Bùi Kiến Thành Người Mở Khoá Lãng Du

Lượt đọc: 284 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đình Vũ và câu chuyện thềm lục địa

❊ ❊ ❊

“Một hôm, trong vườn Bách Thảo, ông Võ Văn Kiệt đem bản đồ Á Đông ra nói chuyện. ASEAN thì hướng về phía nam còn sát nách mình là Trung Quốc với thị trường một tỉ dân. Việt Nam mình như thế này đây, bên này là Vân Nam, bên này là Quảng Đông, Quảng Tây, từ Vân Nam nghĩa là tây nam Trung Quốc qua đông nam Trung Quốc cộng với Việt Nam là vùng kinh tế chung hơn 300 triệu dân, lớn hơn cả thị trường chung châu Âu. Mặt khác, con đường ra biển từ Vân Nam qua Lào Cai đến Hải Phòng là ngắn nhất so với con đường “Vạn non” từ Vân Nam xuyên qua đến Quảng Đông. Có cách nào mình vừa phát triển thị trường chung đó, vừa dãn khỏi Trung Quốc, bảo vệ được chủ quyền? Ông Kiệt nói muốn bác Thành kiếm một tập đoàn Mĩ nào thật lớn qua cắm cờ Mĩ ở Hải Phòng để Trung Quốc phải nể.”

Ngày 14/12/1993, phòng Quan hệ Kinh tế đối ngoại của Hải Phòng được sự ủy quyền của Ủy ban Nhân dân Hải Phòng đã tổ chức buổi thảo luận với Bùi Kiến Thành và Bùi Kiến Thái về những khả năng hợp tác trong đầu tư kinh doanh và phát triển thành phố Hải Phòng, sau đó đưa ra những thỏa thuận cơ bản:

Ông Bùi Kiến Thành sẽ tìm kiếm các nhà đầu tư và ngân hàng để thực hiện những nghiên cứu cần thiết về chương trình đầu tư và tài trợ cũng như các dự án phát triển, đặc biệt là cho các dự án về cơ sở hạ tầng: 200 km2 đảo Cát Bà để làm du lịch và thương mại tự do; phát triển cơ sở hạ tầng ở 1.200 hécta Khu Chế xuất Đình Vũ, bao gồm cả cảng biển nước sâu và nơi tập kết container; phát triển các dự án ở Khu Chế xuất Hải Phòng như nhà máy điện, nước…; những dự án khác như cầu Bính, Tiên Cựu và Quý Cao, sân bay Cát Bi, đường tàu hai chiều Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai.

Ông Bùi Kiến Thành sẽ tìm các nhà đầu tư và ngân hàng để lập quỹ đầu tư sẽ được văn phòng Quan hệ Kinh tế Đối ngoại đồng quản lý nhằm đầu tư sâu vào các nhà máy, xí nghiệp sản xuất đang hoạt động ở Hải Phòng.

Ông Bùi Kiến Thành sẽ đề nghị các nhà tư vấn và kiểm toán nước ngoài giúp Hải Phòng phân tích và quản lý các dự án đầu tư nước ngoài ở Hải Phòng.

Sở Quan hệ Kinh tế đối ngoại của Hải Phòng sẽ đề nghị Ủy ban Nhân dân Hải Phòng chỉ định ông Bùi Kiến Thành là cố vấn cho ủy ban để giúp thu hút các nhà đầu tư nước ngoài và phân tích các dự án đầu tư nước ngoài ở Hải Phòng.

Trùng thời gian đó, tập đoàn bảo hiểm AIG đang thăm dò việc trở lại thị trường Việt Nam. Thông qua Marius Belle, người trước đây làm Phó Giám đốc AIU Far East có trụ sở tại Hong Kong, từng qua giúp cho Bùi Kiến Thành ở Sài Gòn, biết ông về Việt Nam thì AIG muốn mời ông làm cố vấn thường trú cao cấp (Senior Resident Advisor). Họ mời ông qua New York để bàn về việc xin giấy phép hoạt động cho AIG tại Hà Nội. Sau này, Bùi Kiến Thành có đề xuất AIG tư vấn và đào tạo giúp Việt Nam thành lập Công ty Tái bảo hiểm Việt Nam (Vietnam Reinsurance Company). Năm 1992, AIG mở ra Quỹ Phát triển Cơ sở hạ tầng châu Á (Asia Infrastructure Fund), mục tiêu ban đầu là gây quỹ 500 triệu đô la, nhưng vừa mở ra đã được đăng kí gấp bốn lần.

Bùi Kiến Thành đem tài liệu kế hoạch phát triển khu công nghiệp Đình Vũ qua Mĩ trình bày với Chủ tịch AIG là Maurice R. Greenberg.

Bác Thành trình bày chưa đầy 15 phút Greenberg đã gật gù đồng ý sẽ làm. Khu Đình Vũ bao gồm cả bán đảo 1.000 hécta bên bờ biển là khu kinh tế chiến lược, có phần quân đội đóng trên đấy. Miền Bắc chưa có khu công nghiệp nào, nên nếu Mĩ đến làm khu công nghiệp thì vị thế miền Bắc cũng được nâng tầm lên rất nhiều.”

Nhận tin báo về, Võ Văn Kiệt rất mừng, lãnh đạo Hải Phòng nhận chỉ thị cũng hồ hởi. AIG gửi một đoàn từ Mĩ, một đoàn từ Thái Lan sang Việt Nam. Họ thuê một máy bay trực thăng của quân đội đưa cả phái đoàn từ Hà Nội xuống Hải Phòng họp với Chủ tịch, Bí thư thành phố. Trong lúc phái đoàn đi tham quan đảo Cát Bà thì Bùi Kiến Thái giúp Sở Kinh tế đối ngoại soạn một Biên bản ghi nhớ hợp tác. Ba giờ chiều, MOU[1] được kí tại Ủy ban Nhân dân Thành phố Hải Phòng. Trực thăng đưa phái đoàn quay về Hà Nội. Mọi việc diễn ra chỉ trong vòng một ngày.

Bùi Kiến Thái kể lại:

“Họ quên mất là phải có một luật sư. Phái đoàn AIG toàn lãnh đạo cao cấp, kí mà không qua bộ phận luật là bị đuổi ngay. Lệch nhau là bên Hải Phòng thì muốn kí MOU ngay để báo cáo Thủ tướng, còn đối tác nước ngoài coi đó là miếng mồi béo bở nên muốn tế nhị, không ép Việt Nam. Không có luật sư, tôi được giao viết biên bản hợp tác đó. Ông Thành nói với Kun Visit, hiện nay đang quản lí lương hưu trí của Thái Lan, rằng: ‘Kun, cậu sẽ là hoàng tử của AIG’, cậu ta nói: ‘Ôi ôi ông ơi, kí cái này mà có vấn đề thì tôi sẽ là công chúa’. Trong lúc mấy ông đi Cát Bà thì mình về Nhà khách Chính phủ soạn. Mình viết bằng tiếng Anh, không nhớ có tiếng Việt không, khi đó mình nói tiếng Việt còn không sõi. Mình chỉ viết có hai đoạn không quá cụ thể để hai bên cùng kí được.” Đó là năm 1993.

Bùi Kiến Thành (ngoài cùng bên trái) và phái đoàn AIG làm việc tại Đình Vũ năm 1993

AIG là tập đoàn tài chính bảo hiểm lớn nhất của Mĩ và cũng do Do Thái quản trị. AIG kí hợp đồng tại Việt Nam đồng nghĩa với việc Chính phủ Mĩ và cộng đồng Do Thái bật đèn xanh cho các tập đoàn kinh tế khác trên thế giới vào Việt Nam. Tới lúc đó, một số tập đoàn của Nhật, Đài Loan mới dám vào. Biển Hải Phòng là nơi Mĩ phong tỏa bằng hàng ngàn trái mìn để cấm vận Việt Nam. Sau khi đạt thỏa thuận với AIG, Mĩ đưa tàu rà mìn vào thu nhặt hết số mìn đó ở Hải Phòng và các khu khác, mất hàng năm trời. Việc AIG đầu tư Khu Công nghiệp Đình Vũ mang ý nghĩa then chốt trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt - Mĩ.

“Hồi đó 500, 600 triệu đô la là nhiều lắm, Đình Vũ thành khu công nghiệp lớn nhất Việt Nam. Mình mới chỉ được quyền kí hợp đồng nguyên tắc thôi, chờ tới khi có quan hệ ngoại giao mới thực hiện... Muốn làm Khu Công nghiệp Đình Vũ, mình phải nạo vét một luồng dẫn đến vùng nước sâu để tàu lớn vào chứ cảng Hải Phòng tàu chừng 10 nghìn tấn là không vào được. Vương quốc Bỉ hợp tác với AIG, Thái Lan đứng ra nạo vét một luồng ngoài biển đến vùng nước sâu, tạo mối quan hệ ngoại giao kinh tế với Việt Nam. Nhân cơ hội này, AIG mời hai đối tác kia cùng vào đầu tư. Thiết kế quy hoạch cực kì tốt, được nghiên cứu kĩ lưỡng. Những đơn vị Việt Nam như Caltex, Petrovietnam cần dùng kĩ thuật phát triển công nghiệp gì lớn cũng tới đấy thuê lại để dùng... Đình Vũ đến giờ trải qua bao nhiêu khó khăn vẫn kiên trì làm tốt. Có thể nói, để sau này chúng ta có nhiều khu công nghiệp nước ngoài bài bản tại Việt Nam thì Khu Công nghiệp Đình Vũ mang một ý nghĩa chiến lược.”

Bác Thành chuẩn bị vào Nam một thời gian tương đối dài. Tối hôm đó, cả nhóm cố gắng “đóng gói” vấn đề nhưng càng nói thì càng được dẫn dắt đi xa hơn, rốt cục câu chuyện vẫn dang dở. Bác Thành bay vào buổi trưa hôm sau. Sáng sớm, trời xầm xì u ám, nhưng không mưa, cả nhóm phóng xe máy từ sáu rưỡi, gặp bác ở sân bay cùng ăn sáng, trò chuyện khoảng từ tám giờ đến 10 giờ.

Bác tiếp tục nói về cơ duyên dẫn tới việc triển khai thành công dự án Khu Công nghiệp Đình Vũ:

“Ông Võ Văn Kiệt giỏi lắm. Ổng rất am hiểu vấn đề quốc phòng và kinh tế. Chính ổng đã nhờ mình móc nối với AIG đấy chứ. Một là mình đi ra đi vào Bộ Ngoại giao Mĩ, bên cạnh đó mình lại là cố vấn cao cấp thường trú của AIG. Cuộc đời có những điều thật thú vị. Nếu ngày trước hơn 20 tuổi bác không bỏ Ngân hàng Quốc gia mà ra làm dân doanh... Đại diện Ngân hàng Quốc gia Việt Nam ở New York đấy, có một chứ đâu có hai. Nếu không làm bảo hiểm lúc đó thì làm gì những năm 90 mình có thể móc nối được cho Mĩ vào Việt Nam. Mình thấy lạ lùng lắm, cuộc đời dường như đã sắp xếp như thế từ 30, 40 năm trước đó.”

Sau thời gian đi đi về về, đến khoảng cuối năm 1993, Bùi Kiến Thành định cư hẳn tại Việt Nam. Thời điểm ấy và kể cả trước đó, Việt Nam đã chịu mối đe dọa của Trung Quốc trên thềm lục địa. Tháng 5 năm 1994, The Wall Street Journal và công ty sở hữu nhật báo này là Dow Jones & Company mời Phó Thủ tướng Trần Đức Lương cùng một phái đoàn gồm nhiều bộ trưởng, thứ trưởng sang Mĩ tham gia diễn đàn về phát triển cơ sở hạ tầng Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một phó thủ tướng Việt Nam sang thăm và làm việc tại Mĩ kể từ lúc bắt đầu cấm vận. Lãnh đạo Việt Nam đề nghị Bùi Kiến Thành đi cùng, để hướng dẫn đoàn làm quen cách làm việc của Mĩ, cái gì nên làm, cái gì không nên và tranh thủ trình bày mong muốn đăng cai tổ chức một diễn đàn quốc tế về chủ quyền trên thềm lục địa, mời các nước trong khu vực cũng như các cường quốc tham gia để đưa vấn đề tranh chấp trên biển Đông ra dư luận quốc tế.

“Trước khi đi, Thủ tướng gọi bác Thành vào hỏi ý kiến. Bác Thành xem danh sách phái đoàn thấy không có đại diện nào của Bộ Tài chính. Vì mình qua Mĩ bàn về kinh tế tài chính nên phải đề xuất Chính phủ bổ sung ngay. Tuần cuối cùng, một anh Thứ trưởng Bộ Tài chính phải thay đổi lịch công tác để sang Mĩ. Khâu tổ chức của đoàn Việt Nam hơi kém, cứ đi mà không hề lên kế hoạch gì. Phái đoàn được ở khách sạn sang nhất New York là Waldorf Astoria. Bác Thành cũng sắp xếp cho phái đoàn Trần Đức Lương tiếp xúc với hai tập đoàn đầu tư lớn nhất nước Mĩ thời điểm đó là Morgan Stanley và Goldman Sachs. AIG mời cơm trưa ở trụ sở quốc tế của họ.”

“Còn về diễn đàn quốc tế, bác xử lí ra sao ạ?” Tôi khuấy đều ly nước chanh rồi nhấp một ngụm.

“Bác Thành cùng với Thomas Johnson bên văn phòng Luật sư Covington & Burling tới Bộ Ngoại giao Mĩ ở Washington nói chuyện với anh Andy Rothman, phụ trách Phòng Việt Nam (Vietnam Desk). Rothman rất thông hiểu vấn đề, nghe xong bèn bảo ngay: ‘Các anh không nên lập ra diễn đàn đó làm gì, các anh nói được gì ở đó? Chưa có quan hệ với Mĩ, các anh có đứng ra mời thì cũng không ai đến.’ Rothman khuyên Việt Nam nên gia nhập một diễn đàn chuẩn bị mở, là Diễn đàn Khu vực ASEAN[2] (ASEAN Regional Forum - ARF) trong đó có Mĩ, Nga, Trung Quốc, Canada, Australia, Hàn Quốc, New Zealand, Indonesia, Singapore, Brunei, Philippines, Thái Lan, Lào, Papua New Guinea, Liên minh châu Âu… Quốc gia nào muốn tham gia đều cần có sự giới thiệu. Việt Nam chưa được ai giới thiệu, mà có được giới thiệu thì chưa chắc đã được chấp nhận. Không phải ngẫu nhiên họ khuyên mình vậy đâu. Bên đó đã nghiên cứu vấn đề này trước rồi chứ không phải không. 50% hàng hóa trên thế giới chạy qua biển Đông, bao nhiêu thuyền bè của Mĩ chạy lên chạy xuống khu vực đó. Người ta cũng có ý định kéo anh Việt Nam vào nhưng chưa có cái móc nào. Họ nói bác Thành truyền đạt lại với Chính phủ Việt Nam rằng Chính phủ Mĩ sẽ ủng hộ Việt Nam gia nhập diễn đàn này, nhưng Mĩ không đứng ra tuyên bố công khai vì chưa có quan hệ ngoại giao. Chính phủ Việt Nam hãy nhờ Chính phủ Indonesia của Tổng thống Suharto, là nước lớn nhất Đông Nam Á, giới thiệu, đưa ra bàn vào kì họp tới. Chính phủ Mĩ sẽ có thông điệp riêng cho tất cả mọi người rằng không phản đối. Khi đã vào diễn đàn thì Việt Nam có thể đưa vấn đề của mình ra.”

Tối đó, tại khách sạn Washington, Bùi Kiến Thành viết tay báo cáo trên hai trang giấy nhờ Trần Đức Lương chuyển về cho Võ Văn Kiệt thì chính phủ không ai tin nổi. Chuyện tày trời mà Bùi Kiến Thành qua nói chuyện với Bộ Ngoại Giao Mĩ một lần là giải quyết xong vấn đề. Chính phủ vui mừng khôn xiết. Đó là một thành công chưa từng có về ngoại giao.

“Sau này, nhân một dịp Tết, bác Thành tới thăm Chủ tịch nước, ông Trần Đức Lương ra cầm tay dắt đi nói chuyện như hai người bạn tri âm. Hồi đó ông Kiệt xử lí nhanh gọn, đúng cách nên chẳng bao lâu Việt Nam cũng vào được ARF, nhưng từ đó đến nay lại không tận dụng, khai thác được hết tiềm năng của diễn đàn này trong khi đã được Mĩ dọn đường sẵn. Vấn đề an ninh lãnh thổ của mình về sau không đưa ra diễn đàn lớn của các đại cường quốc để bàn, chỉ bàn đi bàn lại lòng vòng trong mấy nước ASEAN này...”

“Tại sao Thủ tướng Võ Văn Kiệt lại không làm triệt để?”

“Võ Văn Kiệt cũng muốn làm triệt để, nhưng ổng có cái khó của mình. Trong Bộ Chính trị không chỉ có mình ổng quyết. Nghìn năm lịch sử Việt Nam luôn là chư hầu của thiên triều Trung Quốc, xây dựng mối quan hệ ngoại giao rất khôn khéo, mềm dẻo. Trần Hưng Đạo tuy chiến thắng lẫy lừng nhưng vẫn cầu hòa nhà Nguyên, Lê Lợi thắng rồi cũng cầu hòa nhà Minh. Quang Trung đánh tan giặc Thanh rồi cũng cầu hòa Càn Long. Càn Long đòi vua nước Nam sang chầu tận thiên triều, Quang Trung chấp nhận nhưng cử người đóng thế đi thay. Càn Long thừa biết, nhưng vẫn không sao, vì cả hai đều đã đạt được mục đích. Đó là tài ngoại giao khôn khéo của cha ông bên cạnh một nước lớn. Nhưng sang thời hiện đại, Việt Nam làm được ít. Vì thế mới có chiến tranh biên giới năm 1979. Nói chuyện quan hệ song phương Việt - Trung là Việt Nam luôn bị lép vế. Trung Quốc không muốn mình có quan hệ đa phương, quốc tế hóa vấn đề biển Đông. Trung Quốc tuyên bố trên tất cả mọi diễn đàn, biển Đông là biển riêng của mình, đường lưỡi bò của mình, không muốn ai xâm phạm hết.”

Bùi Kiến Thành tỏ vẻ trầm ngâm tiếc nuối. Rồi chúng tôi trở lại câu chuyện công ty luật Covington & Burling nghiên cứu pháp lí về chủ quyền thềm lục địa Việt Nam trên biển đông đến giữa năm 1995 mới xong. Cùng năm đó, Việt Nam đạt được bình thường hóa quan hệ với Mĩ.

“Họ đăng tải bản nghiên cứu lên International Law Gazette, như là một công báo quốc tế về vấn đề luật biển, không phải luật của một nước nào nhưng cả thế giới nhìn nhận và không ai phản đối. Trung Quốc khi đó mới ngã ngửa. Đáng lẽ họ có quyền làm phải không? Họ cũng đi thuê một anh luật sư để làm, tiền họ thiếu gì. Nhưng mà họ không làm, họ dở hơn mình cái chỗ đó. Nhưng Trung Quốc đã kí hợp đồng với công ty Mĩ Crestone thăm dò khai thác rồi thì phải vận động như thế nào để dừng khai thác. Chính phủ Mĩ âm thầm khuyên công ty dầu khí Crestone rằng đây là việc tranh chấp nên có nhiều rủi ro, cuối cùng chính công ty Mĩ kia không triển khai hợp đồng đó. Thế cũng chưa đủ, công ty luật mà mình thuê cũng rất thông hiểu thông lệ hoạt động dầu khí quốc tế, nhìn bản đồ Việt Nam khai thác dầu khí họ thấy bao nhiêu lô mình khai thác đều dồn về một phía, còn phía bên kia không động tới gì. Họ nói, nếu các ông cứ tiếp tục khai thác kiểu thế này, không qua khỏi đường biên này thì coi như ông chấp nhận rằng phía bên kia không thuộc về lãnh thổ của ông.”

“Chúng ta có biện pháp gì ạ?”

“Bác Thành đề xuất với ông Võ Văn Kiệt, rồi ông Hồ Sĩ Thoảng - Tổng Giám đốc Công ty Dầu khí Việt Nam, tìm một công ty Mĩ kí hợp đồng khai thác ở phía xa đất liền. Lan man một chút, chính anh Thoảng là người giới thiệu bà Cầm ra làm trợ lí cho ông Kiệt đó. Những công ty lớn rất ngại kí với mình vì ảnh hưởng tới quyền lợi của Trung Quốc, sợ bị Trung Quốc tẩy chay. Cuối cùng, công ty ConocoPhilips sẵn sàng kí. ConocoPhilips là thành viên của tập đoàn Mĩ Dupont. Dupont là công ty rất lớn, trước làm ra thuốc súng, vải sợi và rất nhiều mặt hàng dân dụng. Họ tính toán, nói với mình là họ chấp nhận rủi ro chính trị với Trung Quốc và muốn mình cho kí những lô màu mỡ trong vùng biển của mình. Một số tập đoàn vào thăm dò một thời gian rồi bỏ đi hết. Exxon cũng kí ba, bốn hợp đồng trong mấy lô trên vùng biển đó nhưng rồi bỏ đấy không làm gì. ConocoPhillips trở thành tập đoàn dầu khí đầu tư nhiều nhất ở Việt Nam, nhưng hầu như đến nay cũng không khai thác gì.”

Một trong số những vấn đề Bùi Kiến Thành tiếp tục tham gia tư vấn cho Chính phủ sau đó tiếp tục liên quan đến dầu khí.

“Hồi đó, Việt Nam khai thác một số giếng dầu ở biển Đông, trong đó có mỏ dầu Bạch Hổ. Khi bơm dầu lên khí đồng hành[3] cũng lên theo. Khí đồng hành nếu mình thả ra không khí thì gây ô nhiễm môi trường, còn nếu tích tụ ở đâu đó thì có khả năng gây nổ. Mọi giàn khoan ngoài biển đều có một ống dẫn khí trồi lên và mình phải đốt bỏ khí đồng hành đó đi. Bác Thành làm việc với World Bank một số vấn đề, trong đó họ nói Việt Nam đang lãng phí với việc mỗi ngày đốt lượng khí đồng hành trị giá khoảng 400 ngàn đô la theo giá quốc tế. Họ đề xuất thu gom khí đồng hành, đem vào đất liền bán cho các gia đình để đốt lửa. Sau đó, EVN thương lượng với World Bank, được World Bank cho vay 1,8 triệu đô la làm đề án xây dựng nhà máy điện Phú Mĩ 2-2, nhà máy điện chạy bằng khí đầu tiên ở Việt Nam, dưới hình thức BOT[4] - xây dựng, vận hành, chuyển giao.”

“Dự án này tiếp tục như thế nào ạ?”

“EVN chọn được công ty tư vấn về công nghệ cao của Mĩ là K&M. Họ đưa ra chương trình giúp EVN thực hiện mời thầu, chấm thầu trong vòng khoảng 17, 18 tháng thì EVN đề nghị đẩy nhanh tiến độ cho đỡ phí nhiên liệu, cuối cùng kí hợp đồng là 11 tháng trị giá 1.111.000 đô la. Bắt đầu triển khai thì Chính phủ đổi ý, yêu cầu chuyển dự án ra Bộ Công nghiệp ở Hà Nội. Bộ Công nghiệp là Bộ Công nghiệp nặng kết hợp với Bộ Năng lượng. Bộ Công nghiệp không có chuyên gia thông thạo lĩnh vực này, thay vì 11 tháng thì ba năm mới xong hồ sơ đi gọi thầu, rồi từ 1997 đến 2001 mới thương lượng xong hợp đồng mời nhà đầu tư BOT vào làm. Bộ Công nghiệp không tự quyết được nên mỗi lần họp phải mời Hội đồng liên Bộ gần chục người. Cái lối ở Việt Nam là nếu mời chín cơ quan thì phải có đủ chín đại diện tới dự, thiếu một anh là không họp được. Mỗi người tới họp nhận phong bì, có thể bồi dưỡng ăn trưa. Chẳng hạn Bộ Công nghiệp bỏ phong bì 100 nghìn Việt Nam đồng, nhưng có cuộc họp cùng giờ bên khác bỏ 150 nghìn, thì người ta sang bên kia, cuộc họp phải hoãn một tuần, hai tuần. Mỗi ngày ngoài khơi vẫn đốt 400 nghìn đô la nhưng trong này vấn đề chưa giải quyết được vì cách biệt 50 nghìn đồng bồi dưỡng.”

“Lại là vấn nạn phong bì...”

“Người ta muốn có phong bao, phong bì người ta ít quan tâm đến lợi ích chung. Công ty Luật Phillips Fox của Australia đang đại diện cho Chính phủ Việt Nam trong quá trình thương thảo Phú Mĩ 2-2 nhưng công ty BHP lại thuê họ qua tư vấn luật trong dự án Phú Mĩ 3. Do vấn đề xung đột lợi ích, Phillips Fox bắt buộc phải rút lui và Bộ Công nghiệp phải tìm công ty luật khác thay thế để tư vấn cho phía Việt Nam trong dự án Phú Mĩ 2-2. Chỉ có việc gọi thêm công ty luật Johnson Stokes & Master từ Hong Kong qua mà Bộ Kế hoạch Đầu tư mất cả tháng mới phê duyệt.”

Bùi Kiến Thành làm cố vấn cho Bộ Công nghiệp phát triển ngành điện chạy bằng khí đốt. Ông nhận ra nhiều khó khăn của Việt Nam xung quanh vấn đề dầu khí.

“Thăm dò dầu khí trên biển Đông rất tốn kém, phức tạp. Những mỏ như Đại Hùng, đấu thầu khoảng năm 1993, 1994, 1995 có nhiều triển vọng nhưng cuối cùng cũng không khai thác được bao nhiêu, lại nằm trong vùng tranh chấp. Kì vọng dầu khí của Việt Nam không được như mong đợi, những công ty lớn của Mĩ cứ vào rồi bỏ đi. Đến cuối năm 2011, bác Thành thôi không tham gia các dự án dầu khí nữa.”

Đó là một số câu chuyện thú vị xung quanh việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên biển Đông và khai thác dầu khí đã kéo dài từ trước khi Mĩ và Việt Nam chính thức ngồi lại với nhau đến nay.

❀ ❀ ❀

[1] Viết tắt của “Memorandum of Understanding”: Biên bản ghi nhớ hợp tác.

[2] Được thành lập năm 1994 nhằm thúc đẩy cơ chế đối thoại và tham vấn về các vấn đề an ninh và chính trị trong khu vực, xây dựng lòng tin và phát triển ngoại giao phòng ngừa. Khẩu hiệu của ARF là “Xúc tiến hòa bình và an ninh qua đối thoại và hợp tác ở châu Á Thái Bình Dương”. Năm 1994, Việt Nam chưa gia nhập ASEAN, năm 1995 Việt Nam mới gia nhập.

[3] Khí đồng hành: là khí tự nhiên được tìm thấy cùng dầu thô, có thể ở dạng hòa lẫn với dầu thô hoặc tạo thành không gian phía trên lớp dầu thô trong mỏ dầu.

[4] BOT: Viết tắt của Build - Operate - Transfer.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.