Ngày Chủ nhật sau khi cô Bartlett tới là một ngày rực rỡ, giống như phần lớn những ngày trong năm đó. Ở vùng Weald, mùa thu đang đến gần, phá vỡ sự đơn điệu xanh ngắt của mùa hè, chấm phá lên những công viên lớp sương mù mờ ảo, những tán cây dẻ gai sắc đỏ sẫm, và những cội sồi ánh sắc vàng. Trên các triền cao, những hàng thông đen sừng sững chứng kiến sự đổi thay ấy, bản thân chúng thì vẫn ngàn đời bất biến. Cả hai vùng quê đều được bao phủ bởi bầu trời không một gợn mây, và vang vọng đâu đây tiếng chuông nhà thờ ngân nga.
Khu vườn ở Windy Corners vắng tanh, ngoại trừ một cuốn sách bìa đỏ đang phơi mình dưới ánh nắng trên lối đi rải sỏi. Từ trong nhà vọng ra những âm thanh hỗn độn, tựa như mấy người phụ nữ đang tất bật chuẩn bị đi lễ. “Mấy anh ấy bảo không đi đâu đấy.”—“Chà, tôi cũng chẳng trách họ đâu.”—Minnie hỏi: “Con bé có cần phải đi không?”—“Bảo nó đừng có mà nhõng nhẽo nữa.”—“Anne! Mary! Cài hộ tôi hàng cúc sau lưng với!”—“Dearest Lucia, phiền cô cho tôi xin chiếc ghim băng nhé?” Bởi vì cô Bartlett đã tuyên bố rằng dẫu thế nào cô cũng phải đi nhà thờ.
Mặt trời vươn lên cao hơn trên hải trình của mình, được dẫn dắt, không phải bởi Phaethon, mà bởi thần Apollo tài năng, kiên định và mang dáng vẻ thần linh. Những tia nắng chiếu rọi vào mấy người phụ nữ mỗi khi họ tiến ra bên cửa sổ phòng ngủ; rọi xuống chỗ mục sư Beebe ở Summer Street khi ngài đang mỉm cười đọc bức thư từ cô Catharine Alan; rọi lên George Emerson đang lau đôi bốt cho cha mình; và cuối cùng, để hoàn tất danh sách những sự việc đáng nhớ, rọi vào cuốn sách bìa đỏ nhắc đến hồi nãy. Mấy người phụ nữ di chuyển, mục sư Beebe di chuyển, George di chuyển, và sự chuyển động ắt sinh ra bóng râm. Thế nhưng cuốn sách ấy vẫn nằm im lìm, để mặc ánh nắng mơn trớn suốt cả buổi sáng và khiến phần bìa hơi hé mở, như thể đang đón nhận cái vuốt ve đó.
Chẳng mấy chốc, Lucy bước ra từ khung cửa sổ phòng khách. Chiếc váy màu hồng cerise mới may của cô đã thất bại, khiến cô trông vừa quê mùa vừa nhợt nhạt. Trên cổ cô đeo chiếc trâm cài đá hồng ngọc garnet, còn ngón tay là chiếc nhẫn gắn hồng ngọc—một chiếc nhẫn đính hôn. Đôi mắt cô đăm đăm hướng về vùng Weald. Cô khẽ nhíu mày—không phải vì giận dữ, mà giống như dáng vẻ của một đứa trẻ can đảm đang cố nén tiếng khóc. Trong cả khoảng không gian bao la ấy chẳng có một ánh mắt nhân thế nào nhìn vào cô, nên cô có thể vô tư nhíu mày mà không sợ bị quở trách, đồng thời đong đếm khoảng cách vẫn còn hiện hữu giữa thần Apollo và những ngọn đồi phía tây.
“Lucy! Lucy! Cuốn sách gì thế kia? Ai lại lấy sách ra khỏi kệ rồi vứt bừa bãi ở đây cho hỏng hả?”
“Chỉ là cuốn sách thư viện Cecil hay đọc thôi mà.”
“Nhưng nhặt nó lên đi, đừng có đứng thừ người ra đấy trông như một con hồng hạc thế.”
Lucy nhặt cuốn sách lên và hờ hững liếc nhìn tựa đề, *Under a Loggia*. Bản thân cô từ lâu đã chẳng còn đọc tiểu thuyết, mà dành toàn bộ thời gian rảnh rỗi cho những trước tác uyên bác với hy vọng theo kịp Cecil. Thật tồi tệ làm sao khi cô biết quá ít, và ngay cả khi cô tưởng mình đã nắm rõ một điều gì đó, chẳng hạn như các họa sĩ Ý, thì cô lại nhận ra mình đã quên sạch. Ngay sáng nay thôi, cô đã nhầm lẫn Francesco Francia với Piero della Francesca, để rồi Cecil phải thốt lên rằng: “Sao cơ! Em chưa gì đã quên mất nước Ý rồi à?” Chính điều này cũng mang nỗi âu lo vào đôi mắt cô khi cô chào đón khung cảnh thân thương cùng khu vườn thân thương phía trước, và trên cả những thứ ấy, điều mà khó có thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào khác, chính là ánh mặt trời thân thương.
“Lucy—con có sáu xu cho Minnie và một shilling cho bản thân không?”
Cô vội vã bước vào chỗ mẹ mình, người đang cuống cuồng trong bầu không khí hoảng hốt của ngày Chủ nhật.
“Có một đợt quyên góp đặc biệt—mẹ quên mất là vì việc gì rồi. Mẹ xin con đấy, đừng có để tiếng đồng xu lẻ lách cách rẻ tiền vang lên trong đĩa; nhớ là phải cho Minnie một đồng sáu xu thật sáng bóng vào nhé. Con bé đâu rồi? Minnie! Cuốn sách kia quăn hết cả mép rồi kìa. (Trông con nhợt nhạt làm sao!) Đem đặt nó xuống dưới cuốn Atlas để ép thẳng lại xem nào. Minnie!”
“Ôi, bà Honeychurch—” tiếng vọng từ tầng trên xuống.
“Minnie, đừng có mà chậm chạp nhé. Ngựa ra tới nơi rồi kìa”—lúc nào cũng là ngựa, chẳng bao giờ thấy xe cả. “Charlotte đâu rồi? Chạy lên giục cô ấy xem nào. Sao mà lâu thế không biết? Cô ấy có phải làm gì đâu cơ chứ. Cô ấy chẳng bao giờ mang theo gì ngoài mấy cái áo cánh. Khổ thân Charlotte—Sao mà tôi ghét áo cánh thế không biết! Minnie!”
Lối sống ngoại đạo có sức lây lan rất mạnh—lây lan mạnh hơn cả bệnh bạch hầu hay lòng sùng đạo—và cháu gái của ngài mục sư bị lôi đến nhà thờ trong sự bất mãn khôn nguôi. Cũng như mọi khi, con bé chẳng hiểu tại sao mình phải đi. Tại sao nó lại không được ngồi phơi nắng cùng mấy anh thanh niên cơ chứ? Mấy anh thanh niên, những người giờ đây đã xuất hiện, liền cất lời trêu chọc con bé bằng những lời lẽ chẳng mấy hay ho gì. Bà Honeychurch lên tiếng bênh vực chính thống giáo, và giữa sự hỗn độn đó, cô Bartlett với bộ trang phục đúng mốt thời thượng nhất liền thong thả bước xuống cầu thang.
“Marian thân mến, tôi thực sự xin lỗi, nhưng tôi không có tiền lẻ—chỉ toàn tiền vàng và đồng nửa vương miện thôi. Liệu có ai đổi giúp tôi—”
“Vâng, đổi được dễ ấy mà. Lên xe đi cô. Trông cô diện thế! Chiếc váy đẹp làm sao! Làm tụi này ngượng chín cả người.”
“Nếu bây giờ tôi không diện những bộ cánh lộng lẫy nhất của mình, thì đợi đến bao giờ mới mặc đây?” cô Bartlett nói với giọng trách móc. Cô bước lên chiếc xe ngựa mui trần victoria và ngồi quay lưng về phía ngựa. Tiếng lục cục quen thuộc vang lên, và thế là họ phóng đi.
“Tạm biệt nhé! Ở nhà ngoan đấy!” Cecil gọi với theo.
Lucy cắn nhẹ môi, bởi vì giọng điệu ấy mang đầy vẻ mỉa mai. Xung quanh chủ đề “nhà thờ và những thứ đại loại thế”, họ đã có một cuộc trò chuyện không mấy êm đẹp cho lắm. Anh từng bảo rằng con người ta nên tự kiểm điểm lại bản thân, còn cô thì chẳng muốn kiểm điểm gì sảng; cô vốn chẳng biết việc đó được thực hiện ra sao. Cecil tôn trọng sự chính trực thành tâm, nhưng anh luôn mặc định rằng sự thành tâm phải là kết quả của một cuộc khủng hoảng tinh thần; anh không thể tưởng tượng nó như một thứ bẩm sinh tự nhiên, có thể vươn lên bầu trời như loài hoa cỏ. Tất cả những gì anh nói về chủ đề này đều khiến cô đau lòng, dẫu rằng sự khoan dung tỏa ra từ từng lỗ chân lông của anh; không hiểu sao nhà Emerson lại khác hẳn.
Cô nhìn thấy nhà Emerson sau buổi lễ nhà thờ. Có một hàng xe ngựa đậu dài dọc theo con đường, và chiếc xe của nhà Honeychurch tình cờ đỗ ngay đối diện Cissie Villa. Để tiết kiệm thời gian, họ băng qua bãi cỏ để sang đó và bắt gặp hai cha con đang ngồi hút thuốc trong vườn.
“Hãy giới thiệu tôi với họ đi,” mẹ cô nói. “Trừ phi anh thanh niên kia coi như đã quen biết tôi từ trước rồi.”
Chắc chắn là anh ta quen rồi; nhưng Lucy phớt lờ chuyện Hồ Linh Thiêng và giới thiệu họ một cách trang trọng. Cụ ông Emerson niềm nở đón lấy tay cô và bày tỏ niềm vui khôn tả khi biết cô sắp sửa kết hôn. Cô đáp rằng vâng, cô cũng rất vui; rồi khi cô Bartlett và Minnie còn đang lấp phía sau cùng mục sư Beebe, cô bèn chuyển hướng câu chuyện sang một chủ đề đỡ nhức nhối hơn, hỏi ông rằng ông thích ngôi nhà mới như thế nào.
“Thích lắm chứ,” ông đáp, nhưng ẩn chứa trong giọng nói lại là một nét hờn dỗi; cô chưa bao giờ thấy ông tỏ thái độ như vậy trước đây. Ông nói thêm: “Tuy nhiên, chúng tôi nhận ra rằng hai cô Alan vốn định đến thuê, thế mà chúng tôi lại cướp mất chỗ của họ. Phụ nữ hay để tâm đến mấy chuyện đó lắm. Tôi cảm thấy áy náy vô cùng.”
“Tôi tin là có sự hiểu lầm nào đó,” bà Honeychurch lo lắng lên tiếng.
“Chủ nhà của chúng tôi được bảo rằng chúng tôi sẽ là một kiểu người khác,” George nói, có vẻ như muốn đào sâu thêm vấn đề. “Ông ta tưởng chúng tôi sẽ là những kẻ mang phong cách nghệ thuật. Giờ thì ông ta thất vọng rồi.”
“Và tôi tự hỏi liệu chúng ta có nên viết thư cho hai cô Alan và nhường lại ngôi nhà này không nhỉ? Mọi người nghĩ sao?” Cậu ta hướng ánh nhìn cầu cứu về phía Lucy.
“Ôi, đã dọn đến rồi thì cứ ở lại đi chứ,” Lucy đáp bâng quơ. Cô phải tránh việc chỉ trích Cecil. Bởi vì mọi chuyện rắc rối đều bắt nguồn từ Cecil, mặc dù tên anh chưa bao giờ được nhắc đến.
“George cũng bảo thế. Cậu ấy bảo hai cô Alan đành phải chịu thiệt thôi. Thế nhưng trông có vẻ ác ý quá nhỉ.”
“Lượng tử lòng tốt trên đời này vốn có hạn,” George vừa nói vừa dõi theo ánh nắng chói lọi phản chiếu trên thành những chiếc xe ngựa đang lướt qua.
“Đúng thế!” bà Honeychurch thốt lên. “Đó chính xác là điều tôi muốn nói. Sao cứ phải lằng nhằng vòng vo mãi vì hai cô Alan làm gì cơ chứ?”
“Lượng tử lòng tốt có hạn, cũng giống như lượng ánh sáng vậy,” cậu tiếp tục với giọng điệu đều đặn. “Chúng ta đi đến đâu là gieo bóng râm xuống đó, và chẳng ích gì khi cứ di chuyển từ nơi này sang nơi khác để cứu vãn mọi thứ; bởi vì cái bóng ấy sẽ luôn bám theo sau. Hãy chọn một nơi mà bạn không gây tổn hại—vâng, hãy chọn một nơi mà bạn ít gây tổn hại nhất, rồi đứng vững ở đó bằng tất cả khả năng của mình, hướng mặt về phía ánh dương.”
“Ôi, anh Emerson, tôi thấy anh thông minh thật đấy chứ!”
“Hả—?”
“Tôi thấy anh sắp sửa trở nên thông minh rồi đấy. Hy vọng là anh không cư xử kiểu đó với tội nghiệp Freddy đâu đấy nhé.”
Đôi mắt George ánh lên vẻ cười cợt, và Lucy chợt nghi ngờ rằng cậu ta và mẹ mình sẽ hợp nhau lắm đây.
“Không, tôi không làm thế,” cậu đáp. “Cậu ta mới là người cư xử kiểu đó với tôi trước. Đó là triết lý sống của cậu ta. Chỉ có điều là cậu ta bắt đầu cuộc đời với nó; còn tôi thì đã thử qua Dấu Hỏi Chấm trước tiên.”
“Ý anh là gì? Thôi, khỏi cần giải thích ý anh là gì đâu. Đừng có giải thích nữa. Chiều nay cậu ấy rất mong được gặp anh đấy. Anh có chơi quần vợt không? Anh có ngại chơi quần vợt vào ngày Chủ nhật không—?”
“George mà lại ngại chơi quần vợt vào ngày Chủ nhật á! George, sau ngần ấy nền giáo dục mà lại đi phân biệt ngày Chủ nhật với—”
“Thôi được rồi, George không ngại chơi quần vợt vào ngày Chủ nhật. Tôi cũng vậy. Thế là quyết định xong nhé. Thưa ông Emerson, nếu ông có thể cùng đến với con trai mình thì chúng tôi sẽ vui biết mấy.”
Ông cảm ơn cô, nhưng quãng đường đi bộ xem ra hơi xa; dạo này ông chỉ có thể lanh quanh đi lại gần nhà mà thôi.
Cô quay sang George: “Và thế là anh ấy lại muốn nhường nhà cho hai cô Alan kìa.”
“Tôi biết chứ,” George nói và vòng tay ôm lấy cổ cha mình. Sự tử tế mà mục sư Beebe và Lucy vẫn luôn biết là ẩn chứa trong con người cậu bỗng trào dâng, tựa như ánh nắng rọi sáng cả một khoảng không gian rộng lớn—một tia nắng sớm mai chăng? Cô chợt nhớ ra rằng trong mọi sự bướng bỉnh ngang ngạnh, cậu chưa bao giờ nói lời nào đi ngược lại tình cảm gia đình.
Cô Bartlett bước tới.
“Chắc chị biết họ hàng của chúng tôi, cô Bartlett chứ,” bà Honeychurch vui vẻ nói. “Chị đã gặp cô ấy cùng con gái tôi ở Florence mà.”
“Vâng, đúng vậy!” cụ già đáp, và làm bộ như muốn bước ra khỏi khu vườn để chào người phụ nữ nọ. Cô Bartlett liền lập tức chui tọt vào xe ngựa. Được bảo vệ kiên cố trong đó, cô liền tung ra một cái cúi đầu chào đầy xã giao. Cảnh tượng ấy chẳng khác nào tại nhà trọ Pension Bertolini dạo nào, bên chiếc bàn ăn bày những bình đựng nước và rượu vang. Đó lại là cuộc chiến muôn thuở của căn phòng có ô cửa sổ hướng ra ngoại cảnh.
George không đáp lại cái cúi đầu ấy. Giống như bất kỳ cậu thiếu niên nào, cậu đỏ bừng mặt và cảm thấy hổ thẹn; cậu biết rằng người phụ nữ giám hộ ấy vẫn còn nhớ chuyện cũ. Cậu nói: “Tôi—tôi sẽ lên sân quần vợt nếu có thể sắp xếp được,” rồi bước thẳng vào trong nhà. Có lẽ bất cứ điều gì cậu làm cũng có thể làm lòng Lucy xao xuyến, nhưng sự vụng về ấy lại xoáy thẳng vào tim cô; đàn ông rốt cuộc chẳng phải thần thánh gì cho cam, mà cũng phàm trần và vụng về chẳng khác nào con gái; ngay cả đàn ông đôi khi cũng chịu đựng những khao khát không tên và cần được giúp đỡ. Đối với một người có nền giáo dục và tương lai như cô, sự yếu đuối của đàn ông là một chân lý hoàn toàn xa lạ, nhưng cô đã lờ mờ nhận ra điều đó ở Florence, khi George ném những bức ảnh của cô xuống dòng sông Arno.
“George, đừng đi chứ,” người cha cất tiếng gọi, bởi ông nghĩ rằng việc con trai mình trò chuyện với mọi người là một niềm vui lớn lao. “Hôm nay George có tâm trạng rất tốt, và tôi chắc chắn là chiều nay thể nào thằng bé cũng sẽ lên trên đó thôi.”
Lucy bắt gặp ánh mắt của người họ hàng. Một điều gì đó trong ánh nhìn van nài câm lặng ấy đã khiến cô trở nên liều lĩnh. “Vâng,” cô nói, cất cao giọng lên, “tụi cháu rất mong là em ấy sẽ đến.” Rồi cô bước tới chiếc xe ngựa và thì thầm, “Cụ ông vẫn chưa được nghe kể chuyện đó; em biết là ổn cả rồi mà.” Bà Honeychurch bước theo cô, và họ phóng xe đi.
Thật nhẹ nhõm vì cụ ông Emerson vẫn chưa được nghe kể về vụ tai họa ở Florence; thế nhưng tâm trạng của Lucy lẽ ra không nên nhảy vung lên như thể cô vừa nhìn thấy những bức thành của thiên đàng. Thật nhẹ nhõm; vậy mà quả thật cô đã đón nhận nó với một niềm vui mừng quá đỗi. Suốt dọc đường về, tiếng móng ngựa khua rang rảng như hát cho cô nghe một khúc ca: “Hắn chưa kể đâu, hắn chưa kể đâu.” Trí óc cô thêu dệt thêm cho giai điệu ấy: “Hắn chưa kể cho cha mình—người mà hắn tâm sự mọi chuyện. Đó chẳng phải là một chiến tích. Hắn đã không hề cười nhạo mình sau khi mình bỏ đi.” Cô đưa tay lên áp vào má. “Hắn không yêu mình. Không. Thật kinh khủng làm sao nếu hắn yêu! Nhưng hắn chưa hề kể. Hắn sẽ không kể đâu.”
Cô khao khát được hét to lên những lời ấy: “Mọi chuyện ổn cả rồi. Đó là bí mật giữa hai chúng ta mãi mãi. Cecil sẽ chẳng bao giờ hay biết đâu.” Cô thậm chí còn thấy biết ơn vì cô Bartlett đã bắt cô phải thề giữ kín bí mật, vào buổi tối tăm cuối cùng ở Florence, khi họ quỳ thu dọn đồ đạc trong phòng cậu. Bí mật đó, dù lớn hay nhỏ, đã được bảo vệ an toàn.
Chỉ có ba người Anh trên thế giới này biết về nó. Cô tự lý giải niềm vui của mình như thế. Cô chào đón Cecil với một vẻ rạng rỡ bất thường, bởi vì cô cảm thấy vô cùng an toàn. Khi anh đỡ cô bước xuống xe, cô liền lên tiếng:
“Nhà Emerson dễ mến thật đấy. George Emerson đã tiến bộ lên trông thấy.”
“Mấy kẻ được tôi bảo trợ thế nào rồi?” Cecil hỏi, vốn chẳng mảy may quan tâm thực sự đến họ, và từ lâu đã quên bén đi quyết tâm đưa họ đến Windy Corner nhằm mục đích giáo hóa.
“Kẻ được bảo trợ cơ đấy!” cô thốt lên với vẻ hơi bực dọc. Bởi vì mối quan hệ duy nhất mà Cecil có thể hình dung được chính là quan hệ phong kiến: kẻ bảo hộ và kẻ được bảo hộ. Anh hoàn toàn mù tịt về tình bạn chiến hữu mà tâm hồn cô gái này hằng khao khát.
“Anh cứ tận mắt chứng kiến xem những kẻ được anh bảo trợ ra sao nhé. Chiều nay George Emerson sẽ lên đây đấy. Cậu ấy là một người cực kỳ thú vị để trò chuyện. Chỉ có điều là anh đừng có—” Cô suýt nữa thì thốt lên, “Đừng có bảo bọc cậu ấy.” Nhưng tiếng chuông báo giờ ăn trưa đã vang lên, và cũng như bao lần, Cecil chẳng mảy moi chú ý đến lời nhận xét của cô. Sự quyến rũ, chứ không phải tài hùng biện, mới chính là sở trường của cô.
Bữa trưa diễn ra trong không khí vui vẻ. Thông thường Lucy hay đâm ra chán nản vào các bữa ăn. Lúc nào cũng có ai đó cần được dỗ dành—hoặc là Cecil, hoặc là cô Bartlett, hoặc một Thực thể nào đó mắt phàm không thể nhìn thấy—một Thực thể vẫn thường thì thầm vào tâm hồn cô: “Nó sẽ chẳng kéo dài đâu, niềm vui này ấy mà. Đến tháng Giêng cô lại phải đến Luân Đôn để tiếp đón mấy đứa cháu của những nhân vật lừng danh cho mà xem.” Thế nhưng hôm nay cô cảm thấy mình đã nhận được một sự đảm bảo chắc chắn. Mẹ cô sẽ vẫn ngồi ở đó, em trai cô ở đây. Mặt trời, dẫu có dịch chuyển đôi chút so với buổi sáng, nhưng sẽ chẳng bao giờ bị che khuất sau những ngọn đồi phía tây. Sau bữa trưa, họ nài nỉ cô chơi đàn. Năm đó cô từng được xem vở *Armide* của Gluck, và cô đã chơi lại từ trí nhớ bản nhạc trong khu vườn mê hoặc—khúc nhạc mà chàng Renaud bước tới, dưới ánh bình minh vĩnh cửu, khúc nhạc chẳng bao giờ dâng trào, chẳng bao giờ lụi tàn, mà cứ gợn sóng mãi mãi giống như những vùng biển không triều của xứ sở thần tiên. Thứ âm nhạc ấy vốn chẳng dành cho đàn piano, và thán giả của cô bắt đầu tỏ ra bứt rứt, còn Cecil, chung nỗi chán chường đó, liền cất giọng gọi lớn: “Giờ thì chơi cho chúng tôi nghe khu vườn bên kia đi—khu vườn trong *Parsifal* ấy.”
Cô đóng nắp đàn lại.
“Chẳng ngoan ngoãn cho lắm nhỉ,” giọng mẹ cô vang lên.
Vì sợ rằng mình đã làm Cecil mếch lòng, cô vội vã quay người lại. George đang đứng đó từ lúc nào. Cậu đã lẻn vào từ bao giờ mà không hề làm gián đoạn tiếng đàn của cô.
“Ôi, tôi hoàn toàn không biết!” cô thốt lên, mặt đỏ bừng lên; và rồi, chẳng buồn cất một lời chào hỏi, cô mở tung nắp đàn ra lần nữa. Cecil muốn nghe *Parsifal*, hay bất cứ thứ gì khác anh thích, cô đều chiều hết.
“Nữ nghệ sĩ của chúng ta đã đổi ý rồi kìa,” cô Bartlett nói, ngầm ám chỉ rằng, cô ấy sẽ chơi bản nhạc đó cho cậu Emerson nghe đây. Lucy chẳng biết phải làm sao hay thậm chí bản thân cô muốn làm gì nữa. Cô đánh hỏng bét vài ô nhịp trong khúc ca của những Nữ thần Hoa rồi khựng lại.
“Tôi bỏ phiếu cho quần vợt,” Freddy lên tiếng, tỏ vẻ chán ngấy màn giải trí vụn vặt này.
“Ừ, tôi cũng thế.” Lại một lần nữa cô đóng chiếc đàn tội nghiệp lại. “Tôi đề nghị làm một trận đôi nam đi.”
“Được thôi.”
“Còn tôi thì xin miễn nhé,” Cecil nói. “Tôi sẽ không làm hỏng cả đội hình đâu.” Anh chưa bao giờ nhận ra rằng việc một tay vợt tồi chịu tham gia cho đủ số bốn người đôi khi lại là một hành động tử tế.
“Ôi, tham gia đi chứ Cecil. Em thì chơi kém, Floyd thì tệ, và tôi dám cá là Emerson cũng thế thôi.”
George liền đính chính: “Tôi chơi không tệ đâu nhé.”
Người ta bĩu môi coi thường câu nói đó. “Thế thì tôi dứt khoát không chơi nữa,” Cecil tuyên bố, trong khi cô Bartlett, với ảo tưởng rằng mình đang chì chiết George, liền hùa theo: “Tôi đồng ý với anh, anh Vyse. Anh tốt nhất là không nên chơi thì hơn. Tốt nhất là đừng chơi.”
Minnie, kẻ dám xông pha vào chốn hiểm nguy mà Cecil còn phải e dè, liền tuyên bố rằng con bé sẽ chơi. “Dằng nào cháu cũng đánh trượt bóng cho mà xem, thế nên có sá gì đâu chứ?” Nhưng ngày Chủ nhật đã nhúng tay vào và giáng một đòn chí mạng lên ý kiến tốt bụng ấy.
“Thế thì đành phải nhờ đến Lucy thôi,” bà Honeychurch nói; “con phải gánh vác thay Lucy ạ. Chẳng còn cách nào khác đâu. Lucy, lên phòng thay váy đi con.”
Ngày Sabbath của Lucy thường mang tính chất lưỡng cư như thế. Cô tuân thủ nó một cách không giả tạo vào buổi sáng, và phá vỡ nó mà chẳng chút do dự vào buổi chiều. Trong lúc thay váy, cô tự hỏi liệu Cecil có đang mỉm cười chế nhạo mình hay không; thực sự thì cô phải tự kiểm điểm lại bản thân và giải quyết ổn thỏa mọi chuyện trước khi kết hôn với anh ta.
Anh Floyd là đồng đội đánh cặp với cô. Cô thích âm nhạc, nhưng chơi quần vợt mới tuyệt làm sao. Thật sướng biết bao khi được chạy nhảy trong những bộ trang phục thoải mái thay vì ngồi lì bên cây đàn piano và cảm thấy bức bối dưới nách. Một lần nữa, âm nhạc lại hiện lên trong mắt cô chẳng khác nào trò tiêu khiển của trẻ con. George giao bóng, và khiến cô ngạc nhiên bởi khát khao chiến thắng đến cháy bỏng của cậu. Cô nhớ lại cách cậu từng thở dài bên những ngôi mộ ở Santa Croce vì mọi thứ không chịu khớp vào nhau; cách mà sau cái chết của nhân vật người Ý vô danh kia, cậu đã tựa người lên lan can bên sông Arno và nói với cô rằng: “Tôi muốn được sống, tôi nói thật đấy.” Bây giờ cậu cũng muốn được sống, muốn chiến thắng trong trận quần vợt, muốn đứng hiên ngang bằng tất cả khả năng của mình dưới ánh mặt trời—ánh mặt trời vốn đã bắt đầu ngả về tây và đang chiếu thẳng vào mắt cô; và cậu đã chiến thắng thật.
Chà, vùng Weald trông mới đẹp làm sao! Những ngọn đồi nhô cao trên bầu không khí rực rỡ ấy, tựa như Fiesole sừng sững trên vùng đồng bằng Tuscany, và dãy South Downs, nếu người ta muốn, chính là những ngọn núi Carrara hùng vĩ. Cô có thể đang dần quên đi nước Ý của mình, nhưng cô lại đang để ý đến nhiều thứ hơn ở nước Anh. Người ta có thể chơi một trò chơi mới với phong cảnh nơi đây, và cố tìm trong vô vàn nếp đồi của nó một thị trấn hay ngôi làng nào đó có thể đóng vai Florence. Chà, vùng Weald trông mới tuyệt vời làm sao!
Nhưng giờ thì Cecil lại đến đòi quyền sở hữu cô. Anh tình cờ rơi vào trạng thái tỉnh táo đầy tính phê phán, và chẳng thèm đồng điệu với sự phấn khích của cô. Anh cứ lải nhải làm phiền suốt cả trận quần vợt, bởi vì cuốn tiểu thuyết anh đang đọc quá tệ đến mức anh buộc phải đọc oang oang cho người khác nghe. Anh cứ đi dạo quanh khu vực sân đấu và gọi giật lên: “Này, nghe đoạn này đi Lucy. Có tận ba lỗi tách động từ đấy.”
“Kinh khủng thật!” Lucy thốt lên, và đánh hụt bóng. Khi họ đánh xong ván, anh vẫn tiếp tục đọc; có một cảnh giết người nào đó, và thực sự thì mọi người bắt buộc phải lắng nghe. Freddy và anh Floyd đành phải đi tìm quả bóng bị lạc trong bụi nguyệt quế, nhưng hai người còn lại thì đành ngậm ngùi đồng ý.
“Bối cảnh được đặt ở Florence.”
“Vui đấy chứ, Cecil! Cứ đọc đi anh. Nào, anh Emerson, ngồi xuống đây sau khi đã vận động hết mình đi chứ.” Cô đã “tha thứ” cho George, theo cách gọi của cô, và cô cốt ý tỏ ra niềm nở với cậu ta.
Cậu nhảy qua lưới và ngồi bệt xuống dưới chân cô, cất giọng hỏi: “Còn cô—cô có mệt không?”
“Đương nhiên là tôi không rồi!”
“Cô có buồn khi bị thua không?”
Cô suýt đáp là “Không”, nhưng rồi chợt nhận ra rằng thực ra mình có buồn, thế là cô đổi giọng thành “Có”. Cô vui vẻ nói thêm: “Nhưng tôi thấy anh cũng chẳng phải tay vợt cừ khôi gì cho cam. Nắng chiếu sau lưng anh, còn nó cứ đập thẳng vào mắt tôi cơ mà.”
“Tôi có nhận mình cừ đâu.”
“Ơ, chính anh nhận còn gì!”
“Cô có chú ý nghe đâu.”
“Anh bảo là—thôi, đừng có đòi hỏi sự chính xác ở cái nhà này. Tụi tôi ai cũng hay phóng đại cả, và tụi tôi rất ghét những kẻ không biết phóng đại đấy.”
“‘Bối cảnh được đặt ở Florence’,” Cecil lặp lại với giọng điệu vút cao.
Lucy chợt hoàn hồn.
“‘Hoàng hôn. Nàng Leonora đang rảo bước phóng nhanh—’”
Lucy ngắt lời. “Leonora? Leonora là nữ anh hùng à? Sách của ai viết thế?”
“Joseph Emery Prank. ‘Hoàng hôn. Leonora rảo bước phóng nhanh qua quảng trường. Cầu mong sao chư thánh phù hộ để nàng đến kịp lúc. Hoàng hôn—hoàng hôn của nước Ý. Dưới mái hiên Loggia của Orcagna—Loggia de’ Lanzi, theo cách gọi ngày nay của chúng ta—’”
Lucy bật cười phá lên. “‘Joseph Emery Prank’ cơ đấy! Sao lại là cô Lavish chứ! Đó là tiểu thuyết của cô Lavish, và cô ấy đang cho xuất bản nó dưới tên của người khác.”
“Cô Lavish ấy là ai thế?”
“Ôi, một con người khủng khiếp—Anh Emerson, anh còn nhớ cô Lavish chứ?”
Được kích thích bởi buổi chiều đầy hứng khởi, cô vỗ tay đét đét.
George ngẩng đầu lên. “Nhớ chứ. Tôi gặp cô ấy đúng ngày tới Summer Street. Chính cô ấy là người đã bảo tôi rằng cô sống ở đây đấy.”
“Anh có vui không?” Ý cô là “vui vì được gặp cô Lavish”, nhưng khi cậu cúi người xuống bãi cỏ mà không đáp lời, cô chợt nhận ra mình có thể ngụ ý một điều khác. Cô dõi theo mái đầu của cậu, gần như đang tựa sát vào đầu gối cô, và cô nghĩ rằng đôi tai kia đang đỏ bừng lên. “Hèn chi cuốn tiểu thuyết tệ thế,” cô nói thêm. “Tôi chưa bao giờ thích cô Lavish cả. Nhưng chắc là người ta phải đọc nó vì dù sao cũng đã quen biết tác giả.”
“Mọi cuốn sách hiện đại đều tệ hại cả,” Cecil nói, tỏ vẻ khó chịu vì không được cô chú ý tới, và trút cơn bực dọc ấy lên nền văn học. “Thời buổi này ai cũng viết sách vì tiền.”
“Ôi, Cecil—!”
“Đúng thế mà. Tôi sẽ không tra tấn các người bằng tác phẩm của Joseph Emery Prank nữa đâu.”
Cecil vào chiều hôm nay trông cứ như một con chim sẻ hót líu lo nhức cả đầu. Những quãng trầm bổng trong giọng nói của anh rất dễ nhận thấy, nhưng chúng chẳng hề tác động gì đến cô. Cô đã đắm chìm trong giai điệu và sự chuyển động, và các dây thần kinh của cô từ chối hưởng ứng âm thanh lanh lảnh của anh. Mặc kệ anh ta đang bực bội, cô lại ngắm nhìn mái đầu đen ấy lần nữa. Cô không muốn vuốt ve nó, nhưng cô thấy mình đang thèm muốn được vuốt ve nó; cảm giác đó thật kỳ lạ.
“Anh thích khung cảnh này của tụi tôi chứ, anh Emerson?”
“Tôi thấy phong cảnh nào cũng như nhau cả.”
“Ý anh là sao?”
“Bởi vì chúng đều giống nhau. Bởi vì tất cả những gì quan trọng trong đó chỉ là khoảng cách và bầu không khí.”
“Hừm!” Cecil lẩm bẩm, không rõ nhận xét đó có ấn tượng hay không.
“Cha tôi”—cậu ngẩng lên nhìn cô (và gương mặt hơi ửng đỏ)—“nói rằng chỉ có một khung cảnh hoàn hảo duy nhất—đó là bầu trời ngay trên đỉnh đầu chúng ta, và tất cả những khung cảnh trần thế này chẳng qua chỉ là những bản sao chắp vá tồi tàn của nó mà thôi.”
“Tôi đoán là cha anh vừa mới đọc Dante đấy,” Cecil vừa nói vừa mân mê cuốn tiểu thuyết, thứ duy nhất cho phép anh giành lại quyền kiểm soát cuộc trò chuyện.
“Hôm nọ ông còn bảo chúng tôi rằng phong cảnh thực chất là những đám đông—những đám đông gồm cây cối, nhà cửa và đồi núi—và chúng buộc phải giống nhau, hệt như những đám đông loài người vậy—và sức mạnh mà chúng áp đặt lên chúng ta đôi khi mang tính siêu nhiên, cũng chính vì lý do đó.”
Môi Lucy hé mở.
“Bởi vì một đám đông còn vĩ đại hơn tổng số những con người tạo nên nó. Có cái gì đó được bồi đắp thêm vào—chẳng ai biết bằng cách nào—giống như có thứ gì đó đã bồi đắp thêm vào những dãy đồi kia vậy.”
Cậu dùng chiếc vợt chỉ về phía dãy South Downs.
“Một ý tưởng tuyệt vời làm sao!” cô lẩm bẩm. “Tôi rất mong được nghe cha anh trò chuyện lần nữa. Tôi tiếc quá vì sức khỏe bác ấy không được tốt.”
“Ừ, ông ấy không khỏe.”
“Có một đoạn miêu tả phong cảnh nhảm nhí trong cuốn sách này,” Cecil lên tiếng. “Nó cũng cho rằng đàn ông chia làm hai loại—những kẻ hay quên phong cảnh và những kẻ luôn ghi nhớ chúng, ngay cả trong những căn phòng chật chội.”
“Anh Emerson, anh có anh chị em gì không?”
“Không. Chi vậy?”
“Lúc nãy anh vừa nhắc đến từ ‘tụi tôi’ mà.”
“Ý tôi là mẹ tôi.”
Cecil đóng sập cuốn tiểu thuyết lại cái rầm.
“Ôi, Cecil—sao anh làm em giật nảy cả mình thế!”
“Tôi sẽ không tra tấn các người bằng tác phẩm của Joseph Emery Prank nữa đâu.”
“Tôi chỉ láng máng nhớ có lần cả nhà ba người tụi tôi cùng đi dã ngoại về vùng quê và nhìn thấy tận dãy Hindhead. Đó là ký ức đầu tiên mà tôi nhớ được.”
Cecil đứng phắt dậy; cái tên này thật vô phép tắc—sau trận quần vợt mà chẳng thèm mặc áo khoác vào—đúng là không ngửi nổi. Anh ta hẳn đã bỏ đi dạo chỗ khác nếu Lucy không kịp ngăn lại.
“Cecil, đọc tiếp đoạn về phong cảnh đi mà.”
“Không, khi nào anh Emerson còn ở đây để pha trò cho chúng ta thì thôi.”
“Không—cứ đọc đi chứ. Em nghĩ chẳng có gì buồn cười bằng việc nghe những thứ ngớ ngẩn được đọc oang oang lên cả. Nếu anh Emerson thấy tụi mình phù phiếm, thì anh ấy cứ việc đi chỗ khác.”
Cecil thấy điều này thật thâm thúy và lấy làm đắc ý. Nó đẩy vị khách của họ vào vị thế của một kẻ đạo đức giả. Hơi nguôi giận một chút, anh ta ngồi xuống lại.
“Anh Emerson, đi nhặt mấy quả bóng quần vợt đi kìa.” Cô mở cuốn sách ra. Cecil phải được đọc sách và làm bất cứ thứ gì anh thích. Nhưng tâm trí cô lại cứ tha thẩn hướng về người mẹ của George—người mà—theo lời mục sư Eager—đã bị sát hại trước mặt Chúa trời và—theo lời con trai bà—từng nhìn thấy tận dãy Hindhead.
“Tôi thực sự phải đi à?” George hỏi.
“Không, đương nhiên là nói đùa thôi mà,” cô đáp.
“Chương hai,” Cecil ngáp dài nói. “Tìm hộ tôi chương hai xem nào, nếu không phiền cô nhé.”
Chương hai đã được tìm thấy, và cô liếc nhìn những câu mở đầu của nó.
Cô tưởng như mình phát điên lên được.
“Này—đưa sách đây cho tôi.”
Cô nghe thấy giọng chính mình đang cất lên: “Chẳng đáng đọc đâu—ngớ ngẩn lắm—chẳng bao giờ thấy thứ vớ vẩn nào thế này—lẽ ra không nên cho phép in ấn mấy thứ này mới đúng.”
Anh ta giật lấy cuốn sách từ tay cô.
“‘Nàng Leonora,’” anh đọc, “‘ngồi đó đầy vẻ đăm chiêu và cô độc. Trước mắt nàng là vùng đồng bằng trù phú của Tuscany, rải rác những ngôi làng tươi cười. Khi ấy là mùa xuân.’”
Không hiểu sao cô Lavish lại biết được, và đã in quá khứ ra thành những dòng văn xuôi thảm hại, để Cecil đọc lên và cho George nghe thấy.
“‘Một lớp sương mù vàng óng,’” anh đọc tiếp. Anh đọc: “‘Đằng xa là những ngọn tháp của Florence, trong khi mỏm đất nơi nàng ngồi được thảm hoa violet phủ kín. Không một tiếng động, Antonio rón rén lẻn đến phía sau nàng—’”
Sợ Cecil nhìn thấy sắc mặt mình, cô bèn quay sang nhìn thẳng vào mặt George.
Anh ta đọc: “‘Thốt ra từ đôi môi chàng không phải là những lời thề non hẹn biển rườm rà như cách mà những kẻ si tình theo lề thói vẫn dùng. Chàng chẳng có lấy một chút tài ăn nói, và cũng chẳng màng đến sự thiếu hụt đó. Chàng chỉ đơn giản ôm trọn lấy nàng vào trong lồng ngực vạm vỡ của mình.’”
“Đây không phải đoạn tôi muốn tìm,” anh thông báo với mọi người, “còn một đoạn khác buồn cười hơn nhiều ở tận phía sau cơ.” Anh lật lật các trang sách.
“Hay là chúng ta vào nhà uống trà đi nhỉ?” Lucy lên tiếng, giọng vẫn giữ được vẻ bình tĩnh.
Cô dẫn đầu đi ngược lên phía khu vườn, Cecil lấp ló theo sau, còn George đi bét nhè phía cuối. Cô tưởng rằng tai họa đã được ngăn chặn. Nhưng khi họ vừa bước vào lối đi rợp bóng cây thì nó đã ập đến. Cuốn sách, cứ như thể chưa gây ra đủ điều tai ương quái gở, đã bị bỏ quên lại, và Cecil buộc phải quay lại lấy; còn George, kẻ đang mang trong lòng một tình yêu cuồng nhiệt, lại vô tình va phải người cô trên lối đi chật hẹp.
“Không—” cô nấc lên, và lần thứ hai, bị cậu hôn lấy.
Như thể chẳng còn gì có thể xảy ra hơn thế, cậu lùi phắt lại; Cecil quay lại nhập hội; họ bước lên bãi cỏ phía trên chỉ có hai người.