Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 308 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trong gia đình

❊ ❊ ❊

Tháng 3 năm 2014, chúng tôi trở lại Đà Nẵng. Hàng năm, cứ đến mùa mưa lũ, miền Trung là khu vực hứng chịu nhiều bão tố thiên tai nhất nước, nhưng thời điểm này, trong lúc Hà Nội mưa nồm hàng tháng trời, Sài Gòn nắng như thiêu thì thời tiết ở đây thật dễ chịu. Đà Nẵng cách Hội An chỉ một con đường thẳng khoảng 30 cây số. Hành trình ấy quá quen thuộc vì năm nào tôi cũng đi ít nhất một lần, hoặc công tác hoặc du lịch, tôi yêu mảnh đất và con người nơi này. Nhưng năm nay, chuyến đi của tôi trở nên đặc biệt hơn vì lần đầu tiên tôi sẽ đi vào những vùng sâu hơn của tỉnh Quảng Nam, thăm miền đất tuổi thơ của cậu bé Bê ròm.

Không có Bùi Kiến Thành đi cùng, nhưng chúng tôi lại được chào đón bởi em trai ông, kiến trúc sư Bùi Kiến Quốc. Sinh năm 1945, sang Pháp từ năm 1951 nhưng đến năm 14 tuổi thì ông được ông bà bác sĩ Tín gọi về Việt Nam một thời gian, hết phổ thông trở lại Pháp. Bùi Kiến Quốc tốt nghiệp khoa Kiến trúc Đô thị Đại học Mĩ thuật Paris năm 1969 và được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Kiến trúc Cộng hòa Pháp năm 1991. Chỉ bốn năm sau, năm 1995, nghe lời mời của nhà ngoại giao Trịnh Ngọc Thái (người được Chính phủ Pháp trao Huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Nhì[1] năm 2013, bấy giờ là Đại sứ Việt Nam ở Cộng hòa Pháp), Bùi Kiến Quốc theo chân anh trai về nước.

Ảnh kiến trúc sư Bùi Kiến Quốc trên tạp chí PACA của Pháp năm 1986

Bùi Kiến Thành từng kể: “Lúc bác Thành 16, 17 tuổi thì Quốc mới ba, bốn tuổi. Mình ngồi sửa đồng hồ, tháo ra lau chùi rồi lắp vô. Quốc ngồi bên cạnh nhìn, đến lúc mình lắp lại xong hết rồi nó loay hoay tháo hết ra lắp lại, bắt chước rất nhanh. Quốc khéo tay từ bé, thích làm cái gì tay chân, sau này làm kiến trúc sư vẽ công trình rất đẹp. Quốc về Hội An thì rất thân với anh Vũ Ngọc Hoàng, hồi đó là Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam, một người bình dân mà cầu thị lắm. Quốc mặc quần bò, áo sơ mi bỏ ngoài đi lang thang, nghệ sĩ mà, nhiều khi đi xe cọc cạch đến cổng nhà bí thư. Bảo vệ hỏi ‘Anh đi đâu?’ thì trả lời: ‘Tôi đi thăm Bí thư.’ Vui lắm.”

Chúng tôi tới khách sạn Hà An do ông làm chủ, nằm ở đường Phan Bội Châu trong khu phố cổ Hội An. Trung tâm khách sạn là khoảng sân lớn cây cối thoáng đãng, gần cổng dựng một dãy xe đạp cho khách mượn đi. Giữa sân, rất nhiều khách du lịch quốc tế đang ra vào nhộn nhịp. Chúng tôi phải chờ một lúc cho khách trả phòng để “check in”. Tôi được nghe, khi Hà An mới đi vào vận hành, lúc đó hoạt động du lịch Hội An chưa sôi động như hiện nay thì nó đã là khách sạn số một tại đây. Đến giờ hiệu năng hoạt động của khách sạn này vẫn rất cao.

Khác với phong cách ăn mặc chỉn chu với vest hay sơ mi đóng thùng thường thấy ở Bùi Kiến Thành, Bùi Kiến Quốc mặc áo phông bình dân, mái tóc hơi dài chất nghệ. Đó là con người bận rộn, đam mê, cực kì giàu năng lượng ở độ tuổi bảy mươi. Ông kể, ban đầu chỗ này là khu đất hoang của thị xã Hội An, ông định xây một ngôi nhà đủ lớn cho tất cả mọi người trong gia đình sum họp, “một gia đình nhiều người, chung sống đầm ấm bên nhau nhưng lại có những công việc độc lập và sẵn sàng giúp đỡ nhau như truyền thống các gia đình Việt Nam... Chú muốn thế, nhưng rốt cục mỗi người tứ tán một phương, không ai chịu về.” Chắc vì vậy nên khách sạn Hà An có được không khí thoải mái của gia đình, bè bạn mà khách ngoại quốc mê mẩn.

Căn phòng chúng tôi ở cho cảm giác dễ chịu. Phòng không quá rộng, nội thất sử dụng nhiều chất liệu thiên nhiên. Giường mới dọn được đặt những cánh hoa hồng, xà phòng trong buồng tắm mùi hương trầm. Kéo rèm, ta sẽ bước ra ban công treo nhiều chậu cây xanh chạy ngang qua cả các phòng khác. Các bạn lễ tân, phục vụ khá niềm nở, chu đáo khiến chúng tôi vô cùng hài lòng. Nhưng Bùi Kiến Quốc nói, mọi người cần học thêm nữa, ông muốn phải chuyên nghiệp hơn nữa.

Một cậu bé bước tới chào chúng tôi. Đấy là con trai ông, hiện là học sinh lớp 8, tên là Bùi Kiến Đức, trùng tên với một người con quá cố của bác sĩ Tín. Em bảo, em thích giao lưu học hỏi bằng tiếng Anh với người nước ngoài. Đức có gương mặt sáng, ánh mắt tinh anh rất giống bố. Còn Bùi Kiến Quốc, dù thời gian chung sống với ông anh trưởng không nhiều, ta vẫn có thể nhận ra nhiều nét tương đồng với Bùi Kiến Thành, từ khuôn mặt trí thức, chất giọng đến cách nói chuyện hóm hỉnh đầy thu hút. Ông cho chúng tôi xem nhiều công trình mà ông đã và đang thực hiện, những bức ảnh gia đình, cả những bài viết về ông trên báo Pháp khi ông còn trẻ.

Ông đưa chúng tôi ra thăm khu nhà vườn Triêm Tây, một dự án ông đã dồn vào rất nhiều tâm huyết. Tại một ngôi làng nằm ven sông Thu Bồn cách Hội An khoảng mười lăm phút đi thuyền, người dân khi xưa có nghề truyền thống là dệt chiếu cói nhưng gần đây phải di dời đi nhiều vì những cơn bão không ngừng làm đất làng sụt lở. Bùi Kiến Quốc đã lập dự án từng bước xử lí kĩ thuật tình trạng sụt lở, chống bão, giữ nghề truyền thống cho dân làng, rồi trên nền đất đó xây lên một tổ hợp công trình vừa hiện đại, tiện nghi vừa gần gũi với thiên nhiên. Những ngôi nhà khung gỗ, tường bằng kính hướng ra dòng sông, xung quanh rất nhiều tre. Ngồi trong nhà, ta vẫn cảm nhận được không gian thoáng đãng, hoàng hôn phủ vàng mặt đất. Bùi Kiến Quốc vẫn ấp ủ những giấc mơ phát triển kiến trúc và du lịch Hội An vượt qua cả Bali ở Indonesia.

Chúng tôi cùng chú Quốc lấy xe đạp dạo quanh phố cổ, đến thăm gia đình bên vợ của thi sĩ Bùi Giáng, cũng là nơi Bùi Giáng từng trọ học, ở một căn nhà nhỏ nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, phía bên kia Chùa Cầu. Rồi chúng tôi đi qua trường Trần Quý Cáp, nơi các cô chú của bác Thành đều có thời gian học khi còn nhỏ. Về tới khách sạn, chú Quốc gọi ông Bùi Bảy, một người họ hàng đứng vai chú của chú Quốc với bác Thành. Ngoài bảy mươi nhưng ông rất năng nổ, nhiệt tình kể chuyện và đưa mấy đứa đi khắp nơi. Chúng tôi mượn xe máy theo ông Bảy đi Vĩnh Trinh, ông đi băng băng trên đường, thỉnh thoảng tới chỗ rẽ thì dừng lại đợi. Ở Vĩnh Trinh, nhà cũ của thi sĩ Bùi Giáng giờ không còn gì ngoài một cái giếng cạn. Nhà thờ họ Bùi Vĩnh Trinh nằm cách đó không xa, khang trang và to đẹp gần cánh đồng.

Sau một vài trục trặc, chúng tôi liên lạc được với Bùi Kiến Thái, con trai út của Bùi Kiến Thành. Anh sinh năm 1962, sang Pháp từ năm lên bốn tuổi. Anh sống trong một căn nhà giản dị ngay gần bãi biển Cửa Đại, bên ngoài lợp lá cọ, có một con chó hiền trông cửa và một con gà thả rông. Đồ đạc tuềnh toàng nhưng bàn thờ mẹ trong nhà to đẹp, gọn gàng. Anh là Thạc sĩ Kinh tế, về Việt Nam từ năm 1992, sau ‘bố Thành’ một năm. Anh có tham gia hỗ trợ ‘bố Thành’ trong việc xúc tiến những bước ban đầu dự án cảng Đình Vũ - Hải Phòng, bình thường hóa quan hệ Việt - Mĩ. Anh mê Hội An từ những thước phim ‘bố Thành’ ghi hình từ năm 1991, đến năm 1994 thì anh về đây. Anh chia sẻ: “Sống bên kia không thoải mái đâu. Mình là người châu Á ở Paris, đi ra ngoài đường là họ bảo ‘Á, papa le Chinois’, tức là người Trung Quốc đó. Ở Pháp có sự phân biệt, ở Mĩ còn nặng nề hơn vì họ có truyền thống phân biệt chủng tộc với người da đen. Tôi về Việt Nam hồi đó là đợt đầu tiên, toàn những người như mình hồi hương, rất thoải mái.”

Về nước, anh không làm tài chính nữa, giờ anh đang mở lớp nấu ăn cho người nước ngoài. “Lớp đại trà ở bờ sông khu Thuận Tình, đi thuyền ra, 30 đô một người, dạy nấu bốn món, mấy tiếng là xong. Mỗi tháng được 900 khách. Lớp cao cấp học ngay bờ biển, tôi trực tiếp dạy. Nhiều khách sạn quốc tế gửi người sang cho tôi dạy...” Nhớ lại kỷ niệm thơ ấu, anh Thái kể: “Hồi xưa, trường tôi học bên Pháp là trường cấp ba số một ở Paris nhưng tôi chưa thua một ván cờ vây nào. Lúc đó, mình có loa, có máy chạy rồi, đang tiết kiệm tiền mua âm ly. Đáng lí ra phải đợi thêm một năm, nhưng bố Thành nói, con đứng nhất toán ở lớp thì bố mua cho. Mình đang đứng thứ 11, mà bố không biết có thần đồng ở lớp đó nữa, một cậu rất giỏi Toán, sau này là người đầu tiên vẽ bản đồ sao Hỏa. Ba tuần sau, mình nhất Toán rồi, bố Thành, phải chi cái âm ly cho mình.” Rồi anh nói thêm về ‘bố Thành’: “Ổng đọc sách thánh hiền nhiều lắm. Ổng rất quý mấy đứa nhỏ. Tết năm ngoái ổng dẫn bọn trẻ đi chơi ở mấy cái công viên Sài Gòn đông nghẹt người, đi bộ nhiều mà ổng không kêu ca. Mấy đứa nhỏ, ổng chiều lắm.”

Chia tay anh Thái, chú Quốc lại bố trí một chuyến ô tô đưa chúng tôi về quê nội của bác Thành ở Trung Phước, Quế Sơn. Nơi này cách Hội An chừng 70 cây số, là vùng sâu của tỉnh nên nhiều người ở Quảng Nam cũng chưa đặt chân đến bao giờ. Hòn Ngang, Núi Chúa, những ngọn núi lừng lững bên dòng sông Thu Bồn, cảnh quan bao la hùng vĩ. Chúng tôi ăn cơm ở nhà ông Bốn Phương, từng là người làm công cho ông Cửu Thứ. Ngày ông Cửu Thứ từ Vĩnh Trinh lên đây khai hoang, ông đã cho ông nội của Bốn Phương làm quản gia. Ông Bốn Phương vẫn còn nhớ rất nhiều chuyện về ông Cửu Thứ và bác sĩ Tín.

“Đất của ông Cửu Thứ, ổng cho nước. Ổng nuôi cả người dẫn nước đó, không ai phải trả tiền như bây giờ, trả đủ thứ tiền để dẫn thủy. Làm cho ổng thì không đói, không ăn cơm độn. Người làm cho ổng đông lắm đều nể sợ ổng. Ổng có cái phách, cái tướng người làm lớn. Ổng đi qua là mình tránh sang bên, giở nón chào: ‘Thưa thầy’. Ổng kêu la ai ổng không nạt nộ, chỉ hỏi: ‘Chú đới[2] đất ai đấy chú?’” Ông Bốn Phương nhớ lại.

Ngày Bốn Phương mới 13, 14 tuổi đi giữ trâu thì ông Cửu Thứ đã theo Việt Minh rồi. Sau khi Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tháng 9 năm 1945, ông Cửu Thứ hăng say hoạt động cứu quốc, được cử làm Chủ tịch Ủy ban Vận động kháng chiến huyện Quế Sơn. Ông đi bộ từ Trung Phước qua Đèo Le xuống huyện Quế Sơn hô hào nhân dân phụng sự quốc gia đang bị thực dân Pháp tái chiếm. Về sau, ông còn làm Chủ tịch Hội Liên Việt tỉnh Quảng Nam, trụ sở đặt tại Phủ Tam Kì, cách Trung Phước đến 60 cây số, vậy mà ông vẫn đi bộ ngày đêm để dự họp. “Ổng là địa chủ nhưng ổng thương hết. Thời Việt Minh đấu tố đó, dân chẳng ai đấu tố ổng. Bùi Phú, em thứ tư của ông Tín, sau còn làm Chủ tịch Quế Sơn. Còn bác sĩ Tín năm 1963 ứng cử Quốc hội Chính phủ Ngô Đình Diệm thì đậu 99,9%, mới về cho dân ở đây 200 ngàn, hồi đó to lắm. Ổng cho đất, cho tiền xây dựng trường cấp một, chừ vẫn còn.”

Thời kì chiến đấu, máy bay Pháp thường bay từ Đà Nẵng lên thả bom đánh phá chiến khu Trung Phước. Ông Cửu Thứ xây một hầm trú ẩn kiên cố bên hông nhà bếp. Ông Bốn Phương dẫn chúng tôi đi xem dấu vết còn lại của cái hầm phủ đầy cỏ dại. Rạng sáng ngày 9/11/1952, hầm trúng ba trái bom 500 kilôgam làm 18 người tử nạn, trong đó có cả ông bà Bùi Biên và một số người trong gia đình. Chỉ có ba người sống sót. “Mỗi ông Cửu Thứ còn nguyên người, những người kia nát bét hết. Lúc đó tôi đang đi giữ trâu cách đó mấy cây số... Lẽ ra ông Cửu Thứ có việc đi rồi, nhưng vì bà sui gia là dòng tộc vợ vua Khải Định tới nên ổng quay về tiếp khách. Rồi bả cũng chết luôn. Họ đồn rằng có người trong họ Bùi chỉ điểm, tố chỗ có cây cau hai nhánh ngay miệng hầm, giờ chi mà còn. Tối đó tôi ngồi giữ xác trong kia kìa...” Đó là đại nạn trong gia đình ông Cửu Thứ - Bùi Biên.

Khoảng một tháng sau chuyến đi Quảng Nam, dịp 30/4/2014, chúng tôi gặp Hải An, một kĩ sư địa chất chuyên tìm hiểu kết cấu đất để xây dựng các công trình và các loại đá quý, người gọi Bùi Kiến Thành bằng “cậu”. Chị là con của bà Bùi Thị Ngọc Nữ, con thứ tư của ông bà bác sĩ Tín. Hải An có thể giao tiếp bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Thái, và dù sinh ra, lớn lên ở Pháp, mới chỉ về nước đôi lần, nhưng chị vẫn khiến chúng tôi ngỡ ngàng vì nói tiếng Việt khá tốt. Lần này từ Pháp về, chị chuẩn bị cùng bạn trai đi xem đá ở Lục Yên - Yên Bái. Trong một buổi chiều vội vã cùng chị ra ga hỏi mua vé tàu, chúng tôi được nghe thêm một số điều thú vị về gia đình chị.

“Từ nhỏ tới 11 tuổi chị nói tiếng Việt ở nhà, còn đi học thì nói tiếng Pháp. Bà ngoại không cho ai nói tiếng Pháp trong nhà. Gia đình chị có một căn hộ ở Quận 5, trung tâm Paris, có đường tàu điện, trường đại học lớn, khu lân cận cổ kính và sang trọng. Hồi bé xíu, có lần chị bảo ông: ‘Đồ chơi của cháu rơi vào gầm tủ rồi, ông tìm đi’. Khi ông đang cúi xuống thì chị nhảy lên đầu ông và hét: ‘Cháu đùa đấy’ rồi cười khoái chí. Cả nhà đều bảo chị là một trong những đứa cháu được ông bà cưng nhất, có thể vì chị là đứa cháu gái đầu tiên trong nhà trong khoảng 15 năm.”

“Như vậy, ông bà bác sĩ Tín dành rất thiều thời gian cho con cháu phải không chị?”

“Ông ngoại lúc nào cũng cười. Ông dạy chị vẽ, có lẽ đó không phải là hình ảnh người khác thấy ở ông. Với chị, ông chẳng khó tính bao giờ. Ông sẵn sàng chơi với chị đủ các trò, từ ghép các nhân vật cổ tích, giờ chị vẫn giữ cái hộp đó, rồi chơi rubik... Chính nhờ ông mà chị biết cách thông cảm, giao tiếp, vui cười với mọi người. Hồi sáu tuổi, chị đã vẽ tặng ông con linh dương, một trong những động vật mà ông yêu thích. Ông cất vào ngăn kéo cẩn thận.

Bà ngoại thì ít khi cười, hầu như lúc nào cũng rất nghiêm khắc. Nhưng bà nghiêm khắc với con hơn với cháu, thường bênh chị trước mẹ hay các cậu, nên chị thích làm gì cũng được. Không hay lắm cho họ vì chị cũng hơi lạm dụng việc đấy, chị rất hiếu động. Mẹ chị thì ở phe kia, luôn phải đằng thẳng, rõ ràng. Chị bị đánh một lần, đó là lần đến nhà một người bạn của mẹ và giành đồ chơi của con họ, bị mẹ phát cho một cái. Như thế là quá đủ cho lòng tự trọng của chị rồi, đủ để dạy cho chị biết phải trái.

Còn trong công việc ư? Ông ngoại lúc nào cũng đi đi lại lại, làm công việc kinh doanh, lúc nào cũng thử cái mới. Văn phòng ông đủ thứ giấy tờ. Cậu tám Bùi Kiến Nghĩa ở Canada thường bảo với bọn chị rằng ông có rất nhiều ý tưởng điên rồ. Ông tới Mĩ và muốn làm một công viên Disneyland tại Việt Nam từ những năm 1970. Sau này nhà chị dọn dẹp đống giấy tờ thì tìm thấy mấy đồ cũ của ông. Có những ghi chú của ông về ‘holistic healing’, tạm gọi là ‘sức khỏe toàn diện’, đưa vấn đề tâm lí vào việc chữa trị cùng với cơ thể vật lí và thần kinh. Đó là tầm năm 1989, tức là đi trước mọi người khoảng 20 năm. Bây giờ ở Mĩ và châu Âu đâu đâu cũng nói về ‘holistic healing’ hết. Một số ý tưởng của ông điên đến mức không làm được vì đi trước thời đại nhiều quá. Một số khác thì có thể làm được, chị tin là có khi còn đáng giá cả triệu đô.”

“Bà ngoại của chị thì sao? Em được nghe kể nhiều về khả năng quản lí của bà.”

“Bà ngoại khác hẳn. Bà không làm cái xa vời nhưng một khi bà đã làm gì bà sẽ đúng 100%, không thì cũng là 90%. Thế nên các con của ông bà nghe lời mẹ hơn bố. Bà chị dạy là nếu không nấu thì ít nhất cũng phải biết trân trọng món ăn. Bà nấu ăn ngon lắm. Chị chưa bao giờ ăn thức ăn ngon như vậy từ khi bà mất. Bà chăm chị lúc chị ốm, cho chị ăn nhiều đồ rán, rồi rau, rồi thịt. Bà có xu hướng chỉ đạo trong mọi việc, làm cái này đi, làm cái kia đi, và ai cũng sẽ nghe theo. Thật buồn cười vì nhiều người kể với chị về ông ngoại, những việc ông làm, ông như một người anh hùng vậy. Thực tế trong nhà chị, người được coi là anh hùng chính là bà ngoại. Ông chị sẽ làm bất cứ việc gì bà bảo. Bên trong với bên ngoài có thể ngược nhau thế đấy. Mẹ và các cậu chị có thể không nghe lời ông khi ông bảo mọi người làm gì đó, nhưng họ không bao giờ dám như thế với bà.”

“Ở nước ngoài, mọi người trong gia đình chị có hay tụ họp không?”

“Ngày bà ngoại còn sống, gia đình vẫn thường tụ họp tại ngôi nhà ở Paris, một tháng một lần, có mẹ, cậu Quốc, cậu Nghĩa, dì Ngọc Liên, dì Lựu, con nuôi của bà. Riêng cậu Thành chị chưa bao giờ gặp cho tới khi 12 tuổi. Bà mất thì tan rã cả, bà là người giữ cho cả gia đình gắn kết với nhau. Mỗi mùa hè, nhà chị sẽ tới Montréal thăm cậu Nghĩa và dì Liên ở đó. Cho tới khi chị ba, bốn tuổi thì ông vẫn đi cùng, sau đó thì lúc nào ông cũng đi đâu đấy, Mĩ chẳng hạn, chả biết làm gì nhưng về đều có quà. Ông sang Australia gần hai năm, mang về cho chị một con kaola nhé.”

“Gia đình chị toàn những người tài giỏi, chị có thấy áp lực không?”

“Sống trong gia đình như thế cũng khó. Lúc nào cũng có ai đó bảo chị là cậu chị, dì chị đã làm được thế này cơ này. Mẹ chị học 10 hay 12 năm để trở thành dược sĩ, chị sẽ không bao giờ làm được điều đó. Ông bà ngoại nuôi chị lớn vì mẹ chị không mấy khi ở nhà, toàn đi làm. Mẹ rất tận tụy trong công việc, có hôm từ bảy giờ sáng tới 11 giờ khuya mới về. Mẹ làm Giám đốc trung tâm dược lớn nhất Paris, Central Pharmacy of Paris, cung cấp thuốc cho tất cả các bệnh viện ở thủ đô. Bà là người đầu tiên ứng dụng máy tính vào ngành dược. Bà từng mua rất nhiều nhà ở Paris, giờ bà vẫn để lại hai căn nhà. Một căn ở miền nam nước Pháp, bà sửa và cho thuê, bà không phải kiến trúc sư và không biết gì về xây dựng nên phải tự học.

Mẹ chị là người rất ương bướng, đã có gì trong đầu bà thì rất khó để loại bỏ nó, mọi việc phải làm theo đúng cách của bà chứ không theo cách khác. Chị đã làm mẹ đau đầu nhiều. Làm mẹ đơn thân rất vất vả. Mẹ chị muốn có một gia đình thật lớn, có sáu đứa con như bà ngoại, tuy nhiên mọi việc với bố chị không thành. Bà ngoại không thích bố, hai bên không thỏa thuận được vấn đề hôn nhân, đã làm đám cưới truyền thống Việt Nam còn đám cưới theo luật pháp của Pháp thì bố chị từ bỏ trước mặt mẹ và luật sư khi chỉ còn ba ngày và 800 khách đã được mời. Sau đó mẹ không kết hôn cùng ai khác.”

“Chị thấy không khí trong nhà mình thế nào?”

“Không hoàn toàn viên mãn, vì xa quê hương không phải là điều dễ dàng. Bà ngoại có một đức tính khá độc đáo, kiên quyết đưa tất cả các con đều phải đi học nước ngoài, kể cả con gái. Ông bà cho con đi khắp nơi, rải rác ở các lục địa. Kết quả của việc đó cũng không tốt lắm, cuối cùng các con không ở gần nhau. Ai cũng sống đời mình, cách xa những người còn lại. Anh chị em trong nhà thì có nhiều khác biệt tuổi tác. Cậu Thành thì 83, mẹ chị 69, bà vừa mất năm nay. Các dì cậu khác trẻ hơn nhiều. Thường nhà chỉ có bốn người là ông, bà, mẹ và chị cùng với một cô giúp việc, mẹ với ông đi làm suốt thì còn chị với bà.

Nhưng dù yêu công việc, gia đình với mẹ vẫn quan trọng hơn. Khi bà chị ốm và muốn chuyển nhà xuống phía nam để gần cậu Quốc, mẹ đã xoay sở bỏ việc và tìm việc mới dưới miền nam để cả nhà được ở bên nhau. Bà chị mất chỉ khoảng sáu tháng sau đó. Đó là tháng 7 năm 1991, chị 11 tuổi. Đám tang bà có rất nhiều người tới, từ khắp mọi nơi. Từ khi bà mất, ông lặng lẽ phai nhạt dần. Thật buồn cười vì trước đó ông đi suốt, chẳng mấy khi ở gần vợ. Chị tin là ông cũng có cả những người đàn bà khác nữa. Dù thế, giữa ông và bà có sự gắn kết đặc biệt với nhau, nên khi bà mất ông cứ dần dần mờ nhạt đi. Một con người sống động bỗng nhiên mờ dần...”

Trong thư gửi em trai Bùi Thạnh ngày 8/8/1992, Bùi Kiến Tín viết:

“... Từ ngày thể xác nhà tôi không còn sống trên địa cầu, tôi quá cô đơn và rất nhiều ân hận. Ngày và đêm mở mắt hay nhắm mắt đều thấy hình ảnh của nhà tôi và không biết bao nhiêu là kỷ vật xung quanh.

Tôi đi chợ Tàu mua đồ ăn, thấy hình ảnh nhà tôi ở tiệm thịt, tiệm rau. Vừa rồi, đi ngang số 1 Rue Vanquelin và trường cũ của Hải An, thấy nhà tôi đứng trời mưa đợi đón Hải An ra lớp học chiều...”

Năm 1994, ông qua đời.

❀ ❀ ❀

[1] Tiếng Pháp là “Ordre national de la Légion d’honneur”.

[2] Tiếng địa phương Quảng Nam nói “đái” là “đới”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.