Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 284 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Cánh chim về tổ

❊ ❊ ❊

Năm 1984, Maurice R. Greenberg, người kế tục Cornelius Vander Starr điều hành American International Group (AIG) mời Bùi Kiến Thành sang Mĩ làm việc. Tập đoàn AIG phát triển lên từ công ty bảo hiểm quốc tế AIU mà ông từng là người đại diện chính thức tại Sài Gòn trước khi bị bắt vào tù. Bùi Kiến Thành được trao giữ vị trí thanh tra giám sát tại Chicago, khu vực quan trọng thứ hai trong số bảy khu vực kinh tế của Mĩ, sau New York. Trong một năm, doanh thu của 17 công ty thành viên chỉ vào khoảng 200 triệu đô la, hoạt động đang không hiệu quả. “Bác Thành là thanh tra đặc biệt của chủ tịch tập đoàn về đó thì mọi người nể lắm. Vị trí ‘controller’ đó mình là người đầu tiên và có lẽ cũng là người cuối cùng.”

Ông mất gần nửa năm làm việc với lãnh đạo các công ty con để báo cáo về tập đoàn tìm giải pháp. Một số vấn đề đặt ra là: Gần 20 công ty làm việc không có sự gắn kết với nhau, không chia sẻ thông tin, không tận dụng cơ hội, thêm nữa, thiếu kế hoạch phát triển mà chỉ tập trung làm việc vào cuối năm là thời điểm mà đa phần các hợp đồng bảo hiểm đáo hạn. Sau khi tìm tòi nghiên cứu, Bùi Kiến Thành đề xuất các công ty thành viên phải xây dựng lên kế hoạch phát triển đều đặn trong cả năm và đưa ra sản phẩm bảo hiểm mới là gói bảo hiểm nhân thọ về giáo dục dành cho cộng đồng người châu Á. “Bố mẹ đóng bảo hiểm làm phương tiện cho con đi học, bố mẹ có xảy ra chuyện gì thì con vẫn đi học được. Thống kê của Bộ Lao động Mĩ năm 1984 chỉ ra rằng, người châu Á chiếm 5% dân số Mĩ nhưng có khoảng 36% là học đại học còn dân da trắng chỉ khoảng 16 hay 17%. Như vậy, cộng đồng người châu Á rất quan tâm đến vấn đề giáo dục con cháu. AIG lại khởi điểm từ Thượng Hải, Trung Quốc nên rất phù hợp với đối tượng đó.” Bùi Kiến Thành còn về Pháp lấy mẫu phiếu đăng ký bảo hiểm nhân thọ về giáo dục dịch sang tiếng Anh cho họ tham khảo. Sau năm năm kể từ khi ông làm việc đó, doanh thu tăng khoảng năm lần, lên một tỉ đô la/năm.

Trong thời gian đó, Bùi Kiến Thành thường xuyên đi đi về về giữa Pháp và Mĩ. Việc trao đổi, tư vấn của ông với Chính phủ Việt Nam vẫn diễn ra thầm lặng thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Paris. Kiến nghị của ông thường gửi cho Nguyễn Cao Vân, chuyên viên cao cấp của Bộ Ngoại giao. Còn Trần Quang Bình, nguyên Bí thư Thứ nhất Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, là người báo cáo chính thức lên lãnh đạo Chính phủ.

“Từ năm 1975, một luồng dư luận Mĩ đã muốn bắt tay với Hà Nội để tái thiết đất nước nhưng phía Việt Nam gạt đi. Sau đó, Mĩ cấm vận Việt Nam trong thời gian dài. Các anh trong Chính phủ Việt Nam đã có ý nối lại liên lạc với Mĩ nhưng chưa thành công. Kể từ khi thực hiện ĐỔI MỚI năm 1986, bác Thành vẫn có mối quan hệ với Chính phủ Mĩ nên làm đầu mối để thúc đẩy việc này.”

Những năm 1989, 1990, việc đặt quan hệ với Mĩ trở nên cấp thiết hơn khi Liên bang Xô Viết sắp sửa tan rã, Việt Nam chuẩn bị mất đi khoản viện trợ lớn từ Liên Xô. Bùi Kiến Thành tích cực xúc tiến việc liên hệ với Chính phủ Mĩ.

“Về phía Mĩ, họ chấp nhận ngồi nói chuyện với Việt Nam khi Việt Nam giải quyết xong vấn đề về Campuchia. Mời Hun Sen tới ngồi vào bàn họp hòa bình với Campuchia thì Mĩ không làm được, phải nhờ Việt Nam. Hun Sen là người được Việt Nam ủng hộ, trong lúc Việt Nam và Mĩ đang lục đục thì khó để ông Hun Sen gật đầu khi chưa có sự đồng ý của Việt Nam. Bác Thành là người kết nối thông tin giữa Mĩ với Việt Nam. Mình làm được điều đó là mình tạo uy tín để người ta nói chuyện với mình.”

Ngày 01/05/1989, Việt Nam rút quân khỏi Campuchia.

Ngày 21/03/1991, sau khi trao đổi qua điện thoại, Bùi Kiến Thành gửi một bức fax cho Frank Light, Vụ trưởng phụ trách khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Bộ Ngoại giao Hoa Kì, với nội dung:

“Ông Light kính mến,

Chúng ta đã trao đổi với nhau qua điện thoại ngày 22 tháng tám vừa rồi, về việc Việt Nam đang tìm kiếm các con đường cải thiện quan hệ của mình với Hoa Kì.

Tôi có thông báo với ông về việc những người đại diện cho lãnh đạo của Việt Nam đã liên hệ với tôi ở Paris, đề nghị tôi giúp làm cầu nối với Chính phủ Hoa Kì, bên ngoài các kênh ngoại giao thông thường. Tôi dự định tới Washington để sắp xếp một cuộc gặp với những nhà chức trách có thẩm quyền nhằm xem xét, đánh giá tình hình và xác định xem tôi có thể đóng góp gì cho nỗ lực này.

Ông đã cho tôi biết rằng các cuộc thảo luận về đóng góp của Việt Nam cho việc giải quyết tình hình Campuchia vẫn liên tục được tổ chức với Đại sứ Việt Nam tại Liên Hợp Quốc. Ông cũng cho tôi biết về việc Việt Nam đã được thông tin về những yêu cầu của Hoa Kì đối với vấn đề bình thường hóa. Ông đã gợi ý tôi viết một lá thư lưu ý cho ông để ông chuyển tới các cấp thẩm quyền phù hợp có thể đưa ra hành động hay quyết định gặp gỡ.

Kể từ đó, đầu mối liên lạc ở Paris có thông báo với tôi rằng lãnh đạo của Việt Nam đã quyết định triển khai 240 Bùi Kiến Thành - Người mở khóa lãng du nền kinh tế thị trường, điều này theo thời gian sẽ dẫn tới một xã hội tự do và một bộ máy chính quyền dân chủ. Để thay đổi căn bản về kinh tế và chính sách quản lí nhà nước này thành công, Việt Nam thực sự cần sự giúp đỡ và hợp tác của Hoa Kì.

Tôi được yêu cầu trình bày rõ với lãnh đạo Hoa Kì một số vấn đề cơ bản ẩn bên trong kế hoạch chuyển đổi và sự giúp đỡ mà phía Việt Nam mong nhận được từ Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp Mĩ.

Tôi có kế hoạch sẽ ở Washington trong tuần tới, từ ngày 26 tháng ba tới ngày hết ngày 28, và sẽ rất hân hạnh nếu có được một buổi gặp ở Bộ Ngoại giao.

Kính thư,

B.K. Bui”

Tháng 4 năm 1991, phía Hoa Kì lần đầu tiên đưa ra một kế hoạch bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, mang tên “Roadmap”, gồm bốn giai đoạn. Việt Nam trả lời “chưa bác bỏ nhưng cũng chưa chấp nhận”.

Giữa năm 1991, Bùi Kiến Thành làm quốc tịch Mĩ. Ngày 29 tháng tám, ông viết bức thư gửi Trung tướng Brent Scowcroft, Chủ tịch Hội đồng An ninh Quốc gia của Mĩ. Trong thư có đoạn:

“Tôi được cho biết lãnh đạo mới của Việt Nam cam kết chắc chắn về những thay đổi căn bản trong chính trị và những quyền ưu tiên. Mục tiêu là kinh tế thị trường tự do và bộ máy chính quyền dân chủ.

(...)

Việt Nam tìm kiếm sự giúp đỡ để có thể mang đến những cải cách triệt để một cách có trật tự để chuyển đổi Đi tìm chìa khóa 241 sang nền kinh tế thị trường và chế độ dân chủ. Mối ưu tiên cao nhất là quan hệ thân thiết với Hoa Kì.

(...)

Không có gì là sai nếu nói chúng ta nên tự hào vì chiến thắng của mình và tiến tới việc xóa đi những tổn thương do thất bại của quân đội chúng ta ở Việt Nam. Nhưng ở một tầm ý thức cao hơn, chúng ta nên hành động để vinh danh thắng lợi của những lí tưởng dân chủ của mình. Thay vì giữ khư khư thái độ thù địch và thờ ơ, chúng ta nên, theo lời Tổng thống Lincoln, “hết lòng với nhiệm vụ cao cả vẫn còn ở trước mắt chúng ta” và áp dụng các biện pháp để đảm bảo rằng chiến thắng ở Việt Nam là hào phóng và mẫu mực.

Để thiết lập nền tảng cho một mối quan hệ mới, lãnh đạo mới của Việt Nam mong muốn được học hỏi để biết về những đối tác Hoa Kì của mình thông qua những liên hệ cá nhân linh động. Để tạo ra điều đó, họ muốn mời các lãnh đạo Hoa Kì tới thăm Việt Nam để thảo luận cởi mở và thân thiện về tất cả những câu hỏi về lợi ích chung mà không chịu sự ràng buộc của các cuộc gặp và chương trình làm việc chính thức. Nhân tố con người là cực kì quan trọng.

Để khởi động quá trình này, tôi được đề nghị chuyển tới ông một lời mời gặp Đại sứ Việt Nam tại Pháp, người chịu trách nhiệm chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của ông tại Việt Nam. Cuộc gặp này có thể diễn ra tại Liên Hợp Quốc, Washington, Paris hay bất cứ địa điểm nào khác mà ông thấy thuận tiện.

Nếu cần, một giấy mời chính thức sẽ được gửi tới ông qua bất cứ kênh nào ông cho là phù hợp.

Tôi sẽ rất vinh hạnh nếu nhận được sự xem xét và hồi đáp của ông. Tôi sẵn sàng cung cấp thêm bất cứ thông tin nào theo sự yêu cầu của ông.”

Khoảng một tháng sau thì trợ lí của Scowcroft là Dona Proctor liên lạc lại để tiếp tục làm việc.

Tôi thắc mắc:

“Bác viết những thư này với tư cách là...”

“Bác Thành trình bày dưới nhãn quan của một công dân Mĩ được Nhà nước Việt Nam tiếp cận đặt vấn đề, nói chuyện với Chính phủ Mĩ về quan hệ mà Việt Nam mong muốn, không phải với tư cách đại diện Chính phủ Việt Nam hay đại sứ của Việt Nam. Cho đến tận hôm nay cũng vậy, bác Thành làm việc với Chính phủ Việt Nam với vai trò cố vấn độc lập. Ngoài một số chuyến công tác được bố trí xe hay ăn ở, còn bác chưa bao giờ nhận lương của Chính phủ Việt Nam. Mọi việc bay đi bay về như thế bác đều tự lo như việc cá nhân thôi. Tuy nhiên mọi thư từ bác Thành viết cho các bộ phận trong Chính phủ Mĩ đều gửi bản sao cho anh Cao Vân cả.”

Trong năm này, lần đầu tiên Thứ trưởng Bộ Tài chính Mĩ Sullivan trình ra Quốc hội một nghị quyết viện trợ nhân đạo cho Việt Nam một triệu đô la, đồng thời đặt ra vấn đề tìm kiếm người Mĩ mất tích ở Việt Nam.

“Bác Thành nói với mấy anh trong Chính phủ Việt Nam rằng đó là cơ hội để mình tiến sâu vào việc bình thường hóa quan hệ với Nhà Trắng. Lúc này mấy anh bảo bác Thành về Hà Nội để anh em có thể gần nhau bàn công việc, đỡ mất thời gian báo cáo, thông tin qua lại. Sau khi bàn luận kĩ lưỡng với mấy ảnh, thì tháng 11 năm 1991 mình đặt chân trở lại Việt Nam sau 26 năm.”

Trở về nước lần này, Bùi Kiến Thành ở chừng một tháng, nhưng gặp gỡ và giải quyết rất nhiều việc. Người được chỉ định tháp tùng ông đi các nơi là Nguyễn Văn Thuộc, cán bộ Vụ Châu Âu 2 - Bộ Ngoại giao. (Hồi đó, Vụ Châu Âu 1 là phụ trách Đông Âu, Liên Xô, Vụ Châu Âu 2 là phụ trách Tây Âu, nay đã sáp nhập làm một).

Một trong những cuộc gặp quan trọng nhất là với Thiếu tướng Lê Minh Hương, Thứ trưởng Bộ Nội Vụ, người sau này trở thành Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Cùng tham gia họp còn có một số sĩ quan cấp cao khác và người liên lạc đầu tiên với Bùi Kiến Thành tại Paris là Trần Quang Bình. Những vấn đề được thảo luận liên quan trực tiếp đến tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mĩ.

“Vấn đề đầu tiên là việc giam giữ công chức và sĩ quan chế độ Sài Gòn. Theo bác Thành được biết có gần mười lăm nghìn người bị giam trong các trại cải tạo từ Lạng Sơn tới An Giang từ năm 1975 đến 1991 là 16 năm. Bác Thành hỏi mấy anh: ‘Thật tình các anh còn sợ mấy cái ông sĩ quan quân đội với mấy ông công chức Cộng hòa không? Tôi nói thật, ngày nào anh còn giam mấy ông này thì không khi nào anh nói chuyện với phía Mĩ được. Tại vì làm sao? Tại vì những người này khi xưa làm việc cho Mĩ, theo Mĩ. Giờ phía Mĩ làm sao nói chuyện với anh được khi người của họ vẫn bị giam giữ? Anh sợ người ta thì anh giam, anh không sợ thì anh giam làm gì, có lợi gì đâu. Anh thả họ ra thì có được bước đầu để nói chuyện với người Mĩ.’ Anh Hương bảo: ‘Anh Thành ơi, để tôi nghiên cứu.’

Hết tháng 11, khi bác Thành về Pháp thì anh Hương nhắn tin sang báo lãnh đạo đã đồng ý thả. Bác Thành mới hỏi là anh thả chọn lọc hay thả hết. Ảnh nói tôi thả hết, trừ những người vi phạm luật pháp hình sự. ‘Thế thì tốt rồi nhưng bên Mĩ nhờ tôi hỏi anh, anh cho người ta ra tù rồi tiếp theo anh có cho người ta xuất ngoại không hay là anh giữ người ta quản thúc ở nhà?’ Không bao lâu sau ảnh trả lời ngay rằng Chính phủ đồng ý cho xuất ngoại, nếu Chính phủ nào nhận thì chúng tôi sẵn sàng cho đi. Bác Thành nói lại với Chính phủ Mĩ thì họ hỏi tiếp là có cho gia đình người ta đi không. Các anh bàn bạc rồi mới trả lời đồng ý. Anh Lê Minh Hương cam kết giải quyết nội trong một năm, nghĩa là tới cuối năm 1992 sẽ giải quyết hết cho người ta ra khỏi trại rồi tới những nước người ta muốn tới. Sau đó, mấy ảnh đã giữ đúng lời hứa luôn. Quốc hội Mĩ bỏ phiếu chương trình Humanitarian Operation (HO)[1], viện trợ cho những viên chức và các cựu sĩ quan quân đội Cộng hòa cùng tất cả gia đình, bố mẹ, vợ chồng, con cái qua Mĩ.”

Bùi Kiến Thành vui vẻ nhớ lại:

“Cái hay của anh Lê Minh Hương là ảnh có khả năng giải quyết vấn đề. Chị Dương Thu Hương, viết quyển sách ‘Những thiên đường mù’, bị bắt giam bảy tháng trời. Cả thế giới biểu tình đòi thả. Đến phu nhân Tổng thống Pháp François Mitterrand là bà Danielle Mitterrand cũng xuống đường tuần hành kêu gọi thả Dương Thu Hương. Bác Thành nói: ‘Anh bắt chị ấy làm gì?’ Lê Minh Hương nói chị này vi phạm pháp luật, lấy tài liệu mật đưa ra nước ngoài, viết lung tung. Bác Thành mới nói: ‘Lãnh đạo đất nước này có sợ chị Dương Thu Hương không? Có sợ tới mức phải bắt chị ấy giam không?’ Anh Hương đáp, sợ cái gì mà sợ, mình áp dụng luật pháp chứ sợ gì. Chẳng ai tin nổi. ‘Chẳng ai tin vì chị này phạm pháp mà bị bắt, người ta tin 100% là các anh đàn áp chị ấy vì giam bảy tháng rồi có xử đâu. Đấy là tối kỵ với các nước dân chủ. Tôi đề nghị anh mang chị ấy ra xử đi, có tội trạng rõ ràng, chị ấy vi phạm điều khoản nào của đạo luật nào, thi hành án cho đàng hoàng, minh bạch. Anh phải làm sao cho người ta thấy là anh tôn trọng luật pháp.’

Đó là chuyện bác Thành nói với anh ấy. Kết quả hay lắm. Chỉ một tuần lễ sau, Lê Minh Hương thông báo cho bác Thành là đã đưa chị Dương Thu Hương ra tòa án hình sự Sài Gòn và xử chị ấy mấy tháng tù nhưng chị bị giam bảy tháng rồi nên thả luôn tại tòa[2]. Riêng chuyện đó thôi là cả thế giới không thể tin được. Dư luận cũng dịu lại vì chị Dương Thu Hương được trả lại tự do rồi, xử án đàng hoàng rồi.”

“Bác còn trao đổi với ông Lê Minh Hương vấn đề gì nữa không ạ?”

“Bác nhờ ảnh kiểm tra một việc xem có đúng không. Có một chuyện bác được Ngô Đình Luyện kể lại... Năm 1954, sau khi hiệp định Genève được kí, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai làm tiệc chiêu đãi, mời Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng cùng ông Tạ Quang Bửu hồi đó là Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, ngoài ra phía Quốc gia Việt Nam có Ngô Đình Luyện đại diện cho Quốc trưởng Bảo Đại. Mấy người đó quen biết nhau. Luyện mới quay sang xuýt xoa quân hàm của Bửu: ‘Oai quá nhỉ? Trung tướng hả?’ Bửu nói: ‘Trung tướng cái quái gì, người ta đeo cho hai cái lon để đi qua kí hiệp định đó, chứ tôi có đi quân đội hồi nào đâu.’ Trong bữa tối, Chu Ân Lai đưa ra đề nghị cả Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Quốc gia Việt Nam mở Đại sứ quán ở Bắc Kinh. Qua đó cho thấy ổng đặt hai bên ngang hàng, và là hai chính phủ độc lập. Mấy ông này đều là nhà ngoại giao nên rất khôn khéo, bảo để đó về chúng tôi nghiên cứu. Luyện về nói chuyện lại với Thủ tướng Diệm thì ông Diệm bảo được vậy tốt quá, nhưng mình đâu có làm được vì Trung Quốc Cộng sản là một chính phủ không được Mĩ thừa nhận, Mĩ chỉ thừa nhận Đài Loan, với người đại diện hợp pháp là Tưởng Giới Thạch. Tình hình trong Nam là thế, còn ngoài Bắc về báo cáo Bộ Chính trị xong cũng bỏ đó. Bác Thành có nhờ anh Lê Minh Hương kiểm tra xem chuyện này thế nào để lưu lại lịch sử, thì anh Hương cũng kiểm tra lại nhưng không có trả lời.”

Cũng trong đợt về nước này, Bùi Kiến Thành có cuộc gặp với Bộ trưởng Bộ Tư pháp Phan Hiền. Phan Hiền nhờ ông tư vấn về vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân theo nghị quyết của Bộ Chính trị, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông còn gặp Giáo sư Nguyễn Duy Thông, Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã Hội. Từ yêu cầu của Phan Hiền và Nguyễn Duy Thông, đầu năm 1992, Bùi Kiến Thành làm việc với Bộ Ngoại giao Mĩ đề nghị Quốc hội và Hành pháp Mĩ gửi qua giúp Chính phủ Việt Nam một phái bộ chuyên viên kinh tế nghiên cứu việc chuyển từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường, một phái bộ chuyên viên luật pháp làm việc cùng Bộ Tư pháp nghiên cứu mô hình luật pháp xây dựng nhà nước pháp quyền. Những nhân vật khác ông gặp và làm việc là Trần Sĩ Lương, Phó Vụ trưởng Ban Việt kiều Trung ương; Phạm Gia Toàn và Bùi Quốc Trung[3], Vụ Hợp tác Quốc tế, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước; Nguyễn Xuân Phong, Phó Vụ trưởng Vụ Mĩ châu, Bộ Ngoại giao. Nguyễn Xuân Phong có nói đến việc trình lên Hội đồng Bộ trưởng đề nghị thành lập một ngân hàng tư nhân quốc tế phát triển đầu tư. Đặc biệt trong đợt này, Bùi Kiến Thành chưa gặp trực tiếp Thủ tướng Võ Văn Kiệt nhưng lại gặp phu nhân của Thủ tướng là Giáo sư, Tiến sĩ Hóa học Phan Lương Cầm.

“Chị Cầm quen với Nồng Riệm. Riệm là con bác sĩ Phác, anh của Minh Đẩu. Hồi chị Cầm học ở Bách khoa với Riệm thì tóc chị dài đẹp lắm, chị là hoa khôi của trường. Trước khi lấy Võ Văn Kiệt chị có qua Paris chơi, một hôm đi xe điện ngầm bị mấy thằng du côn lấy kéo cắt tóc, thì khóc hết nước mắt. Khi bác về Việt Nam, Riệm nhờ bác hỏi thăm chị Cầm. Mình hỏi chị Cầm làm gì bây giờ, thì Riệm nói chị Cầm là vợ của ông Kiệt đó. Bác gặp chị Cầm tặng chị hộp sâm Cao Ly và hỏi han một số việc.”

Vậy là cuộc hồi hương của cánh chim không mỏi Bùi Kiến Thành đã mở đầu bằng những đóng góp sôi nổi cho Chính phủ.

❀ ❀ ❀

[1] Chương trình tị nạn ở Hoa Kì dành cho những người từng làm việc cho chính quyền miền Nam Việt Nam trước năm 1975.

[2] Dương Thu Hương bị bắt ngày 14/4/1991, được thả ngày 20/11/1991.

[3] Hiện là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Kuwait.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.