đi thẩn thơ về phía bàn làm việc của cô Beach.
Đúng như những gì ông đã nói với khách hàng, thời gian gần đây ông hầu như dành mọi buổi tối ở văn phòng, và cũng đúng là ông có một lượng lớn công việc phải giải quyết; trong hai tháng qua, ông đã nhận việc một cách khá liều lĩnh. Nhưng những giờ phút đơn độc kéo dài vào mỗi buổi tối ấy lại vô cùng tẻ nhạt. Ông làm việc ngắt quãng, có lúc phải gồng mình chịu đựng mà chẳng có chút hứng thú hay trí tưởng tượng nào, rồi trong cơn bực dọc điên cuồng, ông gạt phăng đống tài liệu pháp lý sang một bên để rồi để cho bí ẩn về thất bại lớn lao của mình một lần nữa chiếm lĩnh tâm trí và ký ức.
Khi đứng nghe vị khách say sưa miêu tả về chương trình biểu diễn tại nhà hát Globe, ông chợt tự hỏi liệu bản thân mình, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, có thể cười đùa, vui vẻ — và quên đi — dẫu chỉ trong một hoặc hai tiếng đồng hồ hay không. Có lẽ đó là một thử nghiệm rất đáng để thử!
"Hãy gọi điện sang Câu lạc bộ Đại học," ông đột ngột nói với cô Beach, "và xem cô có thể kiếm cho tôi một vé xem vở *The Girl Up-stairs* không."
Cậu nhân viên văn phòng đi vắng để làm việc vặt, và trong lúc cậu vắng mặt, tổng đài điện thoại là trách nhiệm của cô Beach.
"Vở... Vở *The Girl Up-stairs* ạ?" cô lặp lại.
"Đó là những gì ông ấy vừa nói, phải không?"
"Vâng," cô đồng tình. "Đó là... tên của nó."
Lẽ ra người ta phải đợi sau khi đưa ra mệnh lệnh như vậy, ông sẽ sải bước trở về phòng làm việc riêng và sập cửa lại phía sau. Việc nán lại níu kéo một công việc sau khi đã giao phó nó cho người khác vốn không phải phong cách của ông. Nhưng trong dịp này, ông lại không hành xử như những gì cô dự đoán; ông vẫn thẫn thờ đứng đó trong khi một điều gì đó đang cuồn cuộn trong tâm trí.
Dĩ nhiên mệnh lệnh của ông chẳng có gì là gấp gáp, và việc cô tiếp tục gõ nốt câu cuối cùng, hay thậm chí là đoạn văn cuối cùng của văn bản đang đánh máy là hoàn toàn hợp tình hợp lý. Thế nhưng ông vẫn đứng đó mãi, và cô Beach thì vẫn đều đặn gõ máy. Cuối cùng, ông cũng sực tỉnh để quay sang nhìn cô.
"Cứ gọi điện đi," ông nói. "Tôi muốn biết xem mình có kiếm được một chỗ ngồi không."
Cô vâng lệnh đứng dậy bước tới máy tổng đài, rồi bắt đầu lúi húi tìm cuốn danh bạ.
"Chúa ơi!" Rodney nói. "Cô thừa biết số điện thoại của Câu lạc bộ Đại học mà!"
Đương nhiên là cô biết thật. Trung bình mỗi tuần cô gọi số đó cho ông đến chục lần. Giờ đây, ông đang nhìn cô với sự tò mò không chút che giấu. Đối với một cỗ máy hoàn hảo không chê vào đâu được như cô Beach thì cách hành xử của cô lúc này quả thực có chút kỳ lạ. Nhưng khoảnh khắc tiếp theo, cô lại càng hành xử kỳ quặc hơn. Cô đặt cuốn danh bạ xuống, đan chặt hai tay vào nhau và mím chặt môi. Sau đó, không ngoảnh lại nhìn ông, cô nói:
"Anh không muốn đi xem vở diễn đó đâu, thưa anh Aldrich. Nó... nó chẳng hay ho gì chút nào đâu."
Rodney cảm thấy buồn cười hơn bất cứ lúc nào trong suốt tháng qua.
"Cô đã đi xem rồi sao?" anh hỏi.
"Vâng," cô đáp, rồi cố gắng nói với giọng tự nhiên hơn một chút, "Anh Craig đã rủ tôi đi. Bọn tôi có cá cược với nhau về phán quyết sắp tới của Tối cao Pháp viện trong vụ án Roderick — vé xem kịch đổi lấy hai cân kẹo bơ tự làm, và tôi đã thắng. Và... đó là nơi chúng tôi đã đến."
"Và cô không thích nó chứ gì?"
"Vâng," cô nói.
Lúc này anh đang cười toe toét nhìn cô. "Thô tục à?" anh hỏi.
Gò má cô lại đỏ bừng lên. "Vâng," cô đáp.
Ý tưởng bị kiểm duyệt các chương trình giải trí kịch nghệ bởi một người nhỏ nhắn, mong manh và nguyên tắc như cô Beach đã khơi gợi khiếu hài hước có phần thô kệch của anh. "Sẽ là một điều khủng khiếp nếu tôi đi xem thứ gì đó thô tục, phải không?" anh nhận xét. "Nhưng tôi nghĩ mình cứ thử vận may xem sao. Cô cứ gọi điện đi."
Nghe vậy, cô đứng dậy và lần đầu tiên đối diện trực diện với anh. Đến mức anh vô cùng kinh ngạc khi nhận ra cô đang vô cùng hoảng hốt và sợ hãi. Nhưng vì một lý do kỳ quặc nào đó, cô cũng rất kiên quyết. Khuôn mặt cô đỏ bừng đến tận chân tóc và đôi môi đang run rẩy.
"Anh Aldrich," cô nói, "anh sẽ không thích vở diễn đó đâu. Nếu... nếu anh đi, anh sẽ phải hối hận đấy."
Trong lúc anh vẫn đang ngẩn ngơ nhìn cô thì cậu thanh niên Craig vui vẻ bước ra khỏi phòng làm việc của mình, trên tay cầm một tập tài liệu và đôi môi vẫn còn chúm chím tiếng huýt sáo dở dang. " Ồ, cô Beach!" cậu nói, rồi chợt khựng lại khi nhận ra có chuyện gì đó vừa xảy ra.
Rodney thử một phép thử. "Craig," anh nói, "Cô Beach không muốn tôi mua vé xem vở *The Girl Up-stairs*. Cô ấy bảo tôi sẽ không thích nó. Cậu có đồng tình với cô ấy không?"
Khuôn mặt cậu trai bỗng đỏ bừng lên và cằm trễ xuống. Sau đó, cố gắng lấy lại bình tĩnh hết mức có thể, cậu đáp: "Vâng, thưa anh," rồi quay gót bước thẳng trở lại căn phòng nhỏ của mình.
Rodney cụt ngủn bảo: "Cô không cần gọi điện nữa đâu, cô Beach." Và không nói thêm một lời nào nữa, anh đội mũ, mặc áo khoác rồi bước ra khỏi văn phòng.
Thứ cảm xúc thúc đẩy anh lúc này không phải là một nỗi niềm sâu sắc gì cho cam; mà đúng hơn là một thứ cảm xúc bề ngoài đầy bộc phát, giống như cơn giận dữ nổi lên từng đợt từng hồi đã đẩy giai đoạn cuối cùng trong cuộc đấu tranh lớn của anh với Rose đến bờ vực — lần anh bảo cô rằng anh sẽ không liều lĩnh đánh đổi sinh mạng của mấy đứa trẻ chỉ để thỏa mãn những cơn hứng thú bất chợt của cô. Anh cảm thấy vô cùng bực bội trước những thiện chí của bạn bè mình. Từ sau dịp Giáng sinh, anh đã lờ mờ nhận ra một sự dịu dàng có phần gượng gạo ở họ; nhưng hoặc là điều đó đã trở nên mãnh liệt hơn trong mười ngày qua, hoặc là bản thân anh đột nhiên trở nên nhạy cảm hơn với nó. Khả năng thứ hai có lẽ là cao hơn cả. Thế nhưng, thái độ của Violet Williamson vào tối Chủ nhật tuần trước khi anh đến nhà cô ta suýt chút nữa thì giống như đang thì thầm và nhón chân đi nhẹ nói khẽ. Chốc chốc anh lại cứ ngỡ cô ta sắp mời mình một ly trứng sữa đánh bông.
Nhưng cái sự khéo léo thái quá vừa bộc phát trong văn phòng của anh lúc nãy thực sự là quá sức chịu đựng. Chắc chắn là hai người bọn họ đã bàn tán về anh rồi. Hẳn là họ đã nhận ra từ lâu rằng đằng sau chuyến đi dài ngày đến California của vợ anh có điều gì đó khuất mắt không chỉ đơn thuần như bề ngoài. Việc họ cảm thấy thương cảm cho anh là một nghĩa cử đẹp và rất đỗi con người. Thế nhưng, chỉ vì vở *The Girl Up-stairs* có chứa một bài hát chế giễu có phần thô lỗ nào đó về những người đàn ông có vợ bỏ đi theo trai, hay vì cốt truyện có chi tiết về một chuyến đi California với mục đích không mấy tốt đẹp hơn cái cớ bề ngoài của nó, mà họ quyết tâm bằng mọi giá không cho anh đi xem vở diễn đó thì thật là nố bịch. Anh đi thẳng tới câu lạc bộ và bảo nhân viên quầy xì gà mua cho mình một vé xem buổi biểu diễn tối nay.
Lúc đó đã qua năm giờ và anh quyết định sẽ không quay lại văn phòng trước bữa tối. Trên thực thế, anh có thể ăn tối luôn ở đây cũng được. Thế là anh đi lên phòng khách, thủ sẵn một tờ báo buổi tối để phòng hờ những người quen xã giao, gọi một ly đồ uống rồi thả người xuống chiếc ghế bọc da lớn.
Nhưng có vẻ như toàn bộ không gian được sắp đặt kỹ lưỡng ấy lại chẳng có quyền năng xoay chuyển dòng suy nghĩ của anh. Chúng vẫn tiếp tục xoay quanh cách hành xử của cô Beach và cậu thanh niên Craig, những thứ thực sự trở nên kỳ quặc hơn khi người ta ngẫm nghĩ về nó. Thật khó mà tưởng tượng được có bất kỳ sự ám chỉ nào trong cốt truyện hay lời bài hát của một vở kịch ca nhạc ngớ ngẩn lại sắc bén đến mức có thể lý giải cho nỗ lực điên cuồng ngăn cản anh của cô Beach, hay cho cái đỏ mặt tức khắc trên khuôn mặt cậu thanh niên Craig. Bởi vì suy cho cùng, bọn họ đâu có thực sự biết rằng cuộc phiêu lưu vĩ đại của anh đã kết thúc trong đau khổ, và dù bất cứ ai trong số họ có nghĩ rằng điều được nói trên sân khấu có liên quan đến hoàn cảnh của sếp mình đi chăng nữa, thì cũng chẳng có chuyện cả hai lại mang điều đó ra bàn tán với người kia. Nếu không có cuộc bàn tán nào như thế, và nếu không có sự lường trước về việc anh sẽ đi xem vở diễn, thì bạn chẳng thể nào giải thích nổi tại sao cậu Craig lại có thể nhanh chóng bắt trọn ý đến vậy. Thế nhưng, nếu không phải thế thì còn lời giải thích nào khác nữa? Chẳng có lời giải chỉ nào cả, và mọi chuyện chấm hết tại đó!
Chỉ có điều mọi chuyện vẫn chưa hề kết thúc. Ngọn hải đăng chel vhel của ký ức bỗng quét qua khoảnh khắc trong buổi tối cuối cùng ở nhà gia đình Williamson. Vợ chồng Crawford đã ở đó, cùng với một người nữa — một người đàn ông mà anh không quen biết; và người lạ mặt đó đã nói gì cơ chứ, một nhận xét ngây ngô vô hại nào đó về những người đàn ông mệt mỏi vì công việc và thể loại kịch ca nhạc mà họ ưa chuộng; ngay lập tức cả Constance lẫn Violet liền hùa vào tung hứng rồi đổi chủ đề một cách gần như thô bạo. Anh biết John Williamson có thói quen đến nhà hát Globe, nhưng việc John, kẻ chưa từng nhận ra một ẩn ý nào trong đời, lại mò về nhà rồi truyền tai nhau điều đó, và vì thế mọi sự đề cập đến kịch ca nhạc đều trở thành điều cấm kỵ vì lợi ích của Rodney, thì quả là hoang đường hết chỗ nói.
Thế nhưng, tính hoang đường của một ý tưởng trong tâm trạng của anh tối nay dường như lại mang đến cho nó cái chất bám dai dẳng như gai quỷ, cứ bám chặt lấy tâm trí anh bằng hàng trăm chiếc ngạnh bé xíu, mặc cho mọi nỗ lực dứt bỏ của anh. Thậm chí anh còn chợt nghĩ rằng thái độ của nhân viên quầy xì gà — người mà anh vừa bảo mua vé cho mình — hình như không được tự nhiên cho lắm; có gì đó hơi cường điệu và ra vẻ thực tế một cách thái quá. Anh vẫn thường mua vé từ người đó, và người đàn ông này luôn đưa ra vài lời động viên nho nhỏ, ví dụ như anh ta nghe nói đó là một vở diễn hay; hoặc một cách trung lập hơn là hy vọng anh Aldrich sẽ thưởng thức nó vui vẻ. Tối nay, chắc chắn là anh ta chẳng nói câu nào kiểu như vậy.
Sự vô lý của luồng suy nghĩ này quả thực là không tài nào chịu nổi. Anh vứt phăng tờ báo xuống và bước sang căn phòng bên cạnh — căn phòng ngập tràn những chiếc bàn đủ kích cỡ, và vào giờ này, đang đông nghịt các thành viên đang tranh thủ tìm cách kích thích vị giác cho bữa tối bằng con đường ngắn nhất. Chiếc bàn tròn lớn nằm gần cửa nhất đã bị chiếm chỗ bởi một nhóm người quen; vài người trong số đó rất thân, số khác chỉ là xã giao, và anh bước tới với ý định thả mình vào chiếc ghế trống duy nhất. Nhưng ngay trước khi có ai kịp thoáng nhìn thấy anh, tai anh đã bắt gặp cụm từ, "The Girl Up-stairs." Và rồi một luật sư tên là Gaylord ngẩng lên nhận ra anh. "Chào Aldrich," anh ta nói, và Rodney dám thề rằng khoảng không gian lặng ngắt theo sau đó mang một thứ năng lượng điện giật không phải do chính trí tưởng tượng của anh thêu dệt nên. Những người khác bắt đầu chào hỏi anh, giục anh ngồi xuống và làm một ly.
Rodney hít một hơi thật sâu: "Phải chăng tôi vừa nghe thấy ai đó nhắc đến vở *The Girl Up-stairs*?" anh hỏi. "Đó có phải là một vở diễn hay không? Tôi có nên đi xem nó không?"
Khoảng lặng lần này thậm chí còn ngắn hơn.
Gaylord cất lời qua một cái ngáp dài được che đậy khéo léo. "Tôi không biết," anh ta nói. "Tôi chưa xem."
Một hai người khác ngẩn ngơ lắc đầu. Cuối cùng, một người khác lên tiếng: "Chắc chỉ là một vở diễn bình thường ở nhà hát Globe thôi. Cũng được; nhưng chẳng đáng để bận tâm đâu."
Một lần nữa họ lại giục anh ngồi xuống làm một ly, nhưng anh bảo mình đang tìm người rồi bước dọc căn phòng và đi ra bằng cánh cửa phía bên kia.
Lúc này anh biết rằng mình đang sợ hãi. Thế nhưng thứ khiến anh sợ hãi lại nhất quyết không chịu xuất hiện ra ánh sáng, nơi anh có thể nhìn thấy nó và biết nó là gì. Anh vẫn tự lừa dối rằng mình không biết đó là thứ gì, khi anh bước qua những khung ảnh được đóng kính trong sảnh nhà hát mà chẳng thèm liếc mắt nhìn lấy một lần, rồi dừng lại ở phòng vé để đổi tấm vé ở ngay hàng ghế đầu lấy một chỗ ngồi ở gần phía cuối nhà hát.
Nhưng khi nhóm múa sáu người bước ra sân khấu lần đầu tiên, anh biết rằng mình đã sớm mang nỗi ngờ vực ấy từ nhiều tiếng đồng hồ trước.
Anh không hề nhúc nhích khỏi ghế trong suốt cả hai giờ giải lao. Thế nhưng đến khoảng màn ba, anh đứng dậy và bước ra ngoài.
Tôi nghi ngờ rằng chưa từng có một tổ tiên thời tiền sử nào của anh lại từng giận dữ đến thế như Rodney vào khoảnh khắc đó. Bởi vì, từ lâu trước khi sức nén của cơn giận dữ thời nguyên thủy kịp dâng lên đến mức độ của Rodney, nó đã được giải tỏa bằng hành động rồi. Hắn ta sẽ xông thẳng vào hiện trường, đánh ngã bất kỳ kẻ hiếu kỳ nào ngu ngốc dám cản đường, tóm lấy người đàn bà của mình và vác về hang đá. Đó chính xác và theo đúng nghĩa đen là những gì Rodney, với từng sợi thần kinh đang nhức nhối trong cơ thể, khao khát được làm hơn hết thảy.
Chiếc roi da quất vào tâm hồn anh mang theo hàng chục vệt hằn, mỗi vệt đều mang nọc độc cay đắng của riêng nó. Tất cả những ai quen biết anh, từ bạn thân cho đến những mối xã giao thông thường, hẳn đều đã biết về nỗi nhục nhã này từ nhiều tuần nay rồi. Bạn bè anh chắc đã thương hại anh, kèm theo một chút khinh miệt thầm kín; những người quen thì chắc đã cườimỉm mỉa mai với một chút thương hại đầy thỏa mãn. "Anh có biết Aldrich không? À, vợ của anh ta đang múa trong dàn đồng ca ở nhà hát Globe đấy. Và khổ nỗi gã tội nghiệp ấy lại chẳng hề hay biết gì." Nhóm người quanh chiếc bàn tròn ở câu lạc bộ tối nay. Anh có thể mường tượng ra khuôn mặt của họ sau khi anh quay lưng bỏ đi.
Ồ, nhưng rốt cuộc thì bọn họ có là gì chứ? Bất kỳ ai trong số họ thì sá gì? Trên đời này còn có cái gì quan trọng nữa đâu, ngoại trừ người phụ nữ mà anh đã hết lòng yêu thương và sống vì cô ấy — người phụ nữ đã rời bỏ anh với những lời lẽ nài nỉ về sự cần thiết phải giữ gìn tình bạn và sự tôn trọng dành cho nhau, lại đang đứng trên sân khấu kia để mua vui cho thiên hạ — lại còn với mức thù lao rẻ mạt nữa chứ, trước đám đông phàm tục ngu ngốc đang chen chúc vây quanh anh. Bọn họ đang dán mắt vào cô ấy, đúng như quyền lợi mà tiền vé đã mang lại cho họ, và họ đang thèm thuồng liếm mép trước hình bóng cô.
Anh chưa từng mảy may nghi ngờ rằng đó chính là cô. Thậm chí chẳng thể tự ngụy biện lấy một giây, đằng sau lý thuyết của Jimmy Wallace rằng đó chỉ là một "sự giống nhau kỳ lạ."
Những người thuộc thế giới của họ vẫn luôn biết Rose là một người sở hữu phẩm chất tự nhiên và sự đường hoàng không chút gượng gạo. Cô chưa từng đùa giỡn hay nô đùa trước mặt bất kỳ ai trong số họ, và cô luôn tạo ra ấn tượng không phải vì kiềm chế để giữ phép lịch sự, mà đơn giản vì cô là kiểu người vốn dĩ không bộc lộ cảm xúc theo những cách đó. Thế nhưng trong không gian riêng tư của cuộc sống lứa đôi, cô thường tỏ ra là một Rose hoàn toàn khác trước mặt anh. Cô đùa giỡn với anh bằng sự buông thả của một chú mèo con — nô đùa và vật lộn với anh. Và có một sự ngọt ngào tuyệt diệu đọng lại trong giai đoạn này của cô, bắt nguồn từ việc điều đó chỉ dành riêng cho một mình anh mà thôi.
Thế nhưng giờ đây, ngay trên sân khấu của một nhà hát rẻ tiền, cô lại đang phô bày thứ tuyệt phẩm ấy trước thiên hạ! Vào khoảng màn thứ hai, khi sáu người bạn của Sylvia đến ngủ lại qua đêm cùng cô ấy và trải chiếu nằm trên mái nhà, có một màn nô đùa điên cuồng gợi lại những ký ức đến phát điên. Anh có cảm giác mình phải xông lên tóm lấy cô — lay mạnh người cô — đánh cho cô một trận!
Thế mà suốt thời gian đó, nếu có bất kỳ người hàng xóm nào để ý đến anh — nhận thức được sự hiện diện của anh và lấy làm lạ, thì đó chỉ là vì anh ngồi quá đỗi tĩnh lặng. Và khi mọi chuyện cuối cùng đã trở nên hoàn toàn không thể chịu đựng nổi nữa, và anh đứng dậy bước ra ngoài, anh vẫn kịp nhìn đồng hồ trước, ra điều hoàn toàn giống như một vị khách đi tàu ngoại ô đang lo lắng về chuyến tàu lúc mười giờ năm mươi lăm.
Cơn gió Tây Bắc vốn thổi lạnh buốt từ khi mặt trời lặn nay đã chuyển thành một trận cuồng phong dữ dội. Thế nhưng anh sải bước từ phòng chờ ra ngoài đường phố mà chẳng hề mảy may hay biết. Anh biết đâu đó quanh đây thế nào cũng có cửa ra vào hậu đài, và anh quyết tâm tìm cho bằng được. Anh chẳng hề nghĩ đến chuyện hỏi han ai cả. Anh đã hoàn toàn mất đi ý thức về tư cách xã hội; về sự thuộc về một xã hội văn minh. Anh lúc này chẳng khác nào một kẻ lưu vong Ishmael.
Anh mất rất nhiều thời gian để tìm ra cánh cửa đó, bởi vì ngẫu nhiên sao anh lại đi vòng quanh khu phố ngược hướng và tốn công khám phá vô ích hai con hẻm trước khi tìm đúng lối đi. Nhưng cuối cùng anh cũng tìm thấy và giật mạnh cửa mở ra. Tiếng vỗ tay vang lên ngắt quãng, lúc cao trào lúc nhỏ dần theo nhịp hạ màn nhanh chóng, báo hiệu cho anh biết buổi biểu diễn vừa mới kết thúc.
Một nhân viên gác cổng chặn anh lại và hỏi anh muốn gì.
"Tôi muốn gặp cô Aldrich," anh nói, "bà Rodney Aldrich."
"Làm gì có ai tên thế ở đây," người đàn ông đáp, và trong cơn thịnh nộ, Rodney đinh ninh rằng hắn ta đang nói dối. Anh chẳng hề nghĩ rằng Rose có thể đã dùng một cái tên khác.
Anh đứng lặng đi một lúc để cân nhắc xem có nên dùng vũ lực để cưỡng chế xông vào bất chấp ý định ngăn cản rõ mười mươi của người gác cổng hay không, và rồi quyết định đứng chờ thay thế.
Quyết định đó không xuất phát từ sự khôn ngoan thông thường, mà từ mong muốn không để lãng phí cơn thịnh nộ của mình lên những kẻ chẳng quan trọng. Anh muốn giữ nguyên vẹn nó dành riêng cho Rose.
Anh quay trở lại con hẻm, nép người vào góc trụ gạch và đứng đợi. Anh không hề giậm chân hay quơ tay múa máy để xua đi cái lạnh. Anh cứ đứng im lặng với sự kiên nhẫn của tổ tiên từ ngàn xưa, chờ đợi. Bất chấp thời gian trôi qua, bất chấp những bóng người bắt đầu lác đác bước ra từ cánh cửa hẹp, những kẻ vốn chẳng phải là cô.
Chẳng mấy chốc cô đã bước ra. Một cơn gió thốc thẳng vào người khi cô khép cửa lại phía sau, làm tung bay chiếc áo khoác dáng dài chưa cài khuy của cô, thế nhưng cô không hề co ro né tránh, cũng chẳng quay mặt đi — cứ thế đứng thẳng người đầy kiêu hãnh đối diện với gió lốc. Có chút gì đó đầy cảnh giác trong tư thế của cô — anh không nhìn rõ mặt cô — gợi ý rằng cô đang chờ đợi ai đó. Và rồi, giọng nói không lớn, nhưng vô cùng rành mạch:
"Roddy," cô gọi.
Anh cố gọi tên cô, nhưng cổ họng khô khốc không thốt lên lời. Anh bỗng nhiên run lẩy bẩy. Anh bước ra khỏi bóng tối và cô nhìn thấy anh, bước tới đón anh và lại gọi tên anh một lần nữa.
"Em thấy anh lúc anh đi ra," cô nói. "Em sợ anh không đợi. Em đã cố gắng đi thật nhanh hết mức có thể. Em đã... c-chờ đợi lâu lắm rồi. Còn lâu hơn cả anh."
Lúc này họ đã ở quá gần nhau, đến mức cô nhận ra anh đang run rẩy nhường nào — thực sự là đang co giật từng cơn.
"Anh l-lạnh lắm phải không," cô nói.
Cuối cùng anh cũng cố cất nên lời, và vừa nói, anh vừa vươn tay ôm lấy bờ vai cô. "Về nhà thôi," anh nói. "Em phải về nhà."
Nghe vậy, cô lùi lại một bước và lắc đầu. Nhưng trong lúc đôi tay ôm lấy cô, anh phát hiện ra rằng cô cũng đang run rẩy.
Cửa hậu đài lại mở ra để nhường chỗ cho ba vũ công trong đoàn bước ra.
"Chúa ơi," một cô ré lên, "đêm quái quỷ gì mà lạnh thế không biết!"
Bọn họ tò mò nhìn Dane và gã đàn ông to lớn đang đứng cùng cô, rồi lúp xúp chạy biến đi dọc con hẻm.
"Chúng ta không thể nói chuyện ở đây được," anh nói. "Phải tìm chỗ nào đó thôi."
Cô gật đầu đồng ý và họ sóng đôi bước đi theo sau ba cô bé kia, nhưng với bước chân chậm hơn. Giữa một khoảng tối nhập nhoạng lưng chừng con hẻm, anh với tay nắm lấy cánh tay cô. Có lẽ hành động đó bắt đầu như một phản xạ vô thức — chỉ là một bản năng tự nhiên để ngăn cô vấp ngã giữa bóng tối ấy. Thế nhưng ngay khi chạm vào cô, bản chất của nó đã thay đổi. Anh siết chặt cánh tay cô và cả hai cùng đứng lặng đi. Khoảng khắc tiếp theo, chẳng nói chẳng rằng, họ lại tiếp tục bước đi. Đến góc hẻm, họ rẽ về hướng Bắc. Đó là phố Clark. Cuối cùng:
"Anh vẫn ổn chứ, Roddy? Còn mấy đứa nhỏ nữa?" cô cố gắng lên tiếng hỏi. "Cũng đã khá nhiều ngày rồi em không nhận được tin tức gì từ Portia." Và rồi, đột ngột, "Có phải vì có chuyện gì đó không ổn nên anh mới tới đây không?"
"Anh không hề biết em ở đây cho đến khi nhìn thấy em trên sân khấu."
Đó là tất cả những lời thoại trôi qua cho đến khi họ ra tới cây cầu. Thế nhưng chẳng cần đến lời nói nào để kéo căng hơn nữa sợi dây thanh âm ngập tràn ký ức và sự gắn kết giữa họ; thậm chí chẳng cần đến sự tiếp xúc cơ thể kéo dài nào cả. Anh đã buông tay cô ra khi bước khỏi con hẻm, và họ đi bộ nửa dặm tới cây cầu sóng bước bên nhau, bước đều chân, và ngoại trừ một vài lần vai cô vô tình cọ vào tay anh, họ hoàn toàn không chạm vào nhau.
Thế nhưng cây cầu phố Clark, với một trận cuồng phong tháng Hai thổi thốc từ hướng Tây dọc theo lòng sông thẳng tắp, không phải là thứ có thể dễ dàng vượt qua. Dù mạnh mẽ đến đâu, sức gió thổi thực sự đã chặn đứng họ lại ở rìa nhịp cầu, làm cô chao đảo mất thăng bằng, xoay người cô nửa vòng và ép sát cô vào người anh.
Cô phát ra một thứ âm thanh kỳ lạ trong cổ họng, một tiếng hít thở mang theo cả tiếng nức nở lẫn tiếng cười.
Khoảnh khắc ấy — ngọn lửa ký ức bùng lên quá đỗi sống động — dường như anh thực sự đang đứng trên một cây cầu khác (vắt ngang nhánh phía bắc của Kênh thoát nước, trong số tất cả mọi nơi) với trận bão tuyết sư tử cuối cùng của tháng Ba, vốn trước đó hiền lành như một chú cừu, nay đang cuồn cuộn quay cuồng trong hơi men. Anh đã lê bước nhiều giờ qua những con đường lầy lội đất sét cùng một cô gái mà anh chỉ mới quen hai tuần và ngày hôm trước vừa cầu hôn cô. Họ đã bàn luận về dự án này một cách vô cùng thực tế, như họ tự nhủ, dưới lăng kính của lý trí thuần túy; và cả hai đều vô cùng tự hào về việc kể từ khi cuộc dạo chơi bắt đầu, chẳng có lấy một hành động nào mà người ngoài có thể gọi là sự ve vãn hay âu yếm giữa họ. Thế nhưng ngay trên cây cầu đó, một cơn gió quất đã làm cô mất thăng bằng, và cô — với đúng cái tiếng cười nghẹn ngào nho nhỏ ấy — đã bấu víu lấy vai anh. Anh đã vòng một tay ôm lấy cô rồi đến tay kia. Chẳng hề giằng co chút nào, cô ngẩng người giữ khoảng cách trong giây lát, căng người như một dây cung, hai tay bấu vào vai anh, cẳng tay tì lên ngực anh; rồi với sự buông thả đầy ngây ngất của sự đầu hàng, cơ thể cô mềm nhũn trong vòng tay anh và đôi tay cô luồn qua cổ anh; gương mặt họ, lạnh ngợp bởi cái buốt nhói mịn màng của những hạt tuyết pha mưa, áp sát vào nhau.
Tấm màn ký ức vụt qua. Gió đêm nay còn lạnh hơn cả trận bão tuyết tháng Ba năm ấy, và tiếng rên rỉ khô khốc của một chuyến tàu điện chạy qua quyện lẫn vào tiếng rít của gió. Những bóng người trùm kín mít, còng lưng chống chọi lại gió lốc, va phải họ khi đi qua.
Anh dùng một tay giữ chặt vai cô, lách người sang phía đón gió và đan tay mình vào tay cô. Nhưng phải mất một lúc họ mới tiếp tục bước đi. Bàn tay họ chạm nhau và đan chặt vào nhau đầy điện giật. Cũng như anh, tay cô không đeo găng. Cô đút tay vào trong túi chiếc áo khoác dáng dài.
"Em còn nhớ cây cầu bên kia chứ?" anh hỏi.
Câu trả lời của cô là hành động siết chặt — đầy mãnh liệt — bàn tay anh đang giữ áp sát vào ngực mình. Thậm chí qua lớp vải áo khoác dày, anh vẫn có thể cảm nhận được nhịp đập trái tim cô. Họ băng qua cầu, nhưng cái nắm tay không hề lỏng ra khi họ sang đến bờ bên kia. Sức bước chân nhanh hơn, nhưng chẳng ai trong số họ mảy may nhận ra điều đó.
Về phần Rodney, anh thậm chí còn chẳng ý thức được họ đang đi trên con đường nào, hay đã đi được bao xa. Trong tâm trí anh lúc này chẳng hề vạch sẵn một đích đến hay bất kỳ kế hoạch hay hy vọng nào cho những gì sẽ xảy ra khi họ đến nơi. Thế nhưng anh vẫn bước đi có mục đích và từng chút một, nhanh hơn. Anh ngẩn người nhìn quanh trong một vẻ bàng hoàng ngơ ngác khi cô buông tay anh ra và dừng lại cuối cùng ở góc cửa hàng đồ delicatessen, ngay bên cạnh lối vào đường hầm nhỏ của cô.
"Đây là chỗ em ở," cô nói.
"Nơi em ở!" anh ngẩn ngơ lặp lại.
"Kể từ khi em đi — đến California. Em ở ngay đây — nơi mà em suýt chút nữa có thể nhìn thấy làn khói từ ống khói nhà anh. Em thuê một căn phòng nhỏ kỳ lạ — em chỉ trả ba đô la một tuần cho nó — nhưng — nó đủ rộng để được ở một mình."
"Rose..." anh khàn giọng gọi.
Một người đàn ông say rượu đang loạng choạng bước đi đáng thương trên phố. Cô co người nép vào lối tối của hành lang và Rodney bước theo sau, dùng đôi tay tìm thấy cô và nghe thấy giọng nói đứt quãng, thở gấp của cô. Anh hầu như chẳng nghe rõ cô đang nói gì.
"Mọi chuyện thật kỳ diệu... Em biết chúng ta chưa trò chuyện; chúng ta sẽ làm điều đó vào lúc khác, ở đâu đó nơi chúng ta có thể... Nhưng tối nay, cứ bước đi thế này, hệt như... Ngày mai, em sẽ tưởng tất cả chỉ là một giấc mơ."
"Rose..."
"Ch-chuyện gì thế anh?" cuối cùng cô giục giã.
"Cho anh vào trong đi," anh nói. "Đừng đuổi anh đi đêm nay! Anh — anh không thể..."
Âm thanh duy nhất vang lên đáp lại là một tiếng thở dài run rẩy kéo dài. Nhưng ngay sau đó, bàn tay cô nắm lấy bàn tay đang bấu víu vai cô từ nãy và dẫn anh về phía cuối hành lang, nơi ánh sáng mờ ảo xuyên qua ô cửa kính phía trên hé lộ một cánh cửa. Cô mở cửa bằng chiếc chìa khóa vặn, rồi đi trước dẫn đường, anh bước theo cô lên hai tầng cầu thang hẹp, nơi tiếng kẽo kẹt khẽ khàng là âm thanh duy nhất tồn tại ở đó. Ở hành lang tối tăm trên gác thượng, cô mở một cánh cửa khác.
Cô thở hắt ra: "Đợi em thắp đèn gas lên đã."
Sự im lặng của họ chẳng có gì là lén lút; chính sự kỳ diệu, phép màu của việc được ở bên nhau một lần nữa đã khiến họ rón rén bước tới như những đứa trẻ đang kinh ngạc.
Bước vào một căn phòng nhỏ xíu tồi tàn, chật chội, lạnh lẽo, với chiếc bàn trang điểm siêu vẹo, chiếc giường gồ ghề và ô cửa sổ bám đầy bụi bẩn đang rung lên bần bật theo từng đợt gió thốc lướt qua ngoài phố... Bước vào một lâu đài của sự mê hoặc.
Cô để ngọn đèn gas ở mức thấp, cởi mũ và áo khoác dáng dài, kéo rèm che cửa sổ lại và khép cửa phòng, treo lên một bộ quần áo đang vắt hờ trên rương và tiện tay nhét đống đồ giặt chưa kịp cất vào ngăn kéo tủ. Suốt khoảng thời gian đó, anh cứ trân trân nhìn cô đầy khao khát mà không thốt lên lời.
Cô quay người lại đối diện với gương mặt anh, đôi mắt xoáy sâu vào anh như đôi mắt anh đang tìm kiếm cô, rực sáng và ngập tràn ngọn lửa đang bùng lên nhanh chóng. Đôi môi cô hé mở đôi chút, run rẩy. Trên làn da cô phảng phất một thứ sắc hồng rạng rỡ hiện lên rõ rệt hơn khi dòng máu từng đợt ùa về nhuộm hồng đôi gò má. Tầm nhìn của anh về cô bỗng nhòe đi trong làn sương mờ khi đôi mắt anh ngấn lệ.
Và rồi, với tiếng nức nở nghẹn ngào trong cổ họng, cô sà vào lòng anh. "Ồ, Roddy... Roddy!" đó là tất cả những gì cô nói. Bằng đôi tay dẻo dai của mình, cô càng siết chặt vòng ôm hơn nữa.
Xét về cấu trúc thượng tầng của cuộc đời hai con người — phần tâm hồn bay bổng vượt lên trên mức độ ý thức, toàn bộ hệ thống tư tưởng, lý thuyết và lý tưởng đã tạo nên Rose và Rodney trong mắt bạn bè, trong mắt nhau và phần lớn là đối với chính họ — họ vẫn xa cách nhau như ngày cô rời khỏi ngôi nhà của anh. Kể từ đó đến nay, giữa họ chưa từng có lấy một lời tranh luận hay nhượng bộ. Vực thẳm vĩ đại ấy vẫn chưa hề được san lấp. Anh vẫn chưa chứng minh được rằng mình có thể mang lại cho cô tình bạn mà cô đòi hỏi. Cô chưa có cơ hội kể cho anh nghe về bất kỳ chiến tích hay bài học kỷ luật nhỏ nhoi nào trong cuộc sống mới mà cô hòng hy vọng sẽ chiếm được từ anh.
Còn về phần Rodney, anh vẫn là con người của một giờ trước đó trong nhà hát, kẻ từng cuồng nộ và oằn mình quằn quại dưới cái gọi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của anh đối với cô.
Tất nhiên, nếu trò chuyện với Barry Lake, anh sẽ không định nghĩa sự việc theo cách đó. Thậm chí anh sẽ cùng với bao người khác phủ nhận việc một người chồng lại có bất kỳ quyền sở hữu nào đối với vợ mình. Thế nhưng cảm giác không thể dung thứ khi trở thành đối tượng bị chế giễu, bị thương hại khinh miệt, bị bôi nhọ và khiến cô bị hạ thấp thông qua việc xuất hiện trên sân khấu một nhà hát công cộng của người phụ nữ mang danh vợ anh; và qua việc cô phô bày, đổi lấy tiền bạc, những nét quyến rũ mà anh từng đinh ninh sẽ chỉ được giữ gìn cho riêng mình — những điều đó chẳng thể bắt nguồn từ đâu khác ngoài chính nguyên nhân ấy. Anh đã đứng chờ trong con hẻm đó, ngập tràn những suy nghĩ cay đắng chực chờ bùng nổ thành những lời nguyền rủa. Anh đã đứng chờ ở đó, sẵn sàng, anh nghĩ thế, dùng cả vũ lực thể xác lên cô trong trường hợp bất khả kháng nếu điều đó trở nên cần thiết, để lôi cô ra khỏi cái hố sâu mà anh đã tìm thấy cô, đưa trở lại bên cạnh mình.
Nhưng chẳng hiểu sao, khi nghe cô gọi tên mình, anh đã bắt đầu run rẩy. Và khi cảm nhận được cô cũng đang run rẩy, những lời lẽ cay đắng chết nghẹn trên đầu lưỡi và những ý nghĩ thúc đẩy chúng đã bị bóp nghẹt như lửa vùi dưới cát. Và khi anh đứng đối diện với cô trong căn phòng tồi tàn nhỏ bé ấy, đôi mắt sục sạo gương mặt cô, tất cả những gì anh tìm kiếm chỉ là một dấu hiệu của cơn đói khát — cơn đói khát ngàn đời — đang gặm nhấm tâm can anh. Và khi anh tìm thấy nó, thế là quá đủ với anh rồi. Vấn đề lớn lao cần phải đấu tranh giữa họ vẫn còn nguyên vẹn, nhưng nỗi khát khao thì cần phải được thỏa mãn trước tiên.
Nhiều giờ trôi qua, vào lúc đêm sâu tĩnh mịch, khi anh ngồi bên mép giường, quay lưng về phía cô, cảm giác phẫn nộ và nhục nhã thuở nào bỗng trỗi dậy trở lại, đột ngột hệt như lúc nó rời bỏ anh. Và sự trở lại ấy thậm chí còn khiến mọi thứ trở nên không tài nào chịu nổi hơn bao giờ hết. Bởi vì ngọn lửa trong trẻo ấy đã mất đi sự tinh khiết; niềm tin từng thổi bùng nó đã biến mất — cảm giác về sự đúng đắn của chính bản thân anh. Sức mạnh bùng nổ không thể cưỡng lại của đam mê từng cuốn phăng anh đi đã phá hủy điều đó. Ngọn lửa bốc khói âm ỉ.
"Em có mang theo thứ gì ở đây không," anh hỏi cô cộc lốc, "ngoài những thứ vừa nhét vào rương?"
Chính thái độ cau có trong giọng điệu của anh, chứ không phải bản thân câu chữ, đã khiến cô giật mình.
"Không," cô ngơ ngác đáp. "Đương nhiên là không rồi."
"Vậy thì chúng ta mau vứt chúng vào đó đi," anh nói, "và khóa cái rương lại. Em có còn nợ tiền thuê nhà không?"
"Roddy!" cô thốt lên. Anh nghe thấy tiếng cô di chuyển đằng sau mình. Cô quẹt diêm thắp sáng ngọn đèn gas. Rồi vòng ra trước mặt anh và trân trân nhìn anh với ánh mắt nhíu lại đầy hoài nghi khó hiểu. "Ý anh là gì?"
"Ý anh là chúng ta sẽ rời khỏi cái xó xỉnh tồi tệ này ngay bây giờ — đêm nay. Chúng ta về nhà. Chúng ta có thể để lại địa chỉ để họ gửi rương sau. Nếu nó không bao giờ tới thì lại càng hay."
Một lần nữa, tất cả những gì cô có thể làm là hỏi anh với một tiếng lắp bắp đầy bối rối rằng anh đang có ý gì. "Bởi vì," cô nói thêm, "em chưa thể về nhà bây giờ được. Em mới chỉ — bắt đầu thôi."
"Bắt đầu!" anh lặp lại. "Em tưởng anh sẽ để cho cái trò hề ghê tởm này tiếp diễn nữa chắc?"
Và thế là ngọn lửa đang âm ỉ lại bùng cháy dữ dội trở lại. Anh kể cho cô nghe những gì đã xảy ra ở văn phòng chiều nay; kể cho cô nghe về thái độ của bạn bè, về việc tất cả bọn họ đều đã biết rõ sự tình — chắc chắn đã đến tận nơi để mục sở thị, và vì thương hại hoặc khinh miệt nên đã không nói cho anh biết. Anh kể cho cô nghe cảm giác của mình khi ngồi đó trong nhà hát; lý do tại sao anh lại đứng chờ cô ở cửa hậu đài. Khi ngọn lửa giận dữ tự bùng phát ngày càng rực cháy, anh cáo buộc cô đã chọn cách làm tổn thương anh nhiều nhất, đã ôm hận trong lòng và tìm cách trả thù anh.
Đó là khoảnh khắc đê hèn nhất trong cuộc đời anh, và anh thừa nhận điều đó. Những lời buộc tội mà anh trút lên cô chẳng thấm tháp gì so với những tội lỗi đang tích tụ dần trong tâm trí anh chống lại chính mình. Cảm giác đúng đắn lẽ ra đã có thể khiến anh dịu dàng hơn, đã bị cuốn phăng đi bởi thứ đam mê mà anh từng chia sẻ cùng cô, và anh chẳng thể nào tìm lại được nó nữa.
Anh không nhìn cô trong lúc nói chuyện, và cô cũng không hề ngắt lời; chẳng thốt ra một lời phủ nhận hay biện hộ nào. Cơn bùng nổ dữ dội cuối cùng cũng lắng xuống. Anh chìm vào sự im lặng đầy bất an, tự thu xếp lại cảm xúc, rồi lại tiếp tục cố gắng giãi bày nỗi ấm ức của mình — lần này có lý hơn một chút, có rút lại đôi chút. Thế nhưng dưới sự im lặng kéo dài của cô, anh lại một lần nữa nổi giận vô cớ.
Đến khi cô cất lời, anh quay đầu nhìn về phía cô và bắt gặp một vẻ mặt chết lặng trên khuôn mặt trắng bệch vô hồn của cô mà chưa từng thấy bao giờ. Ngữ điệu của cô đều đều, giọng nói gần như không thể nghe rõ.
"Chắc là em hiểu rồi," cô nói. "Em chẳng biết mình có ước gì bản thân chết quách đi cho rồi hay không. Giá như em chết đi vào lúc mấy đứa nhỏ chào đời... Nhưng em mừng vì mình đã rời đi lúc đó. Và em mừng," — cô khẽ rùng mình trước sự lựa chọn thay thế — "em mừng vì mình đã có một công việc và em có thể trả lại một trăm đô la mà em nợ anh. Em giữ nó cũng khá lâu rồi. Nhưng em vẫn giữ lại, với hy vọng rằng anh có thể tìm ra chỗ em ở và đến tìm em, hệt như những gì anh vừa làm, và rằng chúng ta sẽ có cơ hội để nói chuyện. Em đã định kể cho anh nghe cách em kiếm được số tiền đó, và rằng anh sẽ cảm thấy hơi — tự hào về em, tự hào vì em có thể trả lại nó sớm đến thế."
Cô mỉm cười một chút khi nhắc đến điều đó, một nụ cười khiến anh phải quay mặt đi chỗ khác. Thế nhưng nụ cười đầy đau đớn ấy lại bị thiêu rụi trong ngọn lửa phẫn nộ khi cô tiếp tục nói. "Nếu tối nay em không thể trả lại tiền cho anh sau chuyện này, chắc em cảm thấy muốn tự sát, hoặc là — ra đường kiếm tiền bằng thân xác. Bởi vì đó là những gì anh đã biến em thành vào đêm nay!"
Nghe vậy, anh gào lên gọi tên cô nhưng cô vẫn tiếp tục nói như thể chẳng nghe thấy gì; chỉ là lại bình thản trở lại — hoặc ít nhất người ta có thể nghĩ vậy qua âm hưởng từ giọng nói của cô.
"Anh thấy đấy, em đã bỏ đi, bởi vì em không thể chịu đựng được việc phần tình yêu trong cuộc đời anh lại tách biệt hoàn toàn với phần quan hệ đối tác thân thiện trong những mặt còn lại của cuộc sống. Nhưng lúc đó em không biết rằng anh có thể vừa yêu vừa căm ghét em, trong khi cảm thấy rằng em đã tự hạ thấp bản thân một cách khinh bỉ và bôi nhọ anh. Để rồi trong khi anh yêu em và ôm em trong vòng tay, anh lại cảm thấy ghê tởm vì đã làm điều đó. Cho đến tận bây giờ em mới biết điều đó.
"Em đoán là có ngày mình sẽ cảm thấy vui vì tất cả chuyện này đã xảy ra; vì em đã gặp anh, yêu anh và sinh ra những đứa con, dẫu cho tất cả mọi thứ rốt cuộc lại phải kết thúc," cô lại rùng mình, "như thế này."
Phải đợi cho đến khi anh định cất lời thì vẻ bình thản bề ngoài ấy mới vỡ vụn. Sau đó, với nỗi kinh hoàng điên cuồng bỗng dâng ngập trong ánh mắt, cô van xin anh, đừng nói nữa — van xin anh hãy rời đi, nếu anh còn chút lòng thương xót nào dành cho cô, hãy rời đi thật nhanh và không một lời từ biệt. Trong một phút ngẩn ngơ, anh đã vâng lời cô.
Ánh sáng ban mai muộn màng của mùa đông, rọi qua ô cửa sổ bám đầy bụi bẩn, bắt gặp hình ảnh cô đang ngồi đó, co ro trong chiếc áo choàng tắm lớn, hệt như tư thế lúc anh khép cửa rời đi.