Để hưởng tuần trăng mật, Martin đã cho họ mượn khu trại của anh ở miền bắc Wisconsin—hầu hết là rừng nguyên sinh, có một con sông và rất nhiều hồ nhỏ trong đó. Vẫn còn hươu và gấu để săn bắn ở đó, có những buổi câu cá tuyệt vời, và quan trọng hơn cả trong hoàn cảnh hiện tại, là một không gian cô tịch tuyệt hảo mà nền văn hóa có thể tìm kiếm được. Sự cô tịch ấy được điều hòa, và cũng dịu bớt đi, bởi một gia đình miền rừng—gồm một cặp vợ chồng, một hoặc hai cô con gái, và nửa tá con trai, tất nhiên là sống ở đó quanh năm; thế nên chỉ cần điện báo trước hai hoặc ba ngày, bạn sẽ được đón bằng một chiếc xe ngựa trống tại ga xe lửa gần nhất cho quãng đường dài hai mươi lăm dặm lái xe đến khu trại. Bạn sẽ thấy chính ngôi nhà (một công trình đồ sộ, được xây dựng bằng những khúc gỗ một cách trang nhã ở phần bên ngoài, nhưng bên trong lại được trang bị đầy đủ phòng tắm, giường thật vân vân) đã được mở cửa, sưởi ấm và thoang thoảng mùi thịt hươu rán. Thêm vào đó, lúc nào cũng có một cậu thiếu niên chèo xuồng cho bạn, hoặc yên cương ngựa, nếu bạn không thích tự mình làm lấy những việc đó.
Rodney và Rose đã dành một đêm ở cơ ngơi này, sau đó chuẩn bị một bộ dụng cụ cắm trại mang tính thực tế hơn, và chèo ra một hòn đảo giữa hồ, nơi họ đã sống sung sướng trong hai tuần, tựa như những kẻ hoang dã mà cả hai, xét cho cùng, thực sự vẫn mang trong mình một phần bản chất ấy.
Nhưng, khi hai tuần ấy kết thúc, một cơn gió bắc quất roi, mang theo thứ mưa lạnh buốt sắc nhọn, đã sà đến trú ngụ suốt ba ngày, và đẩy họ trở lại nơi trú ẩn tươm tất. Một ngày mưa trong một trại lều ngoài trời là một điều thú vị; ngày thứ hai đòi hỏi sự kiên cường; ngày thứ ba mang lại niềm xác tín rằng trời đã mưa kể từ Ngày Sáng Thế và sẽ cứ mưa mãi cho đến Ngày Phán Xét, và nếu bạn có nơi nào để đi đến cho khô ráo, thì bạn sẽ đi.
Tất nhiên là cơn bão đã tự tan đi khi nó hoàn thành mục đích xua đuổi họ khỏi thiên đường hoang đảo của mình, nhưng họ không quay trở lại đó nữa. Hai tuần ngủ lều bên lửa trại, nằm trên cành thông và đắp chăn đã khiến họ biết trân quý cảm giác được ngủ giữa những tấm ga giường phẳng lì, và thức dậy để xuống ăn một bữa sáng đã được chuẩn bị sẵn. Và rồi vào một buổi sáng, Rose bước vào phòng khách lớn và thấy Rodney đang thững thờ ngồi đó bên đống lửa với một cuốn sách trên tay.
Đó không phải là lần đầu tiên anh làm thế. Nhưng những lần trước đây, hễ thấy cô bước vào, anh đều vứt quăng cuốn sách đi và chạy lại đón cô. Lần này, anh cứ tiếp tục đọc.
Cô bước về phía anh, định ngồi lên thành ghế của anh, quàng tay ôm cổ anh, và nhân tiện xem thử cái gì mà khiến anh say mê đến thế. Nhưng đi được nửa đường, cô đổi ý. Anh thậm chí còn chẳng đưa tay ra đón cô một cách vô thức. Anh vẫn tiếp tục đọc như thể, trên thực tế, anh đang ở một mình trong căn phòng. Rõ ràng, đó cũng là một cuốn sách anh mang theo—một cuốn dày cộp in bằng tiếng Đức—cô đứng đủ gần để nhìn thấy điều đó. Thế nên cô nhặt một cuốn tạp chí cũ trên bàn, tìm một chiếc ghế cho riêng mình, hơi mỉm cười vì đoán trước được hiệu ứng mà động tác này sẽ mang lại.
Cô mở đại một trang tạp chí, rồi lát sau, cốt để ra vẻ tự nhiên, cô lật sang trang khác. Rodney lật các trang sách đều đặn như máy. Thật là một cuốn tạp chí ngớ ngẩn! Cô ước gì mình tìm được thứ gì đó thực sự có thể làm cô hứng thú. Việc ngồi yên bỗng trở nên ngày càng khó khăn. Anh không thể nào đang giận điều gì chứ? Không, điều đó thật vô lý. Giữa họ chẳng hề có lấy một chút xíu bất hòa nào. Dù thế nào đi nữa, cô sẽ không tiếp tục giả vờ đọc sách nữa, và cô bèn vứt phắt cuốn tạp chí đi.
Cô vốn định để nó rơi lại lên mặt bàn. Nhưng cô đã dùng nhiều sức lực căng thẳng hơn mình tưởng vào cái ném đó, khiến cuốn tạp chí trượt vèo qua mặt bàn rồi rơi bịp xuống sàn nhà.
Tiếng động đó đã làm anh chú ý. Anh khép sách lại—nhưng vẫn kẹp ngón tay vào trang sách—quay lại nhìn cô, vươn vai và mỉm cười. "Tuyệt quá phải không em?" anh nói.
Đó không phải là một tâm trạng mà cô có thể hoàn toàn hưởng ứng ngay lúc ấy, thế nên cô hỏi anh ý anh là gì—cái gì tuyệt.
"À, thế này này," anh bảo cô. "Được thế này này."
"Ngồi cách nhau nửa dặm thế này," cô hỏi, "mỗi người đọc một cuốn sách của riêng mình?"
Cô không hề nhận ra lời nói của mình mang ý khiêu khích đến mức nào, cho đến khi, trước sự ngỡ ngàng hoài nghi của cô, anh đầy hào hứng đáp, "Đúng thế! Chính xác là vậy!"
Lúc này anh không nhìn cô, mà nhìn vào đống lửa, với tay tìm một que diêm rồi châm lại tẩu thuốc trước khi nói thêm điều gì khác. "Ý anh là sự lâu bền ấy," anh giải thích, "và—ừm, lại là con người thật của chúng ta."
Cô cố hết sức giữ giọng mình thật bình thản khi hỏi, "Nhưng—nhưng thế lâu nay chúng ta là gì?"
Và nghe vậy anh liền bật cười lớn. "Lạy Chúa tôi, chúng ta đã không là gì mới lạ chứ! Một cặp điên rồ bị biến chất. Này Rose, sáu tuần qua anh chẳng thể nhìn cho thẳng, hay suy nghĩ cho ra hồn nổi. Và anh tin là em cũng vậy thôi. Tâm trí anh cứ xoay mòng mòng quanh em. Anh không hiểu sao mình lại có thể vượt qua hai vụ kiện cuối cùng tại Tòa Phúc Th thẩm nữa. Khi anh biện hộ trước hội đồng xét xử, là anh đang—nói chuyện với em. Khi anh viết bản tóm lược pháp lý, là anh đang viết thư tình cho em. Và nếu anh đủ khôn ngoan để nhận thức được tình trạng của mình, thì anh đã sợ chết khiếp rồi. Nhưng bây giờ thì—ừm, chúng ta cứ ngồi đây đọc sách cả tiếng đồng hồ mà trong đầu chẳng hề vương vấn một ý nghĩ nào về đối phương."
Bằng một nỗ lực tự chủ kỳ diệu, cô đã giữ được giọng nói của mình không bị lạc đi. "Vâng," cô nói. "Cái—cái thời gian trước đó qua hết rồi, phải không anh?"
"Anh không dám đi xa đến mức nói thế đâu," anh chối từ sau một cái ngáp dài thoải mái. "Anh đoán là nó sẽ lại tóm lấy chúng ta thỉnh thoảng đấy. Nhưng, nhìn chung, chúng ta là những người tỉnh táo, sẵn sàng tiếp tục công việc của mình rồi. Thế em đang đọc gì thế?"
"Em nghĩ mình không đọc nữa đâu," cô nói. "Em muốn ra ngoài đi dạo." Và cô đã cố gắng bước ra khỏi phòng mà không để anh nhận ra có điều gì bất ổn.
Quả thực, mối bận tâm hàng đầu của cô là làm sao để đảm bảo anh không phát hiện ra ảnh hưởng mà những lời nói của mình đã gây ra cho cô—để đi thật xa trước khi cơn bão lòng bùng nổ, nhằm có thể tự mình giải tỏa. Nỗi nhục nhã tột cùng sẽ là việc anh ngớ ngẩn bước theo cô và hỏi xem cô đang bị làm sao.
Cô chạy trốn xuống lối mòn dẫn ra hồ nhỏ, đẩy một chiếc xuồng ra, với lấy mái chèo và dồn hết năng lượng phẫn uất vào việc chèo thật nhanh để vòng vào khoảng khuất của một mũi đất mọc đầy linh sam trước khi cho phép mình dừng lại, như cách cô tự nhủ, để suy nghĩ. Tất nhiên là không phải suy nghĩ thật đâu. Nghĩa là, không phải để phân tích đến tận cùng mọi hàm ý logic từ lời thú nhận mà anh đã vô tình thốt ra với cô sáng hôm ấy.
Portia đã từng nói từ nhiều tuần trước rằng cô chưa bao giờ thực sự bị tổn thương hay hoảng sợ. Và khi cô ấy nói câu đó, điều đó là sự thật. Giờ thì cô vừa bị tổn thương lại vừa hoảng sợ, và bản năng giục giã cô trốn chạy cũng đơn sơ và nguyên thủy như bản năng của một con thú bị thương tìm chỗ ẩn náu.
Thật vậy, nếu bạn có thể nhìn thấy cô lúc cô đã kéo mái chèo vào thuyền, ngồi đó, hai tay bấu chặt lấy mạn thuyền, thở hổn hển, đôi mắt mở tráo ráo hoảnh, bạn hẳn sẽ dễ dàng liên tưởng đến một sinh vật hoang dã không tấc sắt trong tay đang co rúm lại trong một chỗ trú ẩn chốc lát, lắng nghe tiếng tru của bầy chó săn đang bám đuổi phía sau.
Anh không còn yêu cô nữa, đó là những gì anh đã nói. Bởi vì thứ mà anh vừa vui vẻ mô tả là mình đã được chữa khỏi, những triệu chứng mà anh kể ra cứ như thể đang nói về một căn bệnh—sự ám ảnh về cô, sự bất lực không thể đẩy cô ra xa hơn khoảng giữa trong tâm trí mình, và rồi cũng chỉ là tạm thời; sự cần thiết phải nói mọi điều mình nói và làm mọi điều mình làm đều hướng về phía cô; thực tế là tâm trí anh chẳng thể tập trung sắc bén vào bất cứ thứ gì trên đời ngoại trừ chính bản thân cô?—Tất cả những điều đó là gì nếu không phải là sự miêu tả đích xác, dẫu dưới những từ ngữ đầy tính bài bác, về thứ tình yêu mà anh đã hứa sẽ dành cho cô cho đến khi cái chết chia lìa họ; về chính thứ tình yêu mà cô đang dành cho anh, vào khoảnh khắc này còn mạnh mẽ hơn bao giờ hết?
Những đợt sóng hoảng loạn cứ liên tiếp ập đến phủ lấy cô, trong những lúc đó cô lại vớ lấy mái chèo và chèo tiến về phía trước một cách mù quáng, hoàn toàn không biết ý thức được mình đang đi đâu. Và trong những khoảng nghỉ giữa chừng, cô thả xuồng trôi bập bềnh.
Sự giải tỏa bằng những giọt nước mắt chỉ đến với cô khi cô nhìn thấy, ngay phía trước, hòn đảo nơi cô và Rodney từng cắm trại trong hai tuần lễ thiên đường. Tại đây cô tấp xuồng lên bãi cát và bước lên bờ; luồn vào một chỗ trú ẩn tự nhiên nhỏ bên dưới một mỏm đá nhô ra, nơi họ từng nằm tránh một cơn bão dữ dội bất ngờ quật chiếc hồ nổi bọt trắng xóa trong suốt ba tiếng đồng hồ vào một ngày trước đó. Đống cành thông mà anh đã chặt làm giường nằm cho họ vẫn còn ở đó.
Sau nửa giờ, cô nhận ra với một kiểu thỏa mãn dửng dưng rằng điều kiện thời tiết của chuyến đi trước sắp lặp lại lần này—một màn đêm buông xuống bất thình lình, một tiếng rít của gió, một cơn cuồng phong dữ dội quét qua mặt hồ nhỏ, và một trận mưa nặng hạt dày đặc đến mức dẫu hồ có nhỏ thế nào đi nữa, nó cũng che khuất cả bờ bên kia.
Cô đứng nhìn nó suốt một tiếng đồng hồ trước khi chợt nghĩ đến việc không biết Rodney đang làm gì—liệu anh đã phát hiện ra sự vắng mặt của cô trong nhà và bắt đầu lo lắng cho cô chưa. Cô tự nhủ là anh sẽ không thế đâu—rằng anh sẽ ngồi đó cho đến khi đọc xong cuốn sách, hoặc cho đến khi người ta gọi ăn trưa, mà đúng như những gì anh đã khoe khoang sáng nay, trong đầu anh chẳng hề vương vấn chút ý nghĩ nào về cô.
Cô lại khóc vì ý nghĩ này, phải thú nhận là cô hơi chìm đắm trong sự bi thảm của nó, cho đến khi tự bắt gặp mình đang làm thế và bèn bực bội lau khô nước mắt. Dương nhiên là anh sẽ lo lắng cho cô rồi. Chỉ là cả hai chẳng thể làm gì được cho đến khi cơn bão dứt; khi ấy cô sẽ chèo xuồng quay về nhà nhanh nhất có thể để làm yên lòng anh.
Bỗng cô ngồi thẳng người dậy, nhìn chăm chú, dụi mắt, rồi lại nhìn, sau đó chồm dậy bước ra ngoài trời mưa xối xả. Một đốm trắng, một đốm đen lớn hơn, hai điểm sáng nhỏ di động, đó là những gì cô nhìn thấy. Đốm trắng là áo sơ mi của Rodney, đốm đen là chiếc xuồng, còn hai điểm sáng là ánh phản chiếu từ mái chèo hai lưỡi khi anh bất chấp hiểm nguy, dùng nó để chẻ lối lao vào giữa tâm bão. Hóa ra anh vẫn cần cô.
Thế là với trái tim đập rộn ràng và đôi má ửng hồng, cô đứng nhìn anh. Phải mãi cho đến khi anh đến gần hơn nữa, cô mới tái mặt đi khi nhận thức được sự nguy hiểm của anh—phải đến khi cô nhìn thấy anh đã phải dùng đến bao nhiêu sức lực và kỹ năng đến mức tuyệt vọng để giữ cho chiếc vỏ hạt dẻ của mình khỏi bị lật ngang và nhấn chìm.

Cô chạy ra đón anh xa nhất có thể—ra tận đầu mũi đất, rồi lao thẳng xuống nước để giúp anh kéo chiếc thuyền đã ngập một nửa.
Họ tát cạn nước rồi kéo thuyền lên bãi biển. Sau đó, ngước nhìn anh đầy run rẩy, giữa nụ cười và nước mắt, cô thấy anh tái nhợt thế nào, liền ôm chầm lấy anh vào lòng và cảm nhận cơ thể anh đang run lên bần bật.
"Anh cứ tưởng em mất tích rồi," anh nói, nhưng chẳng thể thốt thêm được gì nữa vì một tiếng nấc nghẹn ngào lớn đã chặn họng anh lại.
"Đừng anh!" cô kêu lên. "Đừng thế.—Ôi, người yêu của em! Em đâu có biết!"
Lát sau, khi đã quay trở lại nơi trú ẩn, cô kéo đầu anh áp vào ngực mình và ôm chặt lấy anh.
Về mặt logic mà nói, tình huống ấy tất nhiên không có sự thay đổi căn bản nào. Không thể nào coi việc anh tưởng mình đã mất cô và băng qua hiểm nguy để đến giải cứu là một phần trong sinh hoạt vợ chồng hằng ngày của họ được. Khi cơn bão qua đi và họ quay trở lại ngôi nhà—thậm chí còn hơn thế nữa, khi vài tuần nữa trôi qua và họ trở lại thành phố, anh vẫn sẽ có một thế giới riêng để thu mình vào, một công việc riêng để cuốn hút anh, và cô, chẳng có lấy một thế giới nào ngoài thế giới có anh là nhân vật chính, sẽ bị bỏ lại bên ngoài. Nhưng bạn không thể mong đợi cô nghĩ đến điều đó khi cô đang ôm trọn anh, người hãy còn đang run rẩy, trong vòng tay mình.