Các Cuộc Đàm Luận Tại Tusculum Của Cicero

Lượt đọc: 9 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Quyển 1

❊ ❊ ❊

I. Vào thời điểm đã hoàn toàn, hoặc phần lớn, buông bỏ công việc của một luật sư cùng những nghĩa vụ của một nghị sĩ, tôi đã tìm về — chủ yếu nhờ lời khuyên của anh, hỡi Brutus — với những học vấn chưa bao giờ nguôi ngoai trong trí óc tôi, dù có lúc bị xao nhãng, và nay sau một khoảng thời gian dài tôi lại tiếp tục. Giờ đây, vì mọi nguyên lý và quy tắc của các nghệ thuật liên quan đến việc sống tốt đều phụ thuộc vào sự nghiên cứu trí tuệ, tức triết học, tôi nghĩ rằng việc diễn giải chúng bằng ngôn ngữ Latinh là một công việc xứng đáng với mình. Điều này không phải vì triết học không thể hiểu được bằng tiếng Hy Lạp hay qua sự giảng dạy của các bậc thầy Hy Lạp, mà bởi tôi luôn giữ quan điểm rằng người đồng bào chúng ta, trong một số trường hợp, đã có những phát kiến khôn ngoan hơn người Hy Lạp đối với những đề tài họ cho là đáng cống hiến sự chú ý; còn trong những trường hợp khác, họ đã cải tiến các phát kiến ấy, để rồi theo cách này hay cách khác, chúng ta vượt trội hơn họ về mọi mặt. Về phong tục và thói quen sinh hoạt tư gia, cũng như các công việc gia đình và nội trợ, chúng ta rõ ràng quản lý thanh nhã và tốt hơn họ; còn về thể chế cộng hòa, các bậc tổ tiên của chúng ta, không còn tranh cãi gì nữa, đã gầy dựng trên những tập quán và luật pháp tốt đẹp hơn. Tôi phải nói gì về quân sự, nơi tổ tiên chúng ta từng lừng lẫy nhất về lòng quả cảm, và lại càng lừng lẫy hơn về kỷ luật? Còn về những điều không thu nhận được qua học tập mà do bẩm sinh, thì cả Hy Lạp lẫn bất kỳ dân tộc nào cũng không thể sánh với chúng ta; bởi có dân tộc nào từng thể hiện sự uy nghiêm, tính kiên định, tâm hồn vĩ đại, sự chính trực, tín nghĩa — những phẩm hạnh kiệt xuất về mọi mặt — đến mức sánh ngang với tổ tiên chúng ta? Về học thuật và mọi thể loại văn chương, Hy Lạp quả thực đã vượt xa chúng ta, và điều đó thật dễ dàng khi chưa hề có sự cạnh tranh; bởi trong khi ở Hy Lạp, các thi sĩ là tầng lớp tri thức cổ xưa nhất — do Homer và Hesiod sống trước khi thành Rome được thành lập, còn Archilochus là người đồng thời với Romulus — thì chúng ta lại tiếp nhận thi ca muộn hơn nhiều. Phải khoảng năm trăm mười năm sau khi thành Rome được xây dựng, Livius mới phát hành một vở kịch vào thời kỳ chấp chính quan của C. Claudius, con trai của Cæcus, và M. Tuditanus, một năm trước khi Ennius ra đời, người vốn lớn tuổi hơn Plautus và Nævius.

II. Vì vậy, phải mãi về sau này, thi sĩ mới được biết đến hoặc đón nhận trong chúng ta; mặc dù chúng ta tìm thấy trong tác phẩm Origines của Cato rằng các quan khách, tại các buổi yến tiệc, thường hát những lời ca ngợi các bậc danh nhân theo tiếng đàn sáo; nhưng một bài diễn văn của Cato cho thấy thể loại thơ ca này không được coi trọng lắm, khi ông khiển trách Marcus Nobilior vì đã đưa các thi sĩ theo mình vào tỉnh bang; bởi vị chấp chính quan đó, như chúng ta đã biết, đã đưa Ennius đi cùng sang Ætolia. Do đó, thi sĩ càng ít được coi trọng thì những môn học ấy càng ít được theo đuổi; dù ngay cả khi ấy, những ai bộc lộ tài năng lớn nhất về phương diện đó cũng không hề kém cạnh người Hy Lạp là bao. Liệu chúng ta có tưởng tượng rằng nếu việc hội họa được coi là đáng khen ngợi ở Fabius, một người thuộc tầng lớp cao nhất, thì chúng ta lại không có nhiều danh họa như Polycletus và Parrhasius sao? Danh dự nuôi dưỡng nghệ thuật, và vinh quang là cựa gà thúc đẩy mọi người học tập; trong khi những môn học bị nhìn nhận bằng sự miệt thị thì luôn bị lãng quên ở mọi quốc gia. Người Hy Lạp coi kỹ năng âm nhạc và nhạc khí là một thành tựu rất quan trọng, và vì thế có ghi chép về Epaminondas, người mà theo tôi là nhân vật vĩ đại nhất trong số người Hy Lạp, rằng ông thổi sáo rất hay; còn Themistocles, nhiều năm trước đó, bị coi là vô học vì trong một buổi tiệc ông đã từ chối nhận cây đàn lyre khi được trao cho. Vì lý do này, các nhạc sĩ hưng thịnh ở Hy Lạp; âm nhạc là một môn học phổ biến; và bất kỳ ai không am hiểu nó đều không được coi là đã được giáo dục đầy đủ. Hình học rất được họ coi trọng, do đó không ai được kính trọng hơn các nhà toán học. Nhưng chúng ta lại giới hạn nghệ thuật này trong việc đo đạc và tính toán thuần túy.

III. Nhưng trái lại, chúng ta sớm dành sự kính trọng cho nhà hùng biện; dù ban đầu ông ta không phải là một người uyên bác, mà chỉ là người nhanh nhạy trong ăn nói: trong thời gian sau đó, ông ta mới trở nên uyên bác; bởi có tường thuật rằng Galba, Africanus, và Lælius là những người uyên bác; và ngay cả Cato, người sống trước họ về mặt thời gian, cũng là một người chăm học: tiếp theo là các gia tộc Lepidus, Carbo, và anh em Gracchus, cùng rất nhiều nhà hùng biện vĩ đại sau họ, cho đến tận thời đại chúng ta, đến mức chúng ta rất ít, nếu có, kém cạnh người Hy Lạp. Triết học đã ở mức trũng thấp cho đến tận thời điểm hiện tại, và không nhận được sự hỗ trợ nào từ ngôn ngữ của chính chúng ta, và vì vậy giờ đây tôi đã đảm nhận việc nâng cao và diễn giải nó, để như tôi từng có ích cho đồng bào khi đảm nhiệm công việc công ích, tôi cũng có thể, nếu có thể, làm như vậy lúc ẩn dật; và trong việc này tôi phải tốn nhiều công sức hơn, bởi vì đã có nhiều cuốn sách bằng tiếng Latinh được cho là viết thiếu chính xác, do những người tuyệt vời soạn thảo, chỉ là chưa đủ học vấn; vì quả thực, một người có thể suy nghĩ tốt, nhưng lại không thể diễn đạt tư tưởng của mình một cách thanh nhã; nhưng đối với bất kỳ ai xuất bản những tư tưởng mà mình không thể sắp xếp khéo léo cũng như không thể diễn giải để làm giải trí cho người đọc, thì đó là một sự lạm dụng chữ nghĩa và thời gian ẩn dật không thể tha thứ: do đó, họ tự đọc sách của mình cho nhau nghe, và không ai đụng đến chúng trừ những ai muốn có cùng sự tự do cho việc viết lách cẩu thả đó. Cho nên, nếu nghệ thuật hùng biện đã thu nhận được bất kỳ danh tiếng nào từ sự cần mẫn của tôi, tôi sẽ tốn nhiều công sức hơn để mở ra những dòng suối triết học, nơi mọi sự hùng biện của tôi đã bắt nguồn.

IV. Nhưng, như Aristotle, một người có thiên tài vĩ đại nhất và tri thức đa dạng nhất, do bị kích thích bởi vinh quang của nhà hùng biện Isocrates, đã bắt đầu dạy thanh niên nói năng, và kết hợp triết học với sự hùng biện: thì dự định của tôi cũng là không bỏ qua việc nghiên cứu hùng biện trước đây, mà đồng thời tự rèn luyện trong nghệ thuật vĩ đại và màu mỡ hơn này; bởi tôi luôn cho rằng việc có thể nói năng dồi dào và thanh nhã về những câu hỏi quan trọng nhất chính là triết học hoàn hảo nhất. Và tôi đã chăm chỉ áp dụng bản thân vào sự theo đuổi này, đến mức tôi đã mạo hiểm mở một trường học như người Hy Lạp. Và gần đây khi anh rời khỏi chúng tôi, có nhiều bạn bè xung quanh, tôi đã thử nghiệm tại biệt thự Tusculum của mình những gì tôi có thể làm theo cách đó; bởi vì như trước đây tôi thường thực hành diễn thuyết, việc mà không ai kéo dài hơn tôi, thì đây giờ đây sẽ là bài diễn thuyết của tuổi già tôi. Tôi yêu cầu bất kỳ ai đề xuất một câu hỏi mà người đó muốn thảo luận, và sau đó tôi tranh luận về điểm đó khi ngồi hoặc khi đi dạo; và vì vậy tôi đã biên soạn các bài giảng, như người Hy Lạp gọi họ, trong năm ngày, thành nhiều cuốn sách tương ứng. Chúng tôi tiến hành theo cách này: khi người đề xuất chủ đề thảo luận đã nói những gì người đó cho là thích hợp, tôi nói chống lại người đó; bởi vì đây, anh biết đấy, là phương pháp tranh luận cũ và Socrate chống lại ý kiến của người khác; bởi Socrates nghĩ rằng do đó sự thật sẽ dễ dàng đạt tới hơn. Nhưng để cho anh một khái niệm tốt hơn về các cuộc tranh luận của chúng tôi, tôi sẽ không chỉ gửi cho anh một bản tường thuật về chúng, mà đại diện cho anh như chúng đã được tiến hành; do đó hãy để lời mở đầu như sau:

A. Đối với tôi, cái chết có vẻ là một điều xấu.

M. Sao, đối với những người đã chết? Hay đối với những người phải chết?

A. Đối với cả hai.

M. Vậy đó là một nỗi khốn khổ, vì nó là một điều xấu?

A. Chắc chắn rồi.

M. Vậy những người đã chết, và những người còn phải chết, đều khốn khổ?

A. Đối với tôi có vẻ là như vậy.

M. Vậy thì tất cả đều khốn khổ?

A. Mọi người.

M. Và quả thực, nếu anh muốn nhất quán, tất cả những ai đã sinh ra, hoặc sẽ sinh ra, không chỉ khốn khổ, mà sẽ luôn như vậy; bởi nếu anh duy trì chỉ những người đó là khốn khổ, anh sẽ không ngoại trừ bất kỳ ai đang sống, vì tất cả phải chết; nhưng nên có một sự kết thúc của nỗi khốn khổ trong cái chết. Nhưng thấy rằng người chết là khốn khổ, chúng ta sinh ra trong nỗi khốn khổ vĩnh cửu, vì họ bắt buộc phải khốn khổ những người đã chết một trăm ngàn năm trước; hay đúng hơn, tất cả những ai từng được sinh ra.

A. Quả thực, tôi nghĩ vậy.

M. Hãy nói cho tôi biết, tôi xin anh, anh có sợ Cerberus ba đầu ở cõi âm dưới kia, và những làn sóng gầm ốm của Cocytus, và chuyến đi qua Acheron, và Tantalus chết khát, trong khi nước chạm đến cằm ông ta; và Sisyphus,

Người nhễ nhại mồ hôi gánh vất vả nhọc nhằn

Để trèo lên đỉnh núi dốc đứng hư vô?

Có lẽ, anh cũng khiếp sợ các thẩm phán không lay chuyển, Minos và Rhadamanthus; trước mặt họ cả L. Crassus lẫn M. Antonius đều không thể bào chữa cho anh; và ở đó, vì vụ án nằm trước các thẩm phán Hy Lạp, anh thậm chí sẽ không thể thuê Demosthenes; mà anh phải tự bào chữa cho mình trước một hội đồng rất lớn. Những điều này có lẽ anh khiếp sợ, và do đó nhìn cái chết như một điều xấu vĩnh cửu.

VI. A. Ông coi tôi là kẻ đần độn đến mức tin vào những điều như vậy sao?

M. Sao, anh không tin chúng sao?

A. Không một chút nào.

M. Tôi rất tiếc khi nghe điều đó.

A. Tại sao, tôi xin hỏi?

M. Bởi vì tôi đã có thể rất hùng biện khi nói chống lại chúng.

A. Và ai lại không thể về một chủ đề như vậy? Hay có khó khăn gì để bác bỏ những bịa đặt quái gở này của các thi sĩ và họa sĩ?

M. Và tuy nhiên anh có những cuốn sách của các nhà triết học đầy những lập luận chống lại những điều này.

A. Một sự lãng phí thời gian lớn, thực sự! Bởi ai lại yếu đuối đến mức bận tâm về chúng?

M. Vậy nếu không có ai khốn khổ ở cõi âm, thì không thể có ai ở đó cả.

A. Tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến đó.

M. Vậy thì, những người anh gọi là khốn khổ đang ở đâu? Hay họ trú ngụ ở nơi nào? Bởi nếu họ tồn tại, họ phải ở đâu đó.

A. Tôi quả thực cho rằng họ không ở đâu cả.

M. Vậy họ không có sự tồn tại nào cả.

A. Chính là như vậy, và tuy nhiên họ khốn khổ vì chính lý do này, rằng họ không có sự tồn tại.

M. Bây giờ tôi thà để anh sợ Cerberus còn hơn là nói thiếu chính xác như vậy.

A. Về phương diện nào?

M. Bởi vì anh thừa nhận kẻ đó tồn tại mà lại phủ nhận sự tồn tại của kẻ đó trong cùng một hơi thở. Sự sáng suốt của anh đâu rồi? Khi anh nói bất kỳ ai khốn khổ, anh nói rằng kẻ không tồn tại lại tồn tại.

A. Tôi không vô lý đến mức nói điều đó.

M. Vậy anh nói điều gì?

A. Tôi nói, chẳng hạn, rằng Marcus Crassus khốn khổ vì bị tước đoạt những của cải vĩ đại như vậy bởi cái chết; rằng Cn. Pompey khốn khổ vì bị tước khỏi vinh quang và danh dự như vậy; và ngắn gọn lại, rằng tất cả đều khốn khổ những ai bị tước đoạt ánh sáng cuộc sống này.

M. Anh đã quay trở lại điểm cũ, bởi vì khốn khổ hàm chứa một sự tồn tại; nhưng anh vừa mới phủ nhận rằng người chết có bất kỳ sự tồn tại nào: vậy nếu họ không có, họ không thể là gì cả; và nếu vậy, họ thậm chí không khốn khổ.

A. Có lẽ tôi không diễn đạt được những gì tôi muốn nói, bởi vì tôi coi chính hoàn cảnh này, không tồn tại sau khi đã tồn tại, là rất khốn khổ.

M. Sao, khốn khổ hơn là không tồn tại chút nào sao? Do đó, những người chưa sinh ra là khốn khổ vì họ không tồn tại; và chính chúng ta, nếu chúng ta khốn khổ sau khi chết, đã khốn khổ trước khi sinh ra: nhưng tôi không nhớ rằng mình đã khốn khổ trước khi sinh ra; và tôi sẽ rất vui được biết, nếu trí nhớ của anh tốt hơn, những gì anh nhớ về bản thân mình trước khi sinh ra.

VII. A. Ông thật vui tính: như thể tôi đã nói rằng những người chưa sinh ra là khốn khổ, chứ không phải những người đã chết.

M. Anh nói, vậy họ là như vậy?

A. Vâng; tôi nói rằng vì họ không còn tồn tại sau khi đã tồn tại nên họ khốn khổ.

M. Anh không nhận ra rằng anh đang khẳng định những điều mâu thuẫn; bởi còn gì mâu thuẫn hơn, việc cái đó không chỉ khốn khổ, mà lại có bất kỳ sự tồn tại nào, cái vốn không tồn tại? Khi anh đi ra ở cổng Capena và nhìn thấy mộ của gia tộc Calatinus, Scipio, Servilius, và Metellus, anh có nhìn họ như những kẻ khốn khổ không?

A. Bởi vì ông dồn ép tôi bằng một từ ngữ, từ nay trở đi tôi sẽ không nói họ khốn khổ một cách tuyệt đối, mà khốn khổ vì lý do này, bởi vì họ không có sự tồn tại.

M. Vậy anh không nói “M. Crassus khốn khổ”, mà chỉ là “M. Crassus khốn khổ”.

A. Chính xác là như vậy.

M. Như thể điều đó không dẫn đến việc bất kỳ điều gì anh nói theo cách đó hoặc là có hoặc là không. Anh không quen thuộc với các nguyên lý đầu tiên của lô-gích sao? Bởi đây là điều đầu tiên họ đưa ra, Bất kỳ điều gì được khẳng định (bởi đó là cách tốt nhất nảy ra trong đầu tôi lúc này để dịch thuật ngữ Hy Lạp ἀξίωμα; nếu tôi có thể nghĩ ra một sự diễn đạt chính xác hơn sau này, tôi sẽ dùng nó), được khẳng định là đúng hoặc sai. Khi, do đó, anh nói “M. Crassus khốn khổ”, anh hoặc nói điều này, “M. Crassus là khốn khổ”, để một phán đoán có thể được đưa ra liệu nó đúng hay sai, hoặc anh không nói gì cả.

A. Chà, vậy bây giờ tôi thừa nhận rằng người chết không khốn khổ, vì ông đã rút ra từ tôi một sự nhượng bộ rằng những người không tồn tại chút nào không thể khốn khổ. Vậy thì sao? Chúng ta, những người đang sống, chẳng lẽ không khốn khổ sao, khi thấy rằng chúng ta phải chết? Bởi vì có gì dễ chịu trong cuộc sống, khi chúng ta phải suy ngẫm đêm ngày rằng, vào một lúc nào đó, chúng ta phải chết?

VIII. M. Vậy anh không nhận ra sự xấu xa vĩ đại như thế nào mà anh đã giải thoát cho bản chất con người sao?

A. Bằng phương cách nào?

M. Bởi vì, nếu chết là khốn khổ đối với người chết, thì sống sẽ là một loại khốn khổ vô tận và vĩnh cửu. Tuy nhiên, giờ đây tôi thấy một đích đến, và khi tôi đã tới đó, không còn gì để sợ nữa; nhưng anh có vẻ đối với tôi là đi theo ý kiến của Epicharmus, một người có sự nhận thức nào đó, và đủ sắc sảo đối với một người Sicily.

A. Ý kiến gì? Vì tôi không nhớ nó.

M. Tôi sẽ nói cho anh biết nếu tôi có thể bằng tiếng Latinh; bởi anh biết tôi không quen đưa các câu Latinh vào một bài diễn thuyết Hy Lạp hơn là tiếng Hy Lạp vào một bài Latinh.

A. Và điều đó hoàn toàn đúng. Nhưng ý kiến đó của Epicharmus là gì?

M.

Tôi không muốn chết, nhưng tuy nhiên

Không bận tâm rằng tôi sẽ chết.

A. Bây giờ tôi nhớ ra tiếng Hy Lạp; nhưng vì ông đã buộc tôi phải thừa nhận rằng người chết không khốn khổ, hãy tiếp tục thuyết phục tôi rằng không khốn khổ khi ở dưới sự bắt buộc phải chết.

M. Điều đó đủ dễ dàng; nhưng tôi có những việc lớn hơn trong tay.

A. Sao điều đó lại dễ dàng như vậy? Và những việc có tầm quan trọng hơn đó là gì?

M. Như thế này: bởi vì, nếu không có điều xấu nào sau cái chết, thì ngay cả bản thân cái chết cũng không thể là điều xấu; bởi điều tiếp theo ngay sau đó là một trạng thái mà anh thừa nhận rằng không có điều xấu nào: nên ngay cả việc bị bắt buộc phải chết cũng không thể là điều xấu, vì đó chỉ là việc bị bắt buộc phải đến một nơi mà chúng ta thừa nhận không có điều xấu nào.

A. Tôi xin ông hãy rõ ràng hơn về điểm này, vì những lập luận tinh vi này buộc tôi phải thừa nhận nhanh hơn là thuyết phục. Nhưng những việc quan trọng hơn mà ông nói rằng ông đang bận rộn là gì?

M. Dạy anh, nếu tôi có thể, rằng cái chết không chỉ không phải là điều xấu, mà là một điều tốt.

A. Tôi không khăng khăng về điều đó, nhưng sẽ rất vui được nghe ông tranh luận về nó, vì ngay cả khi ông không chứng minh được điểm của mình, ông vẫn sẽ chứng minh rằng cái chết không phải là điều xấu. Nhưng tôi sẽ không ngắt lời ông; tôi thà nghe một bài diễn thuyết liên tục.

M. Sao, nếu tôi hỏi anh một câu hỏi, anh sẽ không trả lời sao?

A. Điều đó trông có vẻ kiêu ngạo; nhưng tôi thà ông không hỏi trừ khi sự cần thiết yêu cầu.

IX. M. Tôi sẽ tuân theo ước nguyện của anh, và giải thích tốt nhất có thể những gì anh yêu cầu; nhưng không phải với bất kỳ ý tưởng nào rằng, như thần Apollo vùng Pythia, những gì tôi nói nhất thiết phải chắc chắn và không thể tranh cãi, mà chỉ như một con người thuần túy, nỗ lực đạt tới các khả năng bằng sự đoán chừng, vì tôi không có cơ sở nào để tiến xa hơn khả năng. Những người đó có thể gọi các phát biểu của họ là không thể tranh cãi, những người khẳng định rằng những gì họ nói có thể được nhận thức bởi các giác quan, và những người tự tuyên bố mình là các nhà triết học theo nghề nghiệp.

A. Hãy làm như ông muốn: Chúng tôi sẵn sàng nghe ông.

M. Điều đầu tiên, vậy thì, là điều tra xem cái chết, vốn dĩ có vẻ được hiểu rất rõ, thực sự là gì; bởi một số người tưởng tượng cái chết là sự ra đi của linh hồn khỏi thể xác; những người khác nghĩ rằng không có sự ra đi như vậy, mà linh hồn và thể xác cùng diệt vong, và linh hồn bị dập tắt cùng với thể xác. Trong số những người nghĩ rằng linh hồn ra đi khỏi thể xác, một số tin vào sự tan rã ngay lập tức của nó; những người khác tưởng tượng rằng nó tiếp tục tồn tại trong một thời gian; và những người khác tin rằng nó kéo dài mãi mãi. Có sự tranh cãi lớn ngay cả linh hồn là gì, nó ở đâu, và nó xuất phát từ đâu: với một số người, chính trái tim (cor) có vẻ là linh hồn, do đó có các biểu đạt, excordes, vecordes, concordes; và Nasica khôn khéo đó, người hai lần làm chấp chính quan, được gọi là Corculus, tức là trái tim khôn ngoan; và Ælius Sextus được mô tả là Egregie cordatus homo, catus Æliu’ Sextus — người đàn ông có trái tim khôn ngoan kiệt xuất đó, Ælius hiền trí. Empedocles tưởng tượng máu, vốn lan tỏa khắp trái tim, là linh hồn; đối với những người khác, một phần nào đó của bộ não có vẻ là ngai vàng của linh hồn; những người khác không cho phép chính trái tim, lẫn bất kỳ phần nào của bộ não, là linh hồn, mà nghĩ rằng hoặc trái tim là chỗ ngồi và nơi trú ngụ của linh hồn, hoặc bộ não là như vậy. Một số muốn linh hồn, hay tinh thần, là anima, như các trường học của chúng ta nhìn chung đồng ý; và quả thực cái tên biểu thị nhiều như vậy, vì chúng ta sử dụng các biểu đạt animam agere, sống; animam efflare, trút hơi thở cuối cùng; animosi, những người có tinh thần; bene animati, những người có cảm xúc đúng đắn; exanimi sententia, theo ý kiến thực sự của chúng ta; và chính từ animus được xuất phát từ anima. Lại nữa, linh hồn có vẻ đối với Zeno người Khắc kỷ là lửa.

X. Nhưng những gì tôi đã nói về trái tim, máu, bộ não, không khí, hay lửa là linh hồn, là những ý kiến phổ biến: những ý kiến khác chỉ được nuôi dưỡng bởi các cá nhân; và quả thực, có nhiều người trong số các bậc cổ nhân nắm giữ những ý kiến kỳ lạ về chủ đề này, trong đó người gần nhất là Aristoxenus, một người vừa là nhạc sĩ vừa là nhà triết học. Ông duy trì một sự căng thẳng nào đó của thể xác, giống như cái được gọi là sự hòa âm trong âm nhạc, là linh hồn, và tin rằng, từ hình dáng và bản chất của toàn bộ thể xác, các chuyển động khác nhau được kích thích, như âm thanh từ một nhạc khí. Ông bám chặt vào hệ thống của mình, và tuy nhiên ông đã nói một điều gì đó, bản chất của nó, cho dù nó là gì, đã được chi tiết và giải thích một thời gian dài trước đó bởi Plato. Xenocrates phủ nhận rằng linh hồn có bất kỳ hình dáng nào, hay bất kỳ điều gì giống như thể xác; nhưng nói rằng nó là một con số, quyền năng của nó, như Pythagoras đã tưởng tượng, một vài thế kỷ trước đó, là vĩ đại nhất trong bản chất: thầy của ông, Plato, tưởng tượng một linh hồn ba phần, một phần thống trị của nó — tức là lý trí — ông đã đặt ở đầu, như trong một ngọn tháp; và hai phần khác — cụ thể là sự tức giận và ham muốn — ông làm tay chân cho phần này, và dành cho chúng những nơi trú ngụ riêng biệt, đặt sự tức giận ở ngực, và ham muốn ở dưới cơ hoành. Nhưng Dicæarchus, trong cuộc diễn thuyết đó của một số người tranh luận uyên bác, held at Corinth, mà ông chi tiết cho chúng ta trong ba cuốn sách — trong cuốn sách đầu tiên giới thiệu nhiều người nói; và trong hai cuốn khác ông giới thiệu một Pherecrates nào đó, một ông lão vùng Phthia, người, như ông nói, là dòng dõi từ Deucalion; khẳng định rằng, trên thực tế không có điều gì gọi là linh hồn cả, mà đó là một cái tên không có ý nghĩa; và rằng thật nhàn rỗi khi sử dụng biểu đạt “động vật”, hay “sinh linh có linh hồn”; rằng cả con người lẫn muông thú đều không có trí óc hay linh hồn, mà tất cả quyền năng đó mà chúng ta hành động hay nhận thức đều được truyền đều vào mọi sinh linh, và không thể tách rời khỏi thể xác, vì nếu không, nó sẽ không là gì cả; cũng không có bất kỳ điều gì thực sự tồn tại ngoại trừ thể xác, vốn là một điều duy nhất và đơn giản, được tạo hình để sống và có các cảm giác của nó do kết quả của các quy luật bản chất. Aristotle, một người vượt trội hơn tất cả những người khác, cả về thiên tài lẫn sự cần mẫn (tôi luôn ngoại trừ Plato), sau khi đã đón nhận bốn loại nguyên lý đã biết này, từ đó mọi thứ suy ra nguồn gốc của chúng, tưởng tượng rằng có một bản chất thứ năm nào đó, từ đó xuất phát linh hồn; vì suy nghĩ, tiên đoán, học tập, dạy dỗ, phát minh bất kỳ điều gì, và nhiều thuộc tính khác cùng loại, như ghi nhớ, yêu thương, ghét bỏ, ham muốn, sợ hãi, hài lòng hay không hài lòng — những điều này, và những điều khác giống như chúng, tồn tại, ông nghĩ, trong không loại nào trong bốn loại đầu tiên đó: vì lý do đó ông thêm vào một loại thứ năm, vốn không có tên, và vì vậy bằng một cái tên mới ông gọi linh hồn là ἐνδελέχεια, như thể nó là một chuyển động liên tục và vĩnh cửu nào đó.

XI. Nếu tôi không quên bất kỳ điều gì một cách vô tình, đây là những ý kiến chính yếu về linh hồn. Tôi đã bỏ qua Democritus, một người rất vĩ đại quả thực, nhưng là người suy ra linh hồn từ sự hội tụ ngẫu nhiên của các chất nhỏ, nhẹ, và tròn; bởi vì, nếu anh tin những người thuộc trường học của ông, không có gì mà một đám đông nguyên tử không thể thực hiện. Ý kiến nào trong số này là đúng, một vị Thần nào đó phải quyết định. Đó là một câu hỏi quan trọng đối với chúng ta, Ý kiến nào có nhiều dáng vẻ của sự thật nhất? Vậy chúng ta sẽ ưu tiên quyết định giữa chúng, hay chúng ta sẽ quay trở lại chủ đề của chúng ta?

A. Tôi có thể ước cả hai, nếu có thể; nhưng rất khó để trộn lẫn chúng: do đó, nếu không có một sự thảo luận về chúng chúng ta có thể rũ bỏ những nỗi sợ hãi về cái chết, hãy tiếp tục làm như vậy; nhưng nếu điều này không thể làm được mà không giải thích câu hỏi về các linh hồn, hãy có điều đó bây giờ, và điều khác vào lúc khác.

M. Tôi coi kế hoạch đó là tốt nhất, kế hoạch mà tôi nhận thấy anh có xu hướng theo; vì lý trí sẽ chứng minh rằng, bất kỳ ý kiến nào trong số những ý kiến mà tôi đã nêu là đúng, thì nhất thiết phải theo sau rằng, cái chết không thể là một điều xấu; hoặc nó phải đúng hơn là một điều gì đó đáng mong ước; bởi nếu trái tim, hay máu, hay bộ não, là linh hồn, thì chắc chắn linh hồn, thuộc về thể xác, phải diệt vong cùng với phần còn lại của thể xác; nếu nó là không khí, nó có lẽ sẽ bị tan rã; nếu nó là lửa, nó sẽ bị dập tắt; nếu nó là sự hòa âm của Aristoxenus, nó sẽ bị sai điệu. Tôi phải nói gì về Dicæarchus, người phủ nhận rằng có bất kỳ linh hồn nào? Trong tất cả các ý kiến này, không có gì ảnh hưởng đến bất kỳ ai sau khi chết; vì mọi cảm giác đều mất đi cùng với cuộc sống, và nơi không có cảm giác, không gì có thể can thiệp để ảnh hưởng đến chúng ta. Ý kiến của những người khác quả thực mang lại cho chúng ta hy vọng; nếu đó là bất kỳ niềm vui nào cho anh khi nghĩ rằng các linh hồn, sau khi họ rời khỏi thể xác, có thể đi lên thiên đường như đến một ngôi nhà vĩnh cửu.

A. Tôi có niềm vui lớn trong tư tưởng đó, và đó là điều tôi mong muốn nhất; và ngay cả khi không phải như vậy, tôi vẫn sẽ rất sẵn lòng tin điều đó.

M. Vậy anh có dịp gì cần sự hỗ trợ của tôi? Tôi có vượt trội hơn Plato về sự hùng biện không? Hãy lật dở cẩn thận cuốn sách của ông ấy bàn về linh hồn; anh sẽ có ở đó tất cả những gì anh có thể muốn.

A. Tôi quả thực đã làm điều đó, và thường xuyên; nhưng, tôi không biết làm sao nó lại xảy ra, tôi đồng ý với nó trong khi tôi đang đọc nó; nhưng khi tôi đã đặt cuốn sách xuống, và bắt đầu suy ngẫm với chính mình về sự bất tử của linh hồn, tất cả sự đồng ý đó biến mất.

M. Sao lại thế? Anh có thừa nhận điều này không — rằng các linh hồn hoặc tồn tại sau khi chết, hoặc họ cũng diệt vong vào thời điểm của cái chết?

A. Tôi đồng ý với điều đó. Và nếu họ tồn tại, tôi thừa nhận rằng họ hạnh phúc; nhưng nếu họ diệt vong, tôi không thể cho rằng họ bất hạnh, bởi vì, trên thực tế, họ không có sự tồn tại nào cả. Ông đã dồn tôi đến sự nhượng bộ đó vừa mới đây thôi.

M. Vậy thì, làm sao anh có thể, hay tại sao anh lại khẳng định rằng anh nghĩ cái chết là một điều xấu, khi nó hoặc làm cho chúng ta hạnh phúc, trong trường hợp linh hồn tiếp tục tồn tại, hoặc, trong bất kỳ trường hợp nào, không bất hạnh, trong trường hợp chúng ta trở nên tước đoạt mọi cảm giác?

XII. A. Hãy giải thích, do đó, nếu nó không phiền phức cho ông, trước tiên, nếu ông có thể, rằng các linh hồn có tồn tại sau khi chết; thứ hai, nếu ông thất bại trong điều đó (và đó là một điều rất khó để thiết lập), rằng cái chết hoàn toàn không có điều xấu nào; vì tôi không phải là không có những nỗi sợ hãi rằng chính điều này là một điều xấu: tôi không có ý nói sự tước đoạt cảm giác ngay lập tức, mà là thực tế rằng chúng ta sẽ chịu sự tước đoạt sau này.

M. Tôi có thẩm quyền tốt nhất để ủng hộ ý kiến anh mong muốn được thiết lập, điều nên có, và thường có, trọng lượng lớn trong mọi trường hợp. Và, trước tiên, tôi có tất cả thời cổ đại ở phe đó, thời cổ đại càng gần với nguồn gốc và dòng dõi thần thánh của nó, thì có lẽ càng rõ ràng hơn, vì lý do đó, nhận thức ra sự thật trong những vấn đề này. Chính giáo lý này, vậy thì, đã được áp dụng bởi tất cả những bậc cổ nhân đó mà Ennius gọi bằng ngôn ngữ Sabine là Casci; cụ thể là trong cái chết có một cảm giác, và rằng, khi con người rời bỏ cuộc sống này, họ không bị phá hủy hoàn toàn đến mức diệt vong tuyệt đối. Và điều này có thể xuất hiện từ nhiều hoàn cảnh khác, và đặc biệt là từ các nghi lễ giáo hoàng và nghi thức tang lễ, những thứ mà những người có thiên tài vĩ đại nhất sẽ không quá lo lắng về, và sẽ không bảo vệ khỏi bất kỳ sự xúc phạm nào bằng những luật pháp nghiêm khắc như vậy, nếu không từ một sự thuyết phục vững chắc rằng cái chết không phải là một sự phá hủy hoàn toàn đến mức xóa bỏ và phá hủy mọi thứ hoàn toàn, mà đúng hơn là một loại chuyển giao, như nó vốn thế, và sự thay đổi cuộc sống, vốn là, trong trường hợp của những người nam và nữ lừng lẫy, thường là một sự dẫn đường lên thiên đường, trong khi ở những người khác nó vẫn bị giới hạn ở trái đất, nhưng theo cách như vậy để vẫn tồn tại. Từ điều này, và những tình cảm của người Roman,

Trên thiên đường Romulus cùng các Chư thần giờ đây đang sống,

như Ennius nói, đồng ý với niềm tin phổ biến; do đó, Hercules cũng được coi là một vị Thần vĩ đại và thuận lợi trong số người Hy Lạp, và từ họ ông được giới hạn vào trong chúng ta, và sự thờ phụng ông đã mở rộng ngay cả đến tận chính đại dương. Đây là cách mà Bacchus được thần hóa, đứa con của Semele; và từ cùng một danh tiếng lừng lẫy chúng ta tiếp nhận Castor và Pollux như những vị Thần, những người được tường thuật không chỉ giúp đỡ người Roman chiến thắng trong các trận chiến của họ, mà còn là những người đưa tin về sự thành công của họ. Chúng ta sẽ nói gì về Ino, con gái của Cadmus? Chẳng phải cô ấy được gọi là Leucothea bởi người Hy Lạp, và Matuta bởi chúng ta sao? Nay, hơn thế nữa; chẳng phải toàn bộ thiên đường (để không dừng lại ở các chi tiết) hầu như được lấp đầy bởi con cháu của loài người sao?

Nếu tôi cố gắng tìm kiếm vào thời cổ đại, và đưa ra từ đó những gì các nhà văn Hy Lạp đã khẳng định, sẽ xuất hiện rằng ngay cả những người được gọi là các vị Thần chính của họ cũng được đưa từ trong số loài người lên thiên đường.

XIII. Hãy kiểm tra các lăng mộ của những người được trình bày ở Hy Lạp; hãy nhớ lại, vì anh đã được nhập môn, những bài học nào được dạy trong các bí mật; sau đó anh sẽ nhận thức ra giáo lý này rộng lớn như thế nào. Nhưng những người không quen thuộc với triết học tự nhiên (vì nó chưa bắt đầu thịnh hành cho đến nhiều năm sau đó) không có niềm tin nào cao hơn những gì lý trí tự nhiên có thể trao cho họ; họ không quen thuộc với các nguyên lý và nguyên nhân của sự vật; họ thường bị dẫn dắt bởi một số thị kiến, và những thị kiến đó thường vào ban đêm, để nghĩ rằng những người đã rời bỏ cuộc sống này vẫn còn sống. Và điều này có thể tiếp tục được đưa ra như một lập luận không thể bác bỏ để chúng ta tin rằng có các vị Thần — rằng chưa từng có bất kỳ dân tộc nào dã man như vậy, cũng không có bất kỳ con người nào trên thế giới hoang dại đến mức không có một số khái niệm về các vị Thần. Nhiều người có những khái niệm sai lầm về các vị Thần, vì đó là bản chất và hậu quả thông thường của các tập quán xấu, tuy nhiên tất cả đều thừa nhận rằng có một bản chất và năng lượng thần thánh nào đó. Điều này cũng không xuất phát từ sự trò chuyện của con người, hay sự đồng ý của các nhà triết học; nó không phải là một ý kiến được thiết lập bởi các thể chế hay bởi luật pháp; nhưng, không nghi ngờ gì, trong mọi trường hợp sự đồng ý của tất cả các dân tộc phải được nhìn nhận như một quy luật của bản chất. Vậy có ai lại không than khóc cho sự mất mát của bạn bè mình, chủ yếu từ việc tưởng tượng họ bị tước đoạt những sự tiện nghi của cuộc sống? Hãy tước đi ý kiến này, và anh loại bỏ cùng với nó mọi nỗi đau buồn; vì không ai bị phiền muộn chỉ vì một sự mất mát do chính mình chịu đựng. Có lẽ chúng ta có thể tiếc nuối, và đau buồn một chút; nhưng sự than khóc đắng ngắt đó và những giọt nước mắt u sầu đó có nguồn gốc trong sự e sợ của chúng ta rằng người mà chúng ta yêu thương bị tước đoạt tất cả những lợi ích của cuộc sống, và nhận thức được sự mất mát của mình. Và chúng ta được dẫn dắt đến ý kiến này bởi bản chất, không có bất kỳ lập luận nào hay bất kỳ sự chỉ dẫn nào.

XIV. Nhưng bằng chứng lớn nhất của tất cả là, chính bản chất đưa ra một phán đoán âm thầm ủng hộ sự bất tử của linh hồn, vì tất cả đều lo lắng, và điều đó ở một độ lớn, về những điều liên quan đến tương lai:

Người ta trồng những gì các thế hệ tương lai sẽ thụ hưởng,

như Statius nói trong tác phẩm Synephebi của mình. Mục tiêu của ông khi làm như vậy là gì, ngoại trừ việc ông quan tâm đến hậu thế? Vậy nhà nông cần mẫn sẽ trồng những cây mà quả của chúng ông sẽ không bao giờ nhìn thấy sao? Và người đàn ông vĩ đại lại không thành lập luật pháp, thể chế, và một thể chế cộng hòa sao? Sự sinh sản con cái biểu thị điều gì, và sự chăm sóc của chúng ta để tiếp tục tên tuổi của chúng ta, và sự nhận nuôi của chúng ta, và sự chính xác tỉ mỉ của chúng ta trong việc lập di chúc, và các dòng chữ trên các đài kỷ niệm, và các bài ca ngợi, ngoại trừ việc tư tưởng của chúng ta chạy về tương lai? Không còn nghi ngờ gì nữa nhưng một phán đoán có thể được hình thành về bản chất nói chung, từ việc nhìn vào mỗi bản chất trong các mẫu vật hoàn hảo nhất của nó; và mẫu vật hoàn hảo hơn của một con người là gì ngoài những người nhìn bản thân họ như được sinh ra vì sự hỗ trợ, sự bảo vệ, và sự bảo tồn của những người khác? Hercules đã đi lên thiên đường; ông sẽ không bao giờ đi đến đó nếu ông không, trong khi ở giữa loài người, tự làm nên con đường đó cho mình. Những điều này thuộc về thời cổ xưa, và ngoài ra còn có sự phê chuẩn của tôn giáo toàn cầu.

XV. Anh sẽ nói gì? Anh tưởng tượng rằng rất nhiều và những người vĩ đại như vậy của thể chế cộng hòa chúng ta, những người đã hy sinh cuộc sống của họ vì sự tốt đẹp của nó, đã kỳ vọng điều gì? Anh có tin rằng họ nghĩ rằng tên tuổi của họ sẽ không tiếp tục vượt qua cuộc sống của họ không? Không ai từng đối mặt với cái chết vì đất nước mình trừ khi dưới một sự thuyết phục vững chắc về sự bất tử! Themistocles có thể đã sống thảnh thơi; Epaminondas cũng vậy; và, để không nhìn ra nước ngoài và trong số các bậc cổ nhân cho các trường hợp, chính bản thân tôi cũng vậy. Nhưng, bằng cách nào đó có một sự báo trước nào đó về các thế hệ tương lai bám chặt lấy trí óc chúng ta; và điều này vừa tồn tại vững chắc nhất, vừa xuất hiện rõ ràng nhất, ở những người có thiên tài cao nhất và tâm hồn vĩ đại nhất. Hãy tước đi điều này, và ai sẽ điên rồ đến mức dành cuộc đời mình giữa những nhọc nhằn và nguy hiểm? Tôi nói về những người nắm quyền lực. Mối quan tâm của thi sĩ là gì ngoại trừ việc được tôn vinh sau khi chết? Mục tiêu nào khác của những dòng này,

Hãy nhìn Ennius già ở đây, người từng

Tường thuật những chiến công vĩ đại của cha ông bạn?

Ông đang thách thức phần thưởng vinh quang từ những người mà chính tổ tiên của họ ông đã tôn vinh bằng thơ ca của mình. Và cùng một tinh thần đó ông nói, trong một đoạn khác,

Đừng ai lấy nước mắt làm đẹp cho tang lễ của tôi, vì tôi

Đòi hỏi từ các tác phẩm của mình một sự bất tử.

Tại sao tôi lại đề cập đến các thi sĩ? Chính các thợ cơ khí cũng thèm khát danh tiếng sau khi chết. Tại sao Phidias lại đưa một hình ảnh của chính mình vào khiên của Minerva, khi ông không được phép khắc tên mình lên đó? Các nhà triết học của chúng ta nghĩ gì về chủ đề này? Chẳng phải họ đặt tên mình vào chính những cuốn sách mà họ viết về sự coi thường vinh quang sao? Vậy nếu sự đồng ý toàn cầu là tiếng nói của bản chất, và nếu đó là ý kiến chung ở khắp mọi nơi rằng những người đã rời bỏ cuộc sống này vẫn còn quan tâm đến điều gì đó, chúng ta cũng phải đăng ký vào ý kiến đó. Và nếu chúng ta nghĩ rằng những người có năng lực và phẩm hạnh vĩ đại nhất nhìn thấy rõ ràng nhất vào quyền năng của bản chất, bởi vì chính họ là tác phẩm hoàn hảo nhất của bà, thì rất có khả năng là, như mọi người đàn ông vĩ đại đều đặc biệt lo lắng mang lại lợi ích cho hậu thế, có một điều gì đó mà chính ông ấy sẽ nhận thức được sau khi chết.

XVI. Nhưng như chúng ta được dẫn dắt bởi bản chất để nghĩ rằng có các vị Thần, và như chúng ta khám phá, bởi lý trí, họ thuộc loại mô tả nào, thì bởi sự đồng ý của tất cả các dân tộc, chúng ta được dẫn dắt để tin rằng linh hồn chúng ta sống sót; nhưng nơi trú ngụ của họ ở đâu, và họ rốt cuộc có tính cách gì, phải được học từ lý trí. Sự thiếu hụt bất kỳ lý trí chắc chắn nào để tranh luận đã làm gia tăng ý tưởng về các bóng ma bên dưới, và đến những nỗi sợ hãi mà anh có vẻ, không phải không có lý do, coi thường; vì khi thể xác chúng ta rơi xuống đất, và được bao phủ bởi đất (humus), từ đó chúng ta suy ra biểu đạt được chôn cất (humari), điều đó đã khiến con người tưởng tượng rằng người chết tiếp tục, trong phần còn lại của sự tồn tại của họ, ở dưới đất; ý kiến này đã kéo theo nhiều sai lầm, mà các thi sĩ đã làm gia tăng; vì nhà hát, vốn được lui tới bởi một đám đông lớn, trong đó có phụ nữ và trẻ em, thường bị ảnh hưởng lớn khi nghe những câu thơ tráng lệ như thế này,

Kìa! ở đây tôi đây, người khó lòng đạt tới nơi này,

Qua những ngọn núi đá và một vùng hoang vắng u sầu;

Qua những vách đá, mà những hòn đá sắc nhọn treo lơ lửng đáng sợ,

Nơi bóng tối kinh hoàng tự lan tỏa xung quanh.

Và sai lầm đã thịnh hành đến mức, mặc dù quả thực hiện tại nó có vẻ đối với tôi là đã được loại bỏ, rằng mặc dù con người biết rằng thể xác của người chết đã được thiêu, tuy nhiên họ đã hình dung những điều như vậy được thực hiện ở cõi âm mà không thể thực thi hay tưởng tượng được nếu không có thể xác; vì họ không thể hình dung làm sao các linh hồn rời bỏ thể xác có thể tồn tại; và, do đó, họ tìm kiếm một hình dáng hay hình ảnh nào đó. Đây là nguồn gốc của tất cả những tường thuật đó về người chết trong Homer. Đây là ý tưởng đã khiến bạn tôi Appius dựng nên thuật gọi hồn của ông ấy; và đây là cách mà ý tưởng đó về hồ Avernus, ở vùng lân cận của tôi, xuất hiện,

Từ đó các linh hồn có hình dáng không phân biệt,

Khoác trong bóng tối dày đặc, lao ra từ cánh cổng mở

Của Acheron, những bóng ma hão huyền của người chết.

Và họ nhất thiết phải làm cho những sự xuất hiện này nói, điều không thể nếu không có lưỡi, và vòm họng, và hàm, và không có sự giúp đỡ của phổi và mạn sườn, và không có một hình dáng hay hình hình nào đó; vì họ không thể nhìn thấy gì bằng duy nhất trí óc của họ — họ tham chiếu tất cả đến đôi mắt của họ. Rút trí óc khỏi các đối tượng cảm giác, và trừu tượng hóa tư tưởng của chúng ta khỏi những gì chúng ta quen thuộc, là một thuộc tính của thiên tài vĩ đại. Tôi quả thực bị thuyết phục rằng có nhiều người như vậy trong các thế hệ trước; nhưng Pherecydes người Syrian là người đầu tiên được ghi chép lại đã nói rằng linh hồn con người là bất tử, và ông là một nhà triết học cổ xưa vĩ đại, trong triều đại của người trùng tên với tôi Tullius. Đệ tử của ông Pythagoras đã củng cố đại thể ý kiến này, người đã đến Italy trong triều đại của Tarquin Mẫn Cán; và toàn bộ vùng đất đó được gọi là Đại Hy Lạp đã bị chiếm giữ bởi trường học của ông, và chính ông được giữ trong danh dự cao, và có thẩm quyền vĩ đại nhất; và phái Pythagoras trong nhiều thế hệ sau đó có uy tín lớn đến mức mọi học vấn đều được tin là bị giới hạn trong cái tên đó.

XVII. Nhưng tôi quay trở lại với các bậc cổ nhân. Họ hầu như không bao giờ đưa ra bất kỳ lý do nào cho ý kiến của mình ngoại trừ những gì có thể được giải thích bằng các con số hoặc các định nghĩa. Có tường thuật về Plato rằng ông đã đến Italy để làm quen với những người theo phái Pythagoras; và rằng khi ở đó, cùng với những người khác, ông đã làm quen với Archytas và Timæus, và học từ họ tất cả các nguyên lý của những người theo phái Pythagoras; và rằng ông không chỉ có cùng ý kiến với Pythagoras liên quan đến sự bất tử của linh hồn, mà ông còn đưa ra các lý do để ủng hộ nó; những lý do mà, nếu anh không có gì để chống lại, tôi sẽ bỏ qua, và không nói gì thêm lúc này về tất cả hy vọng về sự bất tử này.

A. Sao, ông sẽ bỏ tôi lại khi ông đã nâng cao sự kỳ vọng của tôi lên cao như vậy sao? Tôi thà, xin Hercules giúp tôi! bị nhầm lẫn với Plato, người mà tôi biết ông coi trọng biết bao, và người tôi tự ngưỡng mộ, từ những gì ông nói về ông ấy, còn hơn là đúng đắn với những người khác đó.

M. Tôi khen ngợi anh; vì quả thực, chính tôi có thể sẵn lòng bị nhầm lẫn trong sự đồng hành của ông ấy. Vậy chúng ta có nghi ngờ, như chúng ta làm trong các trường hợp khác (mặc dù tôi nghĩ ở đây có rất ít khoảng trống cho sự nghi ngờ trong trường hợp này, vì các nhà toán học chứng minh các thực tế cho chúng ta), rằng trái đất được đặt ở giữa thế giới, như nó vốn thế, một loại điểm, mà họ gọi là một κέντρον, được bao quanh bởi toàn bộ thiên đường; và rằng bản chất của bốn nguyên lý vốn là các nguyên nhân tạo ra mọi thứ là như vậy, rằng họ đã chia đều giữa họ các thành phần của mọi thể xác; hơn thế nữa, rằng các thể xác thuộc về trái đất và ẩm ướt được mang đi ở các góc bằng nhau bởi trọng lượng và sự nặng nề của chính chúng vào trái đất và biển; rằng hai phần khác gồm, một là lửa, và phần kia là không khí? Như hai phần trước được mang đi bởi trọng lượng và độ nặng của chúng vào vùng giữa của thế giới, thì những phần này, mặt khác, đi lên bằng các đường thẳng vào các vùng thiên giới, hoặc vì, do bản chất bên trong của chúng, chúng luôn nỗ lực đạt tới nơi cao nhất, hoặc vì các thể xác nhẹ hơn tự nhiên bị đẩy lùi bởi các thể xác nặng hơn; và vì đây là trường hợp rõ ràng, nó phải chứng minh theo sau rằng các linh hồn, một khi họ đã ra đi khỏi thể xác, cho dù họ là động vật (bằng thuật ngữ đó tôi có ý nói có khả năng hít thở) hay thuộc bản chất của lửa, phải cưỡi lên trên. Nhưng nếu linh hồn là một con số nào đó, như một số người khẳng định, nói với sự tinh vi hơn là sự rõ ràng, hoặc nếu nó là bản chất thứ năm đó, mà sẽ chính xác hơn khi nói rằng chúng ta chưa đưa ra một cái tên cho nó hơn là chúng ta không hiểu đúng về nó — vẫn vậy nó quá tinh khiết và hoàn hảo để không đi đến một khoảng cách lớn khỏi trái đất. Một điều gì đó thuộc loại này, vậy thì, chúng ta phải tin linh hồn là như vậy, để chúng ta không phạm phải sự điên rồ khi nghĩ rằng một nguyên lý hoạt động như vậy lại nằm chìm đắm trong trái tim hay bộ não; hoặc, như Empedocles muốn có nó, trong máu.

XVIII. Chúng ta sẽ bỏ qua Dicæarchus, cùng với người đồng thời và bạn đồng học của ông Aristoxenus, cả hai quả thực là những người uyên bác. Một trong số họ có vẻ chưa bao giờ thậm chí bị ảnh hưởng bởi nỗi đau buồn, vì ông không thể nhận thức rằng mình có một linh hồn; trong khi người kia quá hài lòng với các sáng tác âm nhạc của mình đến mức ông nỗ lực cho thấy một sự tương tự giữa chúng và các linh hồn. Bây giờ, chúng ta có thể hiểu sự hòa âm xuất hiện từ các khoảng cách của âm thanh, mà các sáng tác khác nhau của chúng gây ra nhiều sự hòa âm; nhưng tôi không thấy làm sao một sự sắp xếp của các thành viên, và hình dáng của một thể xác không có linh hồn, có thể gây ra sự hòa âm. Ông ấy tốt hơn, uyên bác như ông ấy vốn thế, hãy để những sự suy đoán này cho thầy của ông Aristotle, và đi theo nghề nghiệp của chính mình như một nhạc sĩ. Lời khuyên tốt được đưa ra cho ông ấy trong câu tục ngữ Hy Lạp đó,

Hãy áp dụng tài năng của bạn nơi bạn thành thạo nhất.

Tôi sẽ không có liên quan gì đến sự hội tụ ngẫu nhiên đó của các thể xác nhẹ và tròn riêng lẻ, mặc dù Democritus khăng khăng về việc chúng ấm áp và có hơi thở, tức là cuộc sống. Nhưng linh hồn này, vốn được hợp thành từ một trong hai trong bốn nguyên lý từ đó chúng ta khẳng định rằng mọi thứ được suy ra, là thuộc về không khí bốc cháy, như có vẻ đặc biệt là ý kiến của Panætius, và nhất thiết phải cưỡi lên trên; vì không khí và lửa không có xu hướng đi xuống, mà luôn đi lên; nên nếu chúng bị phân tán điều đó phải ở một khoảng cách nào đó khỏi trái đất; nhưng nếu chúng còn lại, và giữ vững trạng thái ban đầu của chúng, nó lại càng rõ ràng hơn rằng chúng phải được mang đi về phía thiên đường, và không khí thô và đặc này, vốn gần trái đất nhất, phải bị chia cắt và phá vỡ bởi chúng; vì linh hồn ấm hơn, hay đúng hơn là nóng hơn, không khí đó, cái mà tôi vừa gọi là thô và đặc: và điều này có thể được làm cho rõ ràng từ sự xem xét này — rằng thể xác chúng ta, được hợp thành từ loại nguyên lý thuộc về trái đất, trở nên ấm áp bởi sức nóng của linh hồn.

XIX. Chúng ta có thể thêm vào, rằng linh hồn càng có thể dễ dàng thoát khỏi không khí này, cái mà tôi đã nhiều lần gọi tên, và phá vỡ qua nó, bởi vì không có gì nhanh hơn linh hồn; không có sự nhanh chóng nào có thể so sánh với sự nhanh chóng của linh hồn, cái mà, nếu nó còn lại không bị hủ hóa và không có sự thay đổi, nhất thiết phải được mang đi với vận tốc như vậy để xuyên qua và chia cắt tất cả bầu khí quyển này, nơi mây, và mưa, và gió được hình thành, cái mà, do kết quả của sự bốc hơi từ trái đất, ẩm ướt và tăm tối: nhưng, khi linh hồn đã một khi lên trên vùng này, và rơi vào, và nhận ra, một bản chất giống như bản chất của chính mình, nó sau đó nghỉ ngơi trên các ngọn lửa được hợp thành từ một sự kết hợp của không khí mỏng và sức nóng mặt trời vừa phải, và không nhằm vào bất kỳ chuyến bay nào cao hơn; vì sau đó, sau khi nó đã đạt tới một sự nhẹ nhàng và sức nóng giống như của chính mình, nó không chuyển động nữa, mà còn lại ổn định, được cân bằng, như nó vốn thế, giữa hai trọng lượng bằng nhau. Đó, vậy thì, là chỗ ngồi tự nhiên của nó nơi nó đã xuyên qua đến một điều gì đó giống như chính nó, và nơi, không thiếu gì thêm, nó có thể được hỗ trợ và duy trì bởi cùng một dưỡng chất vốn nuôi dưỡng và duy trì các ngôi sao.

Bây giờ, như chúng ta thường được kích thích đến mọi loại ham muốn bởi sự kích thích của thể xác, và càng như vậy khi chúng ta nỗ lực cạnh tranh với những người đang sở hữu những gì chúng ta thèm khát, chúng ta chắc chắn sẽ hạnh phúc khi, được giải phóng khỏi thể xác đó, chúng ta đồng thời rũ bỏ được những ham muốn này và sự cạnh tranh này. Và điều mà chúng ta làm vào lúc này, khi, gạt bỏ mọi sự lo lắng khác, chúng ta tò mò kiểm tra và nhìn vào bất kỳ điều gì, chúng ta sẽ sau đó làm với sự tự do lớn hơn; và chúng ta sẽ tự áp dụng hoàn toàn vào sự thưởng ngoạn và kiểm tra các sự vật; bởi vì có một cách tự nhiên trong trí óc chúng ta một ham muốn không thể thỏa mãn nào đó để biết sự thật, và chính vùng đất đó nơi chúng ta sẽ tới, khi nó trao cho chúng ta một tri thức trực giác và dễ dàng hơn về các sự vật thiên giới, sẽ nâng cao các ham muốn của chúng ta sau tri thức. Vì chính vẻ đẹp này của thiên đường, như được nhìn thấy ngay cả ở đây trên trái đất, đã khai sinh ra triết học dân tộc và kế thừa đó (như Theophrastus gọi nó), cái vốn do đó được kích thích đến một ham muốn tri thức. Nhưng những người đó sẽ ở một mức độ đặc biệt nhất thưởng ngoạn triết học này, những người, trong khi họ chỉ là những cư dân của thế giới này và bị bao bọc trong bóng tối, vẫn khao khát nhìn vào những điều này bằng đôi mắt của trí óc họ.

XX. Vì nếu những người đó giờ đây nghĩ rằng họ đã đạt tới một điều gì đó những người đã nhìn thấy cửa biển Pontus, và những eo biển đó vốn được vượt qua bởi con tàu gọi là Argo, bởi vì,

Từ Argos cô ấy đã chở những người đàn ông được chọn lọc,

Ràng buộc để lấy lại Bộ lông cừu vàng, mồi ngon của họ;

hay những người đã nhìn thấy các eo biển của đại dương,

Nơi các làn sóng nhanh chia cắt các bờ biển lân cận

Của Châu Âu, và của Châu Phi;

quang cảnh thuộc loại nào anh tưởng tượng rằng đó sẽ là khi toàn bộ trái đất được mở ra cho tầm mắt chúng ta? và điều đó, nữa, không chỉ trong vị trí, hình dáng, và ranh giới của nó, cũng không phải chỉ những phần đó của nó vốn có thể ở được, mà cả những phần nằm không được canh tác, qua các cực điểm của sức nóng và sức lạnh mà chúng bị phơi ra; vì thậm chí không phải bây giờ với đôi mắt của chúng ta mà chúng ta thưởng ngoạn những gì chúng ta thấy, vì chính thể xác không có các giác quan; nhưng (như các nhà tự nhiên học, ay, và ngay cả các bác sĩ bảo đảm với chúng ta, những người đã mở thể xác chúng ta, và kiểm tra chúng) có những kênh được đục lỗ nào đó từ chỗ ngồi của linh hồn đến đôi mắt, đôi tai, và chiếc mũi; nên thường xuyên, khi bị ngăn cản bởi sự suy ngẫm, hoặc sức mạnh của một sự rối loạn thể xác nào đó, chúng ta không nghe cũng không thấy, mặc dù đôi mắt và đôi tai chúng ta đang mở và trong tình trạng tốt; nên chúng ta có thể dễ dàng hiểu rằng chính linh hồn nhìn và nghe, chứ không phải những phần đó, những phần vốn là, như nó vốn thế, chỉ là những chiếc cửa sổ cho linh hồn, bằng phương tiện của chúng, tuy nhiên, cô ấy không thể nhận thức điều gì, trừ khi cô ấy ở ngay tại chỗ, và tự nỗ lực. Làm sao chúng ta giải thích cho thực tế rằng bằng cùng một quyền năng suy nghĩ chúng ta hiểu được những điều khác biệt nhất — như màu sắc, hương vị, sức nóng, mùi hương, và âm thanh — những điều mà linh hồn không bao giờ có thể biết bởi năm người đưa tin của cô ấy, trừ khi mọi thứ được tham chiếu đến cô ấy, và cô ấy là thẩm phán duy nhất của tất cả? Và chúng ta chắc chắn sẽ khám phá những điều này ở một mức độ rõ ràng và hoàn hảo hơn khi linh hồn được tháo rời khỏi thể xác, và đã tới đích đến đó mà bản chất dẫn dắt cô ấy; vì hiện tại, mặc dù bản chất đã khéo léo chế tạo, với kỹ năng vĩ đại nhất, những kênh đó vốn dẫn từ thể xác đến linh hồn, tuy nhiên chúng, theo một cách nào đó hay cách khác, bị chặn lại với các thể xác thuộc về trái đất và đặc; nhưng khi chúng ta không là gì ngoài linh hồn, thì không gì sẽ can thiệp để ngăn cản sự nhìn thấy của chúng ta mọi thứ trong bản chất thực sự của nó và trong tính cách thực sự của nó.

XXI. Đó là sự thật, tôi có thể diễn giải sâu hơn, nếu chủ đề yêu cầu nó, về nhiều và các đối tượng đa dạng mà linh hồn sẽ được giải trí trong những vùng thiên giới đó; khi tôi suy ngẫm về những điều đó, tôi có xu hướng kinh ngạc trước sự táo bạo của một số nhà triết học, những người quá bị đánh gục với sự ngưỡng mộ trước tri thức của bản chất đến mức cảm ơn, theo một cách hoan hỷ, người phát minh và người thầy đầu tiên của triết học tự nhiên, và tôn kính ông như một vị Thần; vì họ tuyên bố rằng họ đã được giải thoát bởi phương tiện của ông khỏi những kẻ bạo chúa vĩ đại nhất, một sự khiếp sợ vĩnh cửu, và một nỗi sợ hãi làm phiền họ đêm ngày. Nỗi đe dọa này là gì — nỗi sợ hãi này? Bà lão nào ở đây quá yếu đuối đến mức sợ những điều này, những điều mà anh, quả thực, nếu anh không quen thuộc với triết học tự nhiên, sẽ đứng trong sự kinh hãi sao?

Mái nhà thiêng liêng của Acheron, sự kinh hãi

Của Orcus, các vùng đất nhợt nhạt của người chết.

Và nó có trở thành một nhà triết học khi khoe khoang rằng ông không sợ những điều này, và rằng ông đã khám phá chúng là giả không? Và từ điều này chúng ta có thể nhận thức ra những người này sắc sảo như thế nào bởi bản chất, những người, nếu họ bị bỏ lại không có bất kỳ sự chỉ dẫn nào, sẽ tin vào những điều này. Nhưng giờ đây họ chắc chắn đã có một sự thu nhận rất tốt trong học tập rằng khi ngày chết của họ tới, họ sẽ diệt vong hoàn toàn. Và nếu điều đó thực sự là trường hợp — vì tôi không nói điều gì theo cách nào — có gì dễ chịu hay vinh quang trong đó? Không phải tôi thấy bất kỳ lý do nào tại sao ý kiến của Pythagoras và Plato có thể không đúng; nhưng ngay cả mặc dù Plato không đưa ra lý do nào cho ý kiến của mình (hãy quan sát xem tôi coi trọng người đàn ông đó biết bao), trọng lượng thẩm quyền của ông ấy sẽ đè bẹp tôi; nhưng ông đã đưa ra quá nhiều lý do, đến mức ông xuất hiện đối với tôi là đã nỗ lực thuyết phục những người khác, và chắc chắn đã thuyết phục chính mình.

XXII. Nhưng có nhiều người lao động ở phía bên kia của câu hỏi, và kết án các linh hồn đến cái chết, như thể họ là những tội phạm bị kết án tử hình; họ cũng không có bất kỳ lý do nào khác để viện dẫn tại sao sự bất tử của linh hồn lại xuất hiện đối với họ là không thể tin được, ngoại trừ việc họ không thể hình dung linh hồn có thể là loại điều gì khi gỡ rối khỏi thể xác; giống như nếu họ có thể thực sự hình dung một ý tưởng chính xác về loại điều gì nó là, ngay cả khi nó ở trong thể xác; hình dáng của nó, và kích thước, và nơi trú ngụ là gì; nên nếu họ có thể có một cái nhìn đầy đủ về tất cả những gì giờ đây bị giấu kín khỏi họ trong một thể xác đang sống, họ không có ý tưởng liệu linh hồn có thể nhận biết được bởi họ hay không, hay liệu nó thuộc về một kết cấu tinh vi đến mức nó sẽ thoát khỏi tầm mắt của họ. Hãy để những người đó xem xét điều này, những người nói rằng họ không thể hình dung bất kỳ ý tưởng nào về linh hồn mà không có thể xác, và sau đó họ sẽ thấy liệu họ có thể hình dung bất kỳ ý tưởng đầy đủ nào về việc nó là gì khi nó ở trong thể xác không. Đối với bản thân tôi, khi tôi suy ngẫm về bản chất của linh hồn, nó xuất hiện đối với tôi là một câu hỏi phức tạp và tăm tối hơn nhiều để xác định tính cách của nó là gì trong khi nó ở trong thể xác — một nơi, như nó vốn thế, không thuộc về nó — hơn là tưởng tượng nó là gì khi nó rời bỏ nó, và đã tới bầu không khí tự do, cái vốn là, nếu tôi có thể nói như vậy, nơi trú ngụ thích hợp, của chính nó. Vì trừ khi chúng ta phải nói rằng chúng ta không thể hiểu tính cách hay bản chất của bất kỳ điều gì mà chúng ta chưa từng thấy, chúng ta chắc chắn có thể có khả năng hình dung một số khái niệm về Chúa, và về linh hồn thần thánh khi được giải thoát khỏi thể xác. Dicæarchus, quả thực, và Aristoxenus, bởi vì thật khó để hiểu sự tồn tại và chất và bản chất của linh hồn, đã khẳng định rằng không có điều gì gọi là linh hồn cả. Đó quả thực là điều khó khăn nhất có thể tưởng tượng để nhận thức linh hồn bởi linh hồn. Và điều này, không nghi ngờ gì, là ý nghĩa của huấn lệnh của Apollo, huấn lệnh khuyên mọi người hãy biết chính mình. Vì tôi không hiểu ý nghĩa của vị Thần là chúng ta nên hiểu các thành viên của chúng ta, tầm vóc của chúng ta, và hình dáng; vì chúng ta không đơn thuần là các thể xác; cũng không phải, khi tôi nói những điều này với anh, tôi đang tự xưng hô với thể xác của anh: khi, do đó, ông nói, “Hãy biết chính mình”, ông nói điều này, “Hãy tự thông báo về bản chất linh hồn của anh”; vì thể xác chỉ là một loại bình chứa, hay vật chứa của linh hồn, và bất kỳ điều gì linh hồn anh làm là hành động của chính anh. Biết linh hồn, vậy thì, trừ khi nó mang tính thần thánh, sẽ không phải là một huấn lệnh của trí tuệ tuyệt vời như vậy để được quy cho một vị Thần; nhưng ngay cả mặc dù linh hồn không nên biết bản chất của chính nó là gì, anh sẽ nói rằng nó thậm chí không nhận thức rằng nó tồn tại chút nào, hay rằng nó có chuyển động sao? Trên đó được gầy dựng lý do đó của Plato, cái vốn được giải thích bởi Socrates trong tác phẩm Phædrus, và được đưa vào bởi tôi, trong cuốn sách thứ sáu của tác phẩm Republic của tôi.

XXIII. “Cái luôn luôn chuyển động là vĩnh cửu; nhưng cái trao chuyển động cho một điều gì đó khác, và tự chuyển động bởi một nguyên nhân bên ngoài nào đó, khi chuyển động đó chấm dứt, nhất thiết phải chấm dứt tồn tại. Do đó, chỉ duy nhất cái tự chuyển động, bởi vì nó không bao giờ bị bỏ rơi bởi chính nó, có thể không bao giờ chấm dứt được chuyển động. Ngoài ra, nó là khởi đầu và nguyên lý của chuyển động đối với mọi thứ khác; nhưng bất kỳ điều gì là một nguyên lý không có khởi đầu, vì mọi thứ xuất hiện từ nguyên lý đó, và chính nó không thể nợ sự xuất hiện của nó cho bất kỳ điều gì khác; vì sau đó nó sẽ không phải là một nguyên lý nếu nó tiến triển từ bất kỳ điều gì khác. Nhưng nếu nó không có khởi đầu, nó sẽ không bao giờ có bất kỳ sự kết thúc nào; vì một nguyên lý một khi bị dập tắt không thể tự nó được khôi phục bởi bất kỳ điều gì khác, cũng như không thể tạo ra bất kỳ điều gì khác từ chính nó; vì lẽ mọi thứ nhất thiết phải xuất hiện từ một nguyên nhân đầu tiên nào đó. Và do đó nó xảy ra rằng nguyên lý đầu tiên của chuyển động phải xuất hiện từ điều đó cái vốn tự chuyển động bởi chính nó; và cái đó không thể có một khởi đầu lẫn một sự kết thúc của sự tồn tại của nó, vì nếu không toàn bộ thiên đường và trái đất sẽ bị lật đổ, và toàn bộ bản chất sẽ đứng yên, và không thể thu nhận bất kỳ lực nào bởi sự thúc đẩy của cái vốn có thể lần đầu tiên đưa nó vào chuyển động. Nhìn thấy, vậy thì, rằng nó rõ ràng rằng bất kỳ điều gì tự chuyển động là vĩnh cửu, có thể có bất kỳ sự nghi ngờ nào rằng linh hồn là như vậy không? Vì mọi thứ đều vô sinh cái vốn được chuyển động bởi một lực bên ngoài; nhưng mọi thứ hữu sinh đều được chuyển động bởi một lực bên trong, cái vốn cũng thuộc về chính nó. Vì đây là bản chất và quyền năng đặc biệt của linh hồn; và nếu linh hồn là điều duy nhất trong toàn bộ thế giới cái vốn có quyền năng tự chuyển động, thì chắc chắn nó chưa bao giờ có một khởi đầu, và do đó nó là vĩnh cửu.”

Bây giờ, nếu tất cả các trật tự thấp hơn của các nhà triết học (vì tôi nghĩ họ có thể được gọi như vậy những người bất đồng ý kiến với Plato và Socrates và trường học đó) hợp lực lượng của họ, họ không bao giờ có thể giải thích bất kỳ điều gì một cách thanh nhã như thế này, cũng như không thể hiểu được kết luận này được rút ra một cách tài tình như thế nào. Linh hồn, vậy thì, tự nhận thức mình có chuyển động, và đồng thời khi nó có được sự nhận thức đó, nó nhận thức rằng nó suy ra chuyển động đó từ quyền năng của chính nó, chứ không phải từ sự tác động của kẻ khác; và không thể có chuyện nó sẽ từng bỏ rơi chính nó. Và những tiền đề này buộc anh phải cho phép sự vĩnh cửu của nó, trừ khi anh có điều gì đó để nói chống lại chúng.

A. Chính tôi sẽ rất hài lòng không để thậm chí một tư tưởng nảy ra trong trí óc mình chống lại chúng, tôi quá có xu hướng nghiêng về ý kiến đó.

XXIV. M. Chà, vậy thì, tôi kêu gọi anh, nếu các lập luận chứng minh rằng có một điều gì đó thần thánh trong linh hồn con người không mạnh mẽ như nhau sao? Nhưng nếu tôi có thể giải thích cho nguồn gốc của những đặc tính thần thánh này, thì tôi cũng có thể có khả năng giải thích làm sao chúng có thể chấm dứt tồn tại; vì tôi nghĩ tôi có thể giải thích cho cách thức mà máu, và mật, và đờm, và xương, và dây thần kinh, và tĩnh mạch, và tất cả các chi, và hình dáng của toàn bộ thể xác, được đặt cùng nhau và tạo ra; ay, và ngay cả đối với chính linh hồn, nếu không có gì hơn trong nó ngoài một nguyên lý của cuộc sống, thì cuộc sống của một con người có thể được đặt trên cùng một cơ sở như cuộc sống của một cây nho hay bất kỳ cây nào khác, và được giải thích như được gây ra bởi bản chất; vì những điều này, như chúng ta nói, sống. Ngoài ra, nếu các ham muốn và sự ghét bỏ là tất cả những gì thuộc về linh hồn, nó sẽ chỉ có chúng chung với muông thú; nhưng nó có, ở nơi đầu tiên, trí nhớ, và điều đó, nữa, quá vô tận đến mức nhớ lại một số lượng không thể đếm được các hoàn cảnh tuyệt đối, cái mà Plato sẽ muốn là một sự nhớ lại của một cuộc sống trước đây; vì trong cuốn sách đó được đề tên Meno, Socrates hỏi một đứa trẻ một số câu hỏi trong hình học, liên quan đến việc đo một hình vuông; các câu trả lời của nó là những câu trả lời mà một đứa trẻ sẽ đưa ra, và tuy nhiên các câu hỏi quá dễ dàng, đến mức trong khi trả lời chúng, từng câu một, nó đến cùng một điểm như thể nó đã học hình học. Từ đó Socrates sẽ suy ra rằng học tập không gì hơn là sự nhớ lại; và chủ đề này ông giải thích chính xác hơn trong bài diễn thuyết mà ông đã có vào chính ngày ông chết; vì ông ở đó khẳng định rằng, bất kỳ ai, dường như hoàn toàn thất học, tuy nhiên có khả năng trả lời một câu hỏi tốt vốn được đề xuất cho mình, làm như vậy thể hiện rõ ràng rằng mình không phải đang học nó lúc đó, mà nhớ lại nó bởi trí nhớ của mình. Nơi nào khác nó cũng không được giải thích, làm sao trẻ em lại có được các khái niệm về nhiều và những điều quan trọng như vậy vốn được cấy vào, và, như nó vốn thế, được niêm phong lại, trong trí óc của chúng (cái mà người Hy Lạp gọi là ἔννοιαι), trừ khi linh hồn, trước khi nó đi vào thể xác, đã được tích trữ tốt với tri thức. Và vì nó không có sự tồn tại nào cả (vì đây là giáo lý không thay đổi của Plato, người sẽ không thừa nhận bất kỳ điều gì có một sự tồn tại thực sự cái vốn có một khởi đầu và một sự kết thúc, và người nghĩ rằng chỉ duy nhất cái thực sự tồn tại cái vốn thuộc về tính cách như những gì ông gọi là εἴδεα, và chúng ta gọi là loài), do đó, bị nhốt trong thể xác, nó không thể trong khi ở trong thể xác khám phá những gì nó biết; nhưng nó đã biết nó trước đây, và mang tri thức đi cùng với nó, nên chúng ta không còn ngạc nhiên trước tri thức rộng lớn và đa dạng của nó. Linh hồn cũng không khám phá rõ ràng các ý tưởng của nó vào lần đầu tiên tìm đến nơi trú ngụ này nơi mà nó quá không quen thuộc, và vốn ở trong một trạng thái quá rối loạn; nhưng sau khi đã làm mới và nhớ lại chính mình, nó sau đó bởi trí nhớ của mình khôi phục lại chúng; và, do đó, học tập hàm chứa không gì hơn là nhớ lại. Nhưng tôi ở một cách thức đặc biệt ngạc nhiên trước trí nhớ. Vì năng lực đó là gì mà bằng đó chúng ta nhớ? lực của nó là gì? bản chất của nó là gì? Tôi không đang điều tra trí nhớ vĩ đại như thế nào Simonides có thể được nói là đã có, hay Theodectes, hay Cineas đó người đã được gửi đến Rome như một sứ giả từ Pyrrhus; hay, trong thời hiện đại hơn, Charmadas; hay, rất gần đây, Metrodorus người Scepsis, hay Hortensius người đồng thời của chính chúng ta: Tôi đang nói về trí nhớ thông thường, và đặc biệt là về những người được sử dụng trong bất kỳ sự nghiên cứu hay nghệ thuật quan trọng nào, năng lực vĩ đại của trí óc họ thật khó để ước tính, nhiều điều như vậy họ nhớ.

XXV. Nếu anh hỏi điều này dẫn đến đâu, tôi nghĩ chúng ta có thể hiểu quyền năng đó là gì, và từ đâu chúng ta có nó. Nó chắc chắn không tiến triển từ trái tim, lẫn từ máu, lẫn từ bộ não, lẫn từ các nguyên tử; cho dù nó là không khí hay lửa, tôi không biết, tôi cũng không, như những người đó, xấu hổ, trong các trường hợp tôi vô học, thừa nhận rằng tôi là như vậy. Nếu trong bất kỳ vấn đề tăm tối nào khác tôi có khả năng khẳng định bất kỳ điều gì một cách tích cực, thì tôi sẽ thề rằng linh hồn, cho dù nó là không khí hay lửa, là thần thánh. Chỉ cần suy nghĩ, tôi xin anh: anh có thể tưởng tượng quyền năng tuyệt vời này của trí nhớ được gieo trong hay là một phần của sự hợp thành của trái đất, hay của bầu khí quyển tối tăm và u sầu này không? Mặc dù anh không thể hiểu nó là gì, tuy nhiên anh thấy loại điều gì nó là, hay nếu anh không hoàn toàn thấy điều đó, tuy nhiên anh chắc chắn thấy nó vĩ đại như thế nào. Vậy thì sao? Chúng ta sẽ tưởng tượng rằng có một loại thước đo trong linh hồn, vào đó, như vào một chiếc bình, tất cả những gì chúng ta nhớ được đổ vào sao? Điều đó quả thực vô lý; vì làm sao chúng ta hình dung bất kỳ ý tưởng nào về đáy, hay về hình dáng hay kiểu cách của một linh hồn như vậy? Và, lại nữa, làm sao chúng ta hình dung nó có khả năng chứa bao nhiêu? Chúng ta sẽ tưởng tượng linh hồn nhận các ấn tượng như sáp, và trí nhớ là các dấu vết của các ấn tượng được tạo ra trên linh hồn sao? Các ký tự của các từ ngữ là gì, các ký tự của chính các thực tế là gì? và lại nữa, sự vĩ đại phi thường đó là gì vốn có thể làm xuất hiện các ấn tượng của nhiều điều như vậy? Cuối cùng, quyền năng đó là gì vốn điều tra các điều thầm kín, và được gọi là sự phát minh và sự sáng chế? Người đàn ông đó có vẻ được hợp thành từ bản chất thuộc về trái đất, phàm tục, và diệt vong này không người đầu tiên phát minh ra tên gọi cho mọi thứ; cái mà, nếu anh tin Pythagoras, là đỉnh cao nhất của trí tuệ? hay người đã thu thập các cư dân phân tán của thế giới, và hợp nhất họ trong các mối liên kết của cuộc sống xã hội? hay người đã giới hạn các âm thanh của giọng nói, vốn thường dường như vô tận, vào các dấu vết của một vài chữ cái? hay người đầu tiên quan sát các đường đi của các hành tinh, các chuyển động tiến triển của chúng, các quy luật của chúng? Đây đều là những người vĩ đại. Nhưng họ còn vĩ đại hơn nữa những người đã phát minh ra thức ăn, và y phục, và nhà cửa; những người đã giới thiệu văn minh trong chúng ta, và vũ trang chúng ta chống lại các muông thú hoang dại; bởi họ chúng ta đã được làm cho có tính xã hội và bóng bẩy, và do đó tiến triển từ các sự cần thiết của cuộc sống đến các sự làm đẹp của nó. Vì chúng ta đã cung cấp các sự giải trí vĩ đại cho đôi tai bằng việc phát minh và điều chỉnh sự đa dạng và bản chất của các âm thanh; chúng ta đã học cách khảo sát các ngôi sao, không chỉ những ngôi sao cố định, mà cả những ngôi sao bị gọi sai là lang thang; và người đàn ông đã làm quen chính mình với tất cả các cuộc cách mạng và chuyển động của chúng được coi là một cách công bằng có một linh hồn giống như linh hồn của Đấng đó người đã tạo ra những ngôi sao đó trên thiên đường: vì khi Archimedes mô tả trong một hình cầu các chuyển động của mặt trăng, mặt trời, và năm hành tinh, ông đã làm chính điều đó như Thần của Plato, trong tác phẩm Timæus của ông, người đã tạo ra thế giới, gây ra một cuộc cách mạng để điều chỉnh các chuyển động khác biệt nhiều nhất có thể trong sự chậm chạp và vận tốc của chúng. Bây giờ, cho phép rằng những gì chúng ta thấy trong thế giới không thể được thực hiện nếu không có một vị Thần, Archimedes không thể bắt chước các chuyển động tương tự trong hình cầu của ông mà không có một linh hồn thần thánh.

XXVI. Đối với tôi, quả thực, nó xuất hiện rằng ngay cả những sự nghiên cứu đó vốn phổ biến hơn và trong sự coi trọng lớn hơn cũng không phải không có một số năng lượng thần thánh: nên tôi không coi rằng một thi sĩ có thể tạo ra một bài thơ nghiêm túc và cao siêu mà không có một số sự thúc đẩy thần thánh hoạt động trên trí óc ông ấy; tôi cũng không nghĩ rằng sự hùng biện, dồi dào với các từ ngữ vang rội và các câu nói màu mỡ, có thể chảy ra như thế này mà không có một điều gì đó vượt qua quyền năng thuần túy của con người. Nhưng đối với triết học, đó là cha mẹ của tất cả các nghệ thuật: chúng ta có thể gọi đó là gì ngoài việc, như Plato nói, một món quà, hay, như tôi diễn đạt nó, một sự phát minh, của các vị Thần? Chính điều này lần đầu tiên dạy chúng ta sự thờ phụng các vị Thần; và sau đó dẫn dắt chúng ta đến công lý, cái vốn xuất hiện từ việc chủng tộc con người được hình thành thành xã hội; và sau đó nó thấm nhuần chúng ta với sự khiêm tốn và sự nâng cao của linh hồn. Chính điều này đã giải tán bóng tối khỏi linh hồn chúng ta, như nó được xua tan khỏi đôi mắt chúng ta, cho phép chúng ta thấy tất cả những điều ở trên hay ở dưới, khởi đầu, kết thúc, và giữa của mọi thứ. Tôi bị thuyết phục hoàn toàn rằng cái có thể thực hiện nhiều và những điều vĩ đại như vậy phải là một quyền năng thần thánh. Vì trí nhớ của các từ ngữ và các hoàn cảnh là gì? Sự phát minh, nữa, là gì? Chắc chắn chúng là những điều mà hơn chúng không gì vĩ đại hơn có thể được hình dung trong một vị Thần! Vì tôi không tưởng tượng các vị Thần được thích thú với mật hoa và ambrosia, hay với Juventas dâng họ một chiếc cốc; tôi cũng không đặt bất kỳ niềm tin nào vào Homer, người nói rằng Ganymede đã bị mang đi bởi các vị Thần vì lý do vẻ đẹp của ông ấy, để trao cho Jupiter rượu của ông ấy. Những lý do quá yếu ớt để làm tổn thương Laomedon như vậy! Đây chỉ là những sự phát minh thuần túy của Homer, người đã trao cho các vị Thần của ông những sự không hoàn hảo của con người. Tôi thà rằng ông đã trao cho con người những sự hoàn hảo của các vị Thần! những sự hoàn hảo đó, tôi có ý nói, của sức khỏe không bị gián đoạn, trí tuệ, sự phát minh, trí nhớ. Do đó linh hồn (cái vốn là, như tôi nói, thần thánh) là, như Euripides diễn đạt một cách táo bạo hơn, một vị Thần. Và do đó, nếu thần tính là không khí hay lửa, linh hồn con người cũng như vậy; vì như bản chất thiên giới đó không có gì thuộc về trái đất hay ẩm ướt về nó, theo cách thức tương tự linh hồn con người cũng tự do khỏi cả hai phẩm chất này: nhưng nếu nó thuộc về loại bản chất thứ năm đó, lần đầu tiên được giới thiệu bởi Aristotle, thì cả các vị Thần lẫn các linh hồn đều thuộc về cùng một loại.

XXVII. Vì đây là ý kiến của tôi, tôi đã giải thích nó trong chính những từ ngữ này, trong cuốn sách của tôi về Consolation. Nguồn gốc của linh hồn con người không được tìm thấy trên trái đất, vì không có gì trong linh hồn thuộc bản chất hỗn hợp hay đặc, hay có bất kỳ sự xuất hiện nào của việc được hình thành hay tạo ra từ trái đất; không có gì thậm chí ẩm ướt, hay thuộc không khí, hay thuộc lửa. Vì có gì trong các bản chất thuộc loại đó cái vốn có quyền năng của trí nhớ, sự hiểu biết, hay tư tưởng? cái vốn có thể nhớ lại quá khứ, tiên đoán tương lai, và hiểu được hiện tại? vì những khả năng này bị giới hạn ở các sinh linh thần thánh; chúng ta cũng không thể khám phá bất kỳ nguồn nào từ đó con người có thể suy ra chúng, ngoại trừ từ Chúa. Do đó có một bản chất và quyền năng đặc biệt trong linh hồn, phân biệt khỏi những bản chất đó vốn được biết đến nhiều hơn và quen thuộc hơn với chúng ta. Bất kỳ điều gì, vậy thì, cái đó là cái suy nghĩ, và cái có sự hiểu biết, và sự chí nguyện, và một nguyên lý của cuộc sống, là thuộc về thiên giới và thần thánh, và vì lý do đó nhất thiết phải vĩnh cửu; chính Chúa cũng vậy, Người được biết đến với chúng ta, không thể được hình dung là bất kỳ điều gì khác ngoại trừ một linh hồn tự do và không bị vướng bận, phân biệt khỏi mọi sự kết tụ phàm tục, quen thuộc với mọi thứ, và trao chuyển động cho mọi thứ, và chính nó được ban cho chuyển động vĩnh cửu.

XXVIII. Thuộc loại và bản chất này là trí tuệ của con người. Vậy thì, trí tuệ này ngồi ở đâu, và nó thuộc về tính cách nào? Trí tuệ của chính anh ở đâu, và tính cách của nó là gì? Anh có khả năng nói không? Nếu tôi không có các năng lực để biết tất cả những gì tôi có thể mong muốn biết, anh sẽ thậm chí không cho phép tôi sử dụng những năng lực mà tôi có sao? Linh hồn không có năng lực đầy đủ để hiểu chính nó; tuy nhiên, linh hồn, giống như đôi mắt, mặc dù nó không có cái nhìn phân biệt về chính nó, thấy những điều khác: nó không thấy (cái vốn thuộc tầm quan trọng ít nhất) hình dáng của chính nó; có lẽ không, mặc dù nó có khả năng có thể; nhưng chúng ta sẽ bỏ qua điều đó: nhưng nó chắc chắn thấy rằng nó có sức mạnh, sự sáng suốt, trí nhớ, chuyển động, và vận tốc; đây đều là những đặc tính vĩ đại, thần thánh, vĩnh cửu. Sự xuất hiện của nó là gì, hay nó cư ngụ ở đâu, thậm chí không cần thiết để điều tra. Như khi chúng ta thưởng ngoạn, đầu tiên hết, vẻ đẹp và sự xuất hiện rực rỡ của thiên đường; thứ hai, vận tốc vĩ đại của các cuộc cách mạng của nó, vượt qua quyền năng tưởng tượng của chúng ta để hình dung; sau đó sự thăng trầm của đêm và ngày, sự chia cắt bốn phần của các mùa, quá phù hợp với việc làm chín các quả của trái đất, và nhiệt độ của thể xác chúng ta: và sau đó chúng ta nhìn lên mặt trời, người điều tiết và người cai trị tất cả những điều này; và thưởng ngoạn mặt trăng, bởi sự gia tăng và giảm bớt ánh sáng của nó, đánh dấu, như nó vốn thế, và bổ nhiệm các ngày thiêng liêng của chúng ta; và thấy năm hành tinh, được mang đi trên cùng một vòng tròn, được chia thành mười hai phần, bảo tồn cùng một đường đi với sự đều đặn vĩ đại nhất, nhưng với các chuyển động hoàn toàn không giống nhau giữa chính họ; và sự xuất hiện hàng đêm của thiên đường, được tô điểm ở tất cả các bên với các ngôi sao; sau đó, quả địa cầu của trái đất, được nâng lên trên biển, và được đặt ở trung tâm của vũ trụ, được cư ngụ và canh tác ở hai cực điểm đối diện của nó, một trong số đó, nơi trú ngụ của chúng ta, được đặt về phía cực bắc, dưới bảy ngôi sao:

Nơi các luồng gió bắc lạnh giá, với âm thanh kinh hoàng,

Làm cứng thành băng mặt đất bao phủ tuyết;

phần khác, về phía cực nam, là không được biết đến với chúng ta, nhưng được gọi bởi người Hy Lạp là ἀντίχθονα: các phần khác không được canh tác, bởi vì họ hoặc bị đóng băng với cái lạnh, hoặc bị thiêu rụi với sức nóng; nhưng nơi chúng ta cư ngụ, nó không bao giờ thất bại, trong mùa của nó,

Trao một bầu trời bình yên, để ra lệnh cho các hàng cây

Đảm nhận sự xanh tươi sống động của các chiếc lá của chúng:

Cây nho nảy mầm, và, vui mừng, trong các chồi của nó,

Tiên đoán mùa thu hoạch quả đang đến gần:

Lúa mì chín hát ca, trong khi tất cả xung quanh

Các dòng suối đầy trôi đi; và hoa tô điểm mặt đất:

sau đó vô số gia súc, phần phù hợp làm thức ăn, phần để cày xới mặt đất, những con khác để chở chúng ta, hoặc để mặc cho chúng ta; và chính con người, được tạo ra, như nó vốn thế, trên mục đích để thưởng ngoạn thiên đường và các vị Thần, và trả sự thờ phụng cho họ: cuối cùng, toàn bộ trái đất, và các vùng biển mở rộng rộng lớn, được trao cho sự sử dụng của con người. Khi chúng ta thưởng ngoạn những điều này và vô số những điều khác, chúng ta có thể nghi ngờ rằng họ có một sinh linh nào đó người chủ trì họ, hay đã tạo ra họ (nếu, quả thực, họ đã được tạo ra, như là ý kiến của Plato, hay nếu, như Aristotle nghĩ, họ là vĩnh cửu), hay người trong mọi trường hợp là người điều tiết của một công trình bao la như vậy và một sự chúc phúc vĩ đại như vậy cho con người không? Do đó, mặc dù anh không thấy linh hồn con người, như anh không thấy Thượng đế, tuy nhiên, như bởi sự thưởng ngoạn các tác phẩm của Người anh được dẫn dắt để thừa nhận một vị Thần, nên anh phải sở hữu quyền năng thần thánh của linh hồn, từ việc nó nhớ các sự vật, từ sự phát minh của nó, từ sự nhanh chóng của chuyển động của nó, và từ tất cả vẻ đẹp của phẩm hạnh. Vậy thì, nó ngồi ở đâu, anh sẽ nói?

XXIX. Theo ý kiến của tôi, nó ngồi ở đầu, và tôi có thể đưa ra cho anh các lý do cho việc tôi áp dụng ý kiến đó. Hiện tại, hãy để linh hồn cư ngụ nơi nó muốn, anh chắc chắn có một linh hồn trong anh. Nếu anh hỏi bản chất của nó là gì? Nó có một bản chất đặc biệt của riêng nó; nhưng thừa nhận nó gồm có lửa, hay không khí, nó không ảnh hưởng đến câu hỏi hiện tại. Chỉ cần quan sát điều này, rằng như anh bị thuyết phục có một vị Thần, mặc dù anh không biết Người cư ngụ ở đâu, và Người thuộc hình dáng nào; theo cách thức tương tự anh nên cảm thấy bảo đảm rằng anh có một linh hồn, mặc dù anh không thể thỏa mãn chính mình về nơi cư ngụ của nó, lẫn hình dáng của nó. Trong tri thức của chúng ta về linh hồn, trừ khi chúng ta dốt dặc một cách thô bạo về triết học tự nhiên, chúng ta không thể không hài lòng rằng nó không có gì ngoài những gì đơn giản, không hỗn hợp, không hợp thành, và duy nhất; và nếu điều này được thừa nhận, thì nó không thể bị tách rời, lẫn bị chia cắt, lẫn bị phân tán, lẫn bị chia phần, và do đó nó không thể diệt vong; vì diệt vong hàm chứa một sự tách rời, một sự chia cắt, một sự tan rã, của những phần đó vốn, trong khi nó tồn tại, được giữ cùng nhau bởi một mối liên kết nào đó. Và nó là vì ông bị ảnh hưởng bởi những lý do này và tương tự mà Socrates không tìm kiếm bất kỳ ai để bào chữa cho mình khi ông bị buộc tội, lẫn không cầu xin bất kỳ sự thuận lợi nào từ các thẩm phán của mình, mà duy trì một sự tự do nam tính, cái vốn là kết quả không phải của sự kiêu ngạo, mà của sự vĩ đại thực sự của linh hồn ông; và vào ngày cuối cùng của cuộc đời ông, ông đã giữ một bài diễn thuyết dài về chủ đề này; và một vài ngày trước đó, khi ông có thể đã dễ dàng được giải thoát khỏi sự giam giữ của mình, ông từ chối làm như vậy; và khi ông đã hầu như thực sự cầm lấy chiếc cốc chết người đó, ông đã nói với phong thái của một người không bị buộc phải chết, mà đi lên thiên đường.

XXX. Vì quả thực ông nghĩ bản thân mình như vậy, và do đó ông nói: “Rằng có hai con đường, và rằng các linh hồn con người, khi họ ra đi khỏi thể xác, đi các con đường khác nhau; vì những linh hồn vốn bị ô nhiễm với các thói xấu vốn phổ biến với con người, và những linh hồn đã tự trao bản thân hoàn toàn cho các ham muốn không tinh khiết, và đã trở nên quá mù quáng bởi chúng đến mức đã quen thuộc bản thân với mọi kiểu dâm đắm và đồi quỵ, hoặc đã đề ra các mưu đồ đáng tởm cho sự sụp đổ của đất nước mình, đi một con đường xa rời con đường dẫn đến hội đồng của các vị Thần; nhưng họ những người đã bảo tồn bản thân thẳng thắn và khiết tịnh, và tự do khỏi sự lây nhiễm nhỏ nhất của thể xác, và đã luôn giữ bản thân càng xa càng tốt khỏi nó, và trong khi ở trên trái đất đã đề xuất cho bản thân như một mẫu hình cuộc sống của các vị Thần, tìm thấy sự quay trở lại với những sinh linh đó từ những người họ đã đến một con đường dễ dàng.” Do đó, ông tranh luận, rằng tất cả những người tốt và khôn ngoan nên lấy ví dụ từ những con chim thiên nga, những con được coi là thiêng liêng đối với Apollo, không phải không có lý do, mà đặc biệt bởi vì chúng có vẻ đã nhận được món quà bói toán từ ông, bởi đó, tiên đoán hạnh phúc biết bao khi chết, chúng rời bỏ thế giới này với tiếng hát và niềm vui. Cũng không ai có thể nghi ngờ về điều này, trừ khi nó xảy ra với chúng ta những người suy nghĩ với sự chăm sóc và lo lắng về linh hồn (như thường là trường hợp với những người nhìn đăm đắm vào mặt trời lặn), để mất tầm mắt của nó hoàn toàn; và do đó mắt của trí óc, nhìn chính nó, đôi khi trở nên mờ nhạt, và vì lý do đó chúng ta trở nên lơ đễnh trong sự thưởng ngoạn của chúng ta. Do đó lý trí của chúng ta được mang đi xung quanh, bị quấy rầy với những sự nghi ngờ và lo lắng, không biết làm sao để tiến triển, mà đo đạc ngược trở lại những dải đất nguy hiểm đó cái mà nó đã đi qua, giống như một con thuyền bị quăng quật trên đại dương vô tận. Nhưng những sự suy ngẫm này thuộc về thời gian dài trước đây, và được mượn từ người Hy Lạp. Nhưng Cato đã rời bỏ thế giới này theo một cách thức như thể ông vui mừng rằng ông đã tìm thấy một cơ hội để chết; vì vị Thần đó người chủ trì trong chúng ta cấm sự ra đi của chúng ta khỏi đây mà không có sự cho phép của Người. Nhưng khi chính Chúa đã trao cho chúng ta một nguyên nhân chính đáng, như trước đây Người đã làm cho Socrates, và gần đây cho Cato, và thường xuyên cho nhiều người khác — trong một trường hợp như vậy, chắc chắn mọi người có lý trí sẽ vui vẻ đổi bóng tối này cho ánh sáng đó: không phải rằng ông sẽ dùng lực phá vỡ khỏi các xiềng xích vốn giữ ông, vì điều đó sẽ chống lại luật pháp; mà, giống như một người được giải thoát khỏi tù bởi một quan chức hay một số thẩm quyền hợp pháp, nên ông cũng sẽ bước đi, được giải thoát và xuất viện bởi Chúa. Vì toàn bộ cuộc sống của một nhà triết học là, như nhà triết học tương tự nói, một sự suy ngẫm về cái chết.

XXXI. Vì điều gì khác nữa là cái chúng ta làm, khi chúng ta gọi trí óc mình khỏi niềm vui, tức là nói, khỏi sự chú ý của chúng ta đến thể xác, khỏi việc quản lý tài sản tư gia của chúng ta, cái vốn là một loại nữ tỳ và người phục vụ của thể xác, hoặc khỏi các nghĩa vụ thuộc bản chất công cộng, hoặc khỏi tất cả các công việc nghiêm túc khác bất kỳ điều gì? Điều gì khác nữa là cái, tôi nói, chúng ta làm, ngoài việc mời linh hồn suy ngẫm về chính nó? buộc nó trò chuyện với chính nó, và, càng xa càng tốt, phá vỡ sự quen biết của nó với thể xác? Bây giờ, tách rời linh hồn khỏi thể xác, là học cách chết, và không gì khác bất kỳ điều gì. Cho nên hãy nhận lời khuyên của tôi; và hãy để chúng ta suy ngẫm về điều này, và tách rời bản thân càng xa càng tốt khỏi thể xác, tức là nói, hãy để chúng ta quen thuộc bản thân để chết. Điều này sẽ là thưởng ngoạn một cuộc sống giống như cuộc sống của thiên đường ngay cả trong khi chúng ta còn lại trên trái đất; và khi chúng ta được mang tới đó và được giải thoát khỏi các mối liên kết này, linh hồn chúng ta sẽ thực hiện sự tiến triển của họ với sự nhanh chóng hơn; vì tinh thần vốn đã luôn bị công xích bởi các mối liên kết của thể xác, ngay cả khi nó được gỡ rối, tiến lên chậm hơn, giống như những người đã đeo xiềng xích thực sự trong nhiều năm: nhưng khi chúng ta đã tới sự giải phóng này khỏi các mối liên kết của thể xác, thì quả thực chúng ta sẽ bắt đầu sống, vì cuộc sống hiện tại này thực sự là cái chết, cái mà tôi có thể nói một lượng lớn trong sự than khóc nếu tôi chọn.

A. Ông đã than khóc nó đầy đủ trong cuốn sách của ông về Consolation; và khi tôi đọc cuốn đó, không có gì mà tôi mong muốn hơn là rời bỏ những điều này; nhưng sự mong muốn đó được gia tăng một lượng lớn bởi những gì tôi vừa mới nghe.

M. Thời gian sẽ tới, và thời gian đó sớm thôi, và với sự chắc chắn bằng nhau, cho dù anh treo lại hay lao về phía trước; vì thời gian bay đi. Nhưng cái chết quá xa khỏi việc là một điều xấu, như nó gần đây xuất hiện đối với anh, đến mức tôi có xu hướng nghi ngờ, không phải rằng không có điều gì khác cái vốn là một điều xấu cho con người, mà đúng hơn là không có điều gì khác cái vốn là một điều tốt thực sự cho ông ấy; nếu, ít nhất, nó là đúng rằng chúng ta trở nên do đó hoặc chính các vị Thần, hoặc những người bạn đồng hành của các vị Thần. Tuy nhiên, điều này không thuộc tầm quan trọng lớn như vậy, vì có một số người trong chúng ta ở đây những người sẽ không cho phép điều này. Nhưng tôi sẽ không ngừng thảo luận về điểm này cho đến khi tôi đã thuyết phục anh rằng cái chết có thể, trên không sự xem xét nào bất kỳ điều gì, là một điều xấu.

A. Làm sao nó có thể, sau những gì tôi giờ đây biết?

M. Anh có hỏi làm sao nó có thể không? Có vô số những người tranh luận mâu thuẫn với điều này; và những người đó không chỉ là những người theo phái Epicurus, những người tôi coi trọng rất ít, mà, bằng cách nào đó, hầu như mọi nhà văn học; và, trên tất cả, Dicæarchus yêu thích của tôi rất hăng hái trong việc phản đối sự bất tử của linh hồn: vì ông đã viết ba cuốn sách, được đề tên Lesbiacs, bởi vì bài diễn thuyết được tổ chức tại Mitylene, trong đó ông tìm cách chứng minh rằng các linh hồn là phàm tục. Những người Khắc kỷ, mặt khác, cho phép chúng ta một thời gian dài để thưởng ngoạn như cuộc đời của một con quạ; họ cho phép linh hồn tồn tại một thời gian dài, nhưng chống lại sự vĩnh cửu của nó.

XXXII. Vậy anh có sẵn lòng nghe lý do tại sao, ngay cả khi cho phép điều này, cái chết không thể là một điều xấu không.

A. Như ông muốn; nhưng không ai sẽ đuổi tôi khỏi niềm tin của tôi vào sự phàm tục.

M. Tôi khen ngợi anh, quả thực, vì điều đó; mặc dù chúng ta không nên quá tự tin trong niềm tin của chúng ta về bất kỳ điều gì; vì chúng ta thường xuyên bị quấy rầy bởi một kết luận tinh vi nào đó. Chúng ta nhượng bộ và thay đổi các ý kiến của chúng ta ngay cả trong những điều vốn rõ ràng hơn điều này; vì trong điều này chắc chắn có một số sự tăm tối. Do đó, nếu bất kỳ điều gì thuộc loại này xảy ra, thật tốt khi ở trên sự canh giữ của chúng ta.

A. Ông đúng trong điều đó; nhưng tôi sẽ cung cấp chống lại bất kỳ tai nạn nào.

M. Anh có bất kỳ sự phản đối nào đối với việc chúng ta giải tán các bạn bè của chúng ta những người Khắc kỷ không — những người đó, tôi có ý nói, những người cho phép rằng các linh hồn tồn tại sau khi họ đã rời bỏ thể xác, nhưng tuy nhiên phủ nhận rằng họ tồn tại mãi mãi?

A. Chúng ta chắc chắn có thể giải tán sự xem xét về những người đó những người thừa nhận điều vốn là điểm khó khăn nhất trong toàn bộ câu hỏi, cụ thể là một linh hồn có thể tồn tại độc lập với thể xác, và tuy nhiên từ chối ban cho điều vốn không chỉ rất dễ tin, mà thậm chí là hậu quả tự nhiên của sự nhượng bộ mà họ đã tạo ra — rằng nếu họ có thể tồn tại trong một khoảng thời gian dài; họ hầu như chắc chắn làm như vậy mãi mãi.

M. Anh nắm bắt đúng; đó chính là điều đó. Vậy chúng ta sẽ trao bất kỳ tín nhiệm nào cho Panætius, khi ông bất đồng ý kiến với thầy mình, Plato sao? người mà ông ở khắp mọi nơi gọi là thần thánh, khôn ngoan nhất, thiêng liêng nhất trong con người, Homer của các nhà triết học, và người mà ông không phản đối trong không điều gì ngoại trừ ý kiến đơn lẻ này về sự bất tử của linh hồn: vì ông duy trì những gì không ai phủ nhận, rằng mọi thứ vốn đã được sinh ra sẽ diệt vong, và rằng ngay cả các linh hồn cũng được sinh ra, điều mà ông nghĩ xuất hiện từ sự tương tự của họ với những người của những người đàn ông đã sinh ra họ; vì sự tương tự đó rõ ràng trong sự chuyển hướng trí óc của họ cũng như trong thể xác của họ. Nhưng ông đưa ra một lý do khác — rằng không có gì vốn nhận thức được nỗi đau cái vốn cũng không dễ bị bệnh tật; nhưng bất kỳ điều gì dễ bị bệnh tật phải dễ bị cái chết. Linh hồn nhận thức được nỗi đau, do đó nó dễ bị diệt vong.

XXXIII. Những lập luận này có thể bị bác bỏ; vì chúng tiến triển từ việc ông không biết rằng, trong khi thảo luận về chủ đề sự bất tử của linh hồn, ông đang nói về trí tuệ, cái vốn tự do khỏi mọi chuyển động đục ngầu; chứ không phải về những phần đó của trí óc trong đó những rối loạn đó, sự tức giận và dục vọng, có chỗ ngồi của họ, và cái mà người mà ông đang phản đối, khi ông tranh luận như thế này, tưởng tượng là phân biệt và tách rời khỏi trí óc. Bây giờ sự tương tự này nổi bật hơn ở muông thú, những linh hồn của họ trống rỗng lý trí. Nhưng sự tương tự ở con người gồm nhiều hơn trong sự hình thành của các thể xác: và nó không phải thuộc tầm quan trọng nhỏ trong thể xác nào linh hồn được đặt vào; vì có nhiều điều vốn phụ thuộc vào thể xác cái trao một cựa gà cho linh hồn, nhiều điều làm cùn nó. Aristotle, quả thực, nói rằng tất cả những người có thiên tài vĩ đại đều u sầu; nên tôi sẽ không không hài lòng khi đã đần độn hơn một chút so với tôi hiện tại. Ông đưa ra ví dụ nhiều người, và, như thể nó là vấn đề thực tế, đưa ra các lý do của mình cho nó. Nhưng nếu quyền năng của những điều đó tiến triển từ thể xác quá vĩ đại đến mức ảnh hưởng đến trí óc (vì chúng là những điều, bất kể chúng là gì, gây ra sự tương tự này), điều đó vẫn không nhất thiết chứng minh tại sao một sự tương tự của các linh hồn lại nên được sinh ra. Tôi không nói gì về các trường hợp không tương tự. Tôi ước Panætius có thể ở đây: ông đã sống với Africanus. Tôi sẽ điều tra ông về người nào trong gia đình ông cháu trai của anh trai Africanus giống? Có khả năng ông ấy về con người có thể đã giống cha mình; nhưng trong phong thái ông ấy quá giống mọi người đồi quỵ, bị bỏ rơi đến mức không thể giống hơn nữa. Người cháu của P. Crassus, người đàn ông khôn ngoan và hùng biện và lừng lẫy nhất đó, giống ai? Hay các họ hàng và con trai của nhiều người tuyệt vời khác, những cái tên của họ không có dịp để đề cập? Nhưng chúng ta đang làm gì? Chúng ta đã quên rằng mục đích của chúng ta là, khi chúng ta đã nói đủ về chủ đề sự bất tử của linh hồn, chứng minh rằng, ngay cả khi linh hồn có diệt vong, sẽ có, ngay cả khi đó, không có điều xấu nào trong cái chết sao?

A. Tôi nhớ nó rất rõ; nhưng tôi không có sự không thích nào đối với việc ông đi chệch một chút khỏi thiết kế ban đầu của ông, trong khi ông đang nói về sự bất tử của linh hồn.

M. Tôi nhận thấy anh có các tư tưởng cao siêu, và hăng hái cưỡi lên thiên đường.

XXXIV. Chính bản thân tôi không phải không có hy vọng rằng số phận của chúng ta có thể là như vậy. Nhưng hãy thừa nhận những gì họ khẳng định — rằng linh hồn không tiếp tục tồn tại sau khi chết.

A. Nếu nó nên như vậy, tôi thấy rằng chúng ta khi đó bị tước đoạt các hy vọng về một cuộc sống hạnh phúc hơn.

M. Nhưng có gì thuộc về điều xấu trong ý kiến đó? Vì hãy để linh hồn diệt vong như thể xác: có bất kỳ nỗi đau nào, hay quả thực bất kỳ cảm giác nào chút nào, trong thể xác sau khi chết không? Không ai, quả thực khẳng định điều đó; mặc dù Epicurus cáo buộc Democritus nói như vậy; nhưng các đệ tử của Democritus phủ nhận điều đó. Do đó, không có cảm giác nào còn lại trong linh hồn; vì linh hồn không ở đâu cả. Vậy thì, điều xấu ở đâu? vì không có gì ngoài hai điều này. Có phải vì sự tách rời thuần túy của linh hồn và thể xác không thể được thực hiện mà không có nỗi đau? Nhưng ngay cả nếu điều đó nên được ban cho, nỗi đau đó phải nhỏ biết bao! Tuy nhiên tôi nghĩ rằng điều đó là giả, và rằng nó rất thường xuyên không đi kèm bởi bất kỳ cảm giác nào chút nào, và đôi khi thậm chí đi kèm với niềm vui; nhưng chắc chắn toàn bộ phải rất không đáng kể, bất kể nó là gì, vì nó là tức thời. Điều làm chúng ta không thoải mái, hay đúng hơn trao cho chúng ta nỗi đau, là việc rời bỏ tất cả những điều tốt đẹp của cuộc sống. Nhưng chỉ cần xem xét nếu tôi không thể thích hợp hơn khi nói, rời bỏ các điều xấu của cuộc sống; chỉ là không có lý do nào cho tôi giờ đây bận rộn trong việc than khóc cuộc sống của con người, và tuy nhiên tôi có thể, với lý do rất tốt. Nhưng dịp gì ở đây, khi những gì tôi đang lao động để chứng minh là không ai khốn khổ sau khi chết, làm cho cuộc sống khốn khổ hơn bằng cách than khóc về nó? Tôi đã làm điều đó trong cuốn sách mà tôi đã viết, để an ủi chính mình tốt nhất có thể. Nếu, vậy thì, sự điều tra của chúng ta là sau sự thật, cái chết rút chúng ta khỏi điều xấu, chứ không phải khỏi điều tốt. Chủ đề này quả thực quá dồi dào được xử lý bởi Hegesias, nhà triết học phái Cyrenaic, đến mức ông được nói là đã bị cấm bởi Ptolemy khỏi việc phân phát các bài giảng của mình trong các trường học, bởi vì một số người nghe ông đã tự kết liễu đời mình. Cũng có một bài thơ ngắn của Callimachus về Cleombrotus người Ambracia, người, không có bất kỳ tai họa nào xảy ra với ông, như ông nói, đã tự ném mình từ một bức tường xuống biển, sau khi ông đã đọc một cuốn sách của Plato. Cuốn sách tôi đã đề cập của Hegesias đó được gọi là Ἀποκαρτερτερῶν, hay “Người tự làm mình chết khát”, trong đó một người đàn ông được đại diện là tự sát bằng sự chết khát, cho đến khi ông bị ngăn cản bởi bạn bè mình, để trả lời họ ông tính toán tất cả các nỗi khốn khổ của cuộc sống con người. Tôi có thể làm tương tự, mặc dù không đầy đủ như ông ấy, người nghĩ rằng không đáng cho bất kỳ người đàn ông nào để sống. Tôi bỏ qua những người khác. Thậm chí có đáng cho tôi để sống không, vì, nếu tôi đã chết trước khi tôi bị tước đoạt các sự an ủi của gia đình chính mình, và của các danh dự mà tôi nhận được cho các dịch vụ công cộng của mình, chẳng phải cái chết đã lấy tôi khỏi các điều xấu của cuộc sống đúng hơn là khỏi các sự chúc phúc của nó sao?

XXXV. Hãy đề cập, do đó, một ai đó, người chưa bao giờ biết sự quẫn bách; người chưa bao giờ nhận bất kỳ đòn đánh nào từ vận may. Metellus vĩ đại có bốn người con trai lừng lẫy; nhưng Priam có năm mươi người, mười bảy người trong số họ được sinh ra cho ông bởi người vợ hợp pháp của ông. Vận may có cùng quyền năng trên cả hai, mặc dù bà đã thực hành nó chỉ trên một người; vì Metellus được đặt trên đống lửa tang lễ của mình bởi một công ty lớn gồm các con trai và con gái, cháu trai, và cháu gái; nhưng Priam đã gục ngã bởi bàn tay của kẻ thù, sau khi đã chạy trốn đến bàn thờ, và đã thấy chính mình bị tước đoạt tất cả đông đảo con cháu của mình. Nếu ông đã chết trước cái chết của các con trai ông và sự sụp đổ của vương quốc ông,

Với tất cả của cải vĩ đại của ông tự hào,

Dưới những bức trướng nhà nước giàu có;

khi đó ông sẽ bị lấy đi khỏi điều tốt hay khỏi điều xấu? Quả thực, vào thời điểm đó, có vẻ như ông đang bị lấy đi khỏi điều tốt; tuy nhiên chắc chắn nó sẽ quay ra có lợi cho ông; chúng ta cũng sẽ không có những câu thơ u sầu này,

Kìa! tất cả những người này đã diệt vong trong một đống lửa rực cháy;

Kẻ thù đã tước đoạt cuộc sống của Priam già,

Và với máu của ông, làm bẩn bàn thờ của ngài, hỡi Jove.

Như thể bất kỳ điều gì tốt hơn có thể đã xảy ra với ông vào thời điểm đó ngoài việc mất đi cuộc sống của mình theo cách thức đó; nhưng tuy nhiên, nếu nó đã xảy ra với ông sớm hơn, nó sẽ ngăn cản tất cả những hậu quả đó; nhưng ngay cả như nó vốn thế, nó đã giải thoát ông khỏi bất kỳ sự nhận thức nào thêm về chúng. Trường hợp của bạn chúng ta Pompey tốt hơn một chút: một lần, khi ông đã rất ốm ở Naples, người Naples, trên sự khôi phục của ông, đã đặt vòng hoa lên đầu họ, những người ở Puteoli cũng vậy; người dân nườm nượp kéo đến từ miền quê để chúc mừng ông — đó là một tập quán Hy Lạp, và một tập quán dại khờ; tuy nhiên nó là một dấu hiệu của vận may tốt. Nhưng câu hỏi là, nếu ông đã chết, ông sẽ bị lấy đi khỏi điều tốt, hay khỏi điều xấu? Chắc chắn khỏi điều xấu. Ông sẽ không bị lôi kéo vào một cuộc chiến tranh với cha vợ mình; ông sẽ không cầm vũ khí trước khi ông được chuẩn bị; ông sẽ không rời bỏ nhà mình, lẫn chạy trốn khỏi Italy; ông sẽ không, sau sự mất mát quân đội của mình, rơi vào tay những kẻ nô lệ không có vũ khí, và bị đưa đến cái chết bởi họ; các con ông sẽ không bị phá hủy; tài sản toàn bộ của ông cũng sẽ không rơi vào sự sở hữu của những người chiến thắng. Do đó, người đó, người mà, nếu ông đã chết vào thời điểm đó, sẽ chết trong tất cả vinh quang của mình, chẳng lẽ không nợ tất cả những tai họa vĩ đại và kinh hoàng vào đó ông sau đó đã rơi xuống cho sự kéo dài cuộc sống của mình vào thời điểm đó sao?

XXXVI. Những thảm họa này tránh được bởi cái chết, vì ngay cả mặc dù chúng không bao giờ nên xảy ra, có một khả năng rằng chúng có thể; nhưng nó không bao giờ nảy ra với một người đàn ông rằng một thảm họa như vậy có thể xảy ra với chính mình. Mọi người đều hy vọng hạnh phúc như Metellus: như thể số lượng những người hạnh phúc vượt quá số lượng những người khốn khổ; hoặc như thể có bất kỳ sự chắc chắn nào trong các công việc con người; hoặc, lại nữa, như thể có nền tảng hợp lý hơn cho hy vọng hơn là sợ hãi. Nhưng chúng ta nên chấp nhận cho họ ngay cả điều này, rằng con người bởi cái chết bị tước đoạt những điều tốt đẹp; nó sẽ theo sau rằng người chết do đó cần những điều tốt đẹp của cuộc sống, và khốn khổ vì lý do đó sao? Chắc chắn họ nhất thiết phải nói như vậy. Kẻ không tồn tại có thể cần bất kỳ điều gì không? Cần có một âm thanh u sầu, bởi vì nó trên thực tế lên đến điều này — ông ấy đã có, nhưng ông ấy không có; ông ấy hối tiếc, ông ấy nhìn lại, ông ấy muốn. Như vậy là, tôi cho rằng, những sự quẫn bách của một người cần. Ông ấy có bị tước đoạt đôi mắt không? mù lòa là khốn khổ. Ông ấy có thiếu hụt con cái không? không có chúng là khốn khổ. Những sự xem xét này áp dụng cho người sống, nhưng người chết không cần những sự chúc phúc của cuộc sống, lẫn chính cuộc sống. Nhưng khi tôi đang nói về người chết, tôi đang nói về những người không có sự tồn tại. Nhưng có ai lại nói về chúng ta, những người có tồn tại, rằng chúng ta muốn có sừng hay cánh không? Chắc chắn không. Nếu nó nên được hỏi, tại sao không? câu trả lời sẽ là, không có những gì không tập quán lẫn bản chất đã làm cho anh phù hợp sẽ không hàm chứa một sự thiếu hụt chúng, ngay cả mặc dù anh nhận thức được rằng anh không có chúng. Lập luận này nên được nhấn mạnh lại đi lặp lại, sau khi điểm đó một khi đã được thiết lập, cái mà, nếu các linh hồn là phàm tục, không thể có sự tranh luận nào về — tôi có ý nói, sự phá hủy họ bởi cái chết quá hoàn toàn đến mức loại bỏ ngay cả sự nghi ngờ nhỏ nhất về bất kỳ cảm giác nào còn lại. Khi, do đó, điểm này một khi đã có cơ sở tốt và được thiết lập, chúng ta phải định nghĩa chính xác thuật ngữ muốn có nghĩa là gì; để không có sự nhầm lẫn nào trong từ ngữ. Muốn, vậy thì, biểu thị điều này: không có cái mà anh sẽ vui mừng có; vì sự nghiêng về một điều gì đó được hàm chứa trong từ muốn, ngoại trừ khi chúng ta sử dụng từ ngữ trong một ý nghĩa hoàn toàn khác, như chúng ta làm khi chúng ta nói rằng một cơn sốt đang thiếu hụt đối với bất kỳ ai. Vì nó thừa nhận một sự diễn giải khác, khi anh không có một điều nhất định, và nhận thức được rằng anh không có nó, nhưng tuy nhiên có thể dễ dàng phân phát với việc có nó. “Muốn”, vậy thì, là một sự diễn đạt mà anh không thể áp dụng cho người chết; việc thuần túy thiếu hụt điều gì đó cũng không nhất thiết đáng than khóc. Sự diễn đạt thích hợp nên là, “rằng họ thiếu hụt một điều tốt”, và đó là một điều xấu.

Nhưng một người đàn ông đang sống không thiếu hụt một điều tốt, trừ khi ông ấy bị phiền muộn nếu không có nó; và tuy nhiên, chúng ta có thể dễ dàng hiểu làm sao bất kỳ người đàn ông nào đang sống có thể không có một vương quốc. Nhưng điều này không thể được khẳng định về anh với bất kỳ sự chính xác nào: nó có thể đã được khẳng định về Tarquin, khi ông bị đuổi khỏi vương quốc của mình. Nhưng khi một sự diễn đạt như vậy được sử dụng liên quan đến người chết, nó tuyệt đối không thể hiểu được. Vì thiếu hụt hàm chứa nhận thức được; nhưng người chết không có cảm giác: do đó, người chết không thể ở trong bất kỳ sự thiếu hụt nào.

XXXVII. Nhưng dịp gì để triết lý ở đây trong một vấn đề mà chúng ta thấy rằng triết học chỉ bận tâm một chút? Đã bao nhiêu lần không chỉ các tướng lĩnh của chúng ta mà toàn bộ quân đội, đã lao vào cái chết chắc chắn! Nhưng nếu nó đã là một điều đáng sợ, L. Brutus sẽ không bao giờ gục ngã trong chiến đấu, để ngăn cản sự quay trở lại của kẻ bạo chúa đó người mà ông đã trục xuất; người cha Decius cũng sẽ không bị sát hại trong chiến đấu với người Latinh; con trai ông cũng vậy, khi tham chiến với người Etruscan, lẫn cháu trai ông với Pyrrhus sẽ không phơi bản thân cho các ngọn giáo của kẻ thù. Tây Ban Nha sẽ không bao giờ thấy, trong một chiến dịch, gia tộc Scipio gục ngã khi chiến đấu cho đất nước họ; các đồng bằng Cannæ cũng sẽ không chứng kiến cái chết của Paulus và Geminus, hay Venusia cái chết của Marcellus; người Latinh cũng sẽ không chứng kiến cái chết của Albinus, lẫn người Leucania cái chết của Gracchus. Nhưng có ai trong số những người này khốn khổ bây giờ không? Nay, họ không phải như vậy ngay cả vào thời điểm đầu tiên sau khi họ đã trút hơi thở cuối cùng của mình; cũng không ai có thể khốn khổ sau khi ông ấy đã mất tất cả cảm giác. Ôi, nhưng hoàn cảnh thuần túy của việc không có cảm giác là khốn khổ. Nó có thể là như vậy nếu không có cảm giác cùng một điều như muốn nó; nhưng vì nó rõ ràng không thể có điều gì thuộc bất kỳ loại nào trong cái không có sự tồn tại, điều gì có thể làm phiền muộn cho cái không thể cảm thấy sự thiếu hụt lẫn không thể nhận thức bất kỳ điều gì? Chúng ta có thể được nói là đã lặp lại điều này quá thường xuyên, chỉ là ở đây nằm tất cả những gì linh hồn rùng mình từ nỗi sợ cái chết. Vì bất kỳ ai có thể hiểu rõ ràng điều vốn rõ ràng như ánh sáng — rằng khi cả linh hồn và thể xác bị tiêu thụ, và có một sự phá hủy toàn bộ, thì cái vốn là một động vật trở thành không gì cả — sẽ thấy rõ ràng rằng không có sự khác biệt nào giữa một con Nhân mã, kẻ chưa bao giờ có sự tồn tại, và Vua Agamemnon, và rằng M. Camillus không còn bận tâm về cuộc nội chiến hiện tại này hơn là tôi đã bận tâm lúc thành Rome bị cướp phá, khi ông ấy đang sống.

XXXVIII. Tại sao, vậy thì, Camillus lại nên bị ảnh hưởng với các tư tưởng về những điều này xảy ra ba trăm năm mươi năm sau thời gian của ông? Và tại sao tôi lại nên không thoải mái nếu tôi kỳ vọng rằng một dân tộc nào đó có thể sở hữu chính thành phố này mười ngàn năm sau? Bởi vì quá vĩ đại là sự coi trọng của chúng ta đối với đất nước chúng ta, đến mức không được đo đạc bởi cảm giác của chính chúng ta, mà bởi sự an toàn thực sự của chính nó.

Cái chết, vậy thì, cái đe dọa chúng ta hàng ngày từ một ngàn tai nạn, và cái, bởi lý do của sự ngắn ngủi của cuộc sống, có thể không bao giờ ở xa, không làm sụt giảm một người đàn ông khôn ngoan khỏi việc tạo ra sự cung cấp như vậy cho đất nước mình và gia đình mình như ông hy vọng có thể kéo dài mãi mãi; và khỏi việc coi hậu thế, cái mà ông không bao giờ có thể có bất kỳ sự nhận thức thực sự nào, như thuộc về chính mình. Cho nên một người đàn ông có thể hành động cho sự vĩnh cửu, ngay cả mặc dù ông bị thuyết phục rằng linh hồn ông là phàm tục; không phải, quả thực, từ một sự ham muốn vinh quang, cái mà ông sẽ không có cảm giác về, mà từ một nguyên lý của phẩm hạnh, cái mà vinh quang sẽ tất yếu đi theo, mặc dù đó không phải là mục tiêu của ông. Tiến trình, quả thực, của bản chất là thế này: rằng chỉ trong cùng một cách thức như sự sinh ra của chúng ta là khởi đầu của các sự vật với chúng ta, nên cái chết sẽ là sự kết thúc; và như chúng ta không theo cách nào bận tâm với bất kỳ điều gì trước khi chúng ta được sinh ra, nên chúng ta cũng không sau khi chúng ta đã chết. Và trong trạng thái này của các sự vật điều xấu có thể ở đâu, vì cái chết không có sự kết nối nào với người sống lẫn người chết? Một bên không có sự tồn tại chút nào, bên kia chưa bị ảnh hưởng bởi nó. Những người làm cho ít nhất về cái chết coi nó như có một sự tương tự vĩ đại với giấc ngủ; như thể bất kỳ ai sẽ chọn sống chín mươi năm trên điều kiện rằng, vào lúc hết sáu mươi, ông ấy nên ngủ hết phần còn lại. Chính con heo sẽ không chấp nhận cuộc sống trên những điều kiện đó, huống chi là tôi. Endymion, quả thực, nếu anh lắng nghe các thần thoại, đã ngủ một lần vào một thời điểm trên Latmus, một ngọn núi của Caria, và trong một khoảng thời gian dài như vậy đến mức tôi tưởng tượng ông ấy chưa thức dậy. Anh có nghĩ rằng ông ấy bận tâm về việc Mặt trăng ở trong những sự khó khăn không, mặc dù chính bởi cô ấy mà ông ấy đã bị ném vào giấc ngủ đó, để cô ấy có thể hôn ông ấy trong khi đang ngủ. Vì điều gì ông ấy nên bận tâm người thậm chí không có bất kỳ cảm giác nào? Anh nhìn vào giấc ngủ như một hình ảnh của cái chết, và anh đảm nhận điều đó hàng ngày; và anh có, vậy thì, bất kỳ sự nghi ngờ nào rằng không có cảm giác nào trong cái chết, khi anh thấy không có cảm giác nào trong giấc ngủ, cái vốn là sự tương tự gần gũi của nó không?

XXXIX. Xua đi, vậy thì, những sự dại khờ đó, những thứ chỉ tốt hơn một chút so với những giấc mơ của các bà lão, như rằng thật khốn khổ khi chết trước thời gian của chúng ta. Thời gian nào anh có ý nói? Thời gian của bản chất sao? Nhưng bà chỉ cho anh vay cuộc sống, như bà có thể cho anh vay tiền, không ấn định bất kỳ thời gian chắc chắn nào cho sự trả lại của nó. Anh có bất kỳ cơ sở phàn nàn nào không, vậy thì, rằng bà gọi lại nó theo sự hài lòng của bà? vì anh đã nhận nó trên những điều kiện này. Những người phàn nàn như thế này cho phép rằng nếu một đứa trẻ trẻ tuổi chết, những người sống sót nên chịu sự mất mát của nó với sự điềm tĩnh; rằng nếu một đứa trẻ sơ sinh trong nôi chết, họ nên thậm chí không thốt ra một lời phàn nàn; và tuy nhiên bản chất đã nghiêm khắc hơn với họ trong việc đòi lại những gì bà đã trao. Họ trả lời bằng cách nói rằng những đứa trẻ như vậy chưa nếm trải các sự ngọt ngào của cuộc sống; trong khi người kia đã bắt đầu hình dung các hy vọng về sự hạnh phúc vĩ đại, và, quả thực, đã bắt đầu hiện thực hóa chúng. Con người đánh giá tốt hơn trong những điều khác, và cho phép một phần là đáng ưu tiên hơn không có gì. Tại sao họ không thừa nhận sự ước tính tương tự trong cuộc sống? Mặc dù Callimachus không nói sai khi nói rằng nhiều nước mắt đã chảy từ Priam hơn con trai ông; tuy nhiên họ được nghĩ là hạnh phúc hơn những người chết sau khi họ đã đạt tới tuổi già. Thật khó để nói tại sao; vì tôi không hiểu rằng bất kỳ ai, nếu một cuộc sống dài hơn được ban cho ông ấy, sẽ thấy nó hạnh phúc hơn. Không có gì dễ chịu hơn đối với một người đàn ông hơn sự khôn ngoan, cái mà tuổi già chắc chắn ban cho một người đàn ông, mặc dù nó có thể tước bỏ ông ấy mọi thứ khác. Nhưng tuổi nào là dài, hay cái gì ở đây chút nào là dài đối với một người đàn ông? Chẳng lẽ không phải

Tuổi già, mặc dù không được bận tâm, vẫn tham dự

Trên các sự tiêu khiển của thời thơ trẻ, như các sự lo lắng của con người?

Nhưng bởi vì không có gì vượt qua tuổi già, chúng ta gọi đó là dài: tất cả những điều này được nói là dài hay ngắn, theo tỷ lệ của thời gian chúng được trao cho chúng ta. Aristotle nói có một loại côn trùng gần sông Hypanis, cái chảy từ một phần nào đó của Châu Âu vào biển Pontus, cuộc sống của nó chỉ gồm một ngày; những con chết vào giờ thứ tám chết trong tuổi đầy đủ; những con chết khi mặt trời lặn là rất già, đặc biệt là khi các ngày ở vào lúc dài nhất. Hãy so sánh cuộc sống dài nhất của chúng ta với sự vĩnh cửu, và chúng ta sẽ được tìm thấy hầu như ngắn ngủi như những động vật nhỏ bé đó.

XL. Hãy để chúng ta, vậy thì, coi thường tất cả những sự dại khờ này — vì cái tên mềm mỏng nào hơn tôi có thể trao cho những sự nhẹ đĩnh như vậy? — và hãy để chúng ta đặt nền tảng của sự hạnh phúc của chúng ta trong sức mạnh và sự vĩ đại của trí óc chúng ta, trong một sự coi thường và không bận tâm đến tất cả các điều thuộc về trái đất, và trong sự thực hành mọi phẩm hạnh. Vì hiện tại chúng ta bị suy yếu bởi sự mềm yếu của những sự tưởng tượng của chúng ta, nên, nếu chúng ta nên rời bỏ thế giới này trước khi các lời hứa của những người đoán vận mệnh của chúng ta được làm cho tốt đẹp với chúng ta, chúng ta sẽ nghĩ bản thân chúng ta bị tước đoạt một số lợi ích vĩ đại, và có vẻ thất vọng và bị bỏ rơi. Nhưng nếu, qua cuộc sống, chúng ta ở trong sự lơ lửng liên tục, vẫn kỳ vọng, vẫn ham muốn, và ở trong sự đau đớn và tra tấn liên tục, các vị Thần tốt lành! chuyến đi đó phải dễ chịu biết bao cái kết thúc trong sự an toàn và sự thảnh thơi! Tôi hài lòng biết bao với Theramenes! Tâm hồn ông xuất hiện cao siêu biết bao! Vì, mặc dù chúng ta không bao giờ đọc về ông mà không có nước mắt, tuy nhiên người đàn ông lừng lẫy đó không phải là đáng than khóc trong cái chết của mình, người, khi ông đã bị bỏ tù bởi mệnh lệnh của ba mươi kẻ bạo chúa, đã uống hết, trong một hơi, như thể ông đã khát, chiếc cốc bị độc, và ném phần còn lại ra khỏi nó với lực như vậy đến mức nó kêu lên khi nó rơi xuống; và sau đó, khi nghe âm thanh của các giọt nước, ông nói, với một nụ cười, “Tôi uống điều này cho Critias xuất sắc nhất”, người đã là kẻ thù đắng ngắt nhất của ông; vì nó là tập quán trong số người Hy Lạp, tại các buổi yến tiệc của họ, đặt tên cho người mà họ dự định trao chiếc cốc. Người đàn ông nổi tiếng này đã dễ chịu cho đến cuối cùng, ngay cả khi ông đã nhận độc tố vào ruột mình, và thực sự tiên đoán cái chết của người đàn ông đó người ông đã đặt tên khi ông uống độc tố, và cái chết đó sớm theo sau. Ai người nghĩ cái chết là một điều xấu có thể chấp thuận sự đều đặn của khí chất trong người đàn ông vĩ đại này vào thời điểm chết? Socrates đã đến, một vài năm sau đó, cùng một nhà tù và cùng một chiếc cốc bởi sự bất công vĩ đại như vậy về phía các thẩm phán của ông như những kẻ bạo chúa đã thể hiện khi họ hành quyết Theramenes. Bài diễn thuyết nào là bài diễn thuyết mà Plato làm cho ông phân phát trước các thẩm phán của mình, sau khi họ đã kết án ông đến cái chết!

XLI. “Tôi không phải không có các hy vọng, hỡi các thẩm phán, rằng đó là một hoàn cảnh thuận lợi cho tôi rằng tôi bị kết án đến cái chết; vì một trong hai điều này nhất thiết phải xảy ra — hoặc cái chết sẽ tước đoạt hoàn toàn của tôi mọi cảm giác, hoặc khác, bởi việc chết, tôi sẽ đi từ đây vào một nơi nào đó khác; cho nên, nếu mọi cảm giác bị dập tắt hoàn toàn, và nếu cái chết giống như giấc ngủ đó cái vốn đôi khi quá không bị quấy rầy đến mức thậm chí không có các thị kiến của các giấc mơ — trong trường hợp đó, hỡi các vị Thần tốt lành! lợi ích gì là khi chết? hay độ dài của các ngày nào có thể được hình dung cái vốn sẽ đáng ưu tiên hơn một đêm như vậy? Và nếu tiến trình liên tục của thời gian tương lai là tương tự đêm đó, ai hạnh phúc hơn tôi? Nhưng nếu mặt khác, những gì được nói là đúng, cụ thể là cái chết chỉ là một sự dời đi đến những vùng đất đó nơi các linh hồn của những người đã ra đi cư ngụ, thì trạng thái đó phải hạnh phúc hơn nữa khi đã thoát khỏi những người tự gọi mình là các thẩm phán, và xuất hiện trước những người thực sự như vậy — Minos, Rhadamanthus, Æacus, Triptolemus — và gặp gỡ với những người đã sống với công lý và sự chính trực! Sự thay đổi nơi trú ngụ này có thể xuất hiện khác hơn là vĩ đại đối với các vị không? Những ranh giới nào các vị có thể đặt cho giá trị của việc trò chuyện với Orpheus, và Musæus, và Homer, và Hesiod? Tôi sẽ thậm chí, nếu nó là có thể, sẵn lòng chết thường xuyên, để chứng minh sự chắc chắn của những gì tôi nói về. Niềm vui gì nó phải là khi gặp gỡ với Palamedes, và Ajax, và những người khác, những người đã bị phản bội bởi sự bất công của các thẩm phán của họ! Sau đó, tôi cũng sẽ trải nghiệm trí tuệ của ngay cả vị vua của các vị vua đó, người đã dẫn dắt các quân đội bao la của mình đến Troy, và sự khôn khéo của Ulysses và Sisyphus: tôi cũng sẽ không khi đó bị kết án vì truy xét các điều tra của tôi về các chủ đề như vậy theo cùng một cách thức trong đó tôi đã làm ở đây trên trái đất. Và ngay cả các vị, các thẩm phán của tôi, các vị, tôi có ý nói, những người đã bỏ phiếu cho sự tha bổng của tôi, đừng các vị sợ cái chết, vì không có gì xấu có thể xảy ra với một người đàn ông tốt, cho dù ông ấy đang sống hay đã chết; các sự bận tâm của ông ấy cũng không bao giờ bị bỏ qua bởi các vị Thần; trong trường hợp của tôi cũng vậy điều này không xảy ra với tôi bởi sự ngẫu nhiên; và tôi không có gì để buộc tội những người đàn ông đó những người đã cáo buộc hay kết án tôi ngoại trừ thực tế rằng họ tin rằng họ đang làm hại tôi.” Theo cách thức này ông tiếp tục. Không có phần nào trong bài diễn thuyết của ông mà tôi ngưỡng mộ hơn những từ ngữ cuối cùng của ông: “Nhưng đã đến lúc,” ông nói, “cho tôi bây giờ đi khỏi đây, để tôi có thể chết; và cho các vị, để các vị có thể tiếp tục sống. Điều kiện nào trong hai điều kiện là tốt nhất, các vị Thần bất tử biết; nhưng tôi không tin rằng bất kỳ người phàm nào biết.”

XLII. Chắc chắn tôi thà có linh hồn của người đàn ông này hơn tất cả các vận may của những người đã ngồi trong phán đoán trên ông; mặc dù chính điều đó cái mà ông nói không ai ngoại trừ các vị Thần biết, cụ thể là liệu cuộc sống hay cái chết là đáng ưu tiên nhất, ông tự biết, vì ông đã trước đó phát biểu ý kiến của mình về nó; nhưng ông duy trì cho đến cuối cùng châm ngôn yêu thích đó của ông, về việc không khẳng định điều gì. Và hãy để chúng ta, nữa, bám chặt vào quy tắc này về việc không nghĩ bất kỳ điều gì là một điều xấu cái vốn là một sự cung cấp chung của bản chất; và hãy để chúng ta tự bảo đảm rằng, nếu cái chết là một điều xấu, nó là một điều xấu vĩnh cửu, vì cái chết có vẻ là sự kết thúc của một cuộc sống khốn khổ; nhưng nếu cái chết là một sự khốn khổ, không thể có sự kết thúc của điều đó. Nhưng tại sao tôi lại đề cập đến Socrates, hay Theramenes, những người được phân biệt bởi vinh quang của phẩm hạnh và trí tuệ? khi một người Lacedæmonian nào đó, tên của người này thậm chí không được biết đến, đã giữ cái chết trong sự coi thường như vậy, đến mức, khi được dẫn dắt đến nó bởi các ephori, ông đã mang một nét mặt vui vẻ và dễ chịu; và, khi ông được hỏi bởi một trong những kẻ thù của mình liệu ông có coi thường các luật pháp của Lycurgus không, “Trái lại,” ông trả lời, “tôi rất biết ơn ông ấy, vì ông ấy đã phạt tôi một khoản tiền phạt mà tôi có thể trả mà không cần vay mượn, hay nhận tiền tại lãi suất.” Đây là một người đàn ông đáng giá của Sparta. Và tôi hầu như bị thuyết phục về sự vô tội của ông vì sự vĩ đại của linh hồn ông. Thành phố của chính chúng ta đã tạo ra nhiều người như vậy. Nhưng tại sao tôi nên đề cập đến các tướng lĩnh, và những người khác thuộc tầng lớp cao, khi Cato có thể viết rằng các quân đoàn đã diễu hành với sự hăng hái đến nơi đó từ đó họ không bao giờ kỳ vọng quay trở lại? Với sự vĩ đại không kém của linh hồn đã gục ngã những người Lacedæmonian tại Thermopylæ, trên những người đó Simonides đã viết câu bia mộ sau:

Hãy đi, người xa lạ, nói với người Spartan, ở đây chúng tôi nằm,

Những người để hỗ trợ luật pháp của họ đã dũng cảm dám chết.

Điều gì là cái mà Leonidas, tướng lĩnh của họ, đã nói với họ? “Hãy diễu hành lên với sự dũng cảm, các Lacedæmonian của tôi. Đêm nay, có lẽ, chúng ta sẽ ăn tối ở các vùng đất bên dưới.” Đây là một dân tộc dũng cảm trong khi các luật pháp của Lycurgus còn hiệu lực. Một người trong số họ, khi một người Ba Tư đã nói với ông trong sự trò chuyện, “Chúng tôi sẽ giấu mặt trời khỏi tầm mắt của các anh bởi số lượng các ngọn tên và ngọn giáo của chúng tôi”, đã trả lời, “Chúng tôi sẽ chiến đấu, vậy thì trong bóng râm.” Tôi có nói về những người đàn ông của họ không? Vĩ đại biết bao người đàn phụ nữ Lacedæmonian đó, người đã gửi con trai mình vào trận chiến, và khi bà nghe rằng anh ấy đã bị sát hại, đã nói, “Tôi đã sinh anh ấy cho mục đích đó, để các người có thể có một người đàn ông dám chết cho đất nước mình!” Tuy nhiên, đó là một vấn đề nổi tiếng rằng người Spartan dũng cảm và chịu đựng, vì kỷ luật của một thể chế cộng hòa có ảnh hưởng vĩ đại.

XLIII. Vậy thì, chúng ta không có lý do để ngưỡng mộ Theodorus người Cyrene sao, một nhà triết học không có sự phân biệt nhỏ, người, khi Lysimachus đe dọa đóng đinh ông, đã bảo ông hãy giữ những sự đe dọa đó cho các thần dân của ông? “Đối với Theodorus nó không tạo ra sự khác biệt nào liệu ông ấy thối rữa trong không khí hay dưới đất.” Bằng câu nói đó của nhà triết học tôi được nhắc nhở để nói điều gì đó về tập quán tang lễ và sự chôn cất, và về các nghi lễ tang lễ, cái vốn quả thực không phải là một chủ đề khó khăn, đặc biệt là nếu chúng ta nhớ lại những gì đã được nói trước đây về sự không có cảm giác. Ý kiến của Socrates liên quan đến vấn đề này được phát biểu rõ ràng trong cuốn sách xử lý cái chết của ông, về cuốn sách đó chúng ta đã nói quá nhiều; vì khi ông đã thảo luận về sự bất tử của linh hồn, và khi thời gian chết của ông đang tiến đến nhanh chóng, được hỏi bởi Crito làm sao ông sẽ được chôn cất, “Tôi đã tốn nhiều công sức,” ông nói, “các bạn của tôi, không có mục đích, vì tôi chưa thuyết phục được Crito của chúng ta rằng tôi sẽ bay khỏi đây, và không bỏ lại phần nào của tôi phía sau. Tuy nhiên, Crito, nếu anh có thể đuổi kịp tôi, bất cứ nơi nào anh nắm lấy tôi, hãy chôn cất tôi như anh muốn: nhưng hãy tin tôi, không ai trong các anh sẽ có khả năng bắt được tôi khi tôi đã bay đi khỏi đây.” Điều đó đã được nói một cách tuyệt vời, vì ông cho phép bạn mình làm như ông muốn, và tuy nhiên thể hiện sự không bận tâm của mình về bất kỳ điều gì thuộc loại này. Diogenes thô giáp hơn, mặc dù thuộc cùng ý kiến; nhưng trong tính cách của một người thuộc phái Cynic ông đã diễn đạt chính mình trong một cách thức thô giáp hơn một chút; ông đã ra lệnh chính mình bị ném vào bất kỳ đâu mà không được chôn cất. Và khi các bạn ông trả lời, “Sao! cho các loài chim và muông thú sao?” “Không bằng cách nào,” ông nói; “đặt chiếc gậy của tôi gần tôi, để tôi có thể xua chúng đi.” “Làm sao anh có thể làm điều đó,” họ trả lời, “vì anh sẽ không nhận thức được chúng?” “Làm sao tôi vậy thì bị tổn hại bởi việc bị xé bởi những động vật đó, nếu tôi không có cảm giác?” Anaxagoras, khi ông ở điểm chết tại Lampsacus, và được hỏi bởi các bạn ông, liệu, nếu bất kỳ điều gì nên xảy ra với ông, ông sẽ không chọn được mang đến Clazomenæ, đất nước của ông, đã đưa ra câu trả lời tuyệt vời này, “Không có,” ông nói, “dịp nào cho điều đó, vì tất cả các nơi đều ở một khoảng cách bằng nhau khỏi các vùng đất cõi âm.” Có một điều cần được quan sát đối với toàn bộ chủ đề chôn cất, rằng nó liên quan đến thể xác, cho dù linh hồn sống hay chết. Bây giờ, đối với thể xác, nó rõ ràng rằng, cho dù linh hồn sống hay chết, cái đó không có cảm giác.

XLIV. Nhưng tất cả mọi thứ đều đầy những sai lầm. Achilles kéo Hector, buộc vào cỗ xe của ông; ông nghĩ, tôi cho rằng, ông xé thịt ông ấy, và rằng Hector cảm thấy nỗi đau của điều đó; do đó, ông tự trả thù trên ông ấy, như ông tưởng tượng. Nhưng Hecuba than khóc điều này như một tai họa đau đớn:

Tôi đã thấy (một quang cảnh kinh hoàng) Hector vĩ đại bị sát hại,

Bị kéo tại cỗ xe của Achilles dọc theo đồng bằng.

Hector nào? hay bao lâu ông ấy sẽ là Hector? Accius tốt hơn trong điều này, và Achilles, nữa, đôi khi có lý trí:

Tôi thân thể của Hector cho cha ông ấy đã chuyển giao,

Hector tôi đã gửi đến bóng râm cõi âm.

Đó không phải là Hector mà anh đã kéo dọc theo, mà là một thể xác đã từng là của Hector. Ở đây một người khác nhô lên từ dưới đất, và sẽ không cho phép mẹ mình ngủ:

Đến người tôi gọi, cha mẹ từng được yêu thương của tôi, hãy nghe,

Cũng đừng kéo dài với giấc ngủ của người sự chăm sóc của người;

Mắt của người cái không thương hại bị đóng lại — hãy trỗi dậy;

Lơ lửng tôi chờ đợi các nghi thức tang lễ chưa được trả.

Khi những câu thơ này được hát với một điệu nhạc chậm và u sầu, để ảnh hưởng đến toàn bộ nhà hát với sự u sầu, một người khó lòng giúp được việc nghĩ những người đó bất hạnh những người không được chôn cất:

Trước khi những con chó ngấu nghiến và những con kền kền đói khát...

Ông ấy sợ ông ấy sẽ không có sự sử dụng của các chi của mình tốt nếu chúng bị xé thành từng mảnh, nhưng không ở dưới những sự e sợ như vậy nếu chúng bị thiêu:

Cũng đừng bỏ lại những chiếc xương trần trụi của tôi, những tàn tích tội nghiệp của tôi,

Cho sự bạo lực đáng hổ hổ và những vết máu.

Tôi không hiểu những gì ông ấy có thể sợ người có thể trút ra những câu thơ tuyệt vời như vậy theo âm thanh của chiếc sáo. Chúng ta phải, do đó, bám chặt vào điều này, rằng không có gì cần được coi trọng sau khi chúng ta đã chết, mặc dù nhiều người tự trả thù trên các kẻ thù đã chết của họ. Thyestes trút ra một số lời nguyền rủa trong một số dòng tốt của Ennius, cầu nguyện, đầu tiên hết, rằng Atreus có thể diệt vong bởi một sự đắm tàu, cái vốn chắc chắn là một điều rất kinh hoàng, vì một cái chết như vậy không tự do khỏi các cảm giác rất đau đớn. Sau đó theo sau những sự diễn đạt không có ý nghĩa này:

Cầu cho

Trên hòn đá sắc nhọn xác chết bị xé rách của ông ấy nằm,

Ruột của ông ấy bị xé, cho các loài chim đói khát làm mồi!

Cầu cho ông ấy co quắp quằn quại mạn sườn chảy máu của ông ấy,

Và với máu đóng cục của ông ấy những hòn đá được nhuộm!

Chính các hòn đá không thiếu hụt cảm giác hơn người đang treo trên chúng bởi mạn sườn của ông ấy; mặc dù Thyestes tưởng tượng ông ấy đang chúc ông ấy sự tra tấn vĩ đại nhất. Nó sẽ là sự tra tấn, quả thực, nếu ông ấy có cảm giác; nhưng vì ông ấy không có, nó không thể là không có gì; vậy thì điều này không có ý nghĩa biết bao:

Hãy để ông ấy, vẫn bay lơ lửng trên làn sóng Styx,

Không bao giờ đạt tới cảng bình yên của thể xác, ngôi mộ!

Anh thấy dưới những khái niệm sai lầm nào tất cả điều này được nói. Ông ấy tưởng tượng thể xác có cảng của nó, và rằng người chết nghỉ ngơi trong mộ của họ. Pelops đã rất đáng trách trong việc không thông báo và dạy cho con trai mình sự coi trọng nào là do cho mọi thứ.

XLV. Nhưng dịp gì để chỉ trích trên các ý kiến của các cá nhân, khi chúng ta có thể quan sát toàn bộ các dân tộc rơi vào tất cả các loại sai lầm? Người Ai Cập ướp xác người chết của họ, và giữ họ trong nhà của họ; người Ba Tư mặc cho họ với sáp, và sau đó chôn cất họ, để họ có thể bảo tồn thể xác của họ càng lâu càng tốt. Nó là tập quán với các Pháp sư không chôn cất ai trong trật tự của họ, trừ khi họ đã lần đầu tiên bị xé bởi các muông thú hoang dại. Ở Hyrcania, người dân duy trì chó cho sự sử dụng công cộng; các quý tộc có chó của chính họ — và chúng ta biết rằng họ có một giống chó tốt; nhưng mọi người, theo khả năng của mình, cung cấp cho chính mình một số con, để bị xé bởi chúng; và họ giữ điều đó là loại chôn cất tốt nhất. Chrysippus, người tò mò trong tất cả các loại thực tế lịch sử, đã thu thập nhiều điều khác thuộc loại này; nhưng một số trong chúng quá xúc phạm đến mức không thừa nhận được tường thuật. Tất cả những gì đã được nói về việc chôn cất không đáng cho sự coi trọng của chúng ta liên quan đến chính chúng ta, mặc dù nó không phải bị bỏ qua đối với các bạn bè chúng ta, miễn là chúng ta hoàn toàn nhận thức rằng người chết không có cảm giác. Nhưng người sống, quả thực, nên xem xét những gì là do cho tập quán và ý kiến; chỉ là họ nên đồng thời xem xét rằng người chết không theo cách nào bận tâm trong đó. Nhưng cái chết thực sự khi đó được gặp gỡ với sự thanh bình vĩ đại nhất khi người đàn ông đang chết có thể an ủi chính mình với lời khen ngợi của chính mình. Không ai chết quá sớm người đã hoàn thành tiến trình của phẩm hạnh hoàn hảo. Chính bản thân tôi đã biết nhiều dịp khi tôi đã dường như trong nguy hiểm của cái chết ngay lập tức; ôi! tôi ước làm sao nó đã đến với tôi! vì tôi không thu nhận được gì bởi sự trì hoãn. Tôi đã đi đi lại lại các nghĩa vụ của cuộc sống; không có gì còn lại ngoài việc chiến đấu với vận may. Nếu lý trí, vậy thì, không thể củng cố đầy đủ chúng ta để cho phép chúng ta cảm thấy một sự coi thường đối với cái chết, trong mọi trường hợp hãy để cuộc sống đã qua của chúng ta chứng minh rằng chúng ta đã sống đủ dài, và thậm chí dài hơn mức cần thiết; vì mặc dù có sự tước đoạt cảm giác, người chết không phải không có điều tốt đó cái vốn đặc biệt thuộc về họ, cụ thể là lời khen ngợi và vinh quang cái mà họ telah thu nhận được, ngay cả mặc dù họ không nhận thức được nó. Vì mặc dù không có gì trong vinh quang để làm cho nó đáng mong ước, tuy nhiên nó đi theo phẩm hạnh như bóng của nó; và phán đoán chân chính của đám đông trên những người đàn ông tốt, nếu họ đã từng hình dung bất kỳ phán đoán nào, thuộc về lời khen ngợi của chính họ hơn là thuộc về bất kỳ lợi ích thực sự nào cho người chết. Tuy nhiên tôi không thể nói, bất kể nó có thể được tiếp nhận như thế nào, rằng Lycurgus và Solon không có vinh quang nào từ các luật pháp của họ, và từ thể chế chính trị cái mà họ đã thiết lập ở đất nước họ; hay rằng Themistocles và Epaminondas không có vinh quang từ phẩm hạnh quân sự của họ.

XLVI. Vì Neptune sẽ sớm hơn chôn cất chính Salamis với các làn nước của ông hơn là trí nhớ của các chiến lợi phẩm thu nhận được ở đó; và Leuctra thuộc Bœotia sẽ diệt vong sớm hơn vinh quang của trận chiến vĩ đại đó. Và lâu hơn nữa danh tiếng sẽ là trước khi nó bỏ rơi Curius, và Fabricius, và Calatinus, và hai Scipio, và hai Africanus, và Maximus, và Marcellus, và Paulus, và Cato, và Lælius, và vô số các anh hùng khác; và bất kỳ ai đã nắm bắt bất kỳ sự tương tự nào của họ, không ước tính nó bởi danh tiếng phổ biến, mà bởi sự vỗ tay thực sự của những người đàn ông tốt, có thể với sự tự tin, khi dịp yêu cầu, tiếp cận cái chết, trên đó chúng ta chắc chắn rằng ngay cả nếu điều tốt chính không được tiếp tục, ít nhất không có điều xấu nào. Một người đàn ông như vậy sẽ thậm chí ước chết trong khi ở trong sự thịnh vượng; vì tất cả các sự thuận lợi vốn có thể được chất đống trên ông sẽ không quá dễ chịu cho ông như sự mất mát chúng sẽ là đau đớn. Bài diễn thuyết đó của người Lacedæmonian có vẻ có cùng ý nghĩa, người, khi Diagoras người Rhodes, người đã tự mình là một người chiến thắng tại các trò chơi Olympic, thấy hai trong số các con trai của chính mình là những người chiến thắng ở đó vào cùng một ngày, đã tiếp cận ông lão, và, chúc mừng ông, đã nói, “Ông nên chết bây giờ, Diagoras, vì không có sự hạnh phúc vĩ đại hơn có thể chờ đợi ông.” Người Hy Lạp nhìn vào những điều này như những điều vĩ đại; có lẽ họ nghĩ quá cao về chúng, hay, đúng hơn, họ đã làm như vậy khi đó. Và do đó người đã nói điều này với Diagoras, nhìn vào nó như một điều gì đó rất vinh quang, rằng ba người đàn ông ra khỏi một gia đình nên đã là những người chiến thắng ở đó, đã nghĩ nó không thể trả lời mục đích nào cho ông để tiếp tục lâu hơn trong cuộc sống, nơi ông chỉ có thể bị phơi ra cho một sự đảo ngược của vận may.

Tôi có thể đã trao cho anh một câu trả lời đầy đủ, như nó xuất hiện đối với tôi, trên điểm này, trong một vài từ ngữ, như anh đã cho phép người chết không bị phơi ra cho bất kỳ điều xấu tích cực nào; nhưng tôi đã nói ở độ dài lớn hơn về chủ đề vì lý do này, bởi vì đây là sự an ủi vĩ đại nhất của chúng ta trong sự mất mát và sự than khóc các bạn bè chúng ta. Vì chúng ta nên chịu đựng với sự vừa phải bất kỳ nỗi đau buồn nào xuất hiện từ chính chúng ta, hay chịu đựng trên tài khoản của chính chúng ta, e rằng chúng ta nên có vẻ quá bị ảnh hưởng bởi sự tự yêu bản thân. Nhưng chúng ta nên nghi ngờ các bạn bè đã ra đi của chúng ta ở dưới những điều xấu đó, những thứ họ thường được tưởng tượng là như vậy, và nhận thức được chúng, thì một sự nghi ngờ như vậy sẽ trao cho chúng ta nỗi đau không thể chịu đựng được; và theo đó tôi đã muốn, vì lợi ích của chính tôi, nhổ tận gốc ý kiến này, và trên tài khoản đó tôi đã có lẽ dông dài hơn mức cần thiết một chút.

XLVII. A. Dông dài hơn mức cần thiết sao? Chắc chắn không, theo ý kiến của tôi. Vì tôi đã bị dẫn dắt, bởi phần trước của bài diễn thuyết của ông, đến việc ước chết; nhưng, bởi phần sau, đôi khi không không sẵn lòng, và ở những phần khác hoàn toàn không bận tâm về nó. Nhưng hiệu quả của toàn bộ lập luận của ông là, tôi bị thuyết phục rằng cái chết không nên được xếp vào trong số các điều xấu.

M. Anh có, vậy thì, kỳ vọng rằng tôi trao cho anh một sự kết luận bài diễn thuyết đều đặn, giống như các nhà hùng biện, hay tôi sẽ từ bỏ nghệ thuật đó sao?

A. Tôi sẽ không muốn ông từ bỏ một nghệ thuật cái mà ông đã tôn lên sự ưu thế vĩ đại như vậy; và ông đã đúng khi làm như vậy, vì, nói sự thật, nó cũng đã tôn ông lên. Nhưng sự kết luận bài diễn thuyết đó là gì? Vì tôi sẽ rất vui được nghe nó, bất kể nó là gì.

M. Nó là tập quán, trong các trường học, đưa ra các ý kiến của các vị Thần bất tử về cái chết; những ý kiến này cũng không phải là các quả của sự tưởng tượng đơn lẻ của các giảng viên, mà họ có thẩm quyền của Herodotus và nhiều người khác. Cleobis và Biton là những người đầu tiên họ đề cập, các con trai của nữ tư tế người Argos; câu chuyện là một câu chuyện được biết đến rõ ràng. Vì nó là cần thiết rằng bà nên được kéo trong một cỗ xe đến một sự tế lễ hàng năm nhất định, cái vốn được tổ chức trọng thể tại một ngôi đền ở một khoảng cách đáng kể từ thành phố, và các gia súc vốn kéo cỗ xe chưa tới, hai người thanh niên đó mà tôi vừa mới đề cập, cởi bỏ y phục của họ, và xoa dầu thể xác họ với dầu, đã tự đóng thồ bản thân vào cái ách. Và theo cách thức này nữ tư tế được vận chuyển đến ngôi đền; và khi cỗ xe đã tới nơi thích hợp, bà được nói là đã khẩn cầu Nữ thần ban cho họ, như một phần thưởng cho sự hiếu thảo của họ, món quà vĩ đại nhất mà một vị Thần có thể ban cho con người. Và các người thanh niên, sau khi đã yến tiệc với mẹ họ, đã rơi vào giấc ngủ; và vào buổi sáng họ được tìm thấy đã chết. Trophonius và Agamedes được nói là đã đưa ra cùng một lời cầu xin, vì họ, đã xây dựng một ngôi đền cho Apollo tại Delphi, đã dâng các lời cầu nguyện lên vị Thần, và mong muốn từ ông một số phần thưởng phi thường cho sự chăm sóc và lao động của họ, không đặc định hóa điều gì, mà hỏi cho bất kỳ điều gì là tốt nhất cho con người. Theo đó, Apollo đã biểu thị cho họ rằng ông sẽ ban nó cho họ trong ba ngày, và vào ngày thứ ba lúc hửng sáng họ được tìm thấy đã chết. Và do đó họ nói rằng đây là một phán đoán chính thức được tuyên bố bởi vị Thần đó người mà phần còn lại của các thần linh đã chỉ định tỉnh bang bói toán với một sự chính xác vượt trội hơn sự chính xác của tất cả phần còn lại.

XLVIII. Cũng có một câu chuyện được kể về Silenus, người, khi bị bắt làm tù nhân bởi Midas, được nói là đã trao cho ông món quà này cho sự chuộc hồi của mình — cụ thể là ông đã thông báo cho ông rằng chưa bao giờ được sinh ra là sự chúc phúc vĩ đại nhất xa vượt trội vốn có thể xảy ra với con người; và rằng điều tốt nhất tiếp theo là chết rất sớm; cái ý kiến chính đó Euripides sử dụng trong tác phẩm Cresphontes của mình, nói rằng,

Khi con người được sinh ra, thật phù hợp, với sự thể hiện trọng thể,

Chúng ta nói sự nhận thức của chúng ta về tai họa đang đến gần của ông ấy;

Với các cử chỉ khác và một đôi mắt khác biệt,

Tuyên bố niềm vui của chúng ta khi ông ấy được bảo hãy chết.

Có một điều gì đó giống như thế này trong tác phẩm Consolation của Crantor; vì ông nói rằng Terinæsus người Elysia, khi ông đang than khóc đắng ngắt sự mất mát con trai mình, đã đến một nơi bói toán để được thông báo tại sao ông lại bị viếng thăm với sự phiền muộn vĩ đại như vậy, và đã nhận được trong tấm thẻ của mình ba câu thơ này:

Hỡi kẻ ngu ngốc, khi lẩm bẩm trước cái chết của Euthynous!

Người thanh niên đang nở hoa nhượng trút hơi thở cho số phận:

Số phận, trên đó sự hạnh phúc của ông phụ thuộc,

Cùng lúc người cha và người con trai làm bạn.

Trên những thẩm quyền này và tương tự họ khẳng định rằng câu hỏi đã được xác định bởi các vị Thần. Nay, hơn thế nữa; Alcidamas, một nhà hùng biện cổ xưa thuộc danh tiếng cao nhất, đã viết thậm chí trong sự ca ngợi cái chết, cái mà ông nỗ lực thiết lập bởi một sự liệt kê các điều xấu của cuộc sống; và Luận văn của ông có một lượng lớn sự hùng biện trong đó; nhưng ông không quen thuộc với các lập luận tinh vi hơn của các nhà triết học. Bởi các nhà hùng biện, quả thực, chết cho đất nước chúng ta luôn được coi không chỉ là vinh quang, mà thậm chí là hạnh phúc: họ quay trở lại xa đến Erechtheus, những con gái của người đã trải qua cái chết, cho sự an toàn của các đồng trị dân của họ: họ lấy ví dụ Codrus, người đã tự ném mình vào giữa các kẻ thù của mình, ăn mặc như một người đàn ông thông thường, để các áo tràng hoàng gia của ông có thể không phản bội ông, bởi vì lời sấm truyền đã tuyên bố người Athens chiến thắng, nếu vua của họ bị sát hại. Menœceus không bị bỏ qua bởi họ, người, trong sự tuân thủ với các mệnh lệnh của một lời sấm truyền, đã tự do đổ máu của mình cho đất nước ông. Iphigenia đã ra lệnh chính mình được vận chuyển đến Aulis, để được tế lễ, để máu của cô ấy có thể là nguyên nhân của việc làm đổ máu của các kẻ thù của cô ấy.

XLIX. Từ đây họ tiến triển đến các trường hợp thuộc ngày tháng tươi mới hơn. Harmodius và Aristogiton ở trong miệng mọi người; trí nhớ của Leonidas người Lacedæmonian và Epaminondas người Thebes tươi mới như bao giờ hết. Những nhà triết học đó không quen thuộc với nhiều trường hợp ở đất nước chúng ta — trao một danh sách của những người đó sẽ tốn quá nhiều thời gian — những người, chúng ta thấy, coi cái chết là đáng mong ước miễn là nó đi kèm với danh dự. Nhưng, mặc dù đây là cái nhìn chính xác của trường hợp, chúng ta phải sử dụng nhiều sự thuyết phục, nói như thể chúng ta được ban cho một số thẩm quyền cao hơn, để đưa con người bắt đầu ước chết, hoặc ngừng sợ cái chết. Vì nếu ngày cuối cùng đó không gây ra một sự dập tắt toàn bộ, mà một sự thay đổi nơi trú ngụ chỉ, cái gì có thể đáng mong ước hơn? Và nếu nó, mặt khác, phá hủy, và tuyệt đối đặt một sự kết thúc cho chúng ta, cái gì có thể đáng ưu tiên hơn việc có một giấc ngủ sâu rơi trên chúng ta, ở giữa những sự mệt mỏi của cuộc sống, và do đó bị bắt kịp, để ngủ đến sự vĩnh cửu? Và, nên điều này thực sự là trường hợp, thì ngôn ngữ của Ennius nhất quán hơn với trí tuệ hơn là của Solon; vì Ennius của chúng ta nói,

Đừng ai ban cho chiếc đòn gánh đi qua của tôi

Một tiếng thở dài không cần thiết hay giọt nước mắt không có tác dụng.

Nhưng Solon khôn ngoan nói,

Đừng để tôi chết không được than khóc, nhưng trên chiếc đòn gánh của tôi

Bùng nổ tiếng thở dài dịu dàng, giọt nước mắt thân thiện.

Nhưng hãy để chúng ta, nếu quả thực đó nên là số phận của chúng ta để biết thời gian vốn được chỉ định bởi các vị Thần cho chúng ta để chết, chuẩn bị bản thân cho nó với một trí óc vui vẻ và biết ơn, nghĩ bản thân chúng ta giống như những người đàn ông được giải thoát khỏi một nhà tù, và được giải phóng khỏi các xiềng xích của họ, cho mục đích đi ngược trở lại nơi trú ngụ vĩnh cửu của chúng ta, cái vốn có thể được gọi một cách nhấn mạnh hơn là của chính chúng ta; hoặc khác được tước bỏ mọi cảm giác và sự rắc rối. Nếu, mặt khác, chúng ta không nên có thông báo nào được trao cho chúng ta về sắc lệnh này, tuy nhiên hãy để chúng ta rèn luyện một sự sắp đặt như vậy để nhìn vào giờ đe dọa đó của cái chết như hạnh phúc cho chúng ta, mặc dù gây sốc cho các bạn bè chúng ta; và hãy để chúng ta không bao giờ tưởng tượng bất kỳ điều gì là một điều xấu cái vốn là một sự chỉ định của các vị Thần bất tử, hoặc của bản chất, cha mẹ chung của tất cả. Vì nó không phải bởi sự rủi ro hay không có thiết kế mà chúng ta đã được sinh ra và đặt vị trí như chúng ta có. Trái lại, vượt qua mọi sự nghi ngờ có một quyền năng nhất định cái vốn tham vấn sự hạnh phúc của bản chất con người; và quyền năng này sẽ không tạo ra lẫn cung cấp cho một sinh linh cái, sau khi đã đi qua các lao động của cuộc sống, là rơi vào sự khốn khổ vĩnh cửu bởi cái chết. Hãy để chúng ta suy ra đúng hơn rằng chúng ta có một nơi ẩn dật và cảng được chuẩn bị cho chúng ta, cái mà tôi ước chúng ta có thể giương tất cả cánh buồm và tới; nhưng mặc dù các luồng gió không nên phục vụ, và chúng ta nên bị đẩy ngược trở lại, tuy nhiên chúng ta sẽ đến sự chắc chắn tới điểm đó rốt cuộc, mặc dù muộn hơn một chút. Nhưng làm sao điều đó có thể khốn khổ cho một người cái mà tất cả phải theo sự cần thiết trải qua? Tôi đã trao cho anh một sự kết luận bài diễn thuyết, để anh có thể không nghĩ tôi đã bỏ qua hay xao nhãng bất kỳ điều gì.

A. Tôi bị thuyết phục ông chưa; và, quả thực, sự kết luận bài diễn thuyết đó đã củng cố tôi.

M. Tôi vui vì nó đã có hiệu quả đó. Nhưng đã đến lúc bây giờ tham vấn sức khỏe của chúng ta. Ngày mai, và tất cả thời gian chúng ta tiếp tục trong biệt thự Tusculum này, hãy để chúng ta xem xét chủ đề này; và đặc biệt là những phần đó của nó vốn có thể làm dịu nỗi đau của chúng ta, giảm bớt các nỗi sợ của chúng ta, và làm nhỏ đi các ham muốn của chúng ta, cái vốn là lợi ích vĩ đại nhất chúng ta có thể gặt hái từ toàn bộ triết học.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.