Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 284 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chính khách trẻ nhất ra vào Dinh Gia Long

❊ ❊ ❊

Tháng 5 năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ là đòn kết liễu chí mạng cho sự hiện diện của thực dân Pháp tại Đông Dương, buộc Pháp phải rút quân. Ngày 4/6/1954, Pháp đã kí một Hiệp định với Quốc gia Việt Nam công nhận Quốc gia Việt Nam hoàn toàn độc lập. Tại Genève sau đó, Pháp và các nước cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Sông Bến Hải, vĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự. Chính quyền và quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tập trung về miền Bắc; chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. Tuyên bố cuối cùng ngày 21/7/1954 cho biết cuộc tổng tuyển cử tự do trên toàn lãnh thổ Việt Nam dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 7 năm 1956. Sau ngày Hiệp định Genève được kí kết, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm phát biểu từ chối cuộc tổng tuyển cử nói trên, bác bỏ ngay cả những thảo luận sơ khởi với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về vấn đề tuyển cử thống nhất Việt Nam.

“Khi ông Thủ tướng Diệm về làm việc cho tới suốt thời gian ông ấy chấn chỉnh lại thì quân đội hoàn toàn dưới sự chỉ đạo của Chính phủ Pháp, do Pháp trả lương. Cảnh sát do Bình Xuyên chỉ đạo, mà Bình Xuyên là một cái đám ăn cướp, đĩ điếm, đánh bạc… cũng do Pháp trả lương luôn. Vậy ai là người giúp cho ông Thủ tướng không tiền, không cảnh sát, không quân đội, người phải chịu trách nhiệm toàn bộ miền Nam, phải di một triệu dân từ bắc vào nam?” Bùi Kiến Thành chậm rãi kể, cặp mắt mông lung nhìn ra phía trước như thể có một bức tranh khổng lồ đang dần hiện ra.

“Có những chuyện mà sử sách chưa ai nói đến... Người ta cứ tưởng Mĩ đưa ông Diệm về, nhưng không, chính Bảo Đại đưa ông Diệm về và ổng chấp nhận những rủi ro. Ổng coi đây là cơ hội cuối cùng của mình. Đại sứ đặc quyền của Tổng thống Mĩ Eisenhower tại Việt Nam cho đến cuối năm 1954 là Donald R. Heath không hề ủng hộ chính thể Ngô Đình Diệm. Người kế nhiệm là Joseph Lawton Collins lại là bạn thân của Đại tướng Paul Ely, Cao ủy Pháp tại Đông Dương, tức là còn lớn hơn cả Toàn quyền. Cho nên Collins cũng thân Pháp. Tuy nhiên, có một nhân vật là Đại tá Edward Lansdale, Trưởng phái bộ quân sự Mĩ ở Sài Gòn. Ông này có kinh nghiệm giúp Tổng thống Magsaysay của Philippines giải quyết một số vấn đề nội bộ khủng hoảng. Ổng đi khắp nơi để nghiên cứu tình hình quân sự Việt Nam, thấy rằng nếu Mĩ muốn quan tâm đến vấn đề ở Việt Nam thì phải ủng hộ Chính phủ hợp pháp của ông Diệm. Đại tá Lansdale còn có quan hệ với Cục Tình báo Trung ương CIA. Tổng Cục trưởng CIA, Allen Dulles, là em trai của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao John Foster Dulles, nhân vật đứng thứ ba trong Chính phủ Mĩ chỉ sau Tổng thống và Chủ tịch Quốc hội. Họ có cách riêng để nghiên cứu tình hình và báo cáo về, không phải theo chỉ đạo của Đại sứ. CIA cử Paul Harwood ngầm lấy thông tin từ các nhân sĩ ở Sài Gòn, trong đó có Ngô Đình Nhu. Giáo sư Wesley Fishel là người móc nối Lansdale cho ông Diệm chứ không phải tự nhiên Lansdale từ Philippines qua Việt Nam giúp ông Diệm. Wesley Fishel quen ông Diệm bên Tokyo khi đang làm trong văn phòng tướng Douglas MacArthur[1]. Fishel rất đắc lực nhưng lại không hề ồn ào.”

Tôi xoay xoay tách trà. Hương trà thơm khe khẽ theo làn khói bay lên làm không gian ấm cúng hơn.

“Theo bác, lí do gì mà Chính phủ Mĩ lại ủng hộ Ngô Đình Diệm?”

“Tuy rằng trong những năm 1951 - 1952 ông Diệm có tiếp xúc với một số nhân sĩ Mĩ như Hồng y Spellman, thẩm phán Tối cao Pháp viện William Orville Douglas, Thượng nghị sĩ Mike Mansfield... nhưng lúc đó Chính phủ Mĩ chưa biết ông Diệm là ai. Mĩ muốn can thiệp vào Việt Nam thì phải giúp Quốc trưởng Bảo Đại và những người do Bảo Đại bổ nhiệm, vì ổng là quyền lực tối cao. Nhưng Bảo Đại không quan tâm tới chủ quyền Việt Nam, từ năm 1949 khi ông ấy làm Quốc trưởng cho đến năm 1954, ông ấy để mặc cho Pháp chỉ đạo tất cả. Ở Sài Gòn, ổng chơi với Bình Xuyên. Mấy cái sòng bạc lớn Đại Thế Giới, Kim Chung mỗi tháng thu được bao nhiêu thì chia cho Bảo Đại. Bao nhiêu tiền kiếm được từ tệ nạn, bê bối thì đều chia cho Bảo Đại. Mĩ bắt đầu nhìn nhận ông Diệm từ những báo cáo về mấy hoạt động hồi nãy bác kể. Nhân sĩ Việt Nam cũng năm, bảy phe. Khi ông Diệm nhậm chức thì chỉ có một đám nhân sĩ với 27 anh sĩ quan theo ông.”

“Và chàng trai trẻ Bùi Kiến Thành đã trở thành chính khách trong Chính phủ Ngô Đình Diệm trong hoàn cảnh đó ạ?”

“Mình về Sài Gòn ngày 23 tháng 8 khi ông Diệm làm Thủ tướng được hơn một tháng. Võ Văn Hải, thư kí của ông Diệm khi ấy bảo, ổng làm Thủ tướng mà chả có ai nên yêu cầu mấy người về làm ban nghiên cứu cho ổng. Ông Diệm gửi xe ra sân bay Tân Sơn Nhất đón sáu thằng về. Đúng giờ trưa, ổng mời cả mấy người ăn cơm cùng hai, ba ông tổng trưởng, bộ trưởng nữa. Trong số đó có ông Phạm Duy Khiêm[2], một nhân sĩ, học giả tốt nghiệp trường Sư phạm École Normale Supérieure - là trường đào tạo nhiều học giả tại Pháp. Ổng là bạn học của Georges Pompidou, người sau này làm Thủ tướng, rồi Tổng thống Pháp, cũng như Léopold Sédar Senghor, người sau này làm Tổng thống Senegal. Nói chuyện thân tình thôi, ông Diệm bảo: ‘Các anh về đây vui quá. Cố gắng giúp tôi!’ Bàn về chiến lược, ban đầu sáu thằng sẽ thành nhóm làm việc, kiểu như ban cố vấn đặc biệt cho Thủ tướng, nhưng ổng nghĩ sao lại bảo mỗi anh vào một bộ để nắm bắt tình hình. Dư Phước Long không thích nên sau đó xin đi làm Tham vụ Văn hóa Tòa Đại sứ ở Washington. Còn năm thằng, Huỳnh Văn Lang làm ở Bộ Tài chính, Đỗ Trọng Chu làm ở Bộ Ngoại giao, Nguyễn Thái làm ở cơ quan Thông tấn xã, Đỗ Vạng Lý làm ở Bộ Ngoại giao. Bùi Kiến Thành trẻ nhất thì ở cạnh ông Diệm.”

“Những việc bác giúp ông Diệm giai đoạn này là gì?” Thanh Huyền hỏi, tay không ngừng ghi chép vào cuốn sổ nhỏ.

“Ngày đêm bác Thành ở cạnh ông Diệm, mỗi lần ổng tiếp các nhân vật lớn của bên Mĩ như Bộ trưởng Bộ Ngoại giao John Foster Dulles, Trưởng phái bộ quân sự Mĩ ở Sài Gòn, Trung tướng O’ Daniel, Đại sứ Joseph Lawton Collins… thường gọi bác ra làm phiên dịch. Ông Diệm nói được tiếng Anh nhưng không muốn nói vì cần thời gian suy nghĩ, và nguyên tắc ngoại giao là người dịch có thể nói sai, sau đó nếu có thông cáo gì chưa đồng ý thì có thể sửa được. Ổng nói trực tiếp thì không sửa được. Về vấn đề di tản hơn 900 ngàn đồng bào từ bắc vào nam, ông Diệm đi đâu bác Thành cũng phải đi theo, nhất là khi đi đón những người di cư xuống tàu để người ta thấy sự quan tâm. Nhiều người như thế mà trong ngân khố không có tiền, do đó phải đi thương lượng để Mĩ cấp tiền. Khi đó có Ủy ban Cứu trợ Quốc tế IRC (International Rescue Committee) và cơ quan cứu trợ của Công giáo, vì hơn 50% dân di tản là người Công giáo. Đó là ‘cuộc di dân vĩ đại’, tầm cỡ thế giới, di dân chống Cộng sản nên chính phủ Mĩ ủng hộ hết mình. Mấy anh làm truyền thông của Mĩ rỉ tai bảo anh nhớ đưa hình Thủ tướng, ví dụ hình Thủ tướng bế đứa bé di cư nè...”

Khi Diệm về làm Thủ tướng thì Ngô Đình Nhu còn ở trọ trong bệnh viện của Đức cha Thục. Gọi là bệnh viện nhưng rất nhỏ, chưa tới 100 giường, ông bà Nhu ở hai căn trong một dãy nhà phụ của viện. Mỗi khi cần, ông Diệm kêu Thành tới bảo Nhu ra bàn chút chuyện. Một thời gian sau Ngô Đình Nhu mới vào ở chung dinh Gia Long. Mỗi lần có chuyện gì quan trọng thì Thủ tướng lại kêu Nhu, bác sĩ Tín qua và có cả Bùi Kiến Thành ngồi đấy, bốn người bàn chuyện đại sự, hết chuyện này đến chuyện khác. Cuối cùng, Ngô Đình Diệm bảo Bùi Kiến Thành thỉnh thoảng qua Bộ Thông tin giúp bác sĩ Tín, làm quan hệ và thông tin cho tốt để người ta biết tình hình Việt Nam, đồng thời giúp ông Nhu quan hệ với những phái đoàn đặc biệt của Mĩ cử qua để liên lạc trực tiếp với Tổng thống Mĩ mà không qua sứ quán, vì sứ quán khi đó thân thiết với Pháp.

“Thủ tướng Diệm nói gì thì ông Nhu thực hiện. Ông Diệm, ông Nhu, bác sĩ Tín ngồi đấy thì bác Thành theo dõi tình hình, có gì trợ giúp. Như vậy là bác Thành một chốn ba nơi, khi thì trợ lí cho Thủ tướng, khi thì trợ lí cho ông Nhu, khi thì giúp bác sĩ Tín, Bộ trưởng Bộ Thông tin… Nhiều lần bác Thành chở ông Nhu đi gặp Paul Harwood. Bác thường xuyên làm việc với người phụ tá Putney Westerfield và trợ lí của Harwood là chị Virginia Spence. Một hôm, Harwood đề nghị được gặp trực tiếp Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Điều này trái với nguyên tắc ngoại giao thông thường nhưng ông Nhu đồng ý. Tối đó, bác Thành đón Harwood vào Dinh Độc Lập ngồi đối diện với Thủ tướng, trực tiếp nghe Thủ tướng nói, bác Thành làm phiên dịch. Sau đó Harwood có báo cáo chi tiết về cho Chính phủ Mĩ.

Bất kể thời gian sáng trưa chiều tối, bất kể lúc nào ông Nhu gọi điện thoại là bác Thành lái xe chở ông đi, như cặp bài trùng. Trong điều kiện cảnh sát nằm trong tay của Bình Xuyên, cực kì nguy hiểm, ra phố có thể bị giết bất cứ lúc nào, bác với ông Nhu đi gặp những phái đoàn quan trọng nhất của Mĩ. Đi thì cứ đi thôi chứ mình không quan tâm đến nguy hiểm. Mình chỉ ngồi theo dõi chứ không tham gia vào câu chuyện, đôi khi giúp một chút trong việc phiên dịch do các viên chức Mĩ làm việc với ông Nhu thường dùng tiếng Pháp. Tụi Mĩ hỏi thằng nhỏ này học ở đâu về mà nói tiếng Anh giỏi thế, thì mình trả lời rằng ở Columbia…”

“Cảnh sát dám giết người của Thủ tướng sao ạ?”

“Nhiều chuyện li kì lắm... Anh này nắm cảnh sát, anh kia nắm quân đội, hai lực lượng trở nhau. Ông Nhu ngồi tính làm sao chia nó ra, nó đã chống nhau thì cho nó chống nhau dữ dội luôn. Mình dùng quân đội để giải quyết mấy anh Bình Xuyên, tăng sức mạnh của quân đội lên. Nhưng nói vậy thôi chứ không đơn giản chút nào vì Bình Xuyên rất giàu, mà cảnh sát muốn giết ai thì giết, không cần luật lệ gì, mỗi ngày giết năm, bảy người như không. Nó đi qua trước cơ quan quân đội thì cứ xả súng bắn chơi thôi. Tụi quân đội tức lắm. Ông Nhu nghĩ cách để quân đội tức đến mức đi giải tán lực lượng Bình Xuyên, đuổi ra khỏi Sài Gòn. Giải quyết vấn đề cảnh sát xong thì cần nắm lại quân đội... Câu chuyện rất dài... Nghĩ lại thấy vui vì chuyện quốc gia đại sự mà coi như chơi.”

“Bác vẫn để bác gái ở bên Mĩ đúng không ạ?”

“Tháng tám bác Thành về thì bà vợ nhất định đòi về. Bác nói với ông Diệm là vợ tôi đòi về, ổng bảo về làm gì, bao giờ ổn định hãy về, ra đường nó giết mình lúc nào không biết… Ổng sợ về là bị kẹt lại. Về thì dễ còn đi thì rất khó, xin thị thực để đi không đơn giản chút nào. Bác Thành mới bảo thôi cụ đừng lo, cụ cứ viết mấy chữ lên giấy cụ cho phép nhà tôi về, tôi đưa ra ngoài cho chánh văn phòng giải quyết. Mấy tháng sau thì mình làm vé máy bay cho vợ về. Bả cứ nghĩ là về sẽ giúp chồng, để chồng một mình cũng tội. Mình đi làm không có ngày giờ gì cả. Nhiều khi mình đi đến ba, bốn giờ sáng mới về, không gọi điện gì nên vợ trách lắm nhưng làm sao mà gọi được, đi toàn việc đại sự, bí mật. Mình không thể làm được những việc mà vợ mong đợi như đi về đúng giờ ăn cơm, về muộn thì báo,… Người phụ nữ có bao dung mấy cũng khó mà thông cảm được, nên cuộc sống gia đình cũng gặp vấn đề.”

Trầm ngâm vài giây, bác Thành kể tiếp:

“Tháng 9 năm 1954, Pháp trao trả Dinh Norodom. Đến cuối năm, mấy ông ngồi bàn nhau, bác sĩ Tín đề nghị đổi tên Dinh Norodom thành Dinh Độc Lập, nhằm thể hiện vị thế của mình với thế giới, còn đại lộ Norodom nối Dinh Độc Lập tới vườn thú bây giờ đặt là đại lộ Thống Nhất. Đề nghị được tán thành. Đó là hai cái tên đầu tiên và cực kì quan trọng dưới chính thể của ông Diệm, là vấn đề ‘độc lập’ và ‘thống nhất’. Quyết định được đưa ra chính thức vào năm 1955, sau khi ông Diệm phế truất Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Nhưng mình nói chuyện Thủ tướng Diệm chuyển từ Dinh Gia Long sang trước đã, khi đó Dinh Norodom trống trơn, không có gì cả. Mới đầu sáu anh em ở tạm một khách sạn trong Chợ Lớn, rồi được bố trí tới biệt thự ở số nhà 142 Hai Bà Trưng, ngày ngày vào dinh làm việc…”

Khi Thủ tướng Diệm và các cộng sự ngồi họp thì bên ngoài đài phát thanh chửi bới Diệm tơi bời. Đài phát thanh là do quân đội kiểm soát. Ông Nhu đề xuất làm một đài phát thanh riêng, ông Tín đề xuất ra một tờ báo riêng, vì bấy giờ báo chí toàn của phe bên kia. Trong hoàn cảnh này, ông Diệm cần cơ quan ngôn luận.

Bác Thành đăm chiêu thuật lại tình hình bấy giờ:

“Trước khi ông Tín về làm Bộ Thông tin thì vị trí ấy do Lê Quang Luật đảm nhiệm. Ổng là người Bắc di cư, đưa một nhóm hơn mười nhân sĩ, văn hào ngoài Bắc vào như Tam Lang, Vũ Khắc Khoan, Bàng Bá Lâm, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Đinh Hùng… Mặc Đỗ hồi đấy là Chánh văn phòng Bộ Thông tin, Mặc Thu cũng ở chung trong Bộ. Sau một thời gian, ông Tín không làm Bộ trưởng Thông tin nữa, trước khi nghỉ, ổng kí giấy cho phép xuất bản một tờ báo, bảo bác Thành đi tìm người làm. Mình bàn với ông Diệm, ông Nhu là, muốn làm tờ báo có ảnh hưởng thì tờ báo cần có quyền ăn nói tự do, do đó tôi đề nghị lấy tên tờ báo là Tự Do, khi đi tập hợp anh em, tôi cần đảm bảo với họ là được nói tự do. Mình cử anh Tam Lang qua làm chủ nhiệm, anh Mặc Thu làm quản lí, anh Như Phong làm thư kí tòa soạn. Nhưng rồi vấn đề tiền lại xuất hiện. Ngân sách chẳng có gì, bác Thành quyết định đi lo tiền. Bác qua Phòng Thông tin Mĩ (American Information Service), đề nghị giúp đỡ tiền để thành lập tờ báo, sau đó tiếp tục đi xin mấy tổ chức phi chính phủ Mĩ. Mình giao tiền cho anh Mặc Thu, Tam Lang, Như Phong làm hết. Mình chỉ đảm bảo hai việc là quyền nói tự do và cung cấp tiền. Mới đầu các anh ấy viết rất tốt, có thế rất mạnh. Không ai hiểu sao trong cái đất Sài Gòn này mà các ông đấy lại dám ăn dám nói kinh thế. Mấy năm sau, tờ báo còn vẽ hình châm biếm, hình Bà Trưng cầm cờ, viết mấy chữ ở dưới là ‘Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân’ chỉ trích Trần Lệ Xuân. Nhưng khổ nỗi, mấy anh lại chỉ chăm chăm đề tài chống Cộng chứ chưa có ý niệm gì về dân chủ tự do. Sau này khi bác Thành qua bên Mĩ, mấy anh quản lí báo Tự Do lục đục với nhau, cuối cùng Tam Lang làm đơn xin ngừng hoạt động, đóng cửa tờ báo. Đấy thực sự là một cái lỗi. Mình đã mất công xây dựng lên một tờ báo, lôi kéo trí thức về tham gia mà cuối cùng lại để người khác giải tán. Bác sĩ Trần Kim Tuyến sau này xin xuất bản trở lại, tiếp tục tờ báo Tự Do, rồi xuất hiện một tờ báo Người Việt Tự Do. Đó là câu chuyện về tờ báo Tự Do mà chắc ít ai biết.”

“Đài Phát thanh thì thế nào ạ?”

“Cái đài phát thanh mới vui... Ông Nhu giao, bác Thành nhận. Bác Thành yêu cầu ông Nhu đề cử một người quản lí đài. Nhu kêu ông đại úy Phạm Văn Sơn, trong quân đội chuyên về ngành lịch sử, giúp bác Thành xây dựng chương trình. Chính những người viết báo Tự Do đã viết bài cho Đài Phát thanh. Ông Sơn nói, tôi làm được nhưng tôi không phải chuyên gia làm phát thanh. Cũng có duyên, hồi đó bác Thành quen ông Lê Đình Duyên, làm việc trong Đài Phát thanh Sài Gòn hay đi lên đi xuống trong Bộ Thông tin nên mời ổng về phụ trách kĩ thuật. Ông Duyên đồng ý.

Bác gặp Paul Harwood, đại diện CIA Mĩ ở Sài Gòn, nói rằng Thủ tướng cần máy phát thanh, ít nhất phát trong Sài Gòn. Mĩ quyết định cho cái máy to bằng cái bàn, hẹn mai đến lấy. Nhận máy phải tính nước an toàn, sợ bọn Bình Xuyên định vị và tìm được ra nơi để đài, đến phá. Anh Sơn móc nối với đại tá Mai Hữu Xuân, lúc đó là Giám đốc An ninh Quân đội, được ảnh đồng ý đặt máy trong trụ sở An ninh Quân đội. Y hẹn, hôm đó bác Thành lái một chiếc xe jeep ra đường để đấy, Mĩ tới lấy xe đi, bỏ máy lên rồi mang xe lại để chỗ cũ để mình lấy xe, lấy máy về. Rồi trong cùng ngày, cùng cách ấy, mình đưa máy qua An ninh Quân đội. Bác Thành đặt tên đài là ‘Tiếng nói Quốc dân Đoàn kết’. Hai ngày sau từ đấy phát ra: ‘Đây là Đài Tiếng nói Quốc dân Đoàn kết…’ Chuyện tày trời mà làm như chơi vậy đó.”

Bác Thành ngừng một lúc rồi lắc đầu:

“Mình ra một tờ báo có tên là Tự Do với tinh thần tự do ngôn luận. Nhưng các anh ấy chưa làm được, không xây dựng được không khí tự do như mình chờ đợi, một tinh thần khách quan, có tính nhân văn. Tờ báo phần lớn nói về chính trị, chống Cộng thôi. Đài Phát thanh cũng thế... Bác Thành không có thì giờ tham gia, mấy ông cũng không có nội dung phong phú mà chỉ lên án Cộng sản, được cái là tạo ra tiếng nói của mặt trận đoàn kết dân tộc ủng hộ Ngô Đình Diệm, dẫn đến dao động tinh thần phía bên quân đội. Cho tới khi ông Diệm củng cố được chính trị, chính quyền thì Đài Phát thanh không còn lí do để hoạt động nữa vì đã có Đài Quốc gia rồi.”

Chàng thanh niên 23 tuổi Bùi Kiến Thành, vừa tốt nghiệp đại học vài tháng trước, đang tính đi học tiếp về quản trị kinh doanh thì bị lôi về, ngồi ngay bộ tứ với Nhu, Tín, Diệm và vạch 114 Bùi Kiến Thành - Người mở khóa lãng du ra những chiến lược quốc gia, nhận những nhiệm vụ Thủ tướng không thể giao cho ai khác… Hình dung mình ở hoàn cảnh của ông, tôi hỏi:

“Bác có cảm thấy áp lực gì không ạ?”

“Không có áp lực gì cả, vì bác thấy không có việc gì quan trọng. Cứ bảo làm thì làm thôi, vui lắm. Bác Thành ở Sài Gòn là ở một cái nhà xa trung tâm, có thể nói nếu Bình Xuyên biết thì nó đến giết mình lúc nào cũng được. May quá nó không biết. Những chuyện mình làm không ai xì xào được, chỉ ngồi bốn người nói chuyện thôi. Nó chỉ thấy một thằng trẻ con 23 tuổi lái xe nên coi thường, không đề phòng.”

Thế nhưng hoạt động của chàng chính khách trẻ tuổi Bùi Kiến Thành trong nội các Ngô Đình Diệm năm ấy không chỉ toàn chuyện chính trị khô khan mà còn có nhiều điều trẻ trung, tươi tắn với bầu nhiệt huyết tuổi thanh xuân.

❀ ❀ ❀

[1] Tư lệnh Tối cao của lực lượng Mĩ tại Thái Bình Dương và Chỉ huy cao nhất của quân đội Mĩ tại Nhật sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh.

[2] Nhà giáo, nhà văn, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp và tại UNESCO.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.