Năm 2001, tại buổi họp mặt đại biểu các tầng lớp nhân dân toàn quốc kỉ niệm 70 năm ngày thành lập Mặt trận Thống nhất Việt Nam, Bùi Kiến Thành có bài phát biểu gây xúc động những người tham dự:
“Trước thềm thế kỷ XXI, chiến cuộc không còn phải như những năm nào. Dân quân, du kích, xe tăng, tên lửa... tuy rằng cần thiết để ngăn chặn xâm lăng biên giới nhưng không giải quyết được tiến thủ trên chiến trường kinh tế toàn cầu.
(...)
Nền kinh tế của Việt Nam hiện nay đang trong tiến trình công nghiệp hóa - chuyển đổi từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Tuy nhiên, công nghiệp hóa chỉ có nghĩa là chuyển sang ‘Nền Kinh Tế Cũ’. Vậy Việt Nam cần phải làm thế nào để chuyển đổi sang ‘Nền Kinh Tế Mới’?
Tại hội trường này, việc thảo luận về các sách lược kinh tế chưa phải là vấn đề. Nhưng trước hiểm họa lệ thuộc kinh tế ngàn cân đang treo trên tiền đồ của dân tộc, một lần nữa truyền thống đại đoàn kết được đặt ra cấp bách hơn bao giờ hết. Chúng ta không còn có thể đối kháng với hiểm họa kinh tế trong thời đại Internet bằng chiến lược trường kỳ du kích để xây dựng lực lượng bước sang thế phản công. Thời gian không còn đo lường bằng năm tháng mà bằng phần tỷ giây đồng hồ. Trong cuộc chiến này, tri thức là chủ lực.
(...)
Làm thế nào để khơi dậy truyền thống đại đoàn kết trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, để huy động khối tri thức tiềm năng này phục vụ cho đất nước?
Lịch sử đã tạo ra cho anh em một nhà nhiều cảnh chia ly cách biệt. Kẻ ra đi, người ở lại. Mỗi người một tâm tư, chưa hàn gắn được. Sách lược nào để mọi người xích lại gần nhau, xóa bỏ cách biệt đối xử, để đoàn kết quyết tâm một lòng vì dân vì nước?
(...)
Ôn cố tri tân. Đất nước và dân tộc đã trải qua bao nhiêu cuộc chia ly sầu hận, nhưng sau cơn bão tố trời lại yên lành, sau đêm tăm tối âm u trời lại sáng.
“Quán thiên chi đạo, chấp thiên chi hành”.
(Quán triệt nguyên lí của đạo trời, theo đó mà hành động)
Người lãnh đạo nhân đức chỉ cho dân con đường sáng. Người lãnh đạo nhân nghĩa coi việc phải hơn điều lợi. Người lãnh đạo trí biết lẽ đời sẽ dẫn đến đâu. Người lãnh đạo dũng biết tạo điều kiện cho toàn dân đoàn kết một lòng vì đại cuộc.”

Bùi Kiến Thành chúc rượu Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong buổi Họp Hội Khuyến học Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch danh dự năm 1996
Với những cống hiến không mệt mỏi cho việc phát triển Việt Nam, năm 2004, Bùi Kiến Thành được báo điện tử VietNamNet với sự hợp tác của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trao tặng giải thưởng “Vinh danh nước Việt” nhằm tôn vinh những người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều thành tích trong sự nghiệp và có nhiều đóng góp cho đất nước. Năm 2007, ở tuổi 76, ông được nhập quốc tịch Việt Nam.
Nhưng bước chân lãng tử vẫn chưa có ý định dừng lại...
Tình hình kinh tế Việt Nam những năm gần đây gặp nhiều khó khăn. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đình trệ. Hàng loạt doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động. Hàng trăm ngàn doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản, người lao động mất việc làm, nông dân ngừng sản xuất nuôi trồng vì sản phẩm không có đầu ra, hàng hoá tồn kho nhiều… Con số nợ xấu được Ngân hàng Nhà nước đưa ra giữa tháng 11 năm 2013 là 4,7%, trong khi tổ chức đánh giá tín nhiệm Moody’s Investors Service đưa ra con số nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam lên đến 15%. Nợ xấu của toàn hệ thống Ngân hàng Việt Nam vẫn chưa xác định được con số đích thực, nhưng không nhỏ hơn 200 ngàn tỉ Việt Nam đồng.
Nguyên nhân sâu xa của vấn đề này bắt nguồn từ ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu từ 2008 đến nay, ảnh hưởng của chính sách đầu tư công của nhà nước và quan trọng nhất là hệ quả đương nhiên của quá trình tăng trưởng tín dụng quá nóng. Một thời gian dài, hệ thống ngân hàng chạy đua tăng trưởng tín dụng trong khi bộ máy quản lí, kiểm soát rủi ro chưa hoàn chỉnh và chưa đủ sức thực thi nhiệm vụ của mình. Do đó, khi thị trường đảo chiều, kinh tế thế giới khủng hoảng, bất động sản đóng băng, chứng khoán giảm điểm thì ảnh hưởng ngay tức thì đến các doanh nghiệp và người vay tiền: Không thể tiêu thụ hàng hóa, tiêu thụ rồi nhưng chưa thu được tiền. Và điều tất yếu của việc này là nợ xấu phát sinh và bùng nổ.
Một khi bị nợ xấu, các doanh nghiệp không thể tiếp tục nhận tín dụng từ ngân hàng nhằm duy trì sản xuất để trả nợ. Cứ như thế, nợ xấu ngày càng gia tăng còn doanh nghiệp thì đành bất lực đứng nhìn cơ hội kinh doanh trôi qua trước mặt vì thiếu vốn sản xuất, các ngân hàng mất nhiều tâm sức và nhân lực nhưng không thể giải quyết căn cơ nợ xấu. Một số doanh nghiệp kí được hợp đồng, nhận được L/C nhưng không có tiền mua nguyên liệu sản xuất, không thực hiện được hợp đồng và phải bồi thường cho đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp khó khăn, người lao động mất việc làm, ngân hàng phát sinh nợ khó đòi, kinh tế chững lại và đời sống người dân càng ngày càng khó khăn hơn, sức mua sụt giảm nghiêm trọng. Vòng luẩn quẩn cứ thế tiếp diễn.
Bước qua độ tuổi 80, Bùi Kiến Thành lại tiếp tục đi tìm những chiếc chìa mở khóa mới.
Từ năm 2012, những ngày đầu làm việc với ông cho cuốn sách này, giữa lúc khủng hoảng đang tăng cao, ông đã chia sẻ với chúng tôi những khúc mắc xung quanh vấn đề lãi suất:
“Chính sách lãi suất cao là một thứ vũ khí hủy diệt các doanh nghiệp Việt Nam, tiêu diệt nền kinh tế Việt Nam, tiêu diệt chủ quyền Việt Nam. Vì sao? Bây giờ doanh nghiệp khó khăn, giãy chết, buộc phải tự bán mình cho người khác. Ai có tiền mua thì bán, Việt Nam không có tiền mua thì nước ngoài mua. Những doanh nghiệp yếu họ sẽ để cho chết hết. Họ nắm hết những doanh nghiệp tương đối tốt của mình. Mình không có cách nào cản được vì luật pháp cho phép. Mua trên thị trường chứng khoán thì chỉ tới 49% thôi nhưng không phải thị trường chứng khoán thì có thể mua 100%. Chính sách lãi suất cao làm mất chủ quyền từng doanh nghiệp rồi sẽ mất chủ quyền nền kinh tế. Nền kinh tế đã sập thì nhà nước còn đâu nữa. Không ai chủ trương lãi suất cao, chỉ có mấy anh ngân hàng nhỏ đi huy động vốn và đẩy lãi suất lên cao.”
Tại buổi họp với các chuyên gia do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì ngày 25/3/2012, Bùi Kiến Thành nêu đề xuất táo bạo với Chính phủ hạ lãi suất ngân hàng xuống dưới 10%, Ngân hàng Nhà nước nên đặt ra mặt bằng lãi suất 6-7%, có thể cho các ngân hàng thương mại vay 2-3% tạo điều kiện để họ cho doanh nghiệp vay 6-7%. Ông dẫn chứng lãi suất ngân hàng trung ương các nước như Mĩ hay Nhật cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất cao nhất là 0,25%, sau đó các ngân hàng thương mại cho doanh nghiệp vay với lãi suất 2-3%, tại sao chúng ta không làm được việc này? Ông không đồng tình với ý kiến của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho rằng ngân hàng thương mại huy động với lãi suất cao nên không thể cho vay thấp được, vì trần lãi suất ở đây không đại diện cho lãi suất thị trường mà lãi suất huy động đang ấn định trần lãi suất. Đề xuất của Bùi Kiến Thành khi đưa ra vấp phải sự phản đối của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính. Có người bảo: “Ông này nói chuyện thật vô duyên! Chính phủ còn đang đi vay với lãi suất 11-12% bằng trái phiếu thì làm sao cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất 2-3% được? Thứ hai, việc in tiền vô tội vạ có thể gây ra lạm phát, điều chúng ta đang rất vất vả để giải quyết. Thứ ba, lãi suất thấp khiến người dân không đi gửi tiền mà đầu tư vào các tài sản khác như vàng, chứng khoán, bất động sản, ngoại tệ gây bong bóng tài sản.”
“Những lý luận trên đây xuất phát từ việc thiếu hiểu biết về hoạt động, quyền hạn và trách nhiệm của ngân hàng trung ương trong một nền kinh tế thị trường hiện đại. Việc này cũng dễ hiểu thôi, vì trong chế độ kinh tế kế hoạch tập trung, ta chưa hề có cán bộ được đào tạo bài bản về kinh tế thị trường. Trong thể chế chỉ biết có ngân hàng nhà nước và chưa hề tiếp cận với khái niệm ngân hàng trung ương. Mãi đến năm 2010, cụm từ ‘ngân hàng trung ương’ được đưa vào Luật về ngân hàng nhà nước.” Ông giải thích: “Ngân hàng trung ương là một định chế có quyền phát hành, có vai trò điều tiết, đảm bảo lưu lượng tiền tệ cho nền kinh tế phát triển ổn định bền vững, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động với lãi suất hợp lí và ổn định. Lạm phát chỉ xảy ra khi tiền đưa ra nền kinh tế nhiều quá mà nguồn hàng không theo kịp. Còn trường hợp của chúng ta hiện nay là tăng trưởng tín dụng quá thấp, tám tháng đầu năm 2014 vẫn chỉ ở mức 1,6%, tiền không đến tay doanh nghiệp, tín dụng không đưa ra được nền kinh tế mà lãi suất lại quá cao. Chuyện này với chuyện gói kích cầu năm 2009 gây lạm phát cao là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Năm 2009, Chính phủ hỗ trợ lãi suất 4% vốn lưu động là không có định hướng kinh doanh rõ ràng, chúng ta không quản lí được dòng tiền đi đâu, có vào sản xuất kinh doanh không hay lại đi đầu tư ngoài ngành. Ở đây, Ngân hàng Nhà nước cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất 2-3% nhưng ngân hàng thương mại không được cho vay vô tội vạ mà doanh nghiệp phải có luận chứng kinh tế rõ ràng về dự án định vay.” Mặt khác, ông cho rằng Ngân hàng Nhà nước không phải là đơn vị kinh doanh cần có lãi, do đó nếu cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất 3%, Ngân hàng Nhà nước có thể trích lập dự phòng 2% để thiết lập quỹ bảo lãnh các khoản vay cho doanh nghiệp. Đề xuất này đưa ra từ tháng 3 năm 2012 nhưng không được tiếp nhận.
Cuối năm 2012, đầu năm 2013, nhằm san sẻ gánh nặng với Chính phủ, giúp Ngân hàng giải quyết nợ xấu, đẩy mạnh việc phát triển chuỗi cung ứng hàng xuất khẩu của doanh nghiệp và các thành phần trong nước, ông cùng một số doanh nhân tâm huyết xây dựng các đề án “Thành lập Trung tâm Điều phối xuất khẩu” và “Thành lập Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu”.
Vai trò của Trung tâm Điều phối xuất khẩu là tạo ra một kênh tài chính, khơi thông nguồn tín dụng đang bị đóng băng bởi cục “máu đông” nợ xấu; làm nhịp cầu nối giúp doanh nghiệp và các thành phần tham gia xuất khẩu tiếp cận được nguồn vốn tín dụng trong nước và ngoài nước; Hỗ trợ các ngân hàng thương mại gia tăng dư nợ, kiểm soát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích nhằm phát huy hiệu quả kinh tế cao nhất, hạn chế rủi ro, từng bước giải quyết được tình trạng nợ xấu; các doanh nghiệp xuất khẩu dù có nợ xấu vẫn được cung cấp vốn hoạt động, ổn định kinh doanh, dần dần thanh toán nợ xấu, tái cấu trúc, ổn định hoạt động, phát triển sản xuất kinh doanh, giữ vững thị trường; duy trì việc làm và ổn định đời sống của hàng trăm nghìn lao động; giúp Chính phủ đạt được chỉ tiêu tăng trưởng GDP do Quốc hội đề ra và vẫn đạt được mục đích kiềm chế lạm phát.
Trung tâm sẽ được điều hành bằng cách thành lập Công ty Cổ phần Điều phối xuất khẩu với các chức năng: Tư vấn về tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu; Dịch vụ xuất khẩu, Nhận ủy thác xuất khẩu; Dịch vụ phát triển thị trường. Ưu tiêu ban đầu của trung tâm là tập trung hỗ trợ các hoạt động sản xuất, xuất khẩu sản phẩm có nguồn gốc từ nông nghiệp, thủy sản.
Trung tâm cần một lượng vốn lớn với chi phí rẻ nhất nhằm hỗ trợ nền kinh tế Việt Nam. Đó là căn cứ để Bùi Kiến Thành cùng cộng sự đề xuất thành lập Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu. Đây sẽ là ngân hàng với các cổ đông có uy tín trên thị trường tài chính quốc tế, có khả năng quản trị và điều hành. Nó sẽ huy động vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế với chi phí thấp để tạo nguồn vốn cho Trung tâm Điều phối xuất khẩu hoạt động hiệu quả hơn, đồng thời có thể cho các ngân hàng thương mại trong nước vay lại để có nguồn ngoại tệ cho vay với chi phí thấp. Trong trường hợp này Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu sẽ đóng vai trò ngân hàng bán sỉ và các ngân hàng thương mại sẽ đảm nhận vai trò ngân hàng bán lẻ.
Với mục đích giải quyết nợ xấu, Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu hoạt động theo phương thức tài trợ cho các doanh nghiệp có hợp đồng xuất khẩu và có L/C hay các phương tiện thanh toán khác do các ngân hàng uy tín trên thế giới phát hành. Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu giám định từng hợp đồng, từng L/C và sẽ chiết khấu hợp đồng xuất khẩu và L/C để cung cấp vốn cho doanh nghiệp làm hàng xuất khẩu. Doanh nghiệp sẽ hoàn trả vốn bằng nguồn ngoại tệ xuất khẩu mà Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu nhận được trực tiếp từ các ngân hàng phát hành L/C. Lãi suất huy động trên thị trường tài chính quốc tế không quá LIBOR[1] cộng 0,5% đến 1% với thời hạn không quá 12 tháng để có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp. Giai đoạn đầu (khoảng năm năm) Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu không huy động vốn Việt Nam đồng trong nước.
Mục tiêu trong kế hoạch năm năm (2013 - 2018), mỗi năm sẽ cho doanh nghiệp xuất khẩu vay khoảng từ hai tỉ đô la (2013) đến 15 tỉ đô la (2018) vốn tài trợ xuất khẩu, với tốc độ quay vòng vốn từ 30 đến 90 ngày cho mỗi hợp đồng.
Cả hai đề án thành lập Trung tâm Điều phối xuất khẩu và Ngân hàng Tài trợ xuất khẩu đã được Bùi Kiến Thành cùng cộng sự trình bày với Bộ Công thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong năm 2013 tuy nhiên không được sự nhất trí của Ngân hàng Nhà nước. Mọi việc vẫn đang ở trên đường.
Đồng hành với những dự án kinh tế tài chính, Bùi Kiến Thành tiếp tục tham gia cố vấn và hỗ trợ chính phủ trong lĩnh vực ngoại giao. Từ giữa năm 2013, ông đóng vai trò cầu nối giữa Mĩ và Việt Nam trong quá trình thương thảo hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement - TPP). Mĩ tham gia vào hiệp định sau nhưng lại có vai trò lớn trong việc thúc đẩy hiệp định phát triển.
“Hiệp định đến nay đang tổ chức với 12 quốc gia, trong đó có Việt Nam, thành một khu kinh tế mở về mậu dịch giữa Mĩ và các quốc gia đó, từ Bắc Mĩ, Nam Mĩ, châu Á, châu Úc..., chủ yếu về kinh tế, hải quan. Hiện giờ hiệp định thương lượng được vài năm rồi, chia ra các lĩnh vực như may mặc, công nghệ cao... thương lượng từng mảng. Họ chủ động lựa chọn quốc gia mời tham gia. Hiệp định không có Trung Quốc, còn Nhật Bản chưa kịp đặt chân vào. Việt Nam rất được ưu ái và đã tiến hành thương thảo rất nhanh khiến phía Mĩ kinh ngạc và đánh giá cao.”
Trong khi đó, Pháp cũng muốn đẩy mạnh quan hệ song phương với một số nước, trong đó có Việt Nam. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, năm 2013 - 2014 được gọi là năm Việt Nam - Pháp.
“Bác Thành là một kênh không chính thức, họp với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp Laurent Fabius[2] cùng ông Đại sứ Pháp và mấy ông cục trưởng tìm những lĩnh vực thiết yếu, những dự án tầm cỡ để Pháp cùng tham gia với Việt Nam. Việt Nam cũng đang ở thế chậm so với các nước khác...”
Tôi mong ông sẽ có sức khỏe thật tốt để tiếp tục có những đóng góp hiệu quả cho sự phát triển của kinh tế Việt Nam, chân cứng đá mềm để đi chặng đường còn tiếp diễn.
❀ ❀ ❀
[1] Viết tắt của “The London Interbank Offered Rate”: Lãi suất liên ngân hàng London.
[2] Chính trị gia Đảng Xã hội Pháp (sinh ngày 20/8/1946): từng làm Thủ tướng Pháp từ ngày 17/7/1984 đến ngày 20/3/1986. Khi được chỉ định vào chức vụ này ông mới 37 tuổi và cho đến nay ông vẫn là Thủ tướng trẻ nhất của đệ ngũ Cộng hòa Pháp. Ông nắm cương vị Ngoại trưởng Pháp từ ngày 16/5/2012.